1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Môi trường kinh doanh ở Việt nam hiện nay. Cơ hội và thách thức của môi trường đối với doanh nghiệp cà phê Trung Nguyên

25 974 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 202,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy mô dân số lớn cộng với tỉ lệ tăng tự nhiên hằng năm cao sẽ là thị trường hấpdẫn cho phát triển kinh tế của các doanh nghiệp.Mật độ dân số của Việt Nam đạt 260 người/km2, cao gấp trên

Trang 1

Thảo luận PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH Ở VIỆT NAM, CHỈ RA CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA TẬP ĐOÀN CÀ PHÊ

TRUNG NGUYÊN

***

Giáo viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Hưng

Danh sách nhóm thực hiện:

1 Đoàn Thị Thanh Thủy.

2 Lương Thị Minh Thảo.

Trang 2

Đề tài: Môi trường kinh doanh ở Việt nam hiện nay Cơ hội và thách thức của môitrường đối với doanh nghiệp cà phê Trung Nguyên.

Bài làm

Theo Philip Kotler: “ Môi trường Marketing của doanh nghiệp là tập hợp những tácnhân và những lực lượng hoạt động bên ngoài chức năng quản trị Marketing của doanhnghiệp có ảnh hưởng đén khả năng thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa doanh nghiệp vàkhách hàng”

Môi trường marketing của công ty là tập hợp những chủ thể tích cực và những lựclượng hoạt động ở bên ngoài công ty và có ảnh hưởng đến khả năng chỉ đạo bộ phậnmarketing, thiết lập và duy trì mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với các khách hàng mục tiêu

Do tính chất luôn biến động, khống chế và hoàn toàn bất định, môi trườngmarketing động chạm sâu sắc đến đời sống công ty Những biến đổi diễn ra trong môitrường này không thể gọi là chậm và có thể dự đoán trước được Nó có thể gây ra nhữngđiều bất ngờ lớn và những hậu quả nặng nề Vì thế công ty cần phải chú ý theo dõi tất cảnhững diễn biến của môi trường bằng cách sử dụng vào mục đích này việc nghiên cứumarketing và những khả năng thu thập thông tin marketing thường ngày bên ngoài công

ty hiện có

Môi trường marketing gồm có môi trường vĩ mô và môi trường vi mô Môi trường

vi mô là những lực lượng có quan hệ trực tiếp với bản thân công ty và những khả năngphục vụ khách hàng của nó, tức là những người cung ứng, những người môi giớimarketing, các khách hàng, các đối thủ cạnh tranh và công chúng trực tiếp Môi trường vĩ

mô là những lực lượng trên bình diện xã hội rộng lớn hơn, có ảnh hưởng đến môi trường

vi mô, như các yếu tố nhân khẩu, kinh tế, tự nhiên, kỹ thuật, chính trị và văn hóa Trướctiên ta hãy nói về môi trường vĩ mô của công ty rồi sau đó sẽ xem xét môi trường vi mô

1 Môi trường vi mô

1.1 Nhân khẩu học

Trang 3

Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số rất lớn Tính đến 0h ngày 01/04/2009 thìdân số Việt Nam là 85.789.570 người đứng thứ 3 Đông Nam Á và thứ 13 trên thế giới.Mặc dù vậy, dân số nước ta vẫn tăng mạnh: trong 5 năm gần đây,tốc độ tăng dân số bìnhquân là 1,2%/năm có nghĩa là mỗi năm dân số nước ta vẫn tăng thêm khoảng 1,1 triệungười Quy mô dân số lớn cộng với tỉ lệ tăng tự nhiên hằng năm cao sẽ là thị trường hấpdẫn cho phát triển kinh tế của các doanh nghiệp.

Mật độ dân số của Việt Nam đạt 260 người/km2, cao gấp trên 5 lần và đứng thứ

41 trong 208 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới; cao gấp 2 lần và đứng thứ 8/11 nước ởĐông Nam Á, cao thứ 32 ở châu Á Nhưng dân số lại phân bố không đồng đều tập trungđông ở đồng bằng, thưa thớt ở vùng núi và ven biển Trong 8 vùng kinh tế - sinh thái,42,4% dân số tập trung ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Trong khi

