Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi một lượng vốn rất lớn. Là nơi cung cấp vốn chủ yếu cho mọi hoạt động kinh tế, trong những năm qua các NHTM phải không ngừng mở rộng và đa dạng hoá các hoạt động mà đặc biệt là việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng, tạo điều kiện khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Đóng góp vào thành tích trung của ngành ngân hàng, trong những năm qua VP Bank đã có những bước tiến vượt bậc cả về chất và lượng trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là công tác huy động vốn. Những ý kiến đề xuất trong khoá luận chỉ là những đóng góp nhỏ trong tổng thể các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn qua tài khoản tiền gửi. Tuy nhiên em mong rằng những giải pháp này có thể phát huy tác dụng trong sự nỗ lực chung của ngân hàng.
Trang 1CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VIỆC MỞ, SỬ DỤNG
TÀI KHOẢN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng đã xuất hiện lâu trong lịch sử phát triển của loài người Cảtiếng Pháp cổ “Banque” và tiếng Ý “Banca” được sử dụng từ nhiều thế kỷtrước để chỉ “cái ghế dài” hay “bàn của người gửi tiền” là minh chứng chonhận định trên
Thực tế ở Mỹ, NHTM đầu tiên được thành lập năm 1782, trước khihiến pháp liên bang được thông qua và nhiều NHTM được thành lập từ nhữngnăm 1800 đến nay vẫn đang hoạt động Ở Pháp, khái niệm về ngân hàng đãxuất hiện trong luật ngân hàng năm 1941,
Khái niệm về ngân hàng thật phong phú có thể dùa trên tính chất vàmục đích hoạt động hoặc sự kết hợp với đối tượng ở Mỹ, “ngân hàng là loạihình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạngnhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiềuchức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tính chất kinh doanh nào trong nềnkinh tế” ở Pháp, ngân hàng được coi “là những xí nghiệp hay cơ sở nào hànhnghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hìnhthức khác, các số tiền mà họ dùng cho chính họ dùng và hoạt động của chochính họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu tín dụng hay dịch
vụ tài chính” (luật ngân hàng 1941) Còn trong luật ngân hàng Đan Mạch
1930 lại định nghĩa “những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ ký thác,buôn bán vàng, bạc, hành nghề thương mại và hành nghề địa ốc, các phươngtiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảohiểm ”
Ở Việt Nam trong nghị định 49/NĐCP về tổ chức NHTM định nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng có hoạt động chủ yếu và thường
Trang 2xuyên là nhân tiền gửi, cho vay, cung ứng phương tiện thanh toán và các dịch
vụ ngân hàng khác”
Như vậy, tuy khái niệm về ngân hàng có khác nhau, song qua các địnhnghĩa trên ta vẫn thấy nội dung bao trùm về NHTM, đó là chức năng nhậntiền gửi- ký thác của các ngân hàng để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay,chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của ngân hàng
Ngày nay trong tiến trình phát triển chung của nền kinh tế, cùng với sựthông thoáng trong quy định lĩnh vực, phạm vi kinh doanh phù hợp với xu thếhội nhập, các tổ chức tài chính phi ngân hàng càng tham gia nhiều vào lĩnhvực kinh doanh tiền tệ Tuy nhiên vẫn tốn tại một ranh giới nhất định giữangân hàng với các tổ chức phi ngân hàng ở chỗ NHTM là ngân hàng kinhdoanh tiền gửi, chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn Chính từ hoạt động này đãtạo nên chức năng tạo tiền thông qua hệ số nhân tiền trong toàn bộ hệ thốngngân hàng Đó là đặc trưng cơ bản để phân biệt NHTM với các TCTD
1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
Tầm quan trọng của NHTM trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế quốcdân được thể hiện qua các chức năng của nó Xét trên những khía cạnh khácnhau, chức năng của NHTM được đề cập đến là khác nhau, song nhìn chungngười ta vẫn thống nhất NHTM tồn tại và phát triển với 3 chức năng cơ bảnlà: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền
1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
NHTM làm chức năng trung gian tín dụng khi nó là “cầu nối” giữacung và cầu vốn, giữa người có vốn dư thừa và người có nhu cầu về vốn.Thông qua việc huy động vốn của các chủ thể có vốn dư thừa, NHTM đã hìnhthành nên một quỹ để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đi vay của các chủ thể cầnvốn Với chức năng này, ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừađóng vai trò là người cho vay
NHTM thực hiện chức năng này xuất phát từ sự tuần hoàn vốn tiền tệtrong nền kinh tế Bởi trong một thời điểm nhất định có một nhóm chủ thể dưthừa vốn, nhóm khác lại thiếu vốn; và ngay cả trong quá trình sản xuất kinh
Trang 3doanh của một chủ thể cũng có lúc thừa vốn, khi thiếu vốn Lợi dụng đồngvốn sẵn có trong tay mình do huy động được, với khả năng thu thập và xử lýthông tin rất chuyên nghiệp, ngân hàng có thể dế dàng giải quyết mối quan hệcung- cầu tín dụng cả về khối lượng vốn và thời hạn cho vay.
Thông qua chức năng này, NHTM đã góp phần tạo ra lợi Ých cho tất cảcác bên trong mối quan hệ tín dụng này Đối với người cho vay, họ thu đượclợi từ số vốn tạm thời nhàn rỗi thông qua lãi được hưởng Ngay cả khi họkhông có cơ hội hoặc khả năng đầu tư thì họ vẫn làm được điều này Ngoài
ra, họ được an toàn về số tiền đã gửi và được hưởng thêm nhiều tiện Ých khác
từ phía ngân hàng Đối với người đi vay, họ dễ dàng nhanh chóng thoả mãnđược nhu cầu kinh doanh của mình một cách hợp pháp mà không phải tốnnhiều công sức, thời gian Và cũng như người gửi, họ có thể nhận được sự tưvấn miễn phí cho mối quan hệ này Đối với ngân hàng, họ thu được lợi nhuận
từ sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môigiới Lợi nhuận này chính là cơ sở để NHTM tồn tại và phát triển Đối vớinền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuấtđược thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất Với chức năng nàyNHTM đã biến vốn nhàn rỗi, không hoạt động thành nguồn vốn hoạt độngkích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán
Thực hiện chức năng này nghĩa là ngân hàng theo lệnh của khách hàngtrích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụhoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của người khác
NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở nó thựchiện chức năng làm thủ quỹ cho xã hội Việc nhận tiền gửi và theo dõi cáckhoản thu- chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề cho chức năgnnày Ngoài ra, nó còn thực hiện trên cơ sở khắc phục tính kém hiệu quả củathanh toán trực tiếp giữa các chủ thể trong xã hội, xuất phát từ những rắc rốinảy sinh như: chi phí thanh toán cao, rủi ro do trém , cướp,
Trang 4Chức năng trung gian thanh toán của NHTM có ý nghĩa to lớn trongmục tiêu nâng cao tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó tiết kiệmchi phí lluu thông cho toàn xã hội, tăng tốc độ chu chuyển vốn trong mềmkinh tế Đối với ngân hàng, thực hiện chức năng này làm tăng uy tín của ngânhàng và do đó làm tăng khả năng huy động vốn, tăng khả năng cạnh tranh chongân hàng
1.2.3 Chức năng tạo tiền
Từ một lượng tiền cơ sở tăng lên, thông qua hệ thống ngân hàng mộtlượng tiền mới được tạo ra
Sở dĩ NHTM có thể tạo tiền là xuất phát từ 2 chức năng cơ bản là chứcnăng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng cómột “quỹ cho vay” tập trung toàn bộ lượng vốn nhàn rỗi của nền kinh tế.Thông qua chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng có thể trích tài khoảntiền gửi của chủ thể này chi trả cho chủ thể khác Chính quá trình thanh toántiền giữa các chủ thể trong xã hội thông qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
đã tạo ra “tiền bót tệ” Loại tiền này được các NHTM tạo ra bằng khả năngbiến mức tiền gửi ban đầu của một ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thànhmột khoản tiền lớn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng thanhtoán qua ngân hàng Khi một ngân hàng cho vay thông qua tài khoản tại ngânhàng khác, nó làm giảm vốn tại ngân hàng cho vay đồng thời làm tăng tiềngửi tại ngân hàng kia Cứ như vậy, lượng tiền gửi duy trì trên hệ thống ngânhàng từ một lượng tiền nhất định ban đầu tạo khả năng tạo tiền cho ngânhàng Chức năng này của NHTM chỉ có thể thực hiện được nếu vốn màNHTM huy động đã cho vay được và số tiền đó phải được luân chuyển trong
hệ thống ngân hàng, nghĩa là chức năng này của NHTM chỉ xó thể thực hiệnđược nếu xói sự tham gia của một hệ thống các NHTM và luôn có sự trợ giúpcủa NHTƯ
Loại tiền này được các NHTM tạo ra bằng khả năng biến mức tiền gửiban đầu của một ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớngấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng thanh toán qua ngân hàng
Trang 5Khi một ngân hàng cho vay thông qua tài khoản tại một ngân hàng khác nólàm giảm vốn tiền gửi tại ngân hàng cho vay đồng thời làm tăng tiền gửi tạingân hàng kia Cứ như vậy, lượng tiền gửi duy trì trên hệ thống ngân hàng từmột lượng tiền nhất định ban đầu tạo khả năng tạo tiền cho ngân hàng Chứcnăng này của NHTM chỉ có thể thực hiện được nếu vốn mà NHTM huy động
đã cho vay được và số tiền đó phải luân chuyển trong hệ thống ngân hàng,nghĩa là chức năng này của NHTM chỉ có thể thực hiện được nếu có sự thamgia của một hệ thống các NHTM và luôn có sự giúp đỡ của NHTƯ
Tạo tiền là chức năng vốn có của hệ thống NHTM dùa trên sự kết hợpgiữa chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán Vớikhả năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nềnkinh tế, đáp ứng được nhu cầu chi trả của xã hội, mở rộng khái niệm về
“tiền” Chức năng này càng có ý nghĩa trong công tác thanh toán không dùngtiền mặt
1.3 Vai trò của NHTM
Vai trò của NHTM được xác định dùa trên những chức năng và trên cơ
sở các nghiệp vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn, bởi chức năng là tính vốn
có của NHTM, vai trò của NHTM là sự vận dụng các chức năng đó vào hoạtđộng thực tiễn Vai trò của NHTM thay đổi cùng với sự phát triển về kinh tế-
xã hội và phụ thuộc vào các hoạt động chủ quan của các cơ quan pháp lý Cácvai trò của NHTM có thể kể đến là:
1.3.1 Cung ứng vốn cho nền kinh tế
Vốn được tạo lập từ mọi chủ thể trong xã hội thông qua quá trình tíchluỹ, từ tiết kiệm của mỗi cá nhân,doanh nghiệp đến chính phủ Tuy nhiên nếuchỉ dừng lại ở tích tụ vốn mà không diễn ra đồng thời với quá trình tập trungthì nảy sinh một số hạn chế như: tích tụ tự phát không hiệu quả, qui mô vốntạo lập được nhỏ, thời gian sử dụng vốn ngắn; từ đó làm giảm sút quá trìnhtích tụ vì quy mô vốn nhỏ nên có xu hướng tiêu dùng đi
Ngân hàng xuất hiện với chức năng trung gian tín dụng sẽ tập trung cácquỹ nhỏ, lẻ của quá trình tích tụ thành một quỹ khổng lồ Băng vốn huy động
Trang 6được trong nền kinh tế, bằng hoạt động tín dụng, NHTM sẽ cung cấp vốn chomọi hoạt động kinh tế và đáp ứng các nhu cầu một cách kịp thời cho quá trìnhtái sản xuất Như vậy, nhờ có hoạt động của hệ thống NHTM mà đặc biệt làhoạt động tín dụng, các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế có điều kiện mởrộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, nâng cao năng suất lao động,nâng cao hiệu quả kinh tế.
1.3.2 Ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệpchịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luậtcung cầu, quy luật cạnh tranh, và phải sản xuất trên cơ sở nhu cầu của thịtrường trên mọi phương diện: khối lượng, chất lượng, giá cả, tức phải sảnxuất theo tiêu chí: sản xuất theo nhu cầu thị trường không sản xuất theo nănglực của mình Để có thể đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng đa dạng của kháchhàng và tác động khốc liệt của cạnh tranh, bên cạnh nâng cao chất lượng laođộng, cải tiến công tác quản lý, kế toán, thì vấn đề được mọi chủ doanhnghiệp quan tâm đó là máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi nguồnnguyên liệu mới với chi phí và chất lượng phù hợp, Tất cả những nhu cầu
đó cần được thoả mãn với nhu cầu vốn rất lớn Do đó, để giải quyết khó khănnày, các doanh nghiệp bằng nhiều hình thức để tăng lượng vốn cần thiết,trong đó nguồn quan trọng nhất là đi vay ngân hàng, bởi đi vay ngân hàngkhông chỉ nhận được lượng vốn cần thiết đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất,doanh nghiệp còn nhận được những lời tư vấn rất chuyên nghiệp của nhânviên ngân hàng
Vậy là thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng đã kết nối giữa doanhnghiệp với thị trường Nguồn vốn ngân hàng cung cấp cho các doanh nghiệp
đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quátrình sản xuất kinh doanh, đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường và tạo
ra vị thế vững chắc cho doanh nghiệp trên thị trường
1.3.3 NHTM là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trang 7Nền kinh tế thị trường với những quy luật khách quan của nó cần thiếtphải có “bàn tay hữu hình” điều tiết Để đạt được hiệu quả cao trong quá trìnhnày, Nhà nước cần thiết phải sử dụng rất nhiều công cụ, trong công cụ đặcbiệt quan trọng là hoạt động của hệ thống NHTM Thực tế chỉ ra rằng, NHTMhoạt động hiệu quả thông qua các hoạt động kinh doanh của mình sẽ thực sự
là một công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Bằng việc mở rộng tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng trong hệthống NHTM, các NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứngtrong lưu thông, giảm sức Ðp tiền mặt giả tạo Thông qua việc cung ứng tíndụng cho các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắtluồng tiền, tập hợp và phân phối vốn của thị trường, điều chuyển chúng mộtcách có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô “Nhà nước điềutiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”
1.3.4 NHTM là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá thì nhu cầu giao lưu kinh tếgiữa các quốc gia là xu thế tất yếu bởi không thể tồn tại một quốc gia hoạtđộng độc lập, không giao lưu với thế giới bên ngoài Trong vô số hoạt độnghoà nhập giao lưu quốc tế thì nền tài chính mỗi nước cũng bước vào côngcuộc hội nhập Và trong công cuộc đó, các NHTM cùng các hoạt động kinhdoanh của mình đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng Với các nghiệp vụkinh doanh như: nhận tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, NHTM đã tạo điềukiện thúc đẩy ngoại thương không ngưng mở rộng, thực hiện tốt vai trò cầunối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
NHTM ra đời và phát triển trên cơ sở sản xuất và lưu thông hàng hoáphát triển, đến lượt nó, các NHTM thông qua chức năng, vai trò của mình đãtrở thành một bộ phận không thể thiếu trong cơ thể kinh tế của mỗi quốc gia;đóng góp vào sự hội nhập, giao lưu kinh tế quốc tế
1.4 Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM
Trang 8NHTM có chức năng, vai trò quan trọng như vậy là do hệ thống các sảnphẩm dịch vụ mà nó cung cấp, do nó thực hiện nhiều nghiệp vụ nhất trongnền kinh tế NHTM có bao nhiêu nghiệp vụ và đó là những nghiệp vụ gì?
Quan điểm Marketing chỉ ra các nghiệp vụ cơ bản của NHTM theokhách hàng Tuy nhiên quan điểm phổ biến nhất là phân loại nghiệp vụ củaNHTM dùa trên bảng cân đối kế toán của nó, nghĩa là ta chia nghiệp vụ củaNHTM làm 2 mảng: nghiệp vụ tài sản Có, nghiệp vụ tài sản Nợ và vốn tự có
1.4.1 Nghiệp vụ tài sản Có
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đíchnhằm đảm bảo an toàn, cũng như tìm kiếm lợi nhuận của các NHTM Nộidung của nghiệp vụ này bao gồm:
* Nghiệp vụ ngân quỹ
Nghiệp vụ ngân quỹ là nghiệp vụ được NHTM thực hiện thông quaviệc duy trì các quỹ dự trữ để đảm bảo yêu cầu của pháp luật và yêu cầu trongkinh doanh
* Nghiệp vô cho vay
Đây là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt động kinhdoanh của các NHTM Nghiệp vụ này bao gồm các khoản tín dụng ngắn hạn(thời hạn < 1 năm) và tín dụng trung- dài hạn (> 1 năm) đối với nền kinh tế
* Nghiệp vụ đầu tư tài chính
Là nghiệp vụ mà các ngân hàng thực hiện quá trình đầu tư bằng vốncủa mình thông qua các hoạt động: hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứngkhoán trên thị trường,
* Nghiệp vụ khác
Bao gồm các nghiệp vụ như: kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, kim loại,
đá quý; thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân quỹ; nghiệp vụ uỷ thác vàđại lý; kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm; các dịch vụ khác liên quan đến ngânhàng như: dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá; cho thuê két cầm đồ
và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật,
1.4.2 Nghiệp vụ tài sản Nợ và Vốn tự có
Trang 9Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động củaNHTM Khác với nghiệp vụ tài sản Có, đây là nhóm các nghiệp vụ phản ánhnghĩa vụ của ngân hàng với xã hội, bao gồm các nghiệp vụ:
* Nghiệp vụ tiền gửi
Đây là nghiệp vụ phản ánh các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp vàongân hàng với mục đích thanh toán hay bảo quản tiền gửi và các khoản tiềnnhàn rỗi của cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích hưởng lãi Từ cáckhoản tiền gửi này NHTm tạo thành quỹ cho vay phục vụ mục đích kinhdoanh của mình
* Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá
Khi thiếu vốn, NHTM có thể phát hành giấy tờ có giá để tài trợ cho nhucầu của mình Các NHTM sẽ phát hành CDs và trái phiếu nhằm mục đích chủyếu là huy động vốn trung- dài hạn để tài trợ cho các khoản vốn dài hạn củangân hàng vào nền kinh tế
Đây là nghiệp vụ tạo nguồn vốn ổn định cho ngân hàng bởi ngân hàng
kế hoạch được thời gian cũng như số tiền chi trả Tuy nhiên do giá phải trả(lãi suất) cho hình thức huy động này khá cao nên nghiệp này khá cao nênnghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự có vàvốn huy động tiền gửi không đủ
* Nghiệp vụ đi vay
Ngoài mét số hình thức tạo vốn kể trên, các NHTM còn có thể tài trợcho nhu cầu vốn của mình bằng hình thức đi vay các TCTD trên thị trườngtiền tệ và vay NHTƯ dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu
Trang 10Theo luật các TCTD, vốn tự có của NHTM gồm 2 thành phần cơ bảnlà: vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ Vốn tự có giữ vai trò quantrọng trong quá trình hoạt động của ngân hàng thông qua 3 chức năng cơ bảnlà; tạo lập, bảo vệ, phát triển hoạt động Với 3 chức năng này, tuy chiếm tỷtrọng rất nhỏ, song vốn tự có là đòn bẩy cho hoạt động của ngân hàng thôngqua một loạt các chỉ tiêu: tỷ lệ cho vay tối đa một khách hàng/vốn tự có, dư
nợ tối đa/ vốn tự có, tỷ lệ mua sắm tài sản cố định/ vốn tự có,
Do đó, vấn đề bảo toàn và không ngừng phát triển Vốn tự có của ngânhàng theo nhu cầu của sự phát triển là một mục tiêu hướng tới của toàn hệthống NHTM
1.4.3 Các nghiệp vụ trung gian
Đây là những nghiệp vụ không được phản ánh trực tiếp trên bảng cânđối kế toán, tuy nhiên nó góp phần quan trọng cho kết quả kinh doanh củangân hàng, ảnh hưởng tới chi phí của ngân hàng cũng như hỗ trợ các dịch vụcho ngân hàng
Các nghiệp vụ trung gian bao gồm các nhóm nghiệp vụ sau:
- Nhóm các nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nước
- Nhóm các nghiệp vụ kinh doanh hối đoái
- Nhóm các nghiệp vụ liên quan tới vấn đề môi giới và đại lý chứngkhoán
- Nhóm các nghiệp vụ tư vấn tài chính
