1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP

97 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 900,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại khu vực Thành phố kết quả của đợt biển tiến này đã hình thành các trầm tích của hệ tầng Bình Chánh Q41-2bc gồm sét, sét bột chứa ít cát và cát sạn lẫn sét bột nguồn gốc biển và hỗn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KỸ THUẬT ĐỊA CHẤT VÀ DẦU KHÍ

BỘ MÔN ĐỊA KỸ THUẬT

˜—&–™

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 –

ĐƯỜNG TÂN LẬP

SVTH: TRẦN MẠNH TÌNH MSSV: 30404636

GVHD: TS NGUYỄN MẠNH THỦY

Trang 2

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn nhất của nước ta, có nền kinh tế phát triển mạnh Song song với quá trình phát triển đó là quá trình đô thị hóa, xây dựng các khu công nghiệp, các nhà cao tầng và các đường giao thông Một trong những khu vực đang phát triển là khu vực quận 2, quận 7, quận Thủ Đức, nơi mà các dự án kinh tế lớn, các khu dân cư đang được thực hiện Cùng với sự phát triển đó thì việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông là một vấn đề cần thiết hiện nay Với mục tiêu ban đầu là phục vụ cho việc đầu tư xây dựng khu dân cư Nam Rạch Chiếc (Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh), Ủy ban nhân dân thành phố đã duyệt dự án xây dựng đường nối Liên Tỉnh Lộ 25 – đường Tân Lập, tuyến đường này đều nằm trên nền đất yếu với bề dày thay đổi vì vậy cần phải tiến hành xử

lý đất nền trước khi xây dựng tuyến đường này

Với mong muốn vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và kiến thiết đất nước Do đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Tính toán thiết kế xử

lý nền đất yếu bằng hệ thống thoát nước thẳng đứng cho dự án đường nối Liên Tỉnh Lộ 25 – đường Tân Lập”

2 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá tổng quan điều kiện địa chất – địa chất công trình khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

- Tìm hiểu đặc điểm địa chất công trình khu vực tuyến đường nối Liên Tỉnh Lộ 25 – đường Tân Lập

- Xác định các chỉ tiêu tính toán của công trình và của đất nền

- Đưa ra giải pháp xử lý để cải tạo nền đường bằng hệ thống thoát nước thẳng đứng theo tiêu chuẩn 22TCN 262 - 2000

Trang 3

Tổng hợp kiến thức đã học vào thực tế, đề tài có phạm vi áp dụng rộng rãi không chỉ cho công trình đang nghiên cứu mà còn có thể áp dụng cho các công trình có điều kiện địa chất tương tự Ngoài ra còn có thể áp dụng cho các công trình đắp, nền đường đắp, mở rộng nền đường khi qua khu vực đất yếu

Trang 4

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thày TS Nguyễn mạnh thủy, người đã tận tâm hướng dẫn và truyền đạt nhưng kiến thức, kinh nghiệm quý báu giúp em hoàn thành luận văn này

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Quý Thầy Cô trong khoa kỹ thuật Địa Chất và Dầu Khí nói chung và Quý Thầy Cô trong bộ môn Địa Kỹ Thuật nói riêng, những người đã cung cấp cho em những kiến thức quý báu giúp em có những kiến thức làm hành trang trong cuộc sống

Con xin gửi lòng biết ơn tới Gia Đình đã nuôi con ăn học, động viên con rất nhiều trong quá trình làm luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn tới Trung tâm nghiên cứu công nghệ và thiết bị công nghiệp đã cung cấp tài liệu địa chất Cảm ơn tập thể lớp 304KT đã động viên giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình làm luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2008

Sinh viên Trần Mạnh Tình

Trang 5

Tên đề tài luận văn: “Tính toán thiết kế hệ thống thoát nước thẳng đứng cho dự án đường nối Liên Tỉnh Lộ 25 – đường Tân Lập”

Hiện nay, việc xây dựng nền đường đắp trên đất yếu đang

Trang 6

TRƯỜNG ĐH BÁCH KHOA Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Số: /BKĐT

KHOA: ĐỊA CHẤT – DẦU KHÍ NHIỆM VỤ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

BỘ MÔN: ĐỊA KỸ THUẬT

HỌ VÀ TÊN: _ MSSV: _ NGÀNH: LỚP:

1 Đầu đề luận văn:

_ _ _

2 Nhiệm vụ (yêu cầu về nội dung và số liệu ban đầu):

_ _ _ _ _ _

3 Ngày giao nhiệm vụ luận văn:

4 Ngày hoàn thành nhiệm vụ:

5 Họ tên người hướng dẫn: Phần hướng dẫn:

Nội dung và yêu cầu LVTN đã được thông qua Bộ Môn

Ngày tháng năm

CHỦ NHIỆM BỘ MÔN NGƯỜI HƯỚNG DẪN CHÍNH (Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên)

PHẦN DÀNH CHO KHOA, BỘ MÔN:

Người duyệt (chấm sơ bộ): _

Đơn vị: _

Ngày bảo vệ:

Điểm tổng kết: _

Nơi lưu trữ luận văn:

Trang 7

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn nhất của nước ta, có nền kinh tế phát triển mạnh Song song với quá trình phát triển đó là quá trình đô thị hóa, xây dựng các khu công nghiệp, các nhà cao tầng và các đường giao thông Một trong những khu vực đang phát triển là khu vực quận 2, quận 7, quận Thủ Đức, nơi mà các dự án kinh tế lớn, các khu dân cư đang được thực hiện Cùng với sự phát triển đó thì việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông là một vấn đề cần thiết hiện nay Với mục tiêu ban đầu là phục vụ cho việc đầu tư xây dựng khu dân cư Nam Rạch Chiếc (Quận

2, Thành phố Hồ Chí Minh), Ủy ban nhân dân thành phố đã duyệt dự án xây dựng đường nối Liên Tỉnh Lộ 25 – đường Tân Lập, tuyến đường này đều nằm trên nền đất yếu với bề dày thay đổi vì vậy cần phải tiến hành xử lý đất nền trước khi xây dựng tuyến đường này

Với mong muốn vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và kiến thiết đất nước Do đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Tính toán thiết

kế xử lý nền đất yếu bằng hệ thống thoát nước thẳng đứng cho dự án đường nối Liên Tỉnh Lộ 25 – đường Tân Lập”

2 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá tổng quan điều kiện địa chất – địa chất công trình khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

- Tìm hiểu đặc điểm địa chất công trình khu vực tuyến đường nối Liên Tỉnh Lộ

25 – đường Tân Lập

- Xác định các chỉ tiêu tính toán của công trình và của đất nền

Trang 8

Đề tài có phạm vi áp dụng rộng rãi không chỉ cho công trình đang nghiên cứu

mà còn có thể áp dụng cho các công trình có điều kiện địa chất tương tự Ngoài ra còn

có thể áp dụng cho các công trình đắp, nền đường đắp, mở rộng nền đường khi qua khu vực đất yếu

Trang 9

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thày TS Nguyễn mạnh thủy, người đã tận tâm hướng dẫn và truyền đạt nhưng kiến thức, kinh nghiệm quý báu giúp em hoàn thành luận văn này

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Quý Thầy Cô trong khoa kỹ thuật Địa Chất

và Dầu Khí nói chung và Quý Thầy Cô trong bộ môn Địa Kỹ Thuật nói riêng, những người đã cung cấp cho em những kiến thức quý báu giúp em có những kiến thức làm hành trang trong cuộc sống

Con xin gửi lòng biết ơn tới Gia Đình đã nuôi con ăn học, động viên con rất nhiều trong quá trình làm luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn tới Trung tâm nghiên cứu công nghệ và thiết bị công nghiệp

đã cung cấp tài liệu địa chất Cảm ơn tập thể lớp 304KT đã động viên giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình làm luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2008

Sinh viên Trần Mạnh Tình

Trang 10

CHƯƠNG 1

ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ – XÃ HỘI

1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN

1.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong tọa độ địa lý từ 10010’ - 10036’ vĩ độ Bắc và

1060 22’ - 106054’ kinh độ Đông, có diện tích 2.095,239 km2 Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang

[1]

1.1.2 Địa hình

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ

và đồng bằng sông Cửu Long Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam

và từ Ðông sang Tây Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình Vùng cao, nằm ở phía

Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc Bắc huyện Củ Chi, Đông Bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình 10 - 25 m và xen kẽ có

những gò đồi độ cao cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình (quận 9) Vùng thấp trũng,

ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 7, 8, 9 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) Vùng này có độ cao trung bình trên dưới 1m và cao

nhất 2m, thấp nhất 0,5m Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố,

gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn Vùng này có độ cao trung bình 5-10m

1.1.3 Khí hậu

Khu vực thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ thánh 12 đến tháng 4 năm sau [1]

nhất cao nhất trung bình vào tháng 4, thấp nhất trung bình vào khoảng tháng 12 và

Trang 11

tháng 1 Giá trị nhiệt độ trung bình tháng tại trạm Tân Sơn Nhất được thể hiện trong bảng 1.1

Độ ẩm không khí: Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm là 79,5%; bình

quân mùa mưa 80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74,5% và mức thấp tuyệt đối xuống tới 20% Giá trị độ ẩm trung bình tháng tại trạm Tân Sơn Nhất được thể hiện trong bảng 1.1

Lượng mưa: lượng mưa cao, bình quân/năm 1949 mm Năm cao nhất 2.718 mm

(1908) và năm nhỏ nhất 1.392 mm (1958) Số ngày mưa trung bình/năm là 159 ngày Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11); trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa cao nhất Các tháng 1, 2, 3 mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam - Ðông Bắc Giá trị lượng mưa trung bình tháng tại trạm Tân Sơn Nhất được thể hiện trong bảng 1.1

Bảng 1.1: Nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa trung bình tháng tại trạm Tân Sơn Nhất

mưa TB

(mm)

11,8 3,9 11,6 46,0 203,4 312,1 291,3 279,2 323,1 267,9 118,7 39,3

Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi tương đối cao từ 1.000 đến 1.200mm/năm Lượng

bốc hơi trong mùa mưa thường thấp, trong khoảng 50 - 90mm/tháng Mùa khô lượng

Trang 12

1.1.4 Thủy văn

Hệ thống sông ảnh hưởng lớn đến đặc điểm địa chất thủy văn của khu vực thành phố Hồ Chí Minh là hệ thống sông Đồng Nai Hệ thống sông Đồng Nai có lưu vực khoảng 32.000 km2, gồm sông chính là sông Đồng Nai, 4 sông phụ là sông La Ngà, Sông Bé, Sài Gòn và bờ Tây sông Vàm Cỏ Đông Hai sông chảy qua thành phố Hồ Chí Minh là sông Đồng Nai và Sài Gòn [1]

Ngoài ra, thành phố Hồ Chí Minh còn có một mạng lưới kênh rạch gồm: Rạch Cát, Tham Lương, Thị Nghè, Nhiêu Lộc, Kênh Đôi, Rạch Chiếc

Hầu hết các sông rạch Thành phố Hồ Chí Minh đều chịu ảnh hưởng dao động của triều biển Ðông Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều xâm nhập sâu vào các kênh rạch trong thành phố, gây nên tác động không nhỏ đối với sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành Mực nước triều bình quân cao nhất là 1,10m Tháng có mực nước cao nhất là tháng 10 - 11, thấp nhất là các tháng 6 - 7 Về mùa khô, lưu lượng của nguồn các sông nhỏ, độ mặn 4% có thể xâm nhập trên sông Sài Gòn đến quá Lái Thiêu, có năm đến đến tận Thủ Dầu Một và trên sông Ðồng Nai đến Long Ðại Mùa mưa lưu lượng của nguồn lớn, nên biên mặn bị đẩy lùi ra xa hơn và độ mặn bị giảm đi nhiều

1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI

Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2095,239 km2 Vào năm 2006, thành phố có dân số 6.424.519 người, mật độ trung bình 3,067 người/km² Dân cư chủ yếu là người kinh chiếm 92,91 % dân số thành phố, tiếp theo tới người hoa với 6,69 %, còn lại là các dân tộc Chăm, Khmer Những người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh cư trú ở khắp các quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tại Quận 5, 6, 8, 10, 11 và có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thành phố

1.2.1 Giao thông

Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông quan trọng của khu vực phía Nam, có hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy và đường hàng không rất phát triển

Trang 13

Hệ thống đường bộ lan tỏa đi các tỉnh Đông Nam Bộ và tây Nam Bộ theo dạng tỏa tia với các trục chính: Quốc lộ (QL) 1A, QL13, QL22, Xa lộ Hà Nội,…Tuyến đường sắt Bắc Nam dài 1.780 km, rất thuận lợi cho nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa Hệ đường thủy: Dọc sông Sài Gòn là một hệ thống cụm cảng kéo dài hàng chục

km từ Nhà Bè đến Cần Giờ với năng lực bốc dỡ lớn nhất nước Cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn/năm và có khả năng mở rộng nâng cấp từ 17 đến 20 triệu tấn/năm

Sân bay Tân Sơn Nhất là sân bay quốc tế với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km, là ga hàng không quốc tế với diện tích 14.000m2, có năng lực tiếp nhận trên 10 triệu khách và hơn nửa triệu tấn hàng hóa mỗi năm

Ngoài ra dự án tàu điện ngầm Thành phố Hồ Chí Minh cũng được đang tiến hành Theo dự kiến, thành phố sẽ có bốn tuyến, tổng chiều dài 54 km, 6 đường ray và

22 nhà ga Cuối 2010, hai tuyến đầu tiên sẽ đi vào hoạt động

1.2.2 Kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh chiếm giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước Thành phố chiếm 0,6 % diện tích và 7,5 % dân số của cả nước nhưng chiếm tới 20,2 % tổng sản phẩm, 27,9 % giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9 % dự án nước ngoài Vào năm

2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 ngàn người ngoài

độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc Năm2007, thu nhập bình quân đầu người ở thành phố đạt 2.100 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước (730 USD/năm)

Công nghiệp: ngành công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần

đây có những bước phát triển vượt bậc Tính đến giữa năm 2006, thành phố có 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp, đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452

dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 ngàn tỉ VND, Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam về tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp từ nước

Trang 14

Nông nghiệp: Nông nghiệp gồm có trồng trọt và chăn nuôi, trồng trọt chủ yếu là

cây lúa, hoa màu, rừng nước mặn, diện tích cây lương thực có hạt 78.400 ha; sản lượng thủy sản 43.516 tấn

Du lịch – dịnh vụ: Hoạt động du lịch của thành phố phát triển mạnh Trong

khoảng 4,3 triệu khách quốc tế đến Việt Nam vào năm 2007 thì có 3 triệu khách đã tới thăm Thành phố Hồ Chí Minh, tức 70 % Năm 2007 cũng là năm thành phố có được bước tiến mạnh mẽ, lượng khách tăng khoảng 12 % so với 2006, doanh thu ngành du lịch đạt 19.500 tỷ VNĐ Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch đã phát huy các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng chuyên mục du lịch trên các báo lớn, truyền hình, tăng cường và nâng cao hiệu quả các đợt tham dự hội chợ du lịch chuyên nghiệp khu vực và các thị trường trọng điểm [1]

Giáo dục – y tế: Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng khẳng định vai trò trung

tâm giáo dục – đào tạo chất lượng cao của mình, và cũng là trung tâm y tế lớn nhất cả

nước Về công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực đã phát triển theo chiều hướng

ngày càng gia tăng, số lượng đào tạo thường năm sau cao hơn năm trước, loại hình đào tạo cũng đa dạng, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư Số lượng trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tăng nhanh theo đà phát triển kinh tế Từ năm 1995, thành phố đã đạt tiêu chuẩn xoá mù chữ và phổ cập tiểu học; 100% số xã có trường tiểu học và 80% số

xã có trường trung học cơ sở Theo thống kê, số giáo viên và học sinh phổ thông của thành phố chỉ chiếm một tỷ lệ vừa phải của cả nước nhưng số giáo viên và sinh viên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật của thành phố ngày càng chiếm một tỷ lệ rất cao, điều này chứng tỏ thành phố là một Trung tâm giáo dục – đào tạo chất lượng cao của cả nước và đã thu hút được một số lượng lớn sinh viên từ

mọi miền đất nước về học mỗi năm [1] Về y tế, Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung

tâm y tế lớn nhất nước ta với số lượng cơ sở y tế được trang bị ngày càng hiện đại cũng như đội ngũ cán bộ y tế có trình độ cao nhiều nhất nước Năm 2005, ngành y tế tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại để tăng năng lực khám chữa bệnh, nhiều thiết bị y tế kỹ thuật cao đã đưa vào điều trị để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; đã thực hiện được kỹ thuật ghép gan, phát triển chương trình chuẩn đoán điều trị từ xa với các tỉnh bạn…