đó, diện tích đất đai của hai vùng này chỉ chiếm 16,6% Mật độ dân số ở các tỉnh rất khácnhau Năm 2006, trung bình trên mỗi km2 đất ở Hưng Yên có 1.237 người sinh sống,trong khi đó ở Kon Tum chỉ có 40 người/km2 Mặt khác, vốn pháp định đầu tư nướcngoài, giai đoạn 1988 - 2006 vào đồng bằng sông Hồng gấp 40 lần vào Tây Nguyên, vàoĐông Nam Bộ gấp 81 lần Thực trạng này chứa đựng tiềm năng di cư lớn Những đặctrưng của di dân hiện nay, đã khác so với trước đây: Về động lực: việc làm, thu nhập(không nhất thiết là đất canh tác), hôn nhân và đoàn tụ gia đình Về hướng: nông thôn -

đô thị, Bắc - Nam; Về hình thức: đa dạng, di dân kinh tế mới, di dân định canh, định cư,

di dân ổn định biên giới và di dân tự phát Về quy mô di chuyển: ngày càng lớn Riênggiai đoạn 1961 - 1997, đã có 5,9 triệu dân di chuyển tới các vùng theo dự án ở Thànhphố Hồ Chí Minh, luồng di dân tự do đến không ngừng tăng lên Thí dụ, trong giai đoạn

1986 - 1990, số dân nhập cư vào Thành phố Hồ Chí Minh là 178.196 người; giai đoạn

1994 - 1999: đã tăng lên 415.387 người, và chỉ tính riêng từ ngày 1-4-2002 đến 1-4-2003,con số này đã là 106.197 người Sau 26 năm từ 1999 đến 2005, dân số Tây Nguyên đãtăng hơn 3 lần, chủ yếu do dân nhập cư Tây Nguyên trở thành nơi hội tụ dân di cư từnhiều tỉnh, thành, nhiều dân tộc và nhiều tôn giáo Nghiên cứu kĩ tình hình di cư của dân

cư sẽ giúp cho doanh nghiệp định hướng được thị trường mục tiêu cho mình một cách dễdàng hơn

Cơ cấu dân số: Hiện nay nước ta đang có khoảng 64,8% số nguời từ 15-64 tuổi;5,8% trên 65 tuổi; và 25,6% dưới 14 tuổi Do vậy đây có thể coi là giai đoạn “vàng” của

cơ cấu dân số Việt Nam Nhưng do chất lượng dân số còn thấp chỉ có khoảng 25% số laođộng được qua đào tạo, gần 75% lao động là giản đơn và chỉ có 2,09% dân số tôt nghiệpcao đẳng, đại học; trình độ thạc sĩ trở lên chiếm 0,06% nên nếu như chính phủ không cónhững chính sách nhằm nâng cao chất lượng thế hệ này thì đây sẽ là thách thức lớn chotoàn xã hội, sẽ dẫn đến tệ nạn và mất ổn định cho xã hội Khi cơ hội không được tândụng, lập tức trở thành con dao hai lưỡi cản trở sự phát triển của đất nước ta Trên thực

tế, nước ta vẫn chưa tận dụng được triệt để được thời cơ này Báo cáo về tình hình thịtrường lao động Việt Nam do bộ lao động thương binh và xã hội đã khẳng định: “Việt

Trang 4

Nam thiếu trầm trọng lao động trình độ kĩ thuật cao và lao động dịch vụ cao cấp trongngành tài chính ngân hàng, du lịch, bán hàng, nên nhiều nghề và công việc phải thuê laođộng nước ngoài trong khi lao động xuất khẩu đa phần có trình độ chuyên môn kĩ thuậtthấp hoặc mới chỉ quan giáo dục định hướng” Đây là cơ hội cho doanh nghiệp phát triểnđội ngũ nguồn nhân lực của mình, và cũng là thị trường tiềm năng lớn cho các doanhnghiệp

Theo Tổng cục Thống kê, đến năm 2006, tỷ lệ dân đô thị ở nước ta mới chỉ đạt27,12% Ngay vùng đồng bằng sông Hồng có hai thành phố lớn là Hà Nội và Hải Phòng,nhưng tỷ lệ dân đô thị cũng chỉ có 23,8% Nhiều tỉnh, tỷ lệ dân đô thị chỉ chưa đến 10%,như Thái Bình: 7,2%, Hà Nam: 9,6%, Như vậy, về đại thể, Việt Nam vẫn là mảnh đất

"tam nông": nông thôn, nông nghiệp và nông dân Quá trình công nghiệp hóa và di dân sẽkéo theo đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, đô thị sẽ mở rộng và dân số tích tụ trong khu vực

đô thị sẽ tăng lên Bộ mặt lãnh thổ, không gian sẽ thay đổi mạnh mẽ

Qui mô dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế là một lợi thế về thị trường tiêu thụsản phẩm

Qua các chính sách kích cầu của chính phủ, nền kinh tế việt nam đã có nhữngbước khởi sắc, cụ thể

1.2 Về kinh tế:

Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần Trong khi nền kinh tếngày càng được thị trường hóa thì sự can thiệp của nhà nước vẫn còn ở mức cao Kinh tếViệt Nam chia thành 3 khu vực: Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Vào năm 2007 khuvực nông nghiệp chiếm 20,29% GDP thực tế, công nghiệp chiếm 41,58% GDP, ngành tàichính tín dụng chiếm 1,81%GDP thực tế Từ đó cho ta thấy tỉ trọng của dịch vụ trong nềnkinh tế còn thấp, ngành tài chính tín dụng ngành xương sống để phát triển nền kinh tếchiếm tỉ trọng quá thấp do vậy mà chúng ta cần chuyển dịch cơ cấu tăng tỉ lệ các ngànhdịch vụ nhất là các ngành tài chính ngân hàng… tạo điều kiện để thúc đẩy nền kinh tếphát triển

GDP năm 2008 chỉ tăng ở mức 6,23% so với năm 2007 tương đương 1.487 ngàn

tỷ đồng Mức tăng trưởng này thấp hơn nhiều tốc độ 8,38% của năm 2007 và thấp hơn cảmục tiêu đã được điều chỉnh là 7%.Với giá USD hoạch toán trung bình của năm 2008 là16.700 đồng/USD thì GDP trung bình của người dân Việt Nam đã đạt 1.024 USD/ngườinhưng vẫn chưa thể coi nước ta đã vượt qua ngưỡng nghèo bởi vì GDP được tính trongthời kì mà nền kinh tế ở trong tình trạng lạm phát cao và đồng USD mất giá khá mạnh.Năm 2008, lạm phát tính qua chỉ số CPI đã lên đến 19,89%, USD mất giá 2,35%

Trang 5

Xuất khẩu: Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt

62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài(kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, chiếm 49,7% tổng kim ngạch xuất khẩu;khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, chiếm 50,3% Trong tổng kimngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm

tỷ trọng 31%, nhóm hàng nông sản chiếm 16,3% Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu năm

2008 của các loại hàng hoá đều tăng so với năm 2007, chủ yếu do giá trên thị trường thế

giới tăng

Nhập khẩu: Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính

80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8

tỷ USD, tăng 26,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7% Nếu loại trừ yếu tố tăng giá của một số mặt hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm nay chỉtăng 21,4% so với năm 2007.Nhập khẩu nguyên liệu giảm Nhìn chung, các mặt hàngnhập khẩu chủ lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất trong nước đều tăng so vớinăm 2007 Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất những tháng cuối năm có xuhướng giảm nhiều, đây là một trong những dấu hiệu của sự chững lại trong đầu tư và sảnxuất Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng đang có xu hướng tăng vào cáctháng cuối năm cho thấy hàng tiêu dùng nước ngoài đang tạo sức ép lớn lên hàng tiêudùng của Việt Nam ngay tại thị trường trong nước

Năm 2008 chính phủ đã đưa ra những gói kích cầu nhằm kiềm chế lạm phát Nhiệm vụ kích cầu và đầu tư là một trong số 5 biện pháp khẩn cấp mà chính phủ đưa ravào cuối năm 2008 nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế và duy trì tăng trưởng Chính phủlên kế hoạch sử dụng 6 tỷ USD, bao gồm 1 tỷ từ quỹ dự trữ quốc gia (đang có khoảng 22

tỷ USD) cho gói kích cầu này Tháng 4/2008, trong nỗ lực nhằm kiềm chế lạm phát tăngcao, chính phủ đã để gia gói bao gồm 8 giải pháp: (1) thắt chặt các chính sách tiền tệ vàtài khóa; (2) giảm chi tiêu và đầu tư không trọng yếu; (3) tăng cường sản xuất; (4) tăng

Trang 6

cường xuất khẩu nhằm hạn chế thâm hụt thương mại; (5) thực hành tiết kiệm trong sảnxuất và tiêu dùng; (6) ổn định giá cả trên thị trường nhằm chống đầu cơ; (7) mở rộng cácchương trình an sinh xã hội; và (8) điều chỉnh cơ cấu tính dụng, kiểm soát cho vay, đảmbảo tính thanh khoản cho các ngân hàng và nền kinh tế.

Trong năm 2008, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã 3 lần tăng mức lãi suất cơ bản(mức cao nhất là 14%/năm vào tháng 6), và sau đó là 5 lần điều chỉnh giảm lãi suất cơbản Hi ện nay lãi suất cơ bản ở mức 8,5%/năm, lần điều chỉnh gần đây nhất là tháng12/2008 Như vậy, mức lãi suất cho vay cao nhất hiện nay đã bị giảm xuống còn 12,75%/năm Lãi suất không ổn định làm cho nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp giảm xuống

Hiện nay hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn thấp chưa đáp ứng được cânxứng với tốc độ phát triển kinh tế

- Hiện nay các nhà tài trợ quốc tế đã tài trợ gần 40% tổng đầu tư cơ sở hạ tầng.khi Việt Nam giàu mạnh hơn hỗ trợ từ các nhà tài trợ sẽ đóng vai trò thứ yếu

và việc tìm kiếm những nguồn tài chính thay thế là rất cần thiết

- Mỗi năm có khoảng 1 triệu người từ các vùng nông thôn di cư về thành phốnhưng cơ sở hạ tầng ở các thành phố vẫn chưa đáp ứng được trong điều kiệnnày (hạ tầng kĩ thuật của Việt Nam đặc biệt yếu và thiếu nhất là hệ thống giaothông Mật độ mạng lưới giao thông thấp tại các thành phố lớn như Hà Nội,Hải Phòng,TP HCM, Đà Nẵng chỉ đạt 4,5km/km2 Tỉ lệ ách tắc giao thông,quá tải diễn ra thường xuyên, hệ thống cấp thoát nước trì trệ chỉ đáp ứng được60% nhu cầu của nhân dân…) Do vậy cần nâng cao việc quản lý và lập kếhoạch đô thị, kiểm soát tốt hơn những nhu cầu xây dựng nhà không theo kếhoạch và cung cấp cơ sở hạ tầng trước khi xây dựng

- Cần thiết cải cách các quy trình lập kế hoạch để xác định cơ hội đầu tư manglại lợi ích cho xã hội, để tối đa hóa lợi nhuận cho các nhà đầu tư đã lựa chọn,cần phải cải cách điều chỉnh, giải quyết vấn đề động cơ và tham nhũng

- Do Việt Nam đang xóa đói giảm nghèo hiệu quả nhưng khoảng cách giữanhững người thu nhập cao và thấp lại tăng lên Một vấn đề cần đặt ra là làm thếnào để tập trung hỗ trợ tài chính của chính phủ cho cơ sở hạ tầng mang lại lợiích cho những người dân nghèo

- Việc phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng là rất quan trọng trong việc phát triểnkinh tế do vậy cần phải chú trọng đến việc phát triển cơ sở hạ tầng, rà soátkiểm tra những dự án hạ tầng chậm tiến độ, đội giá, chất lượng kém, thiếu cơ

sở thực tế nhằm hoàn thiện nân cao cơ sở hạ tầng

Nền kinh tế Việt Nam năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 đã chịu ảnh hưởnglớn từ khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu Cụ thể : Sau 3 năm đạt mức tăng trưởng trên8% thì năm 2008 chỉ đạt 6,2% trong khi 3 tháng đầu năm 2009 chỉ đạt 3,1%, năm 2008đạt 3,9% so với 9,6% năm 2007 Năm 2008 nông nghiệp tăng 3,8%, Công nghiệp tăng6,3%, dịch vụ tăng 7,2% Đây là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang chững lại Tỉ lệ tăngtrưởng tiêu dùng năm 2008 đạt 3,9% so với 9,6% năm 2007 Chi tiêu chính phủ tăng 85

Trang 7

trong năm 2008, thâm hụt ngân sách ở mức cao chiếm 5% GDP Mức thâm hụt ngân sáchcao cộng thêm nguồn thu từ từ thuế giảm khiến cho chính phủ khó lòng chi tiêu trongnăm 2009 Điều này khiến chính sách kích cầu nới lỏng tiền tệ của chính phủ kém hiệuquả

Năm 2008, lạm phát tính qua chỉ số CPI đã lên đến 19,89%, USD mất giá 2,35%.Lãi suất ngân hàng tăng cao có thời điểm lến đến trên 20% cộng thêm giá nguyên liệuđầu vào của tất cả các loại hàng hóa cao khiến các doanh nghiệp gặp không ít khó khănviệc mở rộng sản xuất

Nhưng thực tiễn của doanh nghiệp cũng đã chứng minh lạm phát cũng là cơ hội đểdoanh nghiệp có thể rà soát lại nguồn lực, rà soát lại chiến lược kinh doanh, tiếp tục pháthuy những sản phẩm có hiệu quả, giảm đến mức tối đa những chi phí không cần thiết.Trong tình hình này xu hướng sáp nhập, liên doanh, liên kết tăng lên đáng kể Chỉ tínhriêng năm 2008, số vụ mua bán sáp nhập doanh nghiệp đã cao gấp 7 lần so với năm 2005Thị trường chứng khoán, có mức tăng mạnh ( khoảng 60% so với mức đáy 235 ),thanh khoản tăng mạnh, tạo ra tính thanh khoản nguồn vốn, thu hút vốn đầu tư nướcngoài cũng như một phần vốn đầu tư từ tiết kiệm, từng bước phục hồi lại hoạt động huyđộng vốn Với việc giá vàng luôn duy trì ở mức cao, tạo tính thanh khoản trên thị trườngvàng, tạo ra nguồn vốn tiềm năng

1.3 Về chính trị- Pháp luật:

Về chính trị: Việt Nam là 1 quốc gia theo chủ nghĩa xã hội do Đảng cộng sản Việt

Nam lãnh đạo trên tinh thần “Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các quốc gia trên thếgiới” và “Hòa bình,độc lập, tự chủ hợp tác trên cơ sở hai bên cùng có lợi” Môi trườngchính trị Việt nam được đánh giá là tương đối ổn định Do vậy đây chính là điều kiệnthuận lợi để phát triển kinh tế và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài

Về pháp luật:

-Chính phủ đã có những cải thiện hệ thống pháp lý, luật lệ cho phù hợp khi ViệtNam gia nhập WTO và những sáng kiến cải cách mà Chính phủ cam kết thực hiện Bêncạnh việc ban hành các văn bản như Luật Doanh nghiệp chung, Luật đầu tư chung, luật

kế toán, kiểm toán, luật cạnh tranh ở cấp độ Nhà nước thì ở cấp Bộ và thành phố đã banhành nhiều Thông tư hướng dẫn và đặc biệt là đã xây dựng nhiều chương trình, đề án cómục tiêu và nội dung trực tiếp cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, nângcao chất lượng phát triển

-Qua điều tra nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã đánh gía cao những nỗ lực của ViệtNam trong việc cải tiến luật lệ và các quy định cho phù hợp với các quy định và thông lệkinh doanh quốc tế

Trang 8

-Thủ tục hành chính thuận lợi hơn – cơ hội tốt để loại trừ tham nhũng Chương trìnhcải cách thủ tục hành chính đang từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Cơ chế

"một cửa" ở các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất; hoàn thiện cơ chế đăng kýkinh doanh; hoàn thiện thủ tục hải quan, thủ tục nộp thuế đã giúp cho các doanh nghiệpvừa và nhỏ giảm chi phí thời gian và tiền bạc, nhờđó mà tăng năng lực cạnh tranh

-Cùng với tiến trình hội nhập, thuế nhập khẩu và các rào cản phi thuế quan giảm.Giá nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu phục vụ đầu vào của doanh nghiệp giảm, dẫn đếnchi phí sản xuất hàng hóa tại Việt Nam giảm, điều này rất có ý nghĩa đối với các doanhnghiệp vừa và nhỏ khi nền sản xuất hàng hóa Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu;giúp các doanh nghiệp Việt Nam thuận lợi hơn trong việc đưa hàng hóa thâm nhập vàothị trường thế giới Việt Nam được hưởng Quy chế Tối huệ quốc tại 164 nước trên thếgiới nên nhiều ngành hàng, mặt hàng được miễn giảm thuế, xóa bỏ hạn ngạch Đây chính

là nguyên nhân cơ bản tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệpvừa và nhỏ; sự cạnh tranh trên thị trường tăng, tạo động lực thúc đẩy các doanh nghiệpvừa và nhỏ Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ chiphí để nâng cao sức cạnh tranh Nhiều doanh nghiệp nhỏ, vừa như: Bitis, Kinh Đô trước đây chỉ là tổ hợp, nay trở thành các tập đoàn kinh tế có hàng hóa xuất khẩu đi nhiềunước trên thế giới