1.4.4 Các nghiệp vụ ngoại bảng
Đây là những nghiệp vụ chỉ được hạch toán trên các tài khoản ngoạibảng, và được hạch toán theo bót toán đơn: Nhập- Xuất
Nhóm nghiệp vụ này bao gồm:
- Các nghiệp vụ tín dụng cam kết, như bảo lãnh,
- Các cam kết trong giao dịch hối đoái, như: cam kết trong nghiệp vụ
kỳ hạn, tương lai, quyền chọn,
- Các cam kết trong giao dịch về tài sản thế chấp
2 Một số lý luận về việc mở và sử dụng TKTG tại ngân hàng
Trang 112.1 Ý nghĩa của việc mở và sử dụng TKTG tại ngân hàng
Tài khoản tiền gửi chiếm một tỷ trọng quan trọng trong kết cấu tài sản
Nợ của ngân hàng Nó vừa thể hiện quy mô vốn kinh doanh của ngân hàng,vừa thể hiện nghĩa vụ của ngân hàng đối với xã hội, đồng thời cũng thể hiện
uy tín của ngân hàng trên thị trường ý nghĩa quan trọng của việc mở và sửdụng TKTG của khách hàng tại ngân hàng được thể hiện cụ thể:
2.1.1 Đối với người mở và sử dụng tài khoản tiền gửi: họ được hưởng
lợi từ tài khoản tiền gửi hoặc được hưởng những dịch vụ thanh toán qua ngânhàng với sự chính xác, nhanh chóng Ngoài ra, họ còn được đảm bảo an toàn
về tài sản của mình khi giao nã cho ngân hàng Sở dĩ ngân hàng là nơi an toànbởi tính chuyên nghiệp, tính đổ vỡ dây chuyền của nó mà một ngân hàng rađời phải rất khó khăn Vì vậy mà sự hoạt động an toàn của nó luôn là đốitượng của các cơ quan quản lý, điều đó đồng nghĩa với tính an toàn cao củacác tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng
2.1.2 Đối với ngân hàng: Thông qua việc mở và sử dụng tài khoản
tiền gửi tại ngân hàng mà các NHTM có thể huy động vốn với chi phí thấphơn các hình thức huy động khác Từ khoản tiền huy động này, ngân hàng cóthể mở
rộng quy mô hoạt động, mở rộng việc cung cấp dịch vụ ngân hàng ra thịtrường Từ đó mà làm tăng uy thế và hình ảnh của ngân hàng trên thị trường
ý nghĩa quan trọng hơn là mở rộng khả năng tạo tiền trong toàn bộ hệ thốngngân hàng
2.1.3 Đối với nền kinh tế: Thực tế hiện nay cho thấy tiềm lực tài chính
nhàn rỗi trong dân cư là rất lớn, song vấn đề là làm thế nào để có thể thu hótvào ngân hàng, để từ đó thực hiện việc đầu tư phát triển kinh tế xã hội?
Đó không chỉ dừng lại ở trách nhiệm của các nhà ngân hàng, mà củatoàn xã hội trong việc tác động từng bước làm thay đổi thãi quen cất trữ tiền,vàng, Do thị trường chứng khoán Việt Nam chưa thực sự phát triển, tâm lýmua giấy tờ có giá còn rụt rè (do thời hạn dài), nên biện pháp hữu hiệu là gửivào ngân hàng hưởng lãi Mở và sử dụng tài khoản tiền gửi đối với doanh
Trang 12nghiệp là rất cần thiết, điều này chủ doanh nghiệp nào cũng ý thức được.Song đối với cá nhân thì vấn đề lại khác Tâm lý và thãi quen cất trữ tiền mặtvẫn ăn sâu vào tiềm thức của họ Nhưng nếu làm được và làm tốt điều này thì
lợi Ých với toàn xã hội, với nền kinh tế là rất lớn Thứ nhất, việc mở và sử
dụng tài khoản tiền gửi tại ngân hàng sẽ nâng cao hiệu quả thanh toán không
dùng tiền mặt, từ đó mà việc quản lý và điều tiết cung tiền dễ dàng hơn Thứ hai
, mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại ngân hàng đảm bảo việc chi trả giữa
các chủ thể trong nền kinh tế nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, qua đó tăng tốc
độ chu chuyển vốn tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội
2.2 Những nhân tố tác động đến việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
Tác động đến việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại ngân hàng baogồm hai nhóm nhân tố: nhóm nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố khách quan
2.2.1 Nhóm nhân tố khách quan:
Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài, thuộc môi trường kinh
tế vĩ mô hay các đặc trưng trong nhu cầu tâm lý khách hàng, có tác độngkhác nhau đến việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi là khác nhau, có thể kểđến trong nhóm nhân tố này là:
- Thu nhập của chủ tài khoản;
- Tâm lý, thãi quen, sở thích của chủ tài khoản;
- Tình hình kinh tế;
- Môi trường kinh tế và môi trường chính trị;
- Cơ chế chính sách của Nhà nước và hành lang pháp lý vềhoạt động ngân hàng
Trong các nhân tố trên, ta đặc biệt quan tâm đến nhân tố tâm lý, thãiquen, sở thích của chủ tài khoản bởi nó có quyết định lớn đến việc kháchhàng có mở và sử dụng TKTG ở ngân hàng hay không, hay là để tiền ở nhà?Thãi quen tiêu tiền mặt hay thãi quen thanh toán qua ngân hàng sẽ chiếm ưuthế?, Tác động đến nó là cơ chế, chính sách, là hành lang pháp lý của Nhànước Bởi nếu tồn tại một cơ chính sách, một hành lang pháp lý thông thoáng
Trang 13thì ngân hàng sẽ linh hoạt và chủ động đưa ra các biện pháp kích thích kháchhàng mở và sử dụng TKTG tại ngân hàng như: mức lãi suất, các tiện Ých kèmtheo, Thêm vào đó hoạt động mở và sử dụng TKTG ở ngân hàng thực sựtăng trưởng thu nhập của chủ tài khoản tăng cũng như cách thức trả lương quatài khoản ngân hàng phát triển mạnh.
2.2.2 Nhóm nhân tố chủ quan, bao gồm:
Do là một ngành dịch vụ chính sách khách hàng, chính sách marketing, cùng
uy tín và các biện pháp bảo hiểm tiền gửi cho khách hàng là rất quan trọng.Một Ên tượng tốt về thái độ của nhân viên, về trụ sở khang trang, về chínhsách tiếp thị độc đáo, một sự an toàn cho cả một núi của chắt chiu bao năm, tất cả sẽ tạo tiền đề lôi kéo khách hàng về phía ngân hàng Ngoài ra, khuyếnkhích về vật chất là không thể thiếu Dù rằng có thể không biết đến khái niệmchi phí cơ hội, song khách hàng cũng có sự so sánh: gửi ngân hàng lãi suất thìthấp, chẳng được gì thêm mà đến đó gửi tiền phải chờ đợi tốn thời gian màđôi khi bực mình, thà để tiền ở nhà bớt ăn bớt tiêu một chút
Dù là chủ quan hay khách quan thì mỗi nhân tố đều có tác động nhấtđịnh đến việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng.Ngân hàng nào huy động vốn được nhiều là do họ biết đề cao các nhân tốkhác nhau trong từng thời kỳ khác nhau, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội
Trang 14cũng như tiềm lực của ngân hàng Là loại hình Marketing dịch vụ, doanhnghiệp ngân hàng càng cần thiết phải quan tâm đến những yếu tố tác độngđến hành vi của khách hàng để từ đó đưa ra những quyết sách phù hợp nhằmlôi kéo khách hàng đến với mình.
2.3 Tác động của công nghệ thông tin đến việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng.
2.3.1 Vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng
Công nghệ thông tin (CNTT) không còn là khái niệm xa lạ trong nềnkinh tế hiện nay Với một mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch như nhữngvòi bạch tuộc trong nền kinh tế, CNTT đối với ngành ngân hàng có vai tròđặc biệt quan trọng Vì vậy, “phát triển CNTT là một trong những nhiệm vụđược ưu tiên hàng đầu trong chiến lược đổi mới và phát triển hoạt động ngânhàng, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách pháttriển so với ngân hàng các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới”( tríchbài thuyết trình của ông Tạ Quang Hiến- Cục trưởng cục công nghệ ngânhàng tại Học viện ngân hàng tháng 1 năm 2003)
Trong lé trình ra nhập AFTA, WTO, hiệp định thương mại Việt- Mỹ vànhiều tổ chức khác trong khu vực cũng như quốc tế, CNTT ngân hàng càng
có ý nghĩa đặc biệt đối với nền tài chính quốc gia cũng như sự phát triển kinh
tế đáp ứng nhu cầu hội nhập Những vai trò to lớn của CNTT trong ngân hàng
có thể kể đến:
+ CNTT được coi như cỗ máy phát lực cho hoạt động ngân hàng Nếu
cỗ máy này ngừng hoạt động toàn bộ hoạt động ngân hàng sẽ đình trệ
+ CNTT tạo ra những tiện Ých hết sức to lớn cho khách hàng như:ATMs, thẻ debit card, telephone banking,
+ CNTT làm thay đổi môi trường hoạt động của ngân hàng sang môitrường trong suốt không thấy chứng từ, qua đó thay đổi điều kiện, quá trình
xử lý và phương pháp kinh doanh của ngân hàng
+ CNTT xoá bỏ khoảng cách giữa các ngân hàng về không gian, thờigian, phạm vi, làm cho ngân hàng “dài ra”, phạm vi rộng ra
Trang 15+ CNTT tạo khả năng quản lý tốt hơn, ảnh hưởng to lớn đến thành cônghay thất bại của ngân hàng, đặc biệt trong môi trường cạnh tranh gay gắt nhưhiện nay bởi CNTT có thể tạo ra những khả năng mới trong cạnh tranh.
+ CNTT góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động,giảm chi phí quản lý và chi phí điều hành
2.3.2 Thực trạng của CNTT trong ngân hàng Việt Nam hiện nay
+ Xây dựng trên quy trình thủ công, không đáp ứng tính thông lệ vàchuẩn mực quốc tế, không đáp ứng yêu cầu hội nhập
CNTT ngân hàng xây dựng trên môi trường FOXPRO với rất nhiều hạn chế:khả năng tích hợp thấp, tính bảo mật kém, tốc độ xử lý chậm,
+ Nền tảng công nghệ là FOXPRC và môi trường WINDOW thấp + NÒnt¶ng c«ng nghÖ lµ FOXPRC vµ m«i trêng WINDOW thÊp
+ Xử lý phân tán, tốc độ xử lý thấp, tối đa được 300.000 bản ghi, khảnăng quản lý số lượng giao dịch và bản ghi thấp
+ Không tạo ra tiện Ých cho khách hàng do tính mở của hệ thống rấtthấp
+ Khả năng an ninh về toàn vẹn dữ liệu thấp
2.3.3 CNTT đối với việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
Nhận thức được sự cần thiết phải hiện đại hoá CNTT trong hoạt của mình, cácNHTM đang từng bước tiến hành hiện đại hoá theo chương trình hiện đại hoáCNTT của toàn ngành khởi xướng từ năm 1990 Trong phạm vi khóa luận,
Trang 16em chỉ đề cập đến tác động của hiện đại hoá CNTT đối với việc mở và sửdụng tài khoản tiền gửi.
+ Thứ nhất, hiện đại hoá CNTT giúp ngân hàng có thể tập trung hóa tàikhoản của khách hàng Có thể nói đây là một trong những tác dụng to lớnnhất của CNTT Thực tế hiện nay do chưa có khả năng Online trên toàn hệthống nên việc quản lý tài khoản khách hàng rất phân tán, phi khoa học ở chỗcùng một khách hàng gửi tiền vào một hệ thống ngân hàng nhưng ở các chinhánh, phòng giao dịch khác nhau nên mỗi chi nhánh, phòng giao dịch quản
lý tài khoản riêng biệt mà chưa có sự kết nối và chia sẻ thông tin tài khoảnkhách hàng Giả sử khi cần tiền khách hàng đến rút nhưng ở một chi nhánhhay phòng giao dịch thì không đáp ứng nhu câu, muốn có đủ lượng tiền cầnthì khách hàng phải đến phòng giao dịch khác rất mất thời gian mà có khi bỏ
lỡ mất cơ hội kinh doanh, Đó chỉ là một ví dụ rất nhỏ về hạn chế trong việcchưa tập trung hoá tài khoản
Hiện đại hoá CNTT sẽ cung cấp một phương tiện cho việc tập trunghoá tài khoản của khách hàng Theo đó, tài khoản sẽ được quản lý theo môhình tập trung: trung ương quản lý sổ cái, tài khoản khách hàng do chi nhánh
mở và quản lý theo quy định của trung ương Làm được việc này có ý nghĩarất lớn đối với tất cả các chủ thể trong nền kinh tế:
* Đối với khách hàng: Dễ dàng mở rộng các hoạt động dịch vụ để có thể
giao dịch với ngân hàng tại nhiều địa điểm khác nhau; giảm thời gian giaodịch với ngân hàng; cùng một lúc có thể tiếp cận với nhiều loại hình dịch vụ
do hệ thống tài khoản được tập trung hoá; giảm chi phí giao dịch với ngânhàng
* Đối với ngân hàng: Tập trung hóa tài khoản thanh toán sẽ nâng cao khả
năng tích tụ và tập trung vốn; nâng cao hiệu suất sử dụng vốn trong kinhdoanh; đẩy nhanh tốc độ thanh toán; xoá bỏ tình trạng khan hiếm tiền mặt giảtạo; giảm chi phí điều chuyển vốn nội bộ; nâng cao năng lực quản lý Nhànước trong điều hành chính sách tiền tệ
* Đối với nền kinh tế: góp phần bình ổn giá trị của đồng tiền; giúp ổn định
Trang 17kinh tế vĩ mô; nâng cao khả năng huy động vốn; tăng cường vai trò quản lý vàkiểm soát của các ngân hàng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ và dịch vụngân hàng; tăng tốc độ lưu thông và chu chuyển vốn toàn xã hội; cải tiếnphương thức thanh toán; thúc đẩy đầu tư; tạo điều kiện để ngân hàng ViệtNam hội nhập.
Tập trung hoá tài khoản là xu thế tất yếu trong chương trình hiện đạihoá công nghệ ngân hàng, và là tác động căn bản giữ vai trò tiền đề quantrọng khác cho các tác động của CNTT trong việc mở và sử dụng tài khoảntiền gửi của khách hàng tại ngân hàng
+ Thứ hai, hiện đại hoá CNTT trong ngân hàng giúp các tài khoản tựđộng một cách tương đối, do đó tiết kiệm thời gian và chi phi giao dịch cho cảkhách hàng và ngân hàng
+ Thứ ba, hiện đại hoá CNTT trong ngân hàng sẽ góp phần làm tăng sốlượng khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng, đặc biệt là khách hàng doanhnghiệp trong việc trả lương thông qua dịch vụ đầu tư tự động- SWEEPING;dịch vụ chuyển tiền tự động- AFT
+ Thứ tư, hiện đại hoá CNTT trong ngân hàng sẽ góp phần làm giảmkhối lượng công việc ghi chép kế toán cũng như số lượng sổ sách lưu trữ tạingân hàng, từ đó mà nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng
Tác động của CNTT trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là rất lớn.Hiện đại hóa CNTT là việc làm cần thiết của bất kỳ ngân hàng nào trong xuthế hội nhập hiện nay Tuy nhiên vốn để đầu tư vào CNTT luôn là bài toánkhó, vì vậy các ngân hàng cần hiện đại có chọn lọc để từng bước hiện đại hoángân hàng
2.4 Các loại tiền gửi và tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng
Có nhiều hình thức khác nhau mà ngân hàng có thể sử dụng để huyđộng vốn như: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, đi vay Song nhận tiềngửi là một hình thức huy động vốn được các ngân hàng ưa chuộng nhất Thực
tế cho thấy, nguồn vốn huy động thông qua nhận tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn
Trang 18nhất (70-80% nguồn vốn huy động) bởi những ưu thế của nó đối với khôngchỉ ngân hàng mà cho toàn xã hội: chi phí lưu thông bỏ ra thấp hơn so với cáchình thức huy động khác, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, giảmlượng tiền mặt trong lưu thông,
Có nhiều loại hình tiền gửi trong mét NHTM, tuy nhiên xét về mụcđích thì có thể xếp các loại tiền gửi vào 3 nhóm: tiền gửi không kỳ hạn, tiềngửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm
2.4.1 Tiền gửi không kỳ hạn- Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
Đối tượng chủ yếu sử dụng tài khoản tiền gửi này là các doanh nghiệp,các tổ chức kinh tế gửi vào ngân hàng với mục đích chính là để hưởng cácdịch vụ thanh toán qua ngân hàng
Đặc điểm của tiền gửi không kỳ hạn là người gửi tiền có thể rút tiền rabất kỳ lúc nào trong phạm vi số dư Tuy nhiên nếu khách hàng có uy tín, ngânhàng có thể cho thấu chi (overdraft) đến hạn mức phù hợp với thu nhập bìnhquân của chủ tài khoản nhằm đảm bảo khả năng trả nợ Và với tính chất linhhoạt của số dư, chủ tài khoản được hưởng các tiện Ých thanh toán nên tiềngửi không kỳ hạn thường không được ngân hàng trả lãi, hoặc được hưởng lãinhưng với mức lãi suất rất thấp
Tiền gửi không kỳ hạn được phản ánh trên tài khoản có tên là: tàikhoản Tiền gửi không kỳ hạn (tài khoản tiền gửi thanh toán) hoạt động theo
nguyên lý: + Bên Nợ ghi mọi khoản tiền khách rút sử dụng: rút tiền mặt,
thanh toán thẻ, séc, nhờ thu,
+ Bên Có ghi mọi khoản nép hay thu vào: nép tiền mặt, séc, chiết
khấu, lợi tức lãi tiền gửi,
Tài khoản này thuộc loại lưỡng tính, có thể dư nợ hoặc dư có tại mộtthời điểm nhất định Dư Nợ khi rót ra nhiều hơn gửi vào, thực chất là khoảntiền mà khách hàng nợ ngân hàng Dư Có khi gửi vào nhiều hơn rót ra, thựcchất là tiền của khách hàng gửi vào Ngân hàng khống chế số dư Nợ, nhưngkhông khống chế số dư Có theo một hạn mức đã thuận giữa ngân hàng vàngười gửi tiền
Trang 19Nhờ thế lưỡng tính,vừa huy động vốn (bên Có), vừa sử dụng vốn (bênNợ), tài khoản tiền gửi không kỳ hạn đã thực hiện trọn vẹn và linh hoạtphương châm “vay để cho vay” với chi phí huy động thấp Đặc biệt chính quatài khoản này mà hệ thống ngân hàng tạo được đồng tiền ghi sổ hay “bút tệ”vừa bổ sung phương tiện lưu thông- thanh toán cho hoạt động kinh tế, vừagiúp mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt ở tầm vĩ mô, lại vừa cho phépmỗi ngân hàng tận dụng được nguồn vốn trong thanh toán, hạ thấp chi phí đầuvào bình quân, tăng lợi nhuận ở tầm vi mô Trong thanh toán thẻ, séc, tàikhoản này là không thể thiếu.