Trang 15

Nhìn chung, Thành phố Hồ Chí Minh là khu vực phát triển sôi động nhất của cả nước về tất cả các mặt, với một vị trí thuận lợi và cùng với nguồn nhân lực bậc cao, Thành phố Hồ Chí Minh cần phát huy hết vai trò của mình Do đó, việc xây dựng các

cơ sở hạ tầng vô cùng cần thiết, góp phần đưa thành phố nói riêng và cả nước nói chung phát triển nhanh chóng

1.3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Theo kế hoạch của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, trong tương lai thành phố sẽ phát triển khu vực đô thị theo mô hình vệ tinh ra các khu vực Thủ Đức, Nam Sài Gòn, quận 2, Bình Chánh Do đó, các khu dân cư mới tại các khu vực vệ tinh sẽ hình thành, khu vực trung tâm dành cho các ngành dịch vụ, thương mại, du lịch Tám nhiệm vụ phát triển chủ yếu [1] của Thành phố là:

Duy trì tốc độ tăng trưởng của Thành phố cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân chung của cả nước và phát triển một cách toàn diện, cân đối và bền vững về kinh

tế, văn hóa, xã hội Tốc độ tăng trưởng GDP của Thành phố bình quân thời kỳ 2000

-2010 phấn đấu đạt 12%/năm

Phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố gắn liền với tổng thể phát triển kinh tế - xã hội khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ; phát triển kinh tế theo hướng mạnh về xuất khẩu

Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về năng suất, chất lượng và hiệu quả của từng ngành và toàn bộ nền kinh tế nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong tiến trình hội nhập, chiếm lĩnh thị trường trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu

Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với bảo đảm dân sinh, nâng cao chất lượng cuộc sống, công bằng xã hội

Hạn chế tăng dân số và phân bố lại hợp lý dân cư trong vùng và trên địa bàn thành phố Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm học vấn, nghề nghiệp, đạo

Trang 16

Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, nâng cao năng lực điều hành quản lý nhà nước ở các cấp chính quyền thành phố; nghiên cứu đề xuất, điều chỉnh, bổ sung những vấn đề thuộc cơ chế, chính sách và luật pháp để tạo động lực mới, động viên sức dân tham gia xây dựng thành phố

Phát triển kinh tế, kết hợp với giữ vững an ninh chính trị, trật tự công cộng, an toàn xã hội, đóng góp tích cực cho công tác bảo đảm an ninh - quốc phòng khu vực phía Nam và đất nước

Trang 17

2.1.2 Hệ tầng Bà Miêu (N 2 2bm)

Hệ tầng lộ rải rác ở khắp khu vực thành phố qua Long An, Bình An và phần địa hình thấp Thành phố Hồ Chí Minh, chủ yếu phân bố ở độ sâu lớn hơn 100m và chia thành 3 tập, với thành phần chủ yếu của hệ tầng là sét bột và cát sạn Bề dày chung của

hệ tầng 30 - 40m

2.1.3 Hệ tầng Nhà Bè (N 1nb)

Trang 18

Bình và bị phủ bởi hệ tầng Bà Miêu Bề dày thay đổi từ 20m (khu vực Nhà Bè) đến trên 80m (khu vực Bình Chánh)

2.1.4 Hệ tầng Thủ Đức (Q 2-3tđ)

Tại lỗ khoan ở xã Linh Xuân (Thủ Đức), trầm tích phân bố ở độ sâu từ mặt đất đến 27m, gồm 2 tập, thành phần chủ yếu của hệ tầng là bột, cát, cát sạn sỏi Bề dày chung của hệ tầng là 26m

Các hệ tầng Thủ Đức có kiểu mặt cắt nguồn gốc sông, sông biển tạo bậc thềm cao

25 – 45m, có dạng lượn sóng thoải phân bố rộng rãi ở miền Đông Nam Bộ với bề dày thay đổi từ 20 – 40m Các trầm tích kiểu mặt cắt nguồn gốc biển thường gặp ở các lỗ khoan phía Tây và Nam khu vực, phân bố ở độ sâu 35 – 80m, bề chung dày của hệ tầng thay đổi từ 30 – 35m

2.1.5 Hệ tầng Củ Chi (Q 3 3cc)

Trầm tích phân bố ở phía Đông Bắc Củ Chi và các dãy hẹp ở Thủ Đức Tổng bề dày khoảng 28m Mặt cắt của hệ tầng có sự chuyển biến: tại Cầu Trệt (An Phú, Củ Chi) mặt cắt của hệ tầng gồm 2 tập còn tại ấp Cây Sộp (Nhuận Đức, Củ Chi) gồm 3 tập Thành phần chủ yếu của hệ tầng là cát, cát bột, sạn

Ngoài khu vực trên trầm tích nguồn gốc biển còn phân bố ở khu vực Nam Bình Chánh và Tây Nam Nhơn Trạch

2.1.6 Hệ tầng Bình Chánh (Q 4 1-2bc)

Các trầm tích nguồn gốc sông (aQ41-2bc) Các trầm tích này có diện phân bố dọc

sông Đồng Nai (từ phía Bắc cầu Đồng Nai) tạo nên bậc thềm cao 3 – 5m hoặc các cù lao lớn giữa sông, nhiều nơi sông đặt lòng hoàn toàn trên trầm tích này Từ cầu Đồng Nai ra tới biển, hệ tầng Bình Chánh bị trầm tích holoxen trung thượng phủ lên với chiều dày từ một vài mét đến 15 – 20m, tuy trầm tích của hệ tầng này vẫn có mặt ở vách và đáy của sông, nhưng tướng trầm tích chuyển từ sông sang sông biển Thành phần trầm tích là sét bột, bột cát, cát màu vàng nhạt, ở phần đáy có ít sạn, sỏi

Các trầm tích nguồn gốc sông biển (amQ41-2bc) có thành phần là sét, sét pha, cát,

cát pha, nhìn chung có độ hạt nhỏ hơn trầm tích sông Điều đáng lưu ý là trầm tích này được phân bố chủ yếu ở cửa biển (từ mũi Nhà Bè đổ ra phía biển)

Trang 19

2.1.7 Hệ tầng Cần Giờ (Q 4 2-3cg)

Các trầm tích của hệ tầng này có diện phân bố rất rộng và có nhiều nguồn gốc khác nhau như sông, biển, hỗn hợp sông biển, đầm lầy biển, đầm lầy sông, song phổ biến hơn cả là các trầm tích nguồn gốc sông biển, đầm lầy biển và đầm lầy sông

Trầm tích nguồn gốc sông biển (amQ42-3cg) phân bố chủ yếu ở các huyện Bình

Chánh, Bình Thạnh, Nhà Bè, Nam Thủ Đức và một phần nhỏ ở Cần Giờ Mặt cắt địa chất điển hình nhất của hệ tầng gồm hai lớp Lớp dười chủ yếu là bùn sét, bùn sét pha màu xám đen, lẫn ít xác thực vật có mức độ phân hủy kém Lớp trên cát lẫn bột màu nâu, nâu vàng, bão hòa nước, một số nơi không có lớp này

2.2 KIẾN TẠO

Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí thuộc phần rìa Đông Bắc trũng Kainozoi Cửu Long, là vùng chuyển tiếp giữa vùng nâng hoạt hóa Mezozoi Đà Lạt và vùng sụt võng Cửu Long Phía Bắc được phân định với vùng nâng Đà Lạt bởi hệ thống đứt gãy Bà Rịa – Biên Hòa – Lộc Ninh Phía Nam tiếp giáp với vùng sụt võng Kainozoi Cửu Long bởi hệ thống đứt gãy sông Vàm Cỏ Đông [2]

Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có hai hệ thống đứt gãy chính là Tây Bắc – Đông Nam và Đông Bắc – Tây Nam Hệ thống đứt gãy Tây Bắc – Đông Nam gồm các đứt gãy Bà Rịa – Biên Hòa, sông Sài Gòn, Lê Minh Xuân, Lý Nhơn, sông Vàm Cỏ Đông Đây là các đứt gãy thuận có mặt trươt nghiêng về Tây Nam với góc dốc gần như thẳng đứng (80 – 850) Mặt móng Kainozoi qua các đứt gãy tạo nên hình thái cấu trúc dạng bậc thang kéo dài theo phương Tây Bắc – Đông Nam Hệ thống đứt gãy Đông Bắc – Tây Nam gồm các đứt gãy Hóc Môn – Tân Uyên, Bình Chánh – Phước Tân Các đứt gãy này phát sinh vào thời kỳ Mezozoi muộn là thời kỳ hoạt động tích cực của rìa lục địa Trong Kainozoi chúng hoạt động yếu và bị cắt bởi hệ thống đứt gãy Tây Bắc – Đông Nam Hai hệ thống đứt gãy này tạo nên một mạng lưới đứt gãy và hình thành các khối cấu trúc dương và âm trong lịch sử phát triển Kainozoi [2]

