Sổ tay Phòng chống các bệnh virus lây truyền từ thực phẩm trình bày đại cương vể bệnh virus lây truyền từ thực phẩm; bệnh lây truyền từ thực phẩm viêm gan A; bệnh lây truyền từ thực phẩm viêm gan E; bệnh lây truyền qua thực phẩm rotavirus; bệnh lây truyền thực phẩm norwalk virus; bệnh lây truyền từ thực phẩm các virus khác; bệnh lây truyền từ thực phẩm: nhiễm độc từ nấm; bệnh nhiễm độc aflatoxin từ nấm mốc.
Trang 1Sổ tay PHÒNG CHỐNG CÁC BỆNH VIRUS LÂY TRUYỀN TỪ THỰC PHẨM
PGS.TS LÊ HOÀNG NINH
Trong những năm gần đây, các bệnh do virus được lây truyền từ thực phẩm được ghi nhận ngày một gia tăng.Người ta ghi nhận
có sự nhiễm virus ngay tại môi trường sản xuất Hơn nửa, có những chứng cứ cho thấy các vụ bùng phát bệnh do virus có liên quan tới sự nhiễm khuẩn từ khâu chuẩn bị thực phẩm hay từ tay
cả người chế biến thực phẩm.
2011
5/17/2011
Trang 2MỤC LỤC
ĐẠI CƯƠNG VỂ BỆNH VIRUS LÂY TRUYỀN TỪ THỰC PHẨM 2
BỆNH LÂY TRUYỀN TỪ THỰC PHẨM : VIÊM GAN A 5
BỆNH LÂY TRUYỀN TỪ THỰC PHẨM: VIÊM GAN E 8
BỆNH LÂY TRUYỀN QUA THỰC PