Sau một thời gian tiến hành nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn khoa học của tiến sỹ Phan Thanh Long, em đã hoàn thành xong luận văn thạc sỹ của mình với đề tài: “Giáo dục môi trường cho học sinh các trường THPT huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc”. Nhân dịp luận văn được hoàn thành, với lòng biết ơn sâu sắc em xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học sư phạm Thái Nguyên và trường ĐH sư phạm Hà Nội, những người đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn trân thành tới thầy giáo Tiến sỹ Phan Thanh Long , người đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em cách thức và con đường nghiên cứu đề tài để hoàn thành đề tài nghiên cứu của em theo đúng tiến độ được giao. Nhân dịp này, tôi cũng xin trân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh thuộc trường THPT Bình Sơn và THPT Sáng Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu. Với điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế, chắc chắn bản luận văn của em còn có những thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến nhận xét, góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các nhà khoa học…. những người quan tâm đến vấn đề này cho luận văn của em được hoàn thiện hơn và em xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm đó
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -o0o -
NGUYỄN THỊ NHUNG
GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN SÔNG LÔ – VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -o0o -
NGUYỄN THỊ NHUNG
GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN SÔNG LÔ – VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 601 401
Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN THANH LONG
Trang 3Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn trân thành tới thầy giáo - Tiến sỹ Phan Thanh Long , người đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em cách thức và con đường nghiên cứu đề tài để hoàn thành đề tài nghiên cứu của em theo đúng tiến độ được giao
Nhân dịp này, tôi cũng xin trân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và các
em học sinh thuộc trường THPT Bình Sơn và THPT Sáng Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Với điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế, chắc chắn bản luận văn của em còn có những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến nhận xét, góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các nhà khoa học… những người quan tâm đến vấn đề này cho luận văn của em được hoàn thiện hơn và em xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm đó!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 10 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Nhung
Trang 4MỤC LỤC
Trang Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
I Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Các phương pháp nghiên cứu 4
8 Những đóng góp mới của đề tài 4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 5
1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Giáo dục môi trường trên thế giới 5
1.1.2 Giáo dục môi trường ở Việt Nam 9
1.2 Một số khái niệm công cụ của vấn đề nghiên cứu 16
1.2.1 Khái niệm môi trường 16
1.2.2 Ô nhiễm môi trường 18
1.2.3 Bảo vệ môi trường 19
1.2.4 Giáo dục môi trường 20
1.2.5 Chất lượng giáo dục môi trường 22
1.3 Đặc điểm tâm lý học sinh THPT 24
1.4 Giáo dục môi trường cho học sinh THPT 26
1.4.1 Vai trò và ý nghĩa của GDMT cho học sinh THPT 26
Trang 51.4.3 Những quan điểm nguyên tắc trong GDMT 30
1.4.4 Nội dung GDMT ở trường THPT 32
1.4.5 Các phương pháp GDMT và hình thức tổ chức GDMT trong nhà trường THPT 34
1.4.6 Sử dụng phương tiện dạy học trong giáo dục môi trường 37
1.4.7 Kiểm tra, đánh giá trong GDMT ở nhà trường THPT 39
1.4.8 Các điều kiện để tiến hành GDMT trong nhà trường THPT 40
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GDMT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN SÔNG LÔ – VĨNH PHÚC 46
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và giáo dục huyện Sông Lô 46
2.2 Thực trạng công tác GDMT cho học sinh các trường THPT huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc 47
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên các trường THPT huyện Sông Lô về công tác GDMT cho học sinh 48
2.2.2 Thực trạng hoạt động GDMT của GV các trường THPT huyện Sông Lô 54
2.2.3 Thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi tham gia BVMT của học sinh các trường THPT huyện Sông Lô 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 80
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN SÔNG LÔ – VĨNH PHÚC 81
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 81
3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 81
3.3 Các biện pháp đề xuất 81
3.3.1 Biện pháp thứ nhất: 81
Trang 63.3.2 Biện pháp thứ hai: 84
3.3.3 Biện pháp thứ ba: 93
3.3.4 Biện pháp thứ tư: 96
3.3.5 Biện pháp thứ năm: 99
3.3.6 Biện pháp thứ 6: 100
3.3.7 Biện pháp thứ bảy: 101
3.4 Khảo nghịêm về sự cần thiết và tính khả thi của biện pháp đề xuất 102
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm: 102
3.4.2 Phạm vi và nội dung khảo nghiệm: 103
3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 103
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Giáo dục Giáo viên Học sinh Liên hợp quốc Trung học phổ thông
Tổ chức Văn hoá – khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc
Chương trình phát triển của Liên hợp quốc Chương trình môi trường của Liên hợp quốc Sản xuất kinh doanh
Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá
Ô nhiễm môi trường Phương pháp
Giáo dục ngoài giờ lên lớp Sách giáo khoa
Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên và môi trường
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Nhận thức của GV về tầm quan trọng của công tác GDMT cho HS THPT Bảng 2.2: Quan niệm của GV về vai trò của các lực lượng GD trong công
tác GDMT cho học sinh
Bảng 2.3: Thực trạng xác định nội dung GDMT cho học sinh của GV
Bảng 2.4: Nhận thức của GV về các con đường GDMT cho học sinh THPT Bảng 2 5: Nhận thức của GV về khả năng lồng ghép GDMT vào các môn học Bảng 2.6: Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học của GV khi giảng
dạy những bài học có lồng ghép nội dung GDMT
Bảng 2.7: Thực trạng sử dụng các phương tiện dạy học của GV khi giảng dạy
những bài học có lồng ghép nội dung GDMT
Bảng 2.8: Thực trạng tổ chức các hoạt động ngoại khoá nhằm GDMT cho học
sinh các trường THPT huyện Sông Lô
Bảng 2.9: Nhận thức của học sinh về các vấn đề môi trường và BVMT
Bảng 2.10: Thái độ của HS đối với những hành động ảnh hưởng tới môi trường Bảng 2.11: Thói quen và hành vi tham gia BVMT của học sinh
Bảng 3.1: Sự cần thiết và mức độ quan trọng của các biện pháp nâng cao chất
lượng GDMT trong các trường THPT
Bảng 3.2: Tính khả thi của các biện pháp nâng chất lượng GDMT trong các
trường THPT huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc
Sơ đồ 1.1: Các phương pháp giáo dục môi trường (Nguồn UNESCO)
Sơ đồ 1.2: Các điều kiện cơ bản trong GDMT
Sơ đồ 2.1 Nhận Thức của GV về mục tiêu GDMT cho học sinh THPT
Sơ đồ 2.2: Thái độ và mức độ tham gia các hoạt động GDMT do nhà trường
tổ chức của học sinh THPT
Sơ đồ 2.3: Nhận xét của GV về nhận thức, thái độ và hành vi tham gia BVMT
của HS các trường THPT huyện Sông Lô
Trang 9MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