Trang 20

bộ, bao gồm các vật liệu hạt thô như cuội, sỏi, cát hạt thô chuyển dần lên là cát hạt trung, bột và các thấu kính Kaolin

Sau một thời gian dài gián đoạn trầm tích, vào thời kỳ giữa muộn của Pleistoxen sớm (Q12-3) khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận từ từ lún chìm, biển lại tiến vào Trên bề mặt bào mòn bắt đầu tích tụ các trầm tích nhiều tướng thuộc hệ tầng Trảng Bom (Q12tb) [2]

Quá trình biển tiến trong giai đoạn Pleistoxen giữa - muộn (Q2–3) đã tạo nên sự phân bố rộng rãi và ổn định của các trầm tích hệ tầng Thủ Đức (Q2–3 tđ) Chúng tạo

nên các bậc thềm tích tụ, xâm thực cao 30 – 40m [2] Cuối thời kỳ Pleistoxen giữa – muộn biển triệt thoái khỏi lãnh thổ, khu vực Thành phố sau đó bước sang thời kỳ nâng cao, bóc mòn Đới laterite trên cùng của hệ tầng Thủ Đức là biểu hiện của quá trình biển lùi này

Vào giai đoạn cuối Pleistoxen muộn (Q33) biển lại tiến vào đồng bằng Nam Bộ và khu vực Thành phố hình thành hệ tầng Củ Chi (Q33cc) gồm cát sạn sỏi thạch anh, sét

Kaolin màu xám trắng nguồn gốc sông, sông – biển Trong khoảng từ cuối Pleistoxen muộn (Q33) kéo sang một phần của đầu Holoxen sớm – giữa (đầu Q41-2) biển lại từ từ triệt thoái hoàn toàn khỏi phạm vi đồng bằng Nam Bộ, khu vực Thành phố bị xâm thực và bào mòn mạnh mẽ Quá trình laterite hóa theo phương thức thấm đọng trong trầm tích hệ tầng Củ Chi đã diễn ra trên một khu vực rộng lớn Ranh giới giữa Pleistoxen và Holoxen được đánh dấu bằng một thời kỳ gián đoạn trầm tích dài

Đầu Holoxen sớm – giữa (Q41-2) biển lại tiến vào lục địa và đạt cực đại ở Holoxen giữa tạo ra một lượng đáng kể các trầm tích biển và hỗn hợp sông biển trải rộng trên đồng bằng Nam Bộ Tại khu vực Thành phố kết quả của đợt biển tiến này đã hình thành các trầm tích của hệ tầng Bình Chánh (Q41-2bc) gồm sét, sét bột chứa ít cát và cát

sạn lẫn sét bột nguồn gốc biển và hỗn hợp sông biển, phân bố chủ yếu ở Bình Chánh, Hóc Môn, Nam Thủ Đức, Nhà Bè và dọc các thung lũng Sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai Hệ tầng Bình Chánh phủ không chỉnh hợp lên hệ tầng Củ Chi (Q33cc)

Từ cuối Holoxen giữa đến nay hoạt động nâng yếu xảy ra, biển từ từ rút theo hướng Đông Nam Tại khu vực Thành phố hình thành các trầm tích của hệ tầng Cần Giờ (Q42-3cg) gồm các lớp sét màu xám đen, xám nâu, trên đó là than bùn hoặc sét

Trang 21

chứa hữu cơ, có nguồn gốc sông biển, đầm lầy biển, đầm lầy sông, phân bố rộng rãi ở các huyện Cần Giờ, Nhà Bè Nam Thủ Đức, dọc thung lũng sông Sài Gòn và dọc trũng

Lê Minh Xuân Trên diện tích vùng Cần Giờ và Nhà Bè hệ tầng Cần Giờ phủ chỉnh hợp lên hệ tầng Bình Chánh [2]

Nhìn chung, trầm tích đệ tứ khu vực Thành phố được chia thành 5 nhịp ứng với các thời kỳ thành tạo khác nhau Mỗi nhịp, bắt đầu bằng trầm tích hạt thô, kết thúc là trầm tích hạt mịn Các thời kỳ gián đoạn trầm tích thường tạo ra những bề mặt phong hóa loang lổ vàng đỏ hoặc đá ong do laterite hóa theo phương thức thấm đọng

2.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO – TÂN KIẾN TẠO

2.3.1 ĐỊA MẠO

Dựa vào đặc điểm nguồn gốc – hình thái, khu vực Thành phố Hồ Chí Minh được chia ra các dạng địa hình: xâm thực - tích tụ, tích tụ – xâm thực và tích tụ Chúng là kết quả tác động tương hỗ trợ của các quá trình nội sinh và ngoại sinh Theo báo cáo

đã công bố [2], liên quan đến khu vực nghiên cứu có các dạng địa hình chính như sau: Đồng bằng cao – tích tụ hỗn hợp sông biển: có độ cao tuyệt đối từ 2 – 5m, cấu tạo bởi các trầm tích hỗn hợp sông biển hệ tầng Bình Chánh gồm cát, bột, sét, phần trên mặt bị phong hóa yếu có màu xám vàng, phân bố ở các quận nội thành, Bắc – Đông Bắc Bình Chánh và rải rác ở Thủ Đức

Đồng bằng cao – tích tụ biển: độ cao 2 – 5m, cấu tạo bởi các trầm tích biển hệ tầng Bình Chánh gồm sét, sét bột màu xám xanh, xám ghi, phần trên bị phong hóa yếu

có loang lổ vàng, phân bố ở Tây Nam Bình Chánh Bề mặt địa hình bằng phẳng, bị mạng lưới sông rạch phân cắt mạnh

Đồng bằng thấp – tích tụ hỗn hợp sông biển: độ cao từ 1 – 2m, cấu tạo bởi các trầm tích sét bột, cát có nguồn gốc hỗn hợp sông biển thuộc hệ tầng Cần Giờ, phân bố hầu như toàn bộ diện tích huyện Nhà Bè Đồng bằng có bề mặt bằng phẳng, ít bị ngập nước và bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông, rạch

Trang 22

Đồng bằng có bề mặt bằng phẳng bị ngập nước do thủy triều và bị chia cắt mạnh bởi

hệ thống sông rạch

Đồng bằng thấp – tích tụ hỗn hợp đầm lầy sông: cao độ từ 0 – 0,7m, cấu tạo bởi các trầm tích hiện đại (Q43) gồm sét, bột cát và thực vật đang phân hủy, nguồn gốc hỗn hợp đầm lầy sông, phân bố ở Tây Nam Thủ Đức Bề mặt đồng bằng thường xuyên bị ngập nước và bị phân cách mạnh bởi hệ thống sông rạch Thảm thực vật đầm lầy phát triển mạnh

Bãi bồi tích tụ hỗn hợp sông biển: cao độ từ 0 – 1m, cấu tạo bởi các trầm tích gồm sét, cát, bột nguồn gốc sông biển, chủ yếu phân bố ở Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ dọc theo các thung lũng sông Bề mặt bãi bồi phẳng, hẹp, ngập nước khi thủy triều lên

và bị phân cắt mạnh bởi mạnh sông rạch

Đầm lầy ven biển: độ cao từ 0 – 1m, cấu tạo bởi các trầm tích sét, bột sét màu xám đen, đen chứa tàn tích thực vật phân hủy yếu nguồn gốc biển, đầm lầy biển, hoặc hỗn hợp sông biển, phân bố ở Cần Giờ Đầm lầy có bề mặt bằng phẳng, bị ngập nước thường xuyên, thảm thực vật nước mặn phát triển mạnh

Nhìn chung, địa hình khu vực nghiên cứu có sự phân bậc tương đối rõ rệt, quy luật phân bố của nó liên quan mật thiết với tuổi và nguồn gốc thành tạo của các trầm tích

2.3.2 TÂN KIẾN TẠO

Hoạt động tân kiến tạo là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên những nét cơ bản của địa hình hiện nay ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh Sự có mặt của hoạt động tân kiến tạo tại khu vực này thể hiện tương đối rõ nét ở sự tái hoạt động của nhiều đứt gãy trong Kainozoi tạo chuyển động nâng hạ theo phương thẳng đứng hình thành các khối nâng, hạ và bậc thềm trong khu vực, ở sự thành tạo các mạng sông rạch hoặc kéo thẳng song song hoặc gấp khúc vuông góc Các phun trào bazan trẻ Phước Tân và Xuân Lộc có thể liên quan đến các hoạt động đứt gãy trẻ Cuối cùng, các biểu hiện của động đất dọc theo đứt gãy Bà Rịa – Biên Hòa – Lộc Ninh và sự phá

vỡ bờ biển hiện tại ở duyên hải cũng đều chứng tỏ sự có mặt của các hoạt động tân kiến tạo