2.4.2 Tiền gửi có kỳ hạn- Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ được lĩnh tiềnkhi đáo hạn Đối tượng chủ yếu của tiền gửi loại này là doanh nghiệp và các
tổ chức Họ gửi vào ngân hàng với mục đích hưởng các dịch vụ thanh toán vàlãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn
Sở dĩ gửi có kỳ hạn có lãi suất cao hơn gửi không kỳ hạn là do nó tạocho ngân hàng nguồn vốn ổn định, vững chắc Để thu hót tiền gửi loại này,ngân hàng áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng haydài hơn nữa; và tương ứng với mỗi kỳ hạn là mức lãi suất phù hợp
Tuy khách hàng có thể lĩnh tiền khi đáo hạn nhưng nếu vì một lý dođặc biệt khách hàng có thể rút tiền trước hạn với 2 khả năng chủ yếu xảy ra:
1, Khách hàng sẽ hưởng mức lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn cho thời gian gửi thực tế; 2, Khách hàng sẽ không được hưởng lãi do vi phạm hợp đồng,
gây ảnh hưởng đến kế hoạch nguồn vốn của ngân hàng, Tuỳ vào từngtrường hợp cụ thể, cũng như mối quan hệ tín nhiệm lâu dài giữa ngân hàng vàkhách hàng mà ngân hàng sẽ linh hoạt xử trí Tuy nhiên trong môi trườngcạnh tranh hiện nay, các ngân hàng có xu hướng vẫn cho khách hàng hưởnglãi theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, và phải thoả thuận trong hợp đồng làrút trước hạn phải báo trước cho ngân hàng một khoảng thời gian xác định
Tiền gửi có kỳ hạn được phản ánh trên tài khoản tiền gửi có kỳ hạn <
12 tháng và tài khoản tiền gửi có kỳ hạn > 12 tháng Thực chất của tài khoản
Trang 20này: luôn luôn dư Có, phản ánh số tiền khách hàng đang gửi tại ngân hàng.Tài khoản này, ngân hàng không cho phép khách hàng được thấu chi.
2.4.3 Tiền gửi tiết kiệm- Tài khoản tiền gửi tiết kiệm
Về bản chất, tiền gửi tiết kiệm là một phần thu nhập của các tầng lípdân cư trong xã hội Họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ và hưởnglãi Tiền gửi tiết kiệm được chia thành 2 loại: Tiền gửi tiết kiêm không kỳ hạn
và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Đặc điểm của loại này là người gửi tiền có thể gửi vào, rót ra bất cứ lúcnào trong giê giao dịch của ngân hàng với số tiền từ nhỏ đến lớn (mục đíchtích luỹ) Tuy là loại tiền gửi không kỳ hạn nhưng nó không là tiền gửi thanhtoán nên người gửi tiền không được hưởng các tiện Ých thanh toán (trừ khingười gửi tiền gửi tiết kiệm theo hình thức gửi một rút ở nhiều nơi)
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được phản ánh trên tài khoản tiết kiệmkhông kỳ hạn
* Tiền gửi tiết kiêm có kỳ hạn
Là loại tiền gửi có sự thoả thuận trước về thời hạn gửi tiền và rút tiền,
có mức lãi suất cao hơn tiền tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Mục đích của khoản tiền gửi này có mức lãi suất nhất do tính ổn địnhcao nhất của nó, vì vậy mà ngân hàng sẵn sàng đánh đổi lãi suất cao với sự ổnđịnh của nguồn vốn
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được phản ánh trên tài khoản tiền gửi tiếtkiệm < 12 tháng và tiền gửi tiết kiệm > 12 tháng
2.5 Khái quát cơ chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
2.5.1 Khái quát cơ chế mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
Hệ thống tài khoản kế toán ngân hàng là hệ thống các chỉ tiêu hạch toán
kế toán ngân hàng, nó được xây dựng có căn cứ khoa học và thực tiễn Trong
đó, các tài khoản được mở để phản ánh liên tục, kịp thời, theo dõi các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh thuộc về hoạt động nguồn vốn và sử dụng vốn Ngoài ra, ,
Trang 21các tài khoản được mở còn để giao dịch với khách hàng theo chức năng vànhiệm vụ của ngân hàng Chính vì vậy, ngân hàng phải xây dựng chế độ mở
và sử dụng tài khoản kế toán nhằm đảm bảo tính hợp pháp trong quan hệ kinh
tế giữa khách hàng và ngân hàng
Quyết định 22/QĐ/NH1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ViệtNam qui định về mở và sử dụng tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngânhàng như sau:
Để mở tài khoản tiền gửi các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đoàn thể,đơn vị vũ trang, công dân Việt Nam và người nước ngoài hoạt động trên lãnhthổ Việt Nam (gọi tắt là khách hàng) gửi cho ngân hàng nơi mở tài khoảnnhững giấy tờ sau:
* Đối với khách hàng là doanh nghiệp cơ quan, tổ chức đoàn thể, đơn
vị vũ trang có:
- Giấy đăng ký mở tài khoản do chủ tài khoản (chủ tài khoản là chủgiám đốc, Giám đốc, chủ doanh nghiệp, thủ trưởng đơn vị) ký tên và đóngdấu trong đó ghi rõ:
+ Tên đơn vị (doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đoàn thể, đơn vị vũtrang);
+ Họ tên chủ tài khoản;
+ Địa chỉ giao dịch của đơn vị;
+ Ngày tháng cấp chứng minh thư nhân dân của chủ tài khoản;
+ Tên ngân hàng mở tài khoản
- Bản đăng ký chữ ký và mẫu giao dịch với ngân hàng nơi mở tài khoảngồm:
+ Chữ ký mẫu của chủ tài khoản và người được uỷ quyền thay chủ tàikhoản trên các chứng từ thanh toán giao dịch với ngân hàng (Chữ ký 1);
+ Chữ ký mẫu của kế toán trưởng và người được uỷ quyền thay kế toántrưởng (Chữ ký 2);
+ Mét dấu đơn vị
Trang 22- Các văn bản chứng minh tư cách pháp nhân của đơn vị như: Quyếtđịnh thành lập doanh nghiệp, Giấy phép thành lập doanh nghiệp, Quyết định
bổ nhiệm Tổng giám đốc, Giám đốc, Thủ trưởng đơn vị (nếu là bản sao phải
có chứng nhận của công chứng nhà nước)
* Đối với khách hàng là cá nhân:
Gửi đến ngân hàng những giấy tờ sau:
- Giấy đăng ký mở tài khoản do chủ tài khoản (người gửi tiền) ký tên
và đóng dấu ghi rõ:
+ Tên chủ tài khoản;
+ Địa chỉ giao dịch của chủ tài khoản;
+ Giấy chứng minh thư nhân dân của chủ tài khoản;
+ Tên ngân hàng nơi mở tài khoản
- Bản đăng ký mẫu chữ ký của chủ tài khoản để giao dịch với ngânhàng nơi mở tài khoản
Đối với tài khoản đứng tên cá nhân không được thực hiện việc uỷquyền thay chủ tài khoản, tất cả các giấy tờ thanh toán giao dịch với ngânhàng đều phải do chủ tài khoản ký
* Khi có sự thay đổi chữ ký của người được uỷ quyền trên các chứng từthanh toán với ngân hàng hoặc thay đổi mẫu dấu, chủ tài khoản phải gửi chongân hàng nơi mở tài khoản bản đăng ký mẫu dấu mới thay thế mẫu đăng kýtrước đây, trong đó ghi rõ ngày bắt đầu thay thế mẫu cũ
* Cách thức lập giấy đăng ký mở tài khoản: lập giấy đăng ký mẫu dấu
và chữ ký do các ngân hàng hướng dẫn cụ thể cho khách hàng thực hiện
* Khi nhận giấy đăng ký mở tài khoản của khách hàng, ngân hàng cótrách nhiệm giải quyết việc mở tài khoản tiền gửi của khách hàng ngay trongngày làm việc Sau khi đã chấp nhận việc mở tài khoản, ngân hàng thông báocho khách hàng biết số hiệu tài khoản, ngày bắt đầu hoạt động của tài khoản
2.5.2 Nguyên tắc sử dụng tài khoản tiền gửi:
* Đối với chủ tài khoản:
Trang 23+ Chủ tài khoản có toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản tiền gửi,trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi và tuỳ theo yêu cầu chi trả, chủ tàikhoản có thể thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng hoặc rút tiền mặt
ra để sử dụng
+ Chủ tài khoản chịu trách nhiệm về việc chi trả vượt số dư tài khoảntiền gửi và chịu phạt theo điều 15 của thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt(30% số tiền vượt); chịu trách nhiệm về số sai sót, lợi dụng trên các giấy tờthanh toán qua ngân hàng của người được chủ tài khoản uỷ quyền ký thay
+ Khi thực hiện thanh toán qua ngân hàng, chủ tài khoản phải tuân thủnhững qui định và hướng dẫn của ngân hàng Trên các giấy tờ thanh toán, cácchữ ký và dấu phải đúng mẫu đã đăng ký tại ngân hàng
+ Chủ tài khoản tự tổ chức hạch toán, theo dõi số dư tiền gửi ở ngânhàng Trong phạm vi 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận giấy báo Nợ, giấy báo
Có về các khoản giao dịch trên tài khoản tiền gửi cuối tháng do ngân hàng gửiđến, chủ tài khoản phải đối chiếu với sổ sách của mình, nếu có chênh lệch thìbáo ngay cho ngân hàng biết để cùng nhau đối chiếu, điều chỉnh lại số liệucho khớp
* Đối với ngân hàng:
+Việc trích tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các khoảnchi trả phải có yêu cầu của chủ tài khoản, trừ trường hợp chủ tài khoản viphạm kỷ luật chi trả hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền đượcpháp luật quy định buộc chủ tài khoản phải thanh toán, ngân hàng được quyềntrích tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện việc thanh toán đó
+ Ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của kháchhàng, đảm bảo lập đúng thủ tục qui định, dấu (nếu có đăng ký mẫu) và cácchữ ký trên các giấy tờ thanh toán với mẫu đã đăng ký, số dư tài khoản tiềngửi của khách hàng còn đủ thanh toán
Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán nếu các giấy tờ thanh toánkhông đủ các yêu cầu trên
Trang 24CHƯƠNG II THỰC TRẠNG MỞ VÀ SỬ DỤNG TÀI KHOẢN TIỀN GỬI TẠI VP BANK
1: KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA VP BANK
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của VP Bank
Ngân hàng Thương mại cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanhViệt Nam (VP Bank) được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0042/NH-
GP của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm
1993 với thời gian hoạt động 99 năm Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ ngày
04 tháng 9 năm 1993 theo Giấy phép thành lập số 1535/QĐ-UB ngày 04tháng 09 năm 1993
Từ năm 1994 đến năm 1996 là giai đoạn phát triển năng động của VPBank Giai đoạn này VP Bank đã đạt được những kết quả khá khả quan: tỷsuất lợi nhuận/vón cổ phần là 36% trong năm 1995,1996, chất lượng tín dụngđảm bảo, các hoạt động dịch vụ phát triển nhanh chóng, Nhưng sau đó doảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á, tình trạng cạnh tranh gaygắt của các ngân hàng khác trên cùng địa bàn, một phần do sai lầm chủ quan
từ phía ngân hàng, VP Bank đã rơi vào thời kỳ khó khăn trầm trọng Vì vậygiai đoạn 1997-2001 là giai đoạn VP Bank củng cố và tạo tiền đề cho giaiđoạn phát triển mới Trong giai đoạn này nhờ sự giúp đỡ tận tình của các cơquan thuộc Chính phủ và của Ngân hàng Nhà nước, cùng với nỗ lực hết mìnhcủa toàn thể nhân viên trong VP Bank, VP đã đạt được những bước tiến vữngchăc tạo đà cho giai đoạn kế tiếp
Năm 2000 là mốc chuyển biến quan trọng, đó là việc Hội đồng quản trịquyết định lùa chọn mục tiêu chiến lược của VP Bank trong vòng 10 năm tới
là xây dựng VP Bank trở thành ngân hàng lẻ hàng đầu Việt Nam và trongkhu vực
Năm 2003, với định hướng đúng đắn của Ban Tổng giám đốc, phát huynhững kết quả đã đạt đươc của năm 2002, cùng với tinh thần năng động sángtạo của cán bộ nhân viên , kết hợp với các chính sách đúng đắn và hàng loạt
Trang 25các biện pháp tích cực, hiệu quả, VP Bank đã đạt được những kết quả rất đáng
tự hào: lợi nhuận trước thuế từ 20.564 tỷ năm 2002 tăng lên 42.820 tỷ năm
2003, số lượng khách hàng có quan hệ với VP Bank không ngừng tăng chứng
tỏ uy tín của VP Bank,
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, VP Bank luôn chú ý đếnviệc mở rộng quy mô, tăng cường mạng lưới hoạt động tại các thành phố lớn.Đến nay hệ thống VP Bank gồm:
- Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh hoạt động theo Giấy phép số0018/GCT ngày 16/12/1993 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,với các chi nhánh cấp II:
+ Chi nhánh Tân Định(236 Hai Bà Trưng, phường Tân Định, Q.1):Công văn chấp thuận số 1035/NHNN-HCM.02 ngày 14/10/2003 của NHNNThành phố Hồ Chí Minh
+ Chi nhánh Bà Chiểu: Công văn chấp thuận số 10/10/NHNN-HCM.02ngày 11/11/2003 của NHNN Thành phố Hồ Chí Minh
+ Chi nhánh Chợ Lớn: Công văn chấp thuấn số 10/10/NHNN-HCM.02ngày 11/11/2003 của NHNN Thành phố Hồ Chí Minh
+ Phòng giao dịch Thủ Đức: Công văn chấp thuận số 175/ HCM.02 ngày 12/2/2004 của NHNN Thành phố Hồ Chí Minh
NHNN Hội sở chính số 4 Dã Tượng theo Giấy phép thành lập số 1535/QĐNHNN UBngày 04 tháng 09 năm 1993
+ Chi nhánh Hoàn Kiếm: Công văn chấp thuận số HAN7 KSĐBm ngày 4/8/2003 của NHNN Hà Nội
1035/NHNN-+ Phòng giao dịch II(11E Cát Linh,Q.Đống Đa ) : Công văn chấp thuận
Trang 26- Phòng giao dịch Ngô Quyền tại Hải Phòng: Công văn số 21/GCTngày 12/01/2004
- Chi nhánh tại thành phố Đà Nẵng: Giấy phép số 0026/GCT ngày22/07/1995 của Thống đốc NHNN Việt Nam
Có một hệ thống mạng lưới Chi nhánh, Phòng giao dịch tập trung chủyếu ở 4 thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh và ĐàNẵng, VP Bank đã và đang thực sự khẳng định mình Và để đáp ứng nhu cầuphát triển, VP Bank đang có dự kiến mở thêm các Chi nhánh ở các tỉnh: BắcNinh, Thái Nguyên, Thái Bình
Với chiến lược xây dựng VP Bank trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầuViệt Nam và trong khu vực, hiện nay những lĩnh vực mà VP Bank tập trunglà:
-Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức kinh tế vàdân cư
- Cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức kinh tế vàdân cư
- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác
- Hùn vốn, liên doanh, mua cổ phần
- Dịch vụ thanh toán
- Kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh toán quốc tế
- Dịch vụ chuyển tiền,
1.3 Cơ cấu tổ chức
Số lượng của VP bank trên toàn hệ thống hiện nay là 358 người, tromg
đó phần lớn là các cán bộ, nhân viên có trình độ Đại học và trên Đại học(chiếm 71%), với độ tuổi trung bình là 36,5; lực lượng lãnh đạo là nữ chiếm63% số cán bộ lao động
Trang 27Sơ đồ cơ cấu tổ chức của VP Bank như sau:
Phòng phục vụ khách hàng DN Commercial Banking Dept
Các Ban tín dụng Credit Commitees
Các Ban tín dụng Credit Commitees
P.KTKT nội bộ Internal Auditor & controlling dept
P.KTKT nội bộ Internal Auditor & controlling dept
Phòng phục vụ khách hàng CN Comsumer Banking Dept
Phòng phục vụ khách hàng CN Comsumer Banking Dept
Phòng Thu hồi nợ Debt collection Dept
Phòng Thu hồi nợ Debt collection Dept
Phòng Thẩm định tài sản Collateral Appraesal Dept
Phòng Thẩm định tài sản Collateral Appraesal Dept
Phòng Ngân quỹ Treasurey Dept
Phòng Ngân quỹ Treasurey Dept
Văn phòng VPBank Vpbank’s Office
Văn phòng VPBank Vpbank’s Office
Phòng Kế toán Accoutting Dept
Phòng Kế toán Accoutting Dept
Phòng TTQT& Kiều hối International Relation &
Phòng P.Tổng hợp và Q/Lý CN Branch Management Dept
Hội đồng Tín dụng Board of credit
Phòng P.Tổng hợp và Q/Lý CN
Phòng P.Tổng hợp và Q/Lý CN
Phòng P.Tổng hợp và Q/Lý CN Branch Management Dept
Phòng P.Tổng hợp và Q/Lý CN Branch Management Dept
Phòng P.Tổng hợp và Q/Lý CN Branch Management Dept
Phòng P.Tổng hợp và Q/Lý CN Branch Management Dept
Phòng P.Tổng hợp và Q/Lý CN Branch Management Dept
Phòng P.Tổng hợp và Q/Lý CN Branch Management Dept
Trang 281.4 Một số kết quả kinh doanh chủ yếu năm 2003
%)
Tăng trưởng(
%)
Số tiền
Tỷ trọng(
%)
Tăng trưởng(
%)
Số tiền
Tỷ trọng(
%)
Tăng trưởng(
%) Tổn
Nguồn: Báo cáo phòng tổng hợp và Báo cáo thường niên của VP Bank
Tổng nguồn vốn huy động (bao gồm cả VNĐ và ngoại tệ quy VNĐ)đến 31/12/2003 đạt 2.212,96 tỷ đồng, tăng 1.029,67 tỷ đồng so với cuối năm
2002, tốc độ tăng là 87%
Cơ cấu nguồn vốn: huy động vốn từ thị trường I (các tổ chức kinh tế và
dân cư) phát triển khá vững chắc, tăng 311,07 tỷ đồng, tốc độ tăng là 33,38%
so với năm 2002 Đặc biệt vốn huy động trên thị trường II tăng rất cao tới711,73 tỷ đồng, tốc độ tăng 283% so với năm 2002, và chiếm tỷ trọng 43,51%tổng nguồn vốn huy động năm 2003
Mạng lưới huy động: Đến thời điểm cuối năm 2002, VP Bank có mạng
lưới huy động gồm Hội sở chính ở số 4 Dã Tượng- Hà Nội và 8 chi nhánh,phòng giao dịch ở 4 thành phố lớn là: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, HảiPhòng và Đà Nẵng Cuối năm 2003, được phép của NHNN chi nhánh cácthành phố: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, VP Bank đã mở thêm
3 phòng giao dịch Trên đà tăng trưởng, 2 tháng đầu năm 2004 VP Bank xincấp phép mở tiếp 2 phòng giao dịch: Ngô Quyền ở Hải Phòng và Thủ Đức ởthành phố Hồ Chí Minh Các chi nhánh, phòng giao dịch của VP Bank đềuhoạt động có hiệu quả, góp phần không nhỏ vào kết quả huy động vốn của
Trang 29toàn hệ thống, trong đó đặc biệt là doanh sè huy động của Hội sở chính luônchiếm khoảng 40% doanh sè huy động của hệ thống.
1.4.2 Hoạt động tín dụng
Trong những năm qua, nhiệm vụ phát triển tín dụng lành mạnh, an toàn
và hiệu quả được VP Bank đặc biệt quan tâm Đặc biệt năm 2002, tốc độ tăng
dư nợ trong hạn đạt 45% Kết quả chung về hoạt động tín dụng được thể hiệnqua bảng số liệu sau:
Bảng 3: Kết quả hoạt động tín dụng tại VP Bank các năm 2001,
Tăng trưởng(%)Doanh sè
Nguồn: Báo cáo phòng tổng hợp và Báo cáo thường niên của VP Bank
Qua bảng số liệu trên ta thấy:
- Doanh sè cho vay đạt 1.320,5 tỷ đồng, tăng 232,5 tỷ đồng với tốc độtăng trưởng tín dụng so với năm 2002 đạt 21,37%,vượt 6,37% so với kếhoạch
- Doanh sè thu nợ đạt 1.089,8 tỷ đồng, bằng 82,53% doanh sè cho vay
Về chất lượng tín dụng:Với phương châm kiểm soát và ngăn ngõa rủi
ro để tích cực phòng tránh thay vì giải quyết rủi ro, VP Bank đã có một hệthống quản trị rủi ro chặt chẽ và khoa học từ cấp quẩn trị bậc cao xuống tớitừng nhân viên nghiệp vụ.Từ năm 2002, hoạt động tín dụng của VP Bank đã
có một bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng Việc xét duyệt cho vayđược thực hiện theo cơ chế 3 cấp: nhân viên tín dụng->Phòng phục vụ kháchhàng->Ban tín dụng(hay Hội đồng tín dụng tuỳ qui mô khoản vay) Bộ phận
Trang 30thẩm định tài sản đảm bảo được tách độc lập hoàn toàn với phòng tín dụng.Nhờ vậy mà hạn chế tối đa được rủi ro tín dụng Nợ quá hạn mới phát sinhtrong năm 2003 chỉ có 9,24 tỷ đồng (chiếm khoảng 0,7% tổng dư nợ ).
Trang 311.4.3 Hoạt động thanh toán quốc tế
Hoạt động thanh toán quốc tế trong năm 2003 vẫn tiếp tục được duy trì
và phát triển VP Bank luôn quan tâm đến việc củng cố mối quan hệ với cácngân hàng đại lý, hiện VP Bank có mối quan hệ với 66 ngân hàng đại lý ở 27quốc gia trên thế giới thông qua mạng SWIFT Nhờ vậy mà chất lượng cũngnhư hiệu quả thanh toán quốc tế của VP Bank không ngừng được cải thiện
Bảng 4: Kết quả hoạt động thanh toán quốc tế tại VP Bank các
Tăng trưởng(%)L/C xuất
L/C nhập
Nguồn: Báo cáo phòng tổng hợp và Báo cáo thường niên của VP Bank
- Thanh toán L/C xuất khẩu trong năm 2003 là 17,64 triệu USD, tăng1,3 triệu USD với tốc độ tăng là 7,89%
- Thanh toán L/C nhập khẩu là 79,01 triệu USD, tăng 7,51 triệu USD,tốc độ tăng là 10,5%
1.4.4 Hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh chứng từ có giá
VP Bank vẫn duy trì vốn góp cổ phần vào một số doanh nghiệp đangkinh doanh rất có hiệu quả: ngân hàng Á Châu, công ty TOGI, công ty cổphần Đồng Xuân, Ngoài ra, VP Bank còn giành một phần vốn của mình đểmua kỳ phiếu, trái phiếu các ngân hàng khác với tổng trị giá là 200 tỷ đồng.Hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng từ có giá đem lại nguồn thu nhập 10,3
tỷ đồng
1.4.5 Công tác tổ chức, nhân sự, đào tạo
Xác định nguồn lực con người là tài nguyên quan trọng nhất của ngânhàng nên thời gian qua VP Bank luôn quan tâm đến công tác đào tạo, quy
Trang 32với các giảng viên giàu kinh nghiệm từ các trường khối đại học kinh tế vàngân hàng trong nước, VP Bank còn tích cực gửi cán bộ tham gia các khoáđào tạo bên ngoài Hiện tại, VP Bank đã thành lập Trung tâm đào tạo riêngcủa mình hoạt động khá hiệu quả, đặc biệt trong công tác đào tạo những nhânviên mới vào làm.
Công tác tuyển dụng nhân sự luôn được thực hiện một cách bài bản đểchuẩn bị nhân sự cho việc phát triển hoạt động kinh doanh và mở rộng mạnglưới trong thời gian tới
Hiện nay với chất lượng nhân viên khá cao (>71% có trình độ đại học
và trên đại học) cùng với sự năng động nhiệt tình trong công việc , nguồnnhân lực của VP Bank luôn được đánh giá cao và sẽ là một trong những tiền
đề cho sự phát triển của ngân hàng trong tương lai
1.4.6 Công tác kiểm tra – kiểm soát nội bộ
Hoạt động kiểm tra- kiểm soát nội bộ là một công cụ hữu hiệu giúpngân hàng giảm thiểu rủi ro Phòng Kế toán kiểm toán nội bộ của VP Banktrực thuộc Ban điều hành, cung cấp sự kiểm tra, kiểm soát các phòng banthường xuyên và đảm bảo tính độc lập khá cao
Với sự đầu tư và quan tâm đúng đắn, công tác kiểm tra- kiểm soát nội
bộ đã hoạt động có hiệu quả, giúp VP Bank đi đúng mục tiêu chiến lược đã đề
ra, tuân thủ nghiêm túc quy định của Nhà nước nói chung, NHNN nói riêng
mà không có vụ việc nào sai sót về nghiệp vụ hay vi phạm pháp luật đáng tiếcxảy ra
1.4.7 Kết quả kinh doanh năm 2003
Năm 2003, với tốc độ tăng trưởng cao về huy động vốn, cho vay và cácsản phẩm dịch vụ thu phí, nên lợi nhuận trong năm vượt kế hoạch là 66,3%(tương đương 13,58 tỷ đồng) Cụ thể:
Trang 33Bảng 5: Kết quả kinh doanh năm 2003
Đơn vị:tỷ đồng
Nguồn: Báo cáo phòng tổng hợp
Với mức tăng trưởng cao và toàn diện, vượt mức chỉ tiêu kinh doanhnăm 2002 với tỷ lệ rất cao, VP Bank thực sự đang chuyển mình mạnh mẽ
2 THỰC TRẠNG VỀ MỞ VÀ SỬ DỤNG TÀI KHOẢN TIỀN GỬITẠI VP BANK
2.1 Nhận xét chung về công tác huy động vốn của VP Bank thời gian qua
Với phương châm đẩy mạnh công tác huy động vốn, tích cực khai thácnguồn tiền nhàn rỗi ở mọi chủ thể trong nền kinh tế, đảm bảo cân đối để mởrộng đầu tư, thời gian qua VP Bank luôn tìm mọi biện pháp để tăng nguồnvốn huy động song song với việc tìm kiếm khách hàng vay Trong 3 năm trởlại đây, công tác huy động vốn của VP Bank đã có nhiều khởi sắc với tốc độtăng trưởng vốn huy động cao Nhận xét này được thể hiện rõ nét qua bảng sốliệu cụ thể sau:
Bảng 6: Sự tăng trưởng nguồn vốn huy động qua 3 năm 2001, 2002,
TT II 52,7 5,7 251,3 21,2 970,1 43,8 + 198,5 +476,5 + 718,8 + 286
Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2001,2002 và Báo cáo phòng tổng hợp
Trang 34Qua bảng số liệu trên ta thấy tốc độ huy động vốn của VP Bank tăng rấtcao, năm 2003 tăng 87% so với năm 2002, đặc biệt là nguồn vốn huy độngtrên thị trường II với tốc độ tăng là 286%.