1 Môi trường đang trở thành vấn đề chung của nhân loại được cả thế giới quan tâm Việt Nam cũng là nước có môi trường đang bị huỷ hoại nghiêm trọng, gây nguy cơ mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sự phát triển của đất nước Một trong những nguyên nhân cơ bản là do nhận thức và thái độ của con người về bảo vệ môi trường (BVMT) còn hạn chế Từ đó, yêu cầu đặt ra là cần phải tăng cường công tác giáo dục môi trường (GDMT) cho cộng đồng mà trước hết là GDMT cho thế hệ trẻ, những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường - những chủ nhân tương lai của đất nước Trong đó đặc biệt coi trọng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT Bởi các em là lực lượng quan trọng tham gia vào các hoạt động gìn giữ và bảo vệ môi trường của con người trong hiện tại cũng như tương lai
2 Trong những năm qua, thực hiện Chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kì CNH – HĐH đất nước và Quyết định số 1363/QĐ - TTg, ngày 17/10/2001 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đưa các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ
đạo các cơ sở giáo dục trong cả nước tổ chức triển khai các nhiệm vụ về GDMT và thực hiện tốt các hoạt động giáo dục BVMT trong nhà trường Trên tinh thần đó, chương trình giáo dục môi trường đã được đưa vào giảng dạy tại các cấp học từ tiểu học, THCS, THPT đến đại học Nhiều nội dung giáo dục môi trường đã được thực hiện ở các cơ sở giáo dục Song nhìn chung việc thực hiện các nội dung GDMT trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và trong các trường THPT nói riêng hiện nay chưa thực sự mang lại hiệu quả Các giải pháp thực hiện chương trình GDMT trong các nhà trường mới chỉ là giải pháp tình thế, chưa có hệ thống (mang tính thời vụ); chương
Trang 10trình GDMT chưa được triển khai một cách thống nhất, rộng khắp trong cả nước, chưa trở thành nội dung bắt buộc và chưa được coi là một tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục trong nhà trường…
Những tồn tại trên là phổ biến ở hầu hết các trường THPT trong cả nước Đặc biệt đối với các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô – tỉnh Vĩnh Phúc thì những hạn chế đó được bộc lộ khá rõ bởi những điều kiện chủ quan và khách quan của các nhà trường nơi đây
3 Là huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc, Huyện Sông Lô được thành lập
và chính thức đi vào hoạt động từ ngày mùng 1/4/2009 Là huyện mới nên điều kiện kinh tế - xã hội, giáo dục của huyện còn gặp rất nhiều khó khăn Công tác giáo dục nói chung và GDMT tại các trường THPT nói riêng trên địa bàn huyện chưa được quan tâm đúng mức và còn nhiều tồn tại, bất cập: Hoạt động DGMT
ở các trường THPT nơi đây mới chỉ mang tính chất phong trào, chưa có biện pháp hiệu quả; đội ngũ giáo viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về
hệ thống nghiệp vụ và chuyên môn trong công tác GDMT… làm cho công tác GDMT của các nhà trường nơi đây chưa đạt đạt được hiệu quả cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn GDMT hiện nay
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khắc phục được những tồn tại, bất cập và nâng cao được chất lượng công tác GDMT ở các nhà trường nói chung và các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô nói riêng? Đây chính là lý do khiến
chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề: “Giáo dục môi trường cho học sinh các trường THPT huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác GDMT cho học sinh
ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô – tỉnh Vĩnh Phúc Đề tài xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh THPT phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và các nhà trường THPT trên địa
Trang 113 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình GDMT cho học sinh THPT
- Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh THPT
- Đối tượng khảo sát: Điều tra lấy ý kiến của 117 giáo viên, cán bộ quản
lý và 300 học sinh (100 HS khối 10, 100 HS khối 11, 100 HS khối 12) ở hai trường: THPT Bình Sơn và THPT Sáng Sơn thuộc huyện Sông Lô
4 Phạm vi nghiên cứu
Biện pháp giáo dục môi trường cho học sinh THPT là một vấn đề chứa đựng phạm vi rộng lớn Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu cơ sở khoa học của một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh THPT và cách thức thực hiện các biện pháp đó về mặt lý luận
Do điều kiện và thời gian có hạn, Chúng tôi không tiến hành thực nghiệm các biện pháp nâng cao chất lượng GDMT đã đề xuất mà chỉ tiến hành khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đó trên phạm vi 2 trường THPT thuộc địa bàn huyện Sông Lô là: trường THPT Bình Sơn và trường THPT Sáng Sơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề GDMT cho học sinh nói chung
và cho học sinh THPT nói riêng
5.2 Phản ánh và đánh giá thực trạng công tác GDMT ở các trường THPT huyện Sông Lô – Vĩnh phúc, tìm ra nguyên nhân của thực trạng đó
5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
6 Giả thuyết khoa học
GDMT đang được đặt ra như một vấn đề cấp bách hiện nay ở Việt Nam Tuy nhiên hiệu quả GDMT ở một số nhà trường nói chung và các trường THPT huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc nói riêng còn rất thấp Vì vậy nếu sử dụng các biện
Trang 12pháp nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường và địa phương theo một quy trình chặt chẽ, đồng bộ và thống nhất thì
sẽ hình thành cho học sinh thái độ, kỹ năng và thói quen BVMT, qua đó làm cho chất lượng GDMT của các nhà trường được tăng lên
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp này để thu thập và tập hợp các thông tin lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Các phương pháp cụ thể như:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
- Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết
- Phương pháp giả thuyết
- Phương pháp mô hình hóa lí thuyết
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (bằng ankét)
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
7.3 Phương pháp xử lí các số liệu bằng toán thống kê
8 Những đóng góp mới của đề tài
* Về mặt lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về môi trường, BVMT, GDMT cho học sinh nói chung và cho học sinh THPT nói riêng
* Về mặt thực tiễn:
- Phản ánh thực trạng công tác GDMT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc và chỉ ra được nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó
- Xây dựng được cơ sở khoa học và cách thức thực hiện một số biện pháp
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Giáo dục môi trường trên thế giới
Môi trường sống đã và đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâm nhất và cũng là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại Bởi lẽ môi trường sống gắn bó hữu cơ với cuộc sống của con người cũng như với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Ngay từ khi xuất hiện trên trái đất, con người đã sống dựa vào môi trường tự nhiên, tồn tại nhờ những gì
có sẵn trong tự nhiên Cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội loài người,
sự phụ thuộc của con người vào tự nhiên giảm dần và thay vào đó con người
đã không ngừng tham gia vào các hoạt động cải tạo giới tự nhiên, trên cơ sở nắm bắt các quy luật của tự nhiên để phục vụ cho mục đích sinh tồn và phát triển của con người
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội,
sự bùng nổ của dân số thế giới, nhu cầu về cuộc sống của con người ngày càng nâng cao kéo theo sự ô nhiễm môi trường, nguồn tài nguyên bị suy giảm nghiêm trọng Vấn đề bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho con người đặc biệt là cho thế hệ trẻ trở nên hết sức cần thiết
Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1948, trong cuộc họp của LHQ về bảo
vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên diễn ra tại Pari (Pháp) thuật ngữ “giáo dục môi trường” đã được sử dụng
Năm 1970, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đã định nghĩa: GDMT là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánh giá được sự quan hệ tương tác giữa con người, nền văn hoá, thế giới vật chất bao quanh môi trường
Trang 14đồng thời cũng thực hiện quyết định đưa ra bộ quy tắc ứng xử với những vấn đề liên quan tới đặc tính môi trường
Ngày 5/6/1972 LHQ đã tổ chức “Hội nghị quốc tế về Môi trường và Con người” tại Stockholm (Thụy Điển) với sự tham gia của 113 đại diện của Chính phủ các nước trên thế giới Có thể nói đây là Hội nghị đầu tiên của nhân loại về vấn đề phát triển và môi trường Hội nghị đã ra bản Tuyên bố Stockholm về Môi trường và Con người gồm 7 điểm và 26 nguyên tắc, trong
đó nguyên tắc thứ 19 đã chỉ rõ: “GDMT cho thế hệ trẻ cũng như người lớn tuổi, quan tâm thích đáng tới những người tàn tật là một việc làm hết sức cần thiết” Đến ngày15/12/1972 chương trình nghiên cứu của LHQ về môi trường
(UNEP) được thành lập Sau Hội nghị Stockholm, hàng loạt các hội nghị sau
đó của các tổ chức quốc tế diễn ra tại nhiều nước trên thế giới đều dành sự quan tâm rất lớn đến vấn đề bảo vệ môi trường và giáo dục môi trường trong giai đoạn hiện nay:
- Năm 1975, Hội nghị quốc tế về GDMT họp ở Belgrade (Nam Tư) đã khởi thảo một chương trình quốc tế về GDMT (chương trình IEEP) Các mục đích, mục tiêu, những khái niệm cốt yếu và các nguyên tắc hướng dẫn của chương trình được đưa vào một văn kiện của Hội nghị có tên là “Hiến chương Belgrade - một hệ thống nguyên tắc toàn cầu cho GDMT” Một tập hợp các mục tiêu ngắn gọn, bao quát về GDMT được đưa ra tại Belgrade có thể tóm tắt như sau:
1) Nâng cao nhận thức và quan tâm tới mối quan hệ tương tác về kinh
tế, xã hội, chính trị, sinh thái giữa nông thôn và thành thị
2) Cung cấp cho mỗi cá nhân cơ hội tiếp thu kiến thức, những giá trị, quan niệm, trách nhiệm và các kĩ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải tạo môi trường
3) Tạo ra những mô hình ứng xử với môi trường cho các cá nhân, cũng
Trang 15- Tháng 10/1977, Hội nghị liên Chính phủ về DGMT do UNESCO tổ chức họp tại Tbilisi (thủ đô Cộng hòa Gruzia) đã đưa ra tuyên ngôn về GDMT trong đó có 41 khuyến nghị về chiến lược GDMT đối với các quốc gia Hội nghị đã khuyến cáo mỗi nước ưu tiên thành lập một tổ chức có hiệu quả để chịu trách nhiệm triển khai GDMT Hội nghị cũng đưa ra các ý kiến đóng góp cho việc áp dụng rộng rãi hơn nữa GDMT trong chương trình giáo dục chính thức và không chính thức Sự kiện quan trọng này và những công
bố tiếp theo sau hội nghị đó đã tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của hệ thống nguyên tắc GDMT trên toàn thế giới ngày nay
- Tháng 9/1980 Hội thảo khu vực châu Á Thái Bình Dương về GDMT họp tại Băngkok (Thái Lan) với 17 nước tham dự Mục đích của hội thảo nhằm trao đổi kinh nghiệm trong DGMT ở từng nước Tại đây Hội thảo đã kiến nghị đưa DGMT vào các cấp học và cho các đối tượng khác nhau (Đại học, giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp; giáo dục trung học, tiểu học, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, giáo dục người lớn, v.v…) và các chủ đề cần ưu tiên là: Bảo vệ tài nguyên; Sự ô nhiễm và các thiệt hại; Dinh dưỡng và sức khoẻ; Môi trường đô thị; Vấn đề tai biến thiên nhiên
- Tháng 8/1987, UNESCO và UNEP phối hợp tổ chức Hội nghị quốc tế
về GDMT, họp ở Matxcơva (Liên Xô cũ) với sự tham gia của đại diện hơn
100 nước và tổ chức quốc tế Tại Hội nghị này một loạt các vấn đề cơ bản được đưa ra thảo luận, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của
GDMT, với nội dung: “Rút cục là sẽ không có gì giảm được mối đe doạ mang tính khu vực và quốc tế đối với môi trường, trừ phi ý thức của đại đa số quần chúng về mối liên quan thiết yếu giữa đặc trưng môi trường và sự tiếp tục thoả mãn các nhu cầu của con người được thức tỉnh Hoạt động của con người phụ thuộc vào động cơ, mà động cơ phụ thuộc vào sự hiểu biết của chính họ Vì thế chúng ta hiểu được tầm quan trọng tại sao mỗi người phải có
Trang 16nhận thức môi trường đúng đắn thông qua GDMT” Trên tinh thần đó Hội
nghị đã xây dựng Chiến lược quốc tế về chương trình hành động DGMT cho thập niên 90 và đặt tên cho thập niên này là “Thập niên toàn thế giới cho giáo dục môi trường”
Để thực hiện chương trình hành động GDMT cho thập niên 90, tháng 10/1990 UNESCO và UNEP phối hợp tổ chức Hội nghị quốc tế về GDMT lần 2 tại Pari (Pháp) Hội nghị này đã trao đổi về trách nhiệm của từng tổ chức quốc tế trong lĩnh vực giáo dục môi trường và một lần nữa UNEP lại nhấn mạnh nhiệm vụ GDMT cho tất cả mọi người, đặc biệt cho thế hệ trẻ và việc bồi dưỡng kiến thức, năng lực GDMT cho giáo viên các cấp
- Tháng 6/1992, tại Rio De Janeiro (Brazin) LHQ đã tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển với sự hội tụ chưa từng thấy của chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế Trong số hơn 1000 đại biểu đại diện cho 178 quốc gia, có 116 nguyên thủ quốc gia Hội nghị đã hội thảo trên một phạm vi rộng về các đề tài và vấn đề môi trường Có nhiều công bố dành cho GDMT thông qua suốt các văn kiện Một trong những kết quả chính của Hội nghị là sự nhất trí rằng: Sự phát triển, giáo dục và môi trường phải là một bộ phận thống nhất của quá trình học tập ở cả hai dạng chính thức và không chính thức Và một dự kiến được đưa ra là mọi chính phủ phải nỗ lực phấn đấu để cập nhật hoá hoặc chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợp môi trường và phát triển thành vấn đề trung tâm để đưa vào tất cả các cấp giáo dục
Tóm lại trên bình diện quốc tế GDMT đã được đề cập ở những góc độ sau: + Các nhà khoa học đều khẳng định vai trò quan trọng của GDMT và sự cần thiết phải GDMT cho các đối tượng khác nhau, đặc biệt là cho thế hệ trẻ
+ Các hội nghị quốc tế cũng đi đến thống nhất mục tiêu của GDMT là
Trang 17khả năng đánh giá các vấn đề nảy sinh về môi trường, có thói quen trong hành
vi và tự giác tham gia vào các hoạt động bảo vệ, cải thiện môi trường
+ Nội dung GDMT cũng được xác định tập trung ở một số chủ đề như: mối quan hệ tương hỗ trong thiên nhiên, sự cân bằng trong thiên nhiên, hậu quả của sự mất cân bằng trong thiên nhiên, sự cần thiết phải bảo tồn thiên nhiên
+ Khẳng định GDMT cần phải đưa vào trường học ở tất cả các bậc học và cho mọi đối tượng Cần phải có những biện pháp và xây dựng những chương trình về GDMT một cách hợp lý để đưa những nội dung GDMT vào các trường học, nâng cao và bồi dưỡng năng lực GDMT cho giáo viên các cấp…
1.1.2 Giáo dục môi trường ở Việt Nam
1.1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về GDMT trong hệ thống giáo dục quốc dân
Việt Nam là một trong những nước đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn từ sự ô nhiễm môi trường, vì vậy công tác bảo vệ môi trường và giáo dục, đào tạo về bảo vệ môi trường cũng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ nhiều năm nay Nhiều chủ trương, chính sách về BVMT và GDMT đã được triển khai, trong đó chú trọng nhiều đến công tác GDMT trong các trường phổ thông
Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội Nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993 đã thể chế hoá một bước các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường và giáo dục, đào tạo về bảo vệ môi trường Điều 4 của Luật nêu rõ: “Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về BVMT” coi GDMT là một
trong những biện pháp cơ bản của những hoạt động BVMT
Trang 18Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII (1996) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo nước ta trong thời kỳ CNH – HĐH đã nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào nhà trường Đây là sự thể hiện cụ thể yêu cầu gắn phát triển giáo dục và đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong thời kì mới
Chỉ thị 36 CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về “tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước” đã coi vấn đề giáo dục BVMT là giải pháp đầu tiên : “Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng bảo vệ môi trường” trong đó cần “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân” Đây là một trong những giải pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ
bảo vệ môi trường nước ta trong thời kỳ CNH – HĐH
Thực hiện Chỉ thị 36 của Bộ Chính trị, ngày 02/10/1998 Bộ Giáo dục – Đào tạo đã có Quyết định số 6621/QĐ-BGDĐT-KHCN ngày 30/12/2002 phê duyệt "Chính sách và chương trình hành động giáo dục môi trường trong trường phổ thông giai đoạn 2001 - 2010" Theo Chương trình này, thì giai đoạn 2001 - 2005 là giai đoạn chuẩn bị, trong đó có các công việc như: soạn thảo và ban hành các văn bản pháp quy; xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục môi trường; bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý về giáo dục môi trường; xây dựng tổ chức và cơ sở vật chất; tiến hành các hoạt động ngoại khóa, các chiến dịch truyền thông môi trường; chỉ đạo điểm Từ năm 2006 trở đi mới là triển khai mở rộng trong phạm vi toàn quốc Các văn bản này bước đầu đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức, triển khai các hoạt động GDMT ở các trường phổ thông và trường sư phạm trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 19Quyết định số 1363/QĐ - TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án : “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” đã xác định rõ các mục tiêu, nội dung, phương thức giáo dục đào tạo về bảo vệ môi trường trong đó: Đối với giáo dục trung học cơ sở
và trung học phổ thông: trang bị những kiến thức về sinh thái học, mối quan
hệ giữa con người với thiên nhiên; trang bị và phát triển kĩ năng bảo vệ và gìn giữ môi trường, biết ững xử tích cực với môi trường sống xung quanh…Việc giáo dục bảo vệ môi trường chủ yếu thực hiện theo phương thức khai thác triệt để tri thức về môi trường hiện có ở các môn học trong nhà trường Nội dung giáo dục BVMT còn thực hiện ngoài nhà trường dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường cho toàn cộng đồng
Như vậy có thể thấy công tác GDMT trong hệ thống giáo dục quốc dân
đã được Đảng và Nhà Nước ta đặc biệt coi trọng Các văn bản, chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về GDMT là những căn cứ pháp lý quan trọng để triển khai hoạt động GDMT cho học sinh các bậc học một cách hợp
về giáo dục môi trường luôn được nhà nước ưu tiên Những công trình nghiên cứu này đã khởi thảo một số vấn đề lý luận chung về GDMT và vấn đề lồng ghép, tích hợp GDMT qua các môn học
Trang 20Để thực hiện nhiệm vụ giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông, ngay từ những năm 80 ở nước ta đã có 2 đề tài cấp nhà nước tiến hành nghiên cứu về phương thức, nội dung GDMT trong nhà trường, trong đó tập trung chủ yếu vào môn sinh vật và địa lý Đến năm 1985, cuốn “Quán triệt tinh thần giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dân số và bảo vệ môi trường” của Nhà xuất bản Giáo dục và cuốn “Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông” của tác giả Nguyễn Dược, xuất bản năm 1986 cho thấy rõ sự nhận thức về GDMT ở nước ta
Hiện nay, các hoạt động GDMT được tiến hành một cách mạnh mẽ Ngoài việc GDMT cho quần chúng nhân dân thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng rất đa dạng và phong phú, trong nhiều trường đại học
đã có các môn học về môi trường, một số trường đại học còn thành lập cả khoa Môi trường để đào tạo các cán bộ, cử nhân về lĩnh vực môi trường như Khoa môi trường của trường Đại học khoa học tự nhiên (Hà nội), Khoa môi trường của Đại học Thuỷ Lợi, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Lâm Nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội… ở Thành phố Hồ Chí Minh khoa môi trường cũng được thành lập ở các trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Bách khoa , Đại học Kỹ thuật
Song song với việc giảng dạy trong nhà trường, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về GDMT cấp nhà nước và cán bộ quản lý cũng đã và đang được thực hiện, có tác dụng mở rộng nội dung và hiệu quả của công tác GDMT:
Năm 1991 – 1995 chương trình nghiên cứu cấp nhà nước về BVMT (KT.02) do Bộ Đại học – Trung học chuyên nghiệp chủ trì đã triển khai một
đề tài nghiên cứu khoa học quan trọng về GDMT (KT02, 07) với các vấn đề
cơ bản như: nâng cao nhận thức về môi trường cho đông đảo nhân dân; DGMT trong hệ thống các trường phổ thông; GDMT trong các trường đại học
Trang 21vụ và các đoàn thể nhân dân 6 hướng nghiên cứu của đề tài đã đưa ra những căn cứ khoa học để nâng cao hiệu quả giáo dục - đào tạo, phổ cập kiến thức môi trường ở Việt Nam và trên cơ sở đó xác định mục tiêu, nội dung, hình thức GDMT cho tất cả các đối tượng trong xã hội
Năm 1994, với sự hỗ trợ của Cục Môi trường, Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã nghiên cứu đề tài
“Thiết kế và thử nghiệm nội dung GDMT ở bậc tiểu học” Các tác giả tham gia nghiên cứu đề tài đã bước đầu xác định những nội dung chính cần được triển khai ở bậc tiểu học và biên soạn mẫu về GDMT ở một số môn học như: Đạo đức, Giáo dục sức khoẻ, Tự nhiên – xã hội Năm học 1996 – 1997, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tiếp tục nghiên cứu đề tài “Phương thức hoạt động giáo dục môi trường ở mẫu giáo và tiểu học” Đề tài này đã đưa ra những kiến nghị về các phương thức DGMT và điều kiện cần thiết để tiến hành các phương thức GDMT có hiệu quả Đến Năm 1998 – 2000 Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tiếp tục triển khai đề tài “Nghiên cứu xây dựng các phương pháp luận cơ bản về GDMT cho giáo sinh sư phạm và giáo viên”
Đề tài này đã chỉ ra cơ sở lý luận của các phương pháp tiếp cận GDMT và soạn thảo một số phương pháp luận cơ bản về GDMT
Trong vài năm trở lại đây, một số địa phương trong cả nước với sự giúp
đỡ về kinh phí của Trung ương và của Sở Khoa học – Công nghệ, Sở Tài nguyên và Môi trường và nhiều nguồn tài trợ khác đã tiến hành nghiên cứu một số đề tài khoa học để đưa những kiến thức về môi trường địa phương vào giảng dạy trong các trường phổ thông Năm 1994 – 1996, Sở Giáo dục – Đào tạo Quảng Ninh đã triển khai nghiên cứu đề tài: “Thực nghiệm giáo dục môi trường cho học sinh trung học cơ sở” Đề tài đã xây dựng được tài liệu về nội dung BVMT vùng mỏ và rừng ngập mặn của địa phương Báo cáo kết quả nghiên cứu về phương thức GDMT ở trường phổ thông của tác giả Nguyễn
Trang 22Văn Khang (Hải Dương) đã đưa ra những kinh nghiệm tốt để tổ chức GDMT Theo tác giả, muốn đưa GDMT vào trường phổ thông, trước hết cần tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên về nội dung và phương pháp GDMT như giới thiệu các hướng chính về giáo dục môi trường trong các quyển: nêu lên một số khái niệm thông thường về GDMT, gợi ý các hình thức lồng ghép chủ yếu để GDMT cho học sinh Ngoài ra tác giả còn đề xuất một số hình thức giáo dục
cụ thể cho từng bậc học
Bên cạnh việc triển khai các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, địa phương, nhiều luận văn, luận án tiến sĩ cũng đã nghiên cứu sâu về các khía cạnh của GDMT trong nhà trường thông qua các môn học Luận án tiến sĩ của
tác giả Nguyễn Thị Vân Hương (2002) “Một số biện pháp nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh tiểu học” đã đưa ra một số biện pháp nâng cao
chất lượng GDMT cho học sinh tiểu học, tác giả đã tiến hành thực nghiệm các biện pháp đó và bước đầu đã thu được những kết quả rất tốt Luận án tiến sĩ
“Xác định các hình thức tổ chức và phương pháp GDMT qua môn địa lý ở trường PTCS ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (1994) đã xây
dựng cơ sở khoa học của việc xác định các hình thức và phương pháp GDMT thông qua việc tích hợp giảng dạy các bài học của môn địa lý có liên quan đến môi trường Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Tâm (2005) với đề tài:
“Một số biện pháp quản lý hoạt động GDMT ở các trường THPT huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây” lại tập trung nghiên cứu các biện pháp để người
hiệu trưởng có thể nâng cao chất lượng quản lý hoạt động GDMT của giáo viên trong nhà trường, qua đó nhằm nâng cao chất lượng GDMT trong các trường THPT trên địa bàn huyện Thạch Thất, một số biện pháp được tác giả đưa ra như: xây dựng kế hoạch DGMT của nhà trường gắn với xây dựng kế hoạch dạy học bộ môn; Tăng cường công tác kiểm tra thông qua việc dự giờ
Trang 23cường bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn cho đội ngũ giáo viên về các hình thức và phương pháp GDMT cho học sinh
Cùng với các đề tài nghiên cứu, trong những năm qua, nước ta cũng tổ chức nhiều hội nghị khoa học về GDMT Tháng 6/1982, Trung tâm bảo vệ thiên nhiên và môi trường của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội) đã tổ chức hội thảo khoa học dài ngày, trong đó tập trung nhiều đến vấn đề GDMT Nhiều báo cáo về GDMT đã được trình bày như: Báo cáo về GDMT trong chương trình các môn học ở trường phổ thông của tác giả Hoàng Đức Nhuận; Báo cáo về GDMT ở Việt Nam của tác giả Đào Văn Tiến… Trong 2 ngày 26 – 27/9/1995 Hội nghị khoa học về giáo dục môi trường trong trường học do Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường tổ chức tại Hà Nội đã nêu lên những nét chung về thực trạng môi trường và GDMT ở các địa phương và đề xuất các giải pháp
về vấn đề này trong thời gian sắp tới Hội nghị này đã đưa ra khuyến nghị về GDMT trong các trường học, vận động các địa phương nhanh chóng hưởng ứng kế hoạch triển khai GDMT của quốc gia, thực hiện triển khai GDMT tại các địa phương trong cả nước
Vấn đề GDMT còn được triển khai nghiên cứu trong nhiều dự án Dự
án VIE/94/01, chu kỳ 1994 – 1996, đã nghiên cứu việc tích hợp nội dung GDMT vào chương trình giáo dục các cấp học và được phân chia thành các thông điệp như: Môi trường – Tài nguyên; sự cần thiết và các biện pháp BVMT… các nội dung trên được xây dựng cụ thể cho từng cấp học, theo từng môn học và từng lớp học Từ năm 1995 đến nay, Bộ Giáo dục & Đào tạo kết hợp với chương trình phát triển cuả LHQ – UNDP đã triển khai Dự án VIE/95/041, nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề GDMT trong nhà trường Trên cơ sở xác định vị trí, vai trò, mục tiêu, nguyên tắc và phương
Trang 24pháp GDMT, chương trình đã tập hợp được tài liệu hướng dẫn GDMT cho những người đào tạo giáo viên ở cả bậc tiểu học và bậc trung học
Tóm lại, những thành tựu và kết quả của các công trình nghiên cứu về GDMT trong thời gian qua ở nước ta cho thấy, vấn đề GDMT cho học sinh trong các nhà trường ở nước ta đã thực sự trở thành một trong những vấn đề cấp bách và cần thiết, góp phần quan trọng vào mục tiêu giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh các bậc học, trong đó có học sinh THPT Những thành tựu đó có ý nghĩa to lớn cho việc xây dựng cơ sở lý luận về GDMT trong nhà trường phổ thông tại Việt Nam và là nguồn tri thức quan trọng giúp cho hoạt động GDMT của giáo viên trong các nhà trường đạt hiệu quả cao Kế thừa kinh nghiệm và những thành tựu của các công trình nghiên cứu
về GDMT trong và ngoài nước, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Giáo dục môi trường cho học sinh các trường THPT huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc” với mong muốn tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận trong công
tác GDMT mà các công trình nghiên cứu trước đó đã khởi thảo xây dựng, đồng thời căn cứ vào kết quả nghiên cứu thực tiễn hoạt động GDMT tại các trường THPT trên địa bàn huyện Sông Lô có thể xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho HS THPT phù hợp với đặc trưng riêng của các nhà trường
1.2 Một số khái niệm công cụ của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm môi trường
Với cách hiểu rộng nhất “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” (Luật Bảo vệ môi trường)
Tuy nhiên, khái niệm môi trường sống của con người được dùng trong
Trang 25được mở rộng theo sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau Vì vậy mà khái niệm Môi trường còn được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng tựu chung lại không nằm ngoài định nghĩa khái quát nêu trên
Trong giáo dục, môi trường chứa đựng phạm vi rộng lớn Theo UNESCO thì môi trường sống của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống
tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin…), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình Như vậy, môi trường sống của con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con người” (13)
Như vậy, môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như: tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội…Với nghĩa hẹp, thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người như: số m2
nhà ở, chất lượng bữa ăn
hàng ngày, nước sạch, điều kiện vui chơi giải trí…Tóm lại, Môi trường là tất cả những gì xung quanh chúng ta, tạo điều kiện để chúng ta sống, hoạt động và phát triển
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại sau:
- Môi trường tự nhiên: bao gồm tập hợp các yếu tố tự nhiên như: vật lý,
hoá học, sinh học tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người như: đất, nước, không khí, nhiệt độ, ánh sáng, động thực vật… Các yếu tố trong môi trường tự nhiên có quan hệ mật thiết với nhau, nếu một yếu tố nào đó thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi các yếu tố khác
Trang 26- Môi trường nhân tạo: bao gồm tất cả những yếu tố do con người tạo
ra và chịu sự chi phối của con người như: nhà ở, trường học, công viên, các khu vui chơi, giải trí … Trình độ khoa học ngày càng phát triển, xã hội ngày càng phát triển thì môi trường nhân tạo càng thay đổi nhanh chóng để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người
- Môi trường kinh tế - xã hội: Là tổng thể các mối quan hệ giữa con
người với con người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, quy ước, các chuẩn mực đạo đức… ở các cấp khác nhau như: quốc gia, tỉnh, huyện, làng xã, gia tộc, gia đình, cơ quan, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, đoàn thể … Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Thực ra sự phân chia nói trên chỉ để phục vụ cho mục đích nghiên cứu
và phân tích các hiện tượng phức tạp trong môi trường Trên thực tế, ba loại môi trường này cùng tồn tại đan xen vào nhau và có mối quan hệ qua lại với nhau hết sức chặt chẽ Con người tồn tại và có mối liên hệ chặt chẽ, tương tác với cả ba loại môi trường nói trên
1.2.2 Ô nhiễm môi trường
Theo cách hiểu chung, ô nhiễm môi trường (ÔNMT) là hiện tượng một yếu tố nào đó có mặt trong môi trường với thành phần và lượng chất có khả năng ngăn cản các quá trình tự nhiên vận hành một cách bình thường, hoặc làm cho các quá trình này xảy ra theo xu hướng không như mong muốn, gây nên những ảnh hưởng có hại đối với sức khỏe và sự sinh tồn của con người hoặc của các loài sinh vật khác sinh sống trong môi trường đó
Theo Luật Bảo vệ môi trường của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam: ÔNMT là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu
Trang 27Trên thế giới, ÔNMT được hiểu là việc chuyển hoá các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường
ÔNMT hoàn toàn không phải là một hiện tượng mới, từ thời thượng cổ con người đã có những hiểu biết về vấn đề này Nhưng lúc đó ÔNMT chưa đáng kể vì dân số ít, khoa học kỹ thuật chưa phát triển Dần dần những tác động của con người gây ÔNMT ngày càng rõ rệt và tăng lên đáng kể (đặc biệt
là trong nửa cuối thế kỷ 20) do những nguyên nhân chính sau: 1) Sự gia tăng dân số và tốc độ đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh; 2) Sự gia tăng chất thải độc hại do con người sử dụng quá nhiều loại hoá chất mới trong các ngành sản xuất công – nông nghiệp cũng như để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, trong khi chưa có biện pháp kiểm soát hữu hiệu, đặc biệt là các chất phân huỷ ảnh hưởng đến khả năng tự thanh lọc của môi trường
Các nước trên thế giới và Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn
về ô nhiễm môi trường, vấn đề BVMT và giáo dục BVMT đã trở thành một trong những vấn đề cấp bách nhất của tất cả các quốc gia
1.2.3 Bảo vệ môi trường
Là tập hợp các biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp
lý sinh giới (vi sinh vật, thực vật, động vật ) và môi sinh (đất, nước, không khí, khí hậu, nhiệt độ…), nghiên cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít hoặc không có phế liệu… nhằm tạo một không gian tối ưu cho cuộc sống của con người
Ngày nay nội dung của khái niệm BVMT đã được mở rộng, nó bao gồm các hoạt động : Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ sự cân bằng sinh thái; cải tạo, phục hồi các tài nguyên bị cạn kiệt; chống ô nhiễm
và suy thoái môi trường; bảo vệ đa dạng sinh học và các nguồn gen di truyền quý hiếm
Trang 281.2.4 Giáo dục môi trường
GDMT đã có một lịch sử lâu dài Đặc biệt trong khoảng 10 năm gần đây kể từ khi Uỷ ban thế giới Môi trường và Phát triển công bố báo cáo
“Tương lai của chúng ta” thì GDMT được nhắc đến một cách thường xuyên trong các diễn đàn quốc tế, quốc gia cũng như tại các địa phương, cơ
sở giáo dục, nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh,…Tuy nhiên, GDMT được hiểu theo những quan niệm khác nhau và dẫn tới những vấn đề phức tạp trong thực thi GDMT
Định nghĩa GDMT thường được gắn với mục tiêu của GDMT Định nghĩa được chấp nhận phổ biến nhất do Hội nghị quốc tế về GDMT của Liên hiệp quốc được tổ chức tại Tbilisi (Gruzia) năm 1977 đưa ra Theo Hội nghị
này thì GDMT có mục đích là “làm cho các cá nhân và cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường” (7)
GDMT cũng được quan niệm là: Một quá trình thường xuyên, qua đó con người nhận thức được môi trường của họ và thu được kiến thức, giá trị,
kĩ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng yêu cầu của thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai (Dự
án VIE/95/041,1997)
Qua các định nghĩa nêu trên có thể rút ra nhận xét tổng quát rằng: GDMT nói chung (không phân biệt GD cho đông đảo nhân dân, GD trong các nhà trường phổ thông, GD trong các trường Đại học…) có mục tiêu đem lại cho đối tượng các vấn đề sau:
Trang 29- Hiểu biết bản chất các vấn đề môi trường: Tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hạn chế của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, khả năng chịu tải của môi trường, quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển bền vững, giữa môi trường địa phương, vùng, quốc gia với môi trường khu vực và toàn cầu Thực chất là trang bị cho các đối tượng được giáo dục các kiến thức về môi trường
- Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển đối với bản thân họ cũng như cộng đồng Từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn
đề về môi trường, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu thập số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mĩ Đây chính là định hướng xây dựng thái độ, cách đối xử thân thiện với môi trường
- Tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp
lý và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên để họ có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về môi trường cụ thể nơi họ sinh sống, học tập, làm việc Đây là mục tiêu về khả năng hành động
Tuy nhiên, giáo dục môi trường trong phạm vi quốc gia thường được phân thành các bộ phận phù hợp với trình độ nhận thức và tính chất đặc thù của cương vị công tác:
- GDMT cho cộng đồng: còn gọi là nâng cao nhận thức về môi trường cho quần chúng, được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các đợt tập huấn ngắn hạn, các hoạt động văn hoá truyền thông và các cuộc vận động quần chúng rộng rãi
- GDMT cho các nhà quản lý các cấp, các cán bộ ra quyết định được thực hiện bằng nhiều biện pháp phù hợp với chuyên môn, nghề nghiệp và vị trí công tác cụ thể
Trang 30- GDMT trong hệ thống GD –ĐT ở các trường từ mầm non đến bậc phổ thông, cao đẳng và đại học được tiến hành bằng những hình thức và biện pháp phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm địa phương
- Đào tạo nhân lực chuyên môn về môi trường, bao gồm công nhân lành nghề, kỹ thuật viên, kỹ sư, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy,…
Như vậy, GDMT không phải chỉ một lần, một giai đoạn mà là GD thường xuyên, giáo dục suốt đời Phải tiến hành GDMT sâu rộng ngày từ tuổi
ấu thơ tới tuổi trưởng thành Đối với lứa tuổi đang phát triển, tuổi học sinh thì
GDMT có mục tiêu tạo nên “con người giác ngộ về môi trường”; với lứa tuổi trưởng thành nhằm tạo dựng mẫu “người công dân có trách nhiệm với môi trường”; với những người lao động đang hoạt động sản xuất, kinh doanh,… là nhằm xây dựng “nhà chuyên môn thấu hiểu về môi trường”
Trong khuôn khổ của việc GDMT trong nhà trường phổ thông thì GDMT được hiểu là quá trình tạo dựng nhận thức, kỹ năng, tình cảm, đạo đức cho học sinh về vấn đề môi trường Hay cụ thể hơn, GDMT là quá trình hình thành có mục đích phong cách, tư duy sinh thái và đạo đức sinh thái, những quan điểm sinh thái, pháp luật cần thiết đối với thiên nhiên và nơi ở của con người, hình thành những hành vi đúng đắn và lập trường tích cực đối với môi trường
Như vậy, GDMT là một bộ phận của quá trình giáo dục nhân cách, vì
nó không chỉ hình thành cho học sinh hệ thống những tri thức về môi trường,
mà còn hình thành những quan điểm, niềm tin để có thể thay đổi thái độ, hành
vi của mỗi cá nhân trong cuộc sống Vì thế, GDMT phải được tiến hành bằng nhiều con đường, với những phương pháp phù hợp với điều kiện cụ thể
1.2.5 Chất lượng giáo dục môi trường
Chất lượng GDMT là mức độ đạt được mục tiêu GDMT, gắn với sự
Trang 31đáp ứng được yêu cầu đa dạng của “môi trường phát triển bền vững” trước mắt cũng như trong quá trình phát triển Chất lượng GDMT gắn với hiệu quả GDMT
Như vậy, chất lượng GDMT cũng có tính không gian, thời gian và sự thích hợp với sự phát triển Nó được biểu hiện ở các dấu hiệu cụ thể sau:
- Chất lượng GDMT phải bao gồm chất lượng của cả quá trình GDMT (cả chất lượng đầu vào, chất lượng quá trình giáo dục, chất lượng đầu ra)
- Chất lượng GDMT là sự phát triển không những của sản phẩm GDMT (con người) mà nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện và những điều kiện khác nhau phục vụ GDMT phải tốt nhất
- Chất lượng GDMT là sự hoàn hảo mà mọi người có thể đạt được Để được như vậy, trước hết chương trình GDMT phải hoàn thiện thường xuyên, được cập nhật kiến thức mới, nội dung phải chuẩn xác
- Chất lượng GDMT phải là sự thích hợp, phù hợp với mục tiêu, trước hết phải đáp ứng mục tiêu GDMT của nhà nước, đồng thời đáp ứng nhu cầu cập nhật nâng cao trình độ của người được giáo dục
- Chất lượng GDMT phải có ý nghĩa giá trị để đầu tư
- Chất lượng GDMT phải có sự biến đổi lớn về chất của người được giáo dục Khi kết thúc một giai đoạn nào đó, người được giáo dục phải có những kiến thức mới, kỹ năng, thái độ khác hẳn và vượt xa so với lúc mới bước vào, chẳng những về chiều sâu mà còn cả về bề rộng của kiến thức Sự gia tăng về kiến thức, kỹ năng cũng đồng nghĩa với chất lượng GDMT ngày càng cao
Như vậy, có thể thấy chất lượng GDMT cho học sinh THPT sẽ thể hiện và được đánh giá qua các vấn đề sau:
- Mục tiêu GDMT cho học sinh THPH được thực hiện
- Nội dung, phương pháp, phương tiện và các điều kiện GDMT phải đáp ứng được mục tiêu đó
Trang 32- Học sinh có sự biến đổi lớn về chất: Khi kết thúc một giai đoạn GDMT nhất định (1 năm, 2 năm) thì học sinh phải có những kiến thức mới cả
về bề rộng và chiều sâu, có kỹ năng và thái độ khác vượt xa so với lúc mới tiến hành GDMT
Kinh nghiệm GDMT ở các nước cho thấy, muốn nâng cao chất lượng GDMT cho học sinh trong nhà trường phổ thông thì vấn đề cần phải nhấn mạnh khi đưa các kiến thức GDMT vào các bậc học là: Nội dung GDMT, những thông tin về môi trường cùng với những biện pháp BVMT cần được cung cấp theo những cách thức phù hợp với trình độ, khả năng nhận thức của từng nhóm đối tượng theo từng bậc học, phản ánh tính khoa học, tính hệ thống các khối kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và đảm bảo tính liên thông giữa các bậc học mà nội dung cơ bản của nó là giáo dục về môi trường, nghĩa
là trang bị cho học sinh không chỉ những kiến thức, hiểu biết về môi trường,
mà còn là những định hướng vì môi trường, hướng tới những hoạt động thích nghi, tạo lập môi trường
1.3 Đặc điểm tâm lý học sinh THPT
Vấn đề GDMT được tiến hành như thế nào, phụ thuộc rất nhiều vào
các lứa tuổi khác nhau Việc nghiên cứu đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh THPT là hết sức cần thiết, nó giúp ta có cơ sở để xác định một số phương pháp thích hợp trong GDMT cho học sinh THPT hiện nay
Lứa tuổi học sinh THPT bao gồm các em trong độ tuổi từ 14 -15 đến
17 – 18 tuổi Trong tâm lý học gọi lứa tuổi này là tuổi thanh xuân Đây là
giai đoạn kết thúc về căn bản cả một quá trình hình thành và phát triển lâu dài
về cả sinh lý và tâm lý Ở lứa tuổi này con người đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời, toàn bộ nhân cách, năng lực, trí tuệ, thế giới quan có nhiều biến đổi lớn… Tất cả trở thành hành trang để con người bước vào một thời
Trang 33Đây là thời kỳ phát triển phức tạp về nhiều mặt trong đó những yếu tố
xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách ở lứa tuổi này Tính không xác định địa vị, sự phức tạp hoá hoạt động sống và sự
mở rộng phạm vi giao tiếp, sự xuất hiện hàng loạt những phẩm chất nhân cách đặc trưng của một nhân cách đang bước vào tuổi trưởng thành đã tạo nên tính đặc thù trong sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi này
Tuổi học sinh THPT là thời kỳ sau trưởng thành giới tính của phần lớn thanh niên Sau một thời kỳ tương đối căng thẳng về sinh lý của tuổi dậy thì, thì lứa tuổi này phát triển tương đối êm ả về mặt thể chất Và trong điều kiện bình thường thì lứa tuổi này đạt đến trình độ hoàn thiện một cách căn bản về thể chất
Năng lực nhận thức và các phẩm chất của hoạt động trí tuệ của học sinh THPT phát triển mạnh Việc nắm vững các thao tác trí tuệ phức tạp và có sự phong phú thêm công cụ khái niệm làm cho hoạt động trí tuệ của các em trở nên bền vững và có hiệu quả hơn Năng lực chuyên môn được phát triển đặc biệt nhanh chóng Kết hợp với sự phân hoá ngày càng tăng của xu hướng các hứng thú, điều này làm cho cấu trúc của hoạt động trí tuệ của học sinh THPT trở nên phức tạp và có tính chất cá biệt hơn rất nhiều so với lứa tuổi học sinh THCS Vì thế ở lứa tuổi này các em có khả năng phân tích và nhận thức các vấn đề một cách sâu sắc, đây là điều kiện thuận lợi để hướng dẫn các em có thể tìm hiểu sâu và nhận thức một cách đầy đủ những khía cạnh khác nhau của môi trường và vấn đề BVMT sống
Khả năng tự ý thức, tự đánh giá về năng lực bản thân và năng lực của người khác, khuynh hướng tách ra khỏi người lớn ở các em phát triển mạnh Các em luôn có nhu cầu được thể hiện bản thân trong những công việc của người lớn và được người lớn tôn trọng, giao phó cho một số công việc có tính người lớn Điều đó làm cho các em ý thức hơn về vai trò, trách nhiệm của
Trang 34mình đối với các công việc được giao và luôn nỗ lực cố gắng để hoàn thành tốt những công việc đó Các em luôn quan tâm đến dư luận xung quanh về mình, từ
đó đối chiếu hành vi của mình với những nhận xét, đánh giá của người khác để các em tự điều chỉnh
Ở lứa tuổi này thế giới quan được hình thành một cách mạnh mẽ Các
em luôn hứng thú nhận thức đối với những vấn đề chung nhất của vũ trụ, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và những vấn đề liên quan tới con người,
và tất cả những gì các em tiếp thu được sẽ trở thành quan điểm, nguyên tắc và
lẽ sống của các em Chính vì vậy việc giúp cho các em có được những hiểu biết đúng đắn về môi trường, vai trò và tầm quan trọng của môi trường đối với sự sống, ý nghĩa của công tác GDMT và BVMT là vô cùng quan trọng và cần thiết, nó sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách nhìn nhận, quan điểm, thái độ
và hành vi của các em đối với môi trường và đối với vấn đề BVMT trong cả thời kỳ phát triển tiếp theo của các em
1.4 Giáo dục môi trường cho học sinh THPT
1.4.1 Vai trò và ý nghĩa của GDMT cho học sinh THPT
Đối với GD- ĐT, một trong những quan điểm chỉ đạo chiến lược là: phát triển Giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh, trong đó
có nhu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Chỉ thị 36/CT/TW của Bộ Chính trị - Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII , ngày 25/4/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời
kỳ CNH – HĐH đất nước đã nhấn mạnh những giải pháp cơ bản để thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường là “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân”
Với tinh thần đó, GDMT là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của
Trang 35môi trường là một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển GD - ĐT đất nước ta giai đoạn 2001 – 2010
Trong chiến lược GDMT ở Việt Nam, giai đoạn đầu tiên là tập trung vào học sinh ở trường phổ thông GDMT cho học sinh không chỉ đạt kết quả trước mắt mà còn đạt kết quả lâu dài vì thế hệ trẻ vẫn ở trong quá trình phát triển nhận thức, thái độ và hành vi Họ là thành viên trong nhóm dân cư lớn nhất Sự thành đạt của họ trong tương lai phụ thuộc vào phát triển bền vững hơn bất kỳ nhóm nào khác
Và một trong những con đường để DGMT cho thế hệ trẻ một cách hiệu quả nhất đó là thông qua hệ thống trường học Vì trường học có khả năng thực hiện chương trình học tập theo khuôn khổ chính quy, có cấu trúc và được
Đối với lứa tuổi học sinh THPT, GDMT là một trong những nội dung giáo dục cực kỳ quan trọng và cần thiết, bởi ở lứa tuổi này con người đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời, toàn bộ nhân cách, năng lực, trí tuệ, thế giới quan có những bước biến đổi lớn… Tất cả những gì các em tích luỹ được
ở giai đoạn này này sẽ trở thành hành trang để các em bước vào cuộc sống tự lập một cách vững tin, chắc chắn Những kiến thức về môi trường và bảo vệ
Trang 36môi trường mà các em được tiếp nhận ở giai đoạn này không chỉ có tác dụng thay đổi nhận thức về môi trường mà còn có tác dụng định hướng hành động cho các em khi tham gia giải quyết các vấn đề về môi trường nhằm xây dựng môi trường phát triển bền vững Đối với một số em, thì những kiến thức về GDMT mà các em tích luỹ được ở giai đoạn này có thể trở thành động cơ thúc đẩy việc lựa chọn hướng đi nghề nghiệp trong tương lai của các em Chính vì vậy, GDMT là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THPT nói riêng
1.4.2 Mục tiêu GDMT cho học sinh THPT
Hiến chương Belgrade (1975) đã nêu ra mục tiêu cơ bản của hoạt động GDMT Mục tiêu này bao gồm:
+ Nhận thức: Có nhận thức và nhạy cảm với toàn bộ môi trường và các vấn đề có liên quan về môi trường
+ Tri thức: Có những hiểu biết cơ bản về môi trường và các vấn đề có liên quan, về vai trò, trách nhiệm của con người trong môi trường
+ Thái độ: Quan tâm đối với môi trường và có động cơ muốn tham gia tích cực vào việc bảo vệ và cải tạo môi trường
+ Kỹ năng, năng lực: Có năng lực giải quyết vấn đề nảy sinh về môi trường
+ Kỹ năng đánh giá: Đánh giá được các biện pháp về môi trường và các chương trình giáo dục
+ Sự tham gia: Phát triển ý thức trách nhiệm và quan tâm sâu sắc đối với các vấn đề môi trường và có hành động thích đáng, đóng góp vào việc giải quyết vấn đề đó
Từ mục tiêu chung, các nước sẽ xây dựng mục tiêu GDMT riêng cho nước mình, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ, mục tiêu và khả năng hành
Trang 37động của từng cấp học dựa trên tiêu chuẩn quan trọng nhất là: hành động tích cực của các cá nhân và tập thể trong việc cải thiện chất lượng môi trường
Căn cứ theo mục tiêu chung và kinh nghiệm xác định mục tiêu GDMT của các nước Việt Nam cũng đã đưa ra mục tiêu GDMT cho học sinh phổ
thông: “Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là: mỗi trẻ được trang bị một ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất, một khả năng biết đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên
và một giá trị nhân cách được khắc sâu bởi một nền tảng đạo lý về môi trường ”
Trên cơ sở mục tiêu chung, GDMT ở các cấp học, bậc học cũng được xây dựng với những mục tiêu cụ thể Đối với bậc THPT thì GDMT nhằm đạt đến những mục tiêu sau:
* Về kiến thức: Trang bị và giúp học sinh hiểu biết rõ những kiến thức
về môi trường bao gồm:
- Khái niệm môi trường, hệ sinh thái, các thành phần của môi trường và mối quan hệ giữa chúng
- Nguồn tài nguyên thiên nhiên, khai thác, sử dụng và vấn đề môi trường
- Ô nhiễm môi trường: nguyên nhân, tác hại và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường
- Một số vấn đề gay cấn của môi trường
- Mối quan hệ giữa con người và môi trường: Tác động của con người đến môi trường và tài nguyên
- Luật bảo vệ môi trường và những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về BVMT
* Về thái độ - tình cảm
- Xây dựng ở học sinh những tình cảm tích cực đối với môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường, yêu quý và tôn trọng thiên nhiên
Trang 38- Có thái độ thân thiện với môi trường và ý thức được hành động trước các vấn đề môi trường nảy sinh
- Có ý thức về tầm quan trọng của môi trường trong sạch đối với sức khoẻ con người, về bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, bảo vệ đất đai, bảo
vệ nguồn nước… ủng hộ các hoạt động bảo vệ môi trường, phê phán hành vi gây hại cho môi trường
* Về kỹ năng - hành vi
- Trang bị và phát triển ở học sinh những kỹ năng cơ bản để bảo vệ và gìn giữ môi trường, kỹ năng dự đoán, phòng tránh và giải quyết những vấn đề môi trường nảy sinh, biết ứng xử tích cực đối với những vấn đề môi trường cụ thể
- Giúp cho mỗi học sinh trở thành những tuyên truyền viên tích cực trong gia đình, nhà trường và địa phương về bảo vệ môi trường và tham gia tích cực váo các hoạt động khôi phục, bảo vệ và gìn giữ môi trường
Những mục tiêu trên là cơ sở để xây dựng và triển khai các nội dung GDMT, phù hợp với từng khối, từng đối tượng học sinh và điều kiện để tiến hành GDMT của các nhà trường, đồng thời mục tiêu đó cũng là một trong những căn cứ để đánh giá kết quả và chất lượng GDMT trong nhà trường THPT hiện nay
1.4.3 Những quan điểm nguyên tắc trong GDMT
1) Trong giáo dục phổ thông, nội dung GDMT là một bộ phận cấu
thành của nội dung giáo dục phổ thông nhằm góp phần hình thành và phát
triển nhân cách toàn diện cho học sinh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước GDMT là nhiệm vụ của các trường phổ thông dưới sự chỉ đạo và quản lý của nhà nước, của Bộ
GD –ĐT, sự chỉ đạo tổ chức và quản lý trực tiếp của các cấp quản lý giáo dục, địa phương và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành có liên quan
Trang 392) GDMT trong nhà trường phổ thông cần thực hiện theo nguyên tắc vì môi trường, về môi trường và trong môi trường
* Giáo dục vì môi trường khêu gợi sự quan tâm thực sự đối với chất
lượng môi trường chúng ta đang sống và thừa nhận trách nhiệm của con người phải chăm sóc môi trường
* Giáo dục về môi trường cung cấp những kiến thức hiểu biết về môi
trường, các mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa con người và gới tự nhiên trên
cơ sở khai thác triệt để các tri thức về môi trường hiện có trong nhà trường phổ thông
* Giáo dục trong môi trường là sử dụng môi trường như một nguồn
lực cho dạy học, một phòng thí nghiệm tự nhiên cung cấp những kiến thức, kỹ năng cần thiết về giữ gìn và bảo vệ môi trường
3) Đảm bảo các điều kiện và hình thức phù hợp về GDMT cho tất cả học sinh ở tất cả các cấp học, bậc học trong nhà trường phổ thông
Nội dung GDMT được lồng ghép vào những môn học của chương trình chính khoá và các hoạt động ngoại khoá tiến hành trong và ngoài nhà trường Bảo đảm sự phối hợp, liên kết chặt chẽ giữa các nội dung giáo dục môi trường với các nội dung khác có liên quan như: giáo dục dân số, giáo dục pháp luật, giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên…
4)Thực hiện GDMT ở nhà trường phổ thông phải phù hợp với đặc trưng địa lý sinh thái của môi trường địa phương
Những vấn đề trọng tâm của GDMT phải liên quan trực tiếp đến môi trường địa phương và trên cơ sở đó mở rộng sự hiểu biết, quan tâm của học sinh đến vấn đề môi trường quốc gia, khu vực và quốc tế
5) Đảm bảo tính bền vững của GDMT
Trang 40GDMT cần được thực hiện phù hợp với các xu hướng và phương pháp giáo dục hiện đại, phải lôi cuốn các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý giáo dục mọi cấp, giáo viên, học sinh, các bậc cha mẹ học sinh và các thành viên trong cộng đồng Tổ chức GDMT bằng chính các hoạt động do học sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn của GV và thông qua đó mà thu được hiệu quả thực tiễn Thực hiện phương châm “Học thông qua hành động”
6) GDMT trong nhà trường phổ thông phải góp phần nâng cao nhận thức và sự hiểu biết cho giáo viên và học sinh
Nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên phổ thông về tầm quan trọng và nhu cầu giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Ban giám hiệu nhà trường và hiệu trưởng là những người đầu tiên có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo hoạt động này Đội ngũ GV là lực lượng nòng cốt triển khai thực hiện các mục tiêu, nội dung, phương pháp…GDMT ở trường phổ thông, hình thành giá trị đạo đức mới về môi trường Việc BVMT, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên phải thể hiện trong ý thức
và hành động của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh nhà trường
7) Đảm bảo sự phối hợp liên ngành, đa cấp trong GDMT
Để GDMT cần có sự hợp tác liên ngành giữa Bộ GD&ĐT, các bộ ngành liên quan, tổ chức kinh tế - xã hội, các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư
1.4.4 Nội dung GDMT ở trường THPT
Xuất phát từ mục tiêu DGMT, nội dung GDMT đã được UNEP (1995) nhấn mạnh 5 đặc điểm:
+ Có tính liên ngành rộng, do GDMT phải xem xét môi trường như một tổng thể hợp thành bởi nhiều thành phần: Thiên nhiên và các quan hệ sinh thái của nó; Kinh tế, dân số, xã hội, công nghệ, văn hoá…