Trang 23

2.5 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN

Theo các tài liệu đã công bố, trong các trầm tích Kainozoi khu vực nghiên cứu có

4 phân vị chứa nước chủ yếu [3]: Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Holoxen (Q4), tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistoxen (Q1-3), tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Plioxen trên (N22), tầng chứa nước các trầm tích Plioxen dưới (N21)

2.5.1 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Holoxen (Q 4 )

Phân bố ngay trên mặt, chủ yếu trên các địa hình đồng bằng tich tụ, bãi bồi và đầm lầy ven biển, thành phần là bột, bột sét, cát mịn chứa nhiều vật chầt hữu cơ, bề dày thay đổi từ vài mét đến vài chục mét

Đây là tầng chứa nước không áp hoặc áp lực yếu, rất nghèo nước, lưu lượng các giếng 0,1 - 2l/s, tỷ lưu lượng nhỏ hơn 0,2l/s.m, mực nước tĩnh cách mặt đất 0,1 - 2m,

có quan hệ thuỷ lực trực tiếp với nước sông và bị ảnh hưởng mạnh bởi thuỷ triều Điều kiện thủy địa hoá tầng nước này rất phức tạp và thay đổi theo mùa, trong phạm vi nghiên cứu, nước hầu như bị nhiễm phèn và nhiễm mặn nặng, tổng độ khoáng hoá thay đổi từ 1,25 – 12,43g/l, loại hình hoá học nước Cl - Na chiếm ưu thế

2.5.2 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistoxen (Q 1- 3 )

Phân bố rộng rãi trên toàn bộ khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, lộ ra trên mặt tại các vùng Củ Chi, Hóc Môn và Bắc Thủ Đức, phần còn lại bị phủ bởi các trầm tích Holoxen, đất đá chủ yếu là cát hạt trung, cát hạt thô lẫn sạn sỏi Tầng này có thể phân

ra hai lớp chứa nước: Lớp trền dày 10 - 35m, lớp dưới 30 - 80m, giữa hai lớp là các lớp sét, sét pha liên tục, dày 5 - 15 m Đây là tầng chứa nước áp lực hoặc áp lực yếu Tầng chứa nước Pleistoen có mức độ chứa nước từ trung bình đến giàu Vùng giàu nước phân bố ở Hóc môn, Bình Chánh, các vùng nội thành với lưu lượng khai thác các giếng khoan 10 - 120m3/h, tỷ lưu lượng 1,1 - 4,5l/s.m Vùng giàu nước trung bình phân bố ở Thủ Đức, quận 4, 8 và Bắc Nhà Bè với lưu lượng các giếng 10 - 60m3/h, tỷ

Trang 24

Nước có tổng độ khoáng hoá từ 0,1 - 17,64g/l Nước nhạt phân bố ở Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, và các quận nội thành với tổng độ khoáng hoá 0,1 - 0,9g/l, loại hình hoá học chủ yếu là HCO3 - Cl, HCO3 hoặc Cl - HCO3, chất lượng nước khá tốt Tuy nhiên, hàm lượng sắt hơi cao, từ 1 - 5mg/l, có nơi đến 12mg/l Nước lợ phân bố ở Nam Thủ Đức, Nhà Bè, Cần Giờ với tổng khoáng hoá 1,2 - 17,64g/l, loại hình hoá học chủ yếu là Cl - HCO3 hoặc Cl - Na

Tầng chứa nước này đã có đã dấu hiệu nhiễm bẩn các hợp chất Nitơ với hàm lượng NO3 khá phổ biến 3 - 6mg/l, hàm lượng NO2 đến hơn 1mg/l, nước thường có hàm lượng vi sinh cao hơn tiêu chuẩn cho phép

2.5.3 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Plioxen trên (N 2 2 )

Tầng chứa nước Plioxen trên phân bố hầu như trên toàn bộ diện tích khu vực Thành phố và không lộ ra trên mặt, thành phần đất đá chủ yếu là cát mịn đến thô, lẫn cuội sỏi và xen kẹp các thấu kinh cát bột, sét bột bề dày tầng chứa nước thay đổi từ vài chục mét ở phía bắc đến hơn 100m ở phía Nam Đây là tầng chứa nước có áp, chiều cao áp lực từ 50 - 60m đến hơn 100m tính từ mái tầng chứa nước

Tầng này có mức độ chứa nước từ trung bình đến giàu Vùng giàu nước phân bố ở Hóc Môn, Tân Bình và Gò Vấp với lưu lượng khai thác 50 - 142m3/h, tỷ lưu lượng 1,0 – 14,56l/s.m Vùng giàu nước trung bình phân bố ở quận 6, quận 8, Bình Chánh và Bắc Nhà Bè với lưu lượng khai thác 10 - 50m3/h, tỷ lưu lượng 0,21 - 0,96l/s.m Động thái nước trong tầng tương đối ổn định, không có quan hệ thuỷ lực với các tầng chứa nước lân cận

Đặc điểm thuỷ hoá của tầng chứa nước này rất phức tạp Đường biên mặn (1g/l) chạy dọc theo hai bên bờ sông Sài Gòn, càng về phía Nam biên mặn càng mở rộng về hai phía Đông và Tây Trong vùng mặn này tổng độ khoáng hoá của nước thay đổi 1 -25g/l, càng về phía biển độ mặn càng tăng, loại hình hoá học nước Cl - Na Phần diện tích còn lại là nước ngọt với tổng độ khoáng hoá 0,01 - 0,72g/l, loại hình hoá học chủ yếu là HCO3, HCO3 – Cl, đôi chỗ là Cl – HCO3, nước có hàm lượng sắt tương đối cao,

5 - 15mg/lm có nơi trên 50mg/l

Trang 25

2.5.4 Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Plioxen dưới (N 2 1 )

Tầng này không xuất lộ trên mặt, phân bố rộng rãi ở Củ Chi, Hóc Môn, khu vực phía Tây và Tây Nam Thành phố, thành phần đất đá chủ yếu là cát mịn đến thô chứa sạn sỏi nhỏ, bề dày trung bình 50 - 70m, dày nhất ở phần trung tâm tới 100m và mỏng dần ra phía rìa đông đến vát hẳn Bên trên tầng chứa nước là lớp sét, bột sét chứa carbonat dày 7 - 15m tương đối liên tục Đây là lớp ngăn cách tầng với tầng chứa nước Plioxen trên (N22)

Tầng chứa nước Plioxen dưới mức độ giàu nước từ giàu đến trung bình Vùng giàu nước chủ yếu phân bố ở Củ Chi, Lưu lượng các giếng khoan 120 - 150m3/h, tỷ lưu lượng 1,87 - 2,6l/s.m, chất lượng nước tốt, chứa ít sắt, tổng độ khoáng hoá 0,2 -0,9g/l, loại hình hoá học nước HCO3 – Na Vùng giàu nước trung bình phân bố chủ yếu ở Hóc Môn, Gò Vấp, Tân Bình, quận 8, Bình Chánh và Bắc Nhà Bè, lưu lượng các giếng khoan 15 - 30m3/h, tỷ lưu lượng 0,36 - 0,8l/s.m, chất lượng mước tốt, tổng

độ khoáng hoá 0,1 - 0,57g/l, nước thuộc loại HCO3, HCO3 – Cl Vùng bị mặn phân bố thành hai dải hẹp dọc theo sông Sài Gòn, tổng độ khoáng hoá của nước 3 - 5g/l, hàm lượng sắt khá cao

Động thái của tầng chứa nước tương đối ổn định và không có quan hệ thủy lực với các tầng chứa nước khác

Như vậy, trong các trầm tích Kainozoi khu vực nghiên cứu có mặt 4 tầng chứa nước chính, hai tầng chứa nước Pleistoxen và Holoxen nằm tương đối nông, giữa chúng có lớp sét cách nước tương đối dày nhưng không liên tục do vậy có quan hệ thủy lực với nhau động thái thay đổi rõ rệt theo mùa và chịu tác động của thủy triều, nước thường có áp hoặc có áp yếu Đây là những đối tượng ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn các giải pháp xử lý nền

Trang 26

CHƯƠNG 3

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH CÁC TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ

Các thành tạo trầm tích bở rời thuộc tầng cấu trúc Holoxen và phụ tầng cấu trúc Pleistoxen tham gia chủ yếu vào cấu trúc địa chất khu vực phía Nam thành phố Hồ Chí Minh, trong giới hạn độ sâu từ 30 - 50m Theo các công trình nghiên cứu đã công bố, đặc điểm địa chất công trình các trầm tích đệ tứ được trình bày cụ thể trong các mục dưới đây

3.1.1 Trầm tích nguồn gốc sông biển hệ tầng Thủ Đức (amQ2-3 tđ)

Trầm tích này phân bố rộng rãi ở khu vực nghiên cứu, song chỉ lộ ra một phần ở phía Bắc Thủ Đức, diện tích còn lại bị phủ bởi các trầm tích trẻ hơn với bề dày tương đối lớn Thành phần của hệ tầng gồm đất sét màu xám trắng loang nâu đỏ, sét pha, cát pha màu xám trắng, nâu vàng và cát màu xám vàng loang trắng Nét đặc trưng là các trầm tích này bị phong hóa nên có màu sắc sặc sỡ và được gắn kết ở các mức độ khác nhau Các nghiên cứu cho thấy bề mặt của hệ tầng liên tục, có sự chuyển tướng từ dưới lên và bị phong hóa kiểu thấm lọc tạo nên vỏ ferit hóa ở đới ảnh hưởng của nước ngầm

Nhìn chung các trầm tích này có trạng thái từ dẻo cứng đến nửa cứng, độ chặt trung bình, độ nén lún thấp, khả năng chịu tải từ trung bình đến cao, sức kháng xuyên tiêu chuẩn N30 = 11 - 22 Các chỉ tiêu tính chất cơ lý [4] của trầm tích nguồn gốc sông biển hệ tầng Thủ Đức được trình bày trong bảng 2.1

3.1.2 Trầm tích nguồn gốc sông biển hệ tầng Củ Chi (amQ 3 3cc)

Hệ tầng Củ Chi (amQ33cc) có thành phần đất đá đa dạng, bề dày thay đổi từ 2,5

-25m Các trầm tích này phân bố rộng khắp nhưng không lộ ra liên tục ở các quận 3, 5,

10, Tân Bình, Phú Nhuận và Gò Vấp, phần diện tích còn lại bị bao phủ bởi các trầm tích trẻ hơn Theo đặc điểm địa chất công trình có thể chia trầm tích hệ tầng Củ Chi thành 2 tập: tập trên và tập dưới

Trang 27

Tập trên:có thành phần chủ yếu là sét, sét pha nâu vàng, loang lổ lẫn sạn sỏi

laterite, trạng thái nửa cứng đến cứng, bề dày 3 - 8m, có nơi hơn 10m Phần trên cùng của tập này có độ chặt cao, sức kháng xuyên đầu mũi qc = 100 - 200kG/cm2, sức kháng xuyên tiêu chuẩn N30 = 30 - 80 và lớn hơn, tính nén lún nhỏ và độ bền tương đối cao

Tập dưới: có thành phần chủ yếu là cát pha và cát hạt mịn đến thô, độ chặt trung

bình, sức kháng xuyên đầu mũi của đất qc = 20 - 70kG/cm2 và lớn hơn, sức kháng xuyên tiêu chuẩn N30 = 8 - 32 và lớn hơn, tính nén lún trung bình, độ thấm tương đối cao

Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý [4] của trầm tích hệ tầng Củ Chi được trình bày trong bảng 2.2

3.1.3 Trầm tích hệ tầng Bình Chánh (Q 1-2 4bc)

Trầm tích hệ tầng Bình Chánh có thành phần đất đá đa dạng, chưa được nén chặt,

hệ số rỗng, độ sệt, độ bão hòa và tính biến dạng lớn, độ bền thấp, nguồn gốc biển và hỗn hợp sông biển Hệ tầng này phân bố rộng rãi trong khu vực nghiên cứu, lộ ra chủ yếu ở các quận Tân Bình, quận 1, 3, 4, 5, 6, 10 và rìa quận Gò Vấp, Phú Nhuận

Các trầm tích nguồn gốc sông biển (amQ1-24bc) phân bố khá phổ biến tại thành

phố Hồ Chí Minh, lộ ra ở các quận 4, 5, 6, 8, 11 và Bình Chánh, phần còn lại bị phủ bởi các trầm tích hệ tầng Cần Giờ (Q2-34cg), thành phần chủ yếu là sét, bùn sét, bùn sét

pha, đôi chỗ có cát pha và cát hạt mịn Đất chưa được nén chặt, hệ số nén chặt tự nhiên

Kđ nhỏ hơn 0, trạng thái dẻo mềm đến chảy, liên kết keo xúc biến, độ bền không đáng

kể, khối lượng thể tích tự nhiên 1,45 - 1,85g/cm3, hệ số rỗng từ 0,8 đến 2 và lớn hơn,

hệ số nén lún a1-2 từ 0,09 đến 0,634 cm2/kG Giống như các trầm tích biển, tại những nơi lộ ra trên mặt, đất bị phong hóa yếu có màu vàng loang lổ Tuy nhiên, do địa hình thấp, mực nước ngầm nằm nông, bị ảnh hưởng của thủy triều nên lớp này có bề dày không đáng kể Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý [4] của trầm tích hệ tầng Bình Chánh được trình bày trong bảng 2.3

Trang 28

Bảng 2.1: Các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích hệ tầng Thủ Đức (amQ2-3 tđ)

Stt Tên chỉ tiêu Ký

hiệu Đơn vị

Tên đất đá Sét màu

xám trắng, loang nâu

đỏ

Sét pha màu xám trắng, nâu vàng

Cát pha màu xám trắng, nâu vàng

Cát màu xám trắng loang vàng

Trang 29

Bảng 2.2: Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của hệ tầng Củ Chi (amQ33cc)

Stt Tên chỉ tiêu Ký

hiệu Đơn vị

Tên đất đá Sét màu

xám vàng, loang nâu

đỏ

Sét pha màu nâu vàng

Cát pha màu xám vàng

Cát mịn đến thô màu xám vàng

Trang 30

Bảng 2.3: Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích (amQ1-24bc) hệ tầng Bình Chánh

Stt Tên chỉ tiêu Ký

hiệu Đơn vị

Tên đất đá

Sét màu xám xanh dẻo chảy

Bùn sét màu xám xanh

Bùn sét pha màu xám xanh

Cát pha sét màu xám xanh

Trang 31

3.1.4 Trầm tích hệ tầng Cần Giờ (Q 2-3 4cg)

Các trầm tích hệ tầng Cần Giờ phân bố rộng rãi và có nhiều nguồn gốc khác nhau như sông, biển, hỗn hợp sông biển, đầm lầy biển, đầm lầy sông, gió biển, song phổ biến hơn cả là các trầm tích nguồn gốc sông biển, đầm lầy biển và đầm lầy sông Lộ ra chủ yếu ở quận 8, Bình Thạnh và rìa phía Đông các quận 1, 4 và Gò Vấp

Trầm tích nguồn gốc sông biển (amQ2-34cg) phân bố chủ yếu ở các huyện Bình

Chánh, Nhà Bè, Bình Thạnh và một diện tích nhỏ ở Cần Giờ Mặt cắt địa chất điển hình nhất của hệ tầng gồm 2 lớp Lớp dưới chủ yếu là bùn sét, sét pha màu xám đen, lẫn ít thực vật có mức độ phân hủy kém Lớp trên là cát lẫn bột màu nâu, nâu vàng, bão hòa nước Tuy nhiên nhiều nơi không có lớp này Nhìn chung, trầm tích hệ tầng Cần Giờ đang ở giai đoạn đầu của quá trình tạo đá nên hệ số nén chặt tự nhiên Kđ nhỏ hơn 0, các đặc trưng về trạng thái vật lý của đất thay đổi không rõ rệt theo chiều sâu, thường ở trạng thái chảy, chảy ẩn, liên kết keo xúc biến, độ bền không đáng kể, độ ẩm

tự nhiên thường cao hơn giới hạn chảy và thay đổi trong khoảng 50 - 85% hoặc lớn hơn, dung trọng tự nhiên đất 1,26 - 1,75g/cm3, dung trọng hạt 2,46 - 2,68g/cm3 Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích (amQ2-3

2.4

Trầm tích nguồn gốc đầm lầy biển (bmQ2-34cg) phân bố chủ yếu ở các huyện Nhà

Bè, Cần Giờ, gồm bùn sét, bùn sét pha màu xám đen, chứa 20 - 30% tạp chất hữu cơ

và vụn thực vật phân hủy kém, bề dày 2 - 10m và lớn hơn, phủ chỉnh hợp lên các trầm tích hệ tầng Bình Chánh, bề mặt bị ngập nước thường xuyên, trên đó thảm thực vật đầm lầy nước mặn phát triển mạnh Các trầm tích này có độ ẩm cao, thông thường 70 -90% và lớn hơn, trạng thái chảy, hệ số rỗng rất lớn, độ sệt thay đổi rộng, rất kém ổn định, tính thấm và độ bền nhỏ, tính nén lún lớn, hệ số nén lún a1-2 thay đổi trong hoảng 0.5 - 1cm2/kG và lớn hơn Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích (bmQ2-34cg)

[4] được trình bày trong bảng 2.5

Trang 32

mùn thực vật, chiều dày 0,1 - 0,3m Các trầm tích đầm lầy sông hệ tầng Cần Giờ phủ chỉnh hợp lên sét màu xám xanh hệ tầng Bình Chánh Do đó, bề dày đất yếu tương đối lớn Tuy nhiên, đôi nơi nhỏ hơn độ rỗng và tính nén lún lớn, độ bền nhỏ, hàm lượng hữu cơ thường biến đổi trong khoảng từ 6 - 15% đến 50 - 60% Đất có tính bất đẳng hướng rõ rệt về tính thấm, tính biến dạng và độ bền Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích (baQ2-34cg) [4] được trình bày trong bảng 2.6

Nhìn chung, các trầm tích hệ tầng Cần Giờ đều là đất yếu, chứa một lượng đáng

kể vật chất hữu cơ và hàm lượng của nó liên quan mật thiết với nguồn gốc thành tạo, thấp nhất là trong trầm tích nguồn gốc sông biển, kế đó là trầm tích nguồn gốc đầm lầy biển và đầm lầy sông Ngoài ra, trong các trầm tích đầm lầy sông còn có mặt than bùn phân bố tương đối rộng, biến đổi mạnh về chiều dày, độ ẩm cao, hệ số rỗng và tính nén lún lớn, độ bền nhỏ và bất đẳng hướng rõ rệt về tính thấm, tính biến dạng và độ bền Do đó, sự có mặt của chúng trong cấu trúc nền đất gây nhiều khó khăn cho công tác khảo sát thiết kế, xử lý nền móng và thi công xây dựng, ảnh hưởng bất lợi đến độ

ổn định của công trình, làm cho nền rất nhạy cảm trước các tác động của con người

Từ những trình bày trên có thể nhận thấy tính chất cơ lý của trầm tích phụ thuộc vào tuổi và nguồn gốc của chúng Các trầm tích Pleistoxen cổ hơn (hệ tầng Thủ Đức

và Củ Chi) có mức độ thành đá cao hơn, độ bền lớn hơn, được đặc trưng bởi độ ẩm tự nhiên, độ rỗng, độ sệt, độ nén lún tương đối thấp, còn dung trọng tự nhiên, sức kháng cắt, module tổng biến dạng và khả năng chịu tải tương đối cao Các trầm tích Holoxen trẻ hơn (hệ tầng Bình Chánh, Cần Giờ) có mức độ thành đá thấp và độ bền rất nhỏ, về

cơ bản, đều là các loại đất yếu, có độ ẩm tự nhiên vượt quá giới hạn chảy, tính nén lún rất lớn và nhạy cảm với các tác động bên ngoài Các trầm tích nguồn gốc đầm lầy có hàm lượng vật chất hữu cơ cao làm cho đất có tính bất đẳng hướng rõ rệt về tính thấm, biến dạng và độ bền

Trang 33

Bảng 2.4: Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích (amQ2-34cg) hệ tầng Cần Giờ

STT Tên chỉ tiêu Ký

hiệu Đơn vị

Tên đất đá Bùn sét màu xám

đen

Bùn sét pha màu xám đen

Trang 34

Bảng 2.5: Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích (bmQ2-34cg) hệ tầng Cần Giờ

Stt Tên chỉ tiêu Ký

hiệu Đơn vị

Tên đất đá Bùn sét hữu cơ màu

Trang 35

Bảng 2.6: Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích (ba Q2-34cg) hệ tầng Cần Giờ

Stt Tên chỉ tiêu Ký

hiệu Đơn vị

Tên đất đá Bùn sét hữu cơ màu

Trang 36

3.2 CÁC QUÁ TRÌNH ĐỊA CHẤT ĐỘNG LỰC

3.2.1 Quá trình phong hóa

Đất đá chịu tác động của rất nhiều yếu tố như địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn…, tạo nên bề mặt phong hóa khá phổ biến nhất là các thành tạo Pleistocen

Tác động rửa lũa, hòa tan các thành phần dễ hòa tan trong đất đá và sự dao động của mực nước ngầm thúc đẩy quá trình phong hóa tạo nên lớp vỏ laterit, đây là lớp chịu lực tốt cho các công trình

3.2.2 Quá trình do tác động của dòng nước mặt

Các quá trình do tác động của dòng nước mặt chủ yếu là nước mưa tạo nên các mương sói, rãnh sói, rửa trôi (Phước Long, Tăng Nhơn Phú…) Hiện tượng xói lở bờ sông, sóng vỗ bờ xảy ra dọc sông Sài Gòn gây trượt lở và ảnh hưởng cho các công trình trên đó

Hiện nay, tình trạng ngập lụt đang diễn ra thường xuyên tại khu vực Thành phố

Hồ Chí Minh do quá trình xây dựng, phát triển công nghiệp hóa và đô thị hóa làm cho diện tích điểm thu nước bị thu hẹp lại

Xâm thực

Các quá trình xâm thực bờ sông, bờ biển đã trực tiếp ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế – xã hội của thành phố Thiệt hại do xâm thực trên địa bàn thành phố ước tính mỗi năm có thể lên đến hàng nghìn tỉ đồng Do vậy quá trình xâm thực bờ sông,

bờ biển của thành phố là vấn đề vô cùng quan trọng

- Xâm thực bờ sông: có thể quan sát bằng hiện tượng sạt lở bờ, phát triển các bờ,

các bãi dọc theo sông suối hoặc sự hình thành phát triển khúc uốn nhiều năm Tốc độ xâm thực trung bình để tạo nên khúc uốn Bình Quới, Thủ Thiêm, Tân Thuận là 1 -1,33m/năm

- Xâm thực bờ biển: Thành phố Hồ Chí Minh với khoảng 15km đường biển ở gần

Cần Giờ Bãi biển, bờ biển Cần Giờ có dạng địa hình đặc trưng được hình thành chủ yếu bởi thủy triều như bãi triều cao, bãi triều thấp…

Trang 37

Đường bờ theo các tài liệu quan sát năm 1957, 1969, 1977, 1981, 1995 đều bị lở

về phía đường đất liền, mỗi năm trung bình từ 4 - 12m Từ năm 1985 đến nay chúng vẫn có xu hướng lở là chính

Vùng cửa sông ven biển Cần Giờ xét về mặt hình thái là vùng bị phá hủy Trong khoảng 50 năm ngần đây đường bờ biển biến động lấn về phía đất liền

Bồi tụ

Hiện nay nhiều sông, kênh rạch bị xuống cấp trầm trọng trên địa bàn thành phố

Sự xuống cấp này có sự tham gia tích cực của quá trình bồi tụ Trên thực tế, quá trình này thường gây ra hậu quả lớn hơn quá trình xâm thực, xói lở bờ nhưng chúng ít được nhận biết, do vậy chưa được quan tâm đúng mức trong xây dựng và phát triển thành phố

Bồi tụ xảy ra trên nhiều vị trí khác nhau, được tác động bởi nhiều yếu tố Bồi tụ đáy sông liên quan tới sự phát triển của các khúc uốn Bồi tụ bãi bồi liên quan đến các quá trình ngập lụt dọc theo sông, kênh, rạch Bồi tụ lấp đầy các rạch trũng, các dòng chảy bị mất dòng Ngoài ra bồi tụ còn do tác động của con người Trong các dạng bồi

tụ trên, bồi tụ dọc sông được coi là nguyên nhân gây sạt lở, xâm thực bờ sông, bồi tụ lấp đầy các rạch trũng có thể tạo nên các túi bùn cho công trình xây dựng Trong nội thành các kênh Nhiêu Lộc, Thị Nghè, Tham Lương… hiện nay bị bồi lấp do nhiều

nguồn vật liệu, đáng kể nhất là do tác động của nhân sinh

Trang 38

3.3.2 Đá xây dựng

Đá xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu là các đá phun trào anđezit, phân

bố chủ yếu ở quận 9, quận Thủ Đức Đá có độ cứng cao dùng làm đá xây dựng, đá dăm trải mặt đường Nguồn tương đối phong phú và hiện nay vẫn còn được khai thác Tuy nhiên việc khai thác đá xây dựng ở thành phố cũng cần phải được cân nhắc kỹ giữ lợi ích do nguồn vật liệu này mang lại và vấn đề bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái

Với những đặc điểm địa chất công trình như Thành phố Hồ Chí Minh đã được nghiên cứu có thể đáp ứng được nhu cầu nguồn vật liệu cần thiết phục vụ cho công trình Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh còn gần với các tỉnh như Đồng Nai, Tây Ninh… là những nơi có khả năng cung cấp nguồn đất đắp phục vụ cho công tác đắp nền hoặc, đắp gia tải… Tuy nhiên cần có những thí nghiệm, điều tra chi tiết hơn nữa

để có thể đưa ra giải pháp lựa chọn nguồn nguyên vật liệu phù hợp với quy mô của công trình

Trang 39

CHƯƠNG 4

CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ

HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG

4.1 MỘT SỐ BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU

Cho đến nay, khái niệm về đất yếu vẫn chưa thật rõ ràng, tuy nhiên đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng đất yếu là những loại đất cĩ khả năng chịu lực nhỏ (thường

<1kG/cm2), cĩ tính nén lún lớn, hầu như bão hịa nước, cĩ hệ số rỗng lớn (e<1)), mơ đun tổng biến dạng nhỏ (thường thì E0<50 kG/cm2), trị số sức kháng cắt khơng đáng kể…[5,7,8,9], và nếu khơng áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp thì việc xây dựng cơng trình trên nền đất yếu này rất khĩ khăn hoặc khơng thể thực hiện được

Đất yếu cĩ thể là đất sét yếu, đất cát yếu, bùn, than bùn, đất than bùn và đất hữu cơ, đất đắp… Đất yếu được thành tạo ở lục địa (đất tàn tích, sườn tích, lũ tích, phong thành, đất lấp, đất đắp) hoặc ở vùng vịnh hoặc ở biển (cửa sơng, tam giác châu, vịnh biển hoặc biển)

Trong xây dựng, khi gặp nền đất yếu khơng thể sử dụng làm nền cơng trình vì khơng thoả mãn yêu cầu nền mĩng thì phải tiến hành xử lý, tạo thành nền nhân tạo để thoả mãn yêu cầu kết cấu về mặt an tồn và sử dụng bình thường Hiện nay, cĩ nhiều biện pháp xây dựng đường đắp trên nền đất yếu Trong đĩ, cĩ một số nhằm cải thiện

sự ổn định của nền đường đắp như giảm trọng lượng nền đắp, tăng chiều rộng nền đường, làm thoải taluy, làm bệ phản áp ., một số biện pháp nhằm tăng cường độ đất nền (tăng c, ϕ), một số biện pháp khác nhằm tăng độ cố kết hoặc giảm độ lún cuối cùng như cọc cát, cọc balat, giếng cát, bấc thấm Nhưng nhìn chung lại thì một số biện pháp xử lý nền trình bày dưới đây đã đạt được hiệu quả và được áp dụng rộng rãi

Trang 40

để làm tăng khả năng chịu lực và hạn chế mức độ biến dạng của đất nền dưới tác dụng của tải trọng công trình Trong thực tế, thường dùng đệm cát, đệm sỏi, đệm đất thay thế lớp đất yếu có chiều dày không lớn hơn 5m dưới móng tường, móng cột trong các công trình dân dụng,

Bệ phản áp được dùng để khống chế vùng biến dạng dẻo phát triển khi nền đường, nền đất đắp nằm trên lớp bùn

Các phương pháp trên bị hạn chế khi lớp đất yếu có chiều dày lớn hoặc trong lớp đất yếu có mực nước nước ngầm nằm cao

4.1.2 Các phương pháp làm tăng độ chặt của nền đất yếu

Đối với các đất có độ rỗng lớn, ở trạng thái rời, bão hoà nước, tính nén lớn hoặc

có kết cấu dễ bị phá hoại và kém ổn định dưới tác dụng của tải trọng (đất cát rời, đất dính ở trạng thái chảy, đất bùn, than bùn ) thì móng công trình không thể đặt trên nền thiên nhiên được, mà cần phải có biện pháp gia cố

Để có thể xây dựng các công trình chịu tải trọng lớn trên nền đất yếu thì người ta thường dùng các phương pháp như cọc cát, cọc đất, nổ mìn, nén trước bằng tải trọng tĩnh, nén chặt trên mặt bằng đầm nện, đầm rung hoặc nén chặt dưới sâu bằng thuỷ chấn và chấn động nhằm làm tăng độ chặt của nền đất, tạo điều kiện cho nền đất có

đủ khả năng chịu lực, hạn chế độ lún và biến dạng không đều

4.1.3 Các phương pháp thoát nước thẳng đứng

Khi xây dựng công trình trên nền đất yếu thì lún do cố kết là một trong những nguyên nhân chính phá hoại công trình Do tính thấm nước của đất loại sét là nhỏ, nên

để hoàn thành giai đoạn cố kết thấm cần có thời gian dài Để rút ngắn thời gian cố kết, nâng cao sự ổn định của công trình người ta thường dùng thiết bị tiêu nước thẳng đứng kết hợp với gia tải trước bằng các khối đắp tạm thời hoặc bơm hút chân không Thiết

bị tiêu nước thẳng đứng bao gồm nhiều loại với các đặc trưng cơ lý khác nhau nhằm tạo ra đường thoát nước nhân tạo cho đất

4.1.3.1 Phương pháp giếng cát

- Mô tả: Phương pháp này gồm hệ thống các cột cát thấm nước và thoát nước tự

do nằm trong một giếng thẳng đứng được tạo thành trong đất yếu và một lớp đệm cát

Ngày đăng: 16/07/2014, 13:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của hệ tầng Củ Chi (amQ 3 3 cc) - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Bảng 2.2 Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của hệ tầng Củ Chi (amQ 3 3 cc) (Trang 29)
Bảng 2.3: Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích (amQ 1-2 4 bc) hệ tầng Bình Chánh - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Bảng 2.3 Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích (amQ 1-2 4 bc) hệ tầng Bình Chánh (Trang 30)
Bảng 2.4: Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích (amQ 2-3 4 cg) hệ tầng Cần Giờ - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Bảng 2.4 Giá trị đặc trưng các chỉ tiêu cơ lý của trầm tích (amQ 2-3 4 cg) hệ tầng Cần Giờ (Trang 33)
Hình 4.1: Sơ đồ bố trí xử lý nền đất yếu bằng giếng cát. - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Hình 4.1 Sơ đồ bố trí xử lý nền đất yếu bằng giếng cát (Trang 41)
Hình 4.2: Sơ đồ bố trí xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm. - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Hình 4.2 Sơ đồ bố trí xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm (Trang 42)
Bảng 4.1: So sánh giếng cát và bấc thấm - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Bảng 4.1 So sánh giếng cát và bấc thấm (Trang 44)
Hình 4.3: Sơ đồ mất ổn định của nền đường trên đất yếu do lún trồi. - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Hình 4.3 Sơ đồ mất ổn định của nền đường trên đất yếu do lún trồi (Trang 49)
Hình 4.4: Biểu đồ xác định số sức chịu tải N c  của nền đất yếu. - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Hình 4.4 Biểu đồ xác định số sức chịu tải N c của nền đất yếu (Trang 50)
Hình 4.9: Sơ đồ thí nghiệm xác định các thông số chất tải trước. - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Hình 4.9 Sơ đồ thí nghiệm xác định các thông số chất tải trước (Trang 55)
Hình 4.11: Sơ đồ tính toán đường thấm tương đương của bấc thấm. - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Hình 4.11 Sơ đồ tính toán đường thấm tương đương của bấc thấm (Trang 58)
Hình 4.10: Sơ đồ bố trí thiết bị tiêu nước thẳng đứng. - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Hình 4.10 Sơ đồ bố trí thiết bị tiêu nước thẳng đứng (Trang 58)
Hình 4.12: Sơ đồ bố trí cọc đo chuyển vị ngang. - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Hình 4.12 Sơ đồ bố trí cọc đo chuyển vị ngang (Trang 62)
Hình 4.13. Cấu tạo bàn đo lún. - LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU  BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP
Hình 4.13. Cấu tạo bàn đo lún (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w