Đạt được mức tăng trưởng vượt trội như trên có thể kể đến một sốnguyên nhân:
+ Sù mở rộng mạng lưới với hiệu quả cao của VP Bank Cụ thể trongnăm 2003, VP Bank đã đề xuất mở thêm phòng giao dịch Hai Bà Trưng vàphòng giao dịch Trần Hưng Đạo tại Hà Nội, phòng giao dịch số 1 Lê Duẩn tạithành phố Đà Nẵng 3 phòng giao dịch này đã góp 12% vào doanh số hoạtđộng các mặt của VP Bank trong năm qua và đang dần canh tranh được vớicác ngân hàng khác trên cùng địa bàn
+ Các chi nhánh, Phòng giao dịch đã đa dạng hoá hình thức huy độngvốn, áp dụng mức lãi suất và mức phí phù hợp, đầy tính cạnh tranh Các Giámđốc chi nhánh, Trưởng phòng giao dịch đã năng động trong việc quy định cácmức lãi suất trong biên độ cho phép của Tổng giám đốc VP Bank phù hợp vớiđặc điểm hoạt động của chi nhánh, phòng giao dịch của mình
+ Ứng dụng công nghệ ngân hàng vào hoạt động nghiệp vụ VP Bank
đã bỏ phần mềm sử dụng trên môi trường FoxPro thay vào đó là phần mềm kếtoán Bank 2000 với nhiều ưu điểm hơn hẳn Nhờ đó mà thời gian giao dịchcũng như công tác hạch toán được cải thiện, giảm thiểu được các thủ tục hànhchính cho khách hàng
+ Tích cực đầu tư vào nguồn lực con người, đặc biệt là nhân viên cácphòng: Giao dịch kho quỹ, Phục vụ khách hàng cá nhân, Phòng khách hàngdoanh nghiệp Nhân viên các phòng này rất trẻ, năng động, tận tình với trình
độ nghiệp vụ cao gây được cảm tình với khách hàng
+ Sù phối kết hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, nhờ đó mà kháchhàng đến với ngân hàng được phục vụ kịp thời, nhanh chóng
Đó mới chỉ là một số trong rất nhiều nguyên nhân tạo nên sự tăngtrưởng cao và bền vững của VP Bank trong giai đoạn vừa qua, đặc biệt là
Trang 35trong công tác huy động vốn Đây là tiền đề rất vững chắc cho ngân hàng thựchiện mục tiêu chiến lược “xây dựng VP Bank trở thành ngân hàng bán lẻ hàngđầu Việt Nam và trong khu vực”.
2.2 Phân tích tình hình mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại VP Bank
Kinh tế càng phát triển, nhu cầu người dân đến với ngân hàng càngtăng Dư âm về hình ảnh các Hợp tác xã tín dụng thời kỳ những năm 1990 đãdần được xoá nhoà, thay vào đó là nhu cầu giao dịch với ngân hàng Cácdoanh nghiệp đến với ngân hàng để hưởng các dịch vụ thanh toán, để có đượcnhững lời tư vấn miễn phí, người dân đến với ngân hàng để gửi tiền hưởnglãi, để được đảm bảo an toàn về tài sản, để được đáp ứng nhu cầu về vốn, Điều đó có nghĩa là mỗi chủ thể tìm đến ngân hàng với nhu cầu và mục đíchriêng
Xuất phát từ nhu cầu phong phú và đa dạng đó của các khách hàng,xuất phát từ đặc trưng kinh doanh tiền tệ cũng như tầm quan trọng của kháchhàng đối với quá trình hoạt động kinh doanh của mình, chiếm lĩnh thị trường
và thu hót khách hàng là vấn đề sống còn của mỗi ngân hàng Cần tạo ra métdanh mục sản phẩm đa dạng với chất lượng cao, cần tạo ra mét phong cáchriêng trong hoạt động, nghĩa là ngân hàng cần phải đổi mới toàn diện nhằmtạo cho mình một vị thế vững chắc trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiệnnay
Và bên cạnh biện pháp tiếp cận với đối tượng khách hàng vay đầy tiềmnăng thì đổi mới công tác huy động vốn, tạo cơ sở đầu vào cho hoạt độngngân hàng là rất cần thiết Các ngân hàng bằng nhiều hình thức, biện pháptrong cuộc chạy đua giành lấy nguồn vốn cho hoạt động của mình như: đadạng hoá hình thức huy động với nhiều kỳ hạn khác nhau, duy trì mức lãi suấtcạnh tranh,
Trong khoá luận này em tập trung vào thực trạng huy động vốn của VPBank thông qua việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi theo 3 loại tài khoản:
- Tài khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế
Trang 36- Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
- Tài khoản tiền gửi tiết kiệm
Nhìn chung thủ tục, quy trình mở các loại tài khoản tại VP Bank làđúng theo trình tự và quy định của NHNN, sự khác biệt nếu có chỉ ở sự cụ thểhoá quy định và theo xu hướng đơn giản hoá thủ tục hành chính cho kháchhàng
2.2.1 Tài khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế
Trong thời đại công nghệ thông tin, thời gian là vấn đề rất quan trọng.Hơn bất kỳ chủ thể nào trong nền kinh tế, các doanh nghiệp đều nhận thứcđược sự cần thiết duy trì tài khoản của mình tại ngân hàng Với nhu cầu sửdụng vốn thường xuyên và liên tục, các doanh nghiệp chủ yếu sử dụng tàikhoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng xuất phát từ những đặc trưng của nó.Doanh nghiệp gửi vào ngân hàng không phải với mục đích chính là hưởng lãi,
mà là sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Nhờ đó mà giúp quá trìnhthanh toán giữa doanh nghiệp và các chủ thể khác trong nền kinh tế đượcnhanh chóng, thuận tiện và an toàn
Đối với ngân hàng, đây là một nguồn vốn rẻ bởi ngân hàng không phảitrả lãi và nếu có thì chỉ trả mức lãi suất rất thấp, đồng thời lại thu được phíqua các dịch vụ thanh toán cung cấp cho khách hàng
Tình hình mở tài khoản tiền gửi thanh toán của các doanh nghiệp tại
VP Bank được phản ánh qua bảng số liệu sau:
Bảng 7: Số dư tài khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế tại VP
Bank qua 3 năm 2001, 2002, 2003
TGCKH
+ <12
tháng 69,5 39,89 126,0 38,6 174,5 46 +59,5 +81,2 +48,5 +38,5+ >12
tháng 0,017 0,01 7,4 2,9 14,5 3 +7,38 +436,4 +7,1 + 95
Trang 37- Tiền gửi có kỳ hạn < 12 tháng của doanh nghiệp không ngừng qua haithời kỳ 2001-2002,2002-2003, đặc biệt giai đoạn 2002-2003 tốc độ phát triển
là 95% Điều này cho thấy uy tín của VP Bank đối với các doanh nghiệp ngàycàng được củng cố, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ và vừa Qua đó cũngkhẳng định chiến lược của VP Bank xây dựng mô hình ngân hàng bàn lẻ làđúng đắn
- Giai đoan 2002-2003, tốc độ phát triển của tiền gửi không kỳ hạn củadoanh nghiệp giảm, điều này tạo cho VP Bank một nguồn vốn ổn định
- Tiền gửi có kỳ hạn phát triển đồng nghĩa với chi phí của ngân hàngtăng Nếu không cân đối giữa nguồn và sử dụng nguồn hợp lý sẽ gây ra ảnhhưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh
* Nguyên nhân của những kết quả trên :
Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp là do :
+ VP Bank chưa cho phép khách hàng sử dụng hạn mức thấu chi Dovậy nếu trong trường hợp do chứng từ bị tắc nghẽn hoặc do nhầm lẫn sai sót
từ phía ngân hàng mà khách hàng phát hành quá số dư thì VP Bank có thể từchối thanh toán nếu khách hàng chưa có quan hệ lâu dài với ngân hàng
+ Công nghệ thanh toán của VP Bank chưa thực sự hiện đại so với một
số ngân hàng trong khu vực Đây là một vấn đề hết sức cấp bách, song lời giảicho bài toán này là phải có vốn Do vậy, thay vào đó thái độ cũng như sựnhanh nhẹn, năng động của đội ngò nhân viên tiếp xúc với khách hàng là rất
Trang 38quan trọng nhằm tạo hình ảnh tôt đối với khách hàng để duy trì mối quan hệlâu dài giúp nhau cùng phát triển tuy VP Bank chưa thực sự hiện đại
+ VP Bank chưa có nhiều hình thức khuyến khích vật chất đối với tàikhoản tiền gửi thanh toán của tổ chức kinh tế
+ Do ảnh hưởng của nhiều vấn đề chính trị, an ninh quốc tế mà hoạtđộng của một số ngành, lĩnh vực không theo đúng quỹ đạo ví như sự biếnđộng của giá thép thời gian qua có ảnh hưởng không nhỏ đến các dự án xâydựng ký kết từ trước,v v hoạt động sản suất kinh doanh khó khăn kéo theo
nó là nhu cầu thanh toán cũng giảm sót
+ Nguyên nhân xuyên suốt là do thãi quen thanh toán bằng tiền mặt củadân cư trong một số hoạt động nhất định, các doanh nghiệp vẫn sử dụng tiềnmặt để thanh toán trực tiếp cho bạn hàng
+ Vốn tự có của các doanh nghiệp Việt Nam rất thấp, thị trường chứngkhoán thực sự chưa khởi sắc Vì vậy vốn trong hoạt động của các doanhnghiệp chủ yếu vay từ ngân hàng nên tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh
tế có số dư ở mức không đáng kể
Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế tăng Sở dĩ có hiệntượng này trong khi vốn lưu động của các doanh nghiệp Việt Nam rất thấp làdo: đây chủ yếu là các khoản tiền nhàn rỗi của doanh nghiệp chưa đầu tư đếntrong một thời hạn xác định, hay cũng có trường hợp là sự so sánh giữa lợinhuận của một dự án đầu tư so với việc gửi ngân hàng trong thời kỳ nền kinh
tế có nhiều biến động, hay theo một sự tư duy lôgic ta có thể thấy trong khidoanh nghiệp xác định được khoản tiền nhàn rỗi trong một thời gian tươngđối dài thì sẽ gửi vào ngân hàng để hưởng lãi nếu trong trường hợp rút lãitrước sẽ được tối thiểu bằng mức lãi suất không kỳ hạn,
2.2.2 Tài khoản tiền gửi cá nhân
Mở rộng dịch vụ tài khoản tiền gửi cá nhân để thực hiện chiến lược huyđộng vốn và mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế là chủtrương đúng đắn Ngay từ cuối năm 1994, Hà Nội đã được NHNN chọn triển