-Tuy nhiên vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ ( IPR) vẫn là vấn đề nóng hiện nay và làmột trở ngại gây thiệt hại không chỉ doanh nghiệp nước ngoài mà cả doanh nghiệp trongnước Tình trạng chiếm dụng thương hiệu, làm nhái sản phẩm của những thương hiệu nổitiếng hàng giả, hàng kém chất lượng, tranh chấp bản quyền.v.v…vẫn còn diễn ra ở nhiềunơi, nhiều chỗ Sự yếu kém trong bảo bộ sở hữu trí tuệ đã làm hại doanh nghiệp trongnước nhiều hơn doanh nghiệp nước ngoài

-Hệ thống tòa án và thực thi luật pháp còn nhiều hạn chế nguyên nhân do các thủ tụccòn rườm rà và chi phí cao, thiếu tính minh bạch

-Hiệu quả của dịch vụ hành chính vẫn còn yếu kém chưa được tinh giản, tốc độ cảicách hành chính vẫn chậm, nạn quan liêu, tham nhũng vẫn còn nhiều và ngày càng tinh

vi, rất khó phát hiện

-Hệ thống thuế và quản lý thuế cũng còn nhiều bất cập từ chính sách thuế như chiphí quảng cáo khuyến mại, thuế giá trị gia tăng đối với hàng khuyến mại, thuế giá trị giatăng đối với dịch vụ xuất khẩu….đến luật thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý thuếcần có những bước điều chỉnh , cải cách, đồng bộ và thực tiễn hơn

1.4 Văn hóa- Xã hội:

Đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam đó là:

-Người Việt Nam hiền hòa, cần cù, sáng tạo, yêu nước nồng nàn, tiết kiệm Lòngyêu nước không chỉ thể hiện ở tinh thần giữ nước, mà nó còn hun đúc cho mọi người ViệtNam tinh thần quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam giàu đẹp Lòng tự cường dân tộc

đã tiếp cho người dân một sức mạnh để đưa đất nước nhập vào dòng chảy phát triển của

Trang 9

thế giới Tính cần cù sáng tạo đã giúp con người và văn hóa Việt Nam đạt được nhữngtiến bộ rất quan trọng Cần cù sáng tạo được thể hiện trong học tập, nghiên cứu và tronglao động, sản xuất Lòng khoan dung cũng là một giá trị truyền thống quan trọng của dântộc ta Xưa ông cha ta có câu: "Ðánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại" NayÐảng ta có câu: "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước" Cũng với tinh thần khoandung, chúng ta đang xây dựng một nền văn hóa có khả năng dung hợp các thành tựu tiến

bộ của các nền văn hóa trên thế giới Ðức tính giản dị cũng là một giá trị văn hóa truyềnthống quan trọng của dân tộc, đã được Ðảng và Bác Hồ nâng lên thành phương châmsống của con người mới Việt Nam Truyền thống thương người như thể thương thân cũngđang tạo cho văn hóa Việt Nam một nét đẹp riêng và có tác động không nhỏ đến sự pháttriển con người và xã hội

-Ngày nay hiện tượng giao thoa văn hóa xuất hiện ngày càng nhiều tạo ra nhữngnhánh văn hóa mới Doanh nghiệp cần chú ý để có nhueng sản phẩm cũng như nhữngchiến lược kinh doanh cho phù hợp để đạt được mục tiêu đã đề ra

-Trên cơ sở tìm hiểu văn hóa của người Việt mỗi doanh nghiệp kinh doanh sẽ tìmđược lĩnh vực kinh doanh, thị trường mục tiêu, các chiến lược Marketing chung, nhiệm

vụ mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp phù hợp với nét văn hóa Việt Nam để thu đượckết quả cao nhất

-Hằng năm nhà nước ta đã dành 2% tổng chi ngân sách (khoảng 9 ngàn tỷ đồng),chiếm gần 0,5% GDP, để phát triển khoa học công nghệ.Ngoài ra nhà nước cũng đã banhành 6 bộ luật về khoa học công nghệ, trong đó Luật Năng lượng nguyên tử và Côngnghệ cao được xem là đầu tiên trên thế giới Các chính sách trên cho thấy chính phủ cũng

đã nhận thấy tầm quan trọng của việc phát triển khoa học công nghệ Nhưng do hệ thốngquản lý của nước ta còn kém do vậy việc phát huy hiệu quả từ nguồn vốn mà chính phủcung cấp không được như mong đợi

-Hơn nữa chúng ta cũng đã xây dựng được một mạng lưới các tổ chức KH&CNvới trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó cógần 500 tổ chức ngoài nhà nước; 197 trường đại học và cao đẳng, trong đó có 30 trườngngoài công lập Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các viện, trung tâm nghiên cứu, các phòng thínghiệm, các trung tâm thông tin KH&CN, thư viện, cũng được tăng cường và nâng cấp

Trang 10

Đã xuất hiện một số loại hình gắn kết tốt giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệvới sản xuất - kinh doanh Tuy nhiên Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầuđào tạo nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, đặc biệt đối với những lĩnh vựcKH&CN tiên tiến; chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KH&CN cũng như sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.

Hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tư vấn chuyển giao côngnghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng còn yếu kém cả về cơ sở vật chất

và năng lực cung cấp dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của hội nhập khu vực và quốc tế

Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu KH&CN, giáo dục - đào tạo và sản xuất

- kinh doanh; thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu - phát triển, cáctrường đại học và doanh nghiệp

So với các nước trong khu vực và trên thế giới, nước ta còn có khoảng cách rất lớn

về tiềm lực và kết quả hoạt động KH&CN: tỷ lệ cán bộ nghiên cứu KH&CN trong dân số

và mức đầu tư cho nghiên cứu khoa học theo đầu người thấp; các kết quả nghiên cứu phát triển theo chuẩn mực quốc tế còn rất ít

-Nhìn chung, năng lực KH&CN nước ta còn yếu kém, chưa giải đáp được kịp thờinhiều vấn đề của thực tiễn đổi mới, chưa gắn kết chặt chẽ và đáp ứng được yêu cầu củaphát triển kinh tế - xã hội

Trình độ công nghệ của nhiều ngành sản xuất còn thấp và lạc hậu: Ngoài nhữngcông nghệ tiên tiến được đầu tư mới trong một số ngành, lĩnh vực như bưu chính - viễnthông, dầu khí, hàng điện tử tiêu dùng, sản xuất điện, xi măng, nhìn chung trình độ côngnghệ của các ngành sản xuất nước ta hiện lạc hậu khoảng 2 - 3 thế hệ công nghệ so vớicác nước trong khu vực Tình trạng này hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp và nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

1.6 Địa lý :

Bao gồm khí hậu thời tiết, nguồn tài nguyên thiên nhiên, trữ lượng,điều kiện khaithác, thực trạng ô nhiễm môi trường…

Vị trí địa lý của Việt Nam phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây tiếp giáp Lào và

Campuchia, phía đông giáp biển Đông, phía đông và nam tiếp giáp Thái Bình Dương Ở

vị trí này VIệt Nam trở thành một đầu mối giao thông quan trọng giữa Ấn Độ Dương vàThái Bình Dương Đây là vị trí thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, mở rộng phát triểncác cảng biển lớn, nhưng đồng thời cũng là điều kiện tốt cho bọn buôn lậu, buôn bánhàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng hoạt động mạnh

Địa thế có địa hình chủ yếu là đồi núi

Trang 11

Địa lí Việt Nam vùng nguyên liệu cà phê:

- Hiện nay nước ta có khoảng 500 ngàn ha cà phê, trong đó, theo thống kê củaTổng công ty cà phê Việt Nam thì có tới 22,4% diện tích tương đương với 112ngàn ha cà phê có độ tuổi trên 20 năm, trong đó có trên 27 ngàn ha có độ tuổitrên 25 năm; diện tích có độ tuổi từ 15 đến 20 năm chiếm khoảng 20,2% tươngđương với khoảng 101 ngàn ha; diện tích dưới 15 năm tuổi chiếm 57,4% tươngđương với 287 ngàn ha Tính ra gần 50% diện tích cà phê của nước ta có năngsuất khá thấp, chỉ đạt từ 2 đến 2,5 tấn/ha; với những diện tích cà phê này thì coinhư người dân đang lỗ nặng

-Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt nam thì trong tổng sốtrên 500.000 ha cà phê của cả nước hiện nay chỉ có khoảng 274.000ha, chiếm54,8% được trồng ở giai đoạn sau năm 1993, trong độ tuổi từ 10 – 15 năm Đây

là số diện tích cà phê đang ở giai đoạn sung sức và cho năng suất cao nhất.Trong những năm tới sản lượng cà phê Việt nam phụ thuộc chủ yếu vào diệntích này Trong khi đó số diện tích cà phê còn lại có 139.600 ha , chiếm 27,9%được trồng trong giai đoạn từ 1988 – 1993, đến nay ở tuổi từ 15 – 20 năm, phầnlớn diện tích này đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn già cỗi và khả năng chonăng suất giảm dần Số diện tích cà phê trồng từ trước năm 1988 đến nay đãtrên 20 năm tuổi có tới 86.400ha chiếm 17,3% Những diện tích này đã già cỗi

và không còn khai thác có hiệu quả cần phải được thay thế

Đây là một khó khăn thách thức lớn với ngành công nghiêp cà phê của Việt Nam,Doanh nghiệp sản xuất bằng những nỗ lực của mình phải có những chiến lược cụ thể đểduy trì được hình ảnh của mình trên thị trường

Hiện nay môi trường tự nhiên đang tồn tại các xu hướng cơ bản đó là:

- Thiếu hụt nguyên liệu

Vật chất của trái đất có loại vô hạn, loại hữu hạn, có thể tái tạo được và loại hữuhạn không tái tạo được Nguồn tài nguyên vô hạn, như không khí, không đặt ra vấn đềcấp bách, mặc dù có một số nhóm đã thấy có mối nguy hiểm lâu dài Các nhóm bảo vệmôi trường đã vận động cấm sử dụng một số chất đẩy nhất định trong các bình xịt, vìchúng có khả năng phá huỷ tầng ozone của khí quyển ở một số khu vực trên thế giới,nước đã là một vấn đề lớn

Trang 12

Những nguồn tài nguyên hữu hạn, tái tạo được, như rừng và thực phẩm, cần được

sử dụng một cách khôn ngoan Những nguồn tài nguyên hữu hạn không tái tạo được, nhưdầu mỏ, than đá, kẽm, bạc, sẽ đặt ra một vấn đề nghiêm trọng khi gần đến lúc bị cạn kiệt

-Chi phí năng lượng tăng

Một nguồn tài nguyên hữu hạn không thể tái tạo - dầu mỏ - đã đẻ ra những vấn đềnghiệm trong cho nền kinh tế thế giới Giá dầu mỏ tăng vọt đã thúc đẩy việc tìm kiếm ráoriết những dạng năng lượng khác Than đá lại trở nên phổ biến và các công ty đã tìmkiếm những phương tiện có ý nghĩa thực tiễn để khai thác năng lượng mặt trời, hạt nhân,gió và các dạng năng lượng khác Chỉ riêng trong lĩnh vực năng lượng mặt trời đã cóhàng trăm công ty tung ra những sản phẩm thế hệ đầu tiên để khai thác năng lượng mặttrời phục vụ sưởi ấm nhà ở và các mục đích khác Một số công ty đã tìm cách chế tạo ô tôđiện có giá trị thực tiễn và treo giải thưởng hàng tỷ bạc cho người đoạt giải

-Mức độ ô nhiễm tăng

Một số hoạt động công nghiệp chắc chắn sẽ huỷ hoại chất lượng của môi trường tựnhiên Hãy xét việc loại bỏ các chất thải hóa học và hạt nhân, mức độ nhiễm thuỷ ngângây nguy hiểm của nước biển, các hóa chất gây ô nhiễm khác trong đất và thực phẩm vàviệc vứt bừa bãi trong môi trường những chai lọ, các vật liệu bao bì bằng nhựa và chấtkhác không bị phân huỷ sinh học

Do đó những người làm Marketing cần nhạy bén với những mối đe dọa và cơ hộigắn liền với bốn xu hướng trong môi trường tự nhiên để tìm tìm kiếm những phương ánsản xuất và bao gói hàng hóa không huỷ hoại môi trường Những công ty khôn ngoanthay là những công ty chủ động có những chuyển biến theo hướng bảo vệ môi trường để

tỏ ra là mình có quan tâm đến tương lai của môi trường thế giới

Báo cáo của WB về môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2008

1 Thành lập doanh nghiệp:

 Chi phí (%thu nhập trên đầu người) 13,3

 Vốn tồi thiểu (% thu nhập trên đầu người) 0,0

Ngày đăng: 15/07/2014, 06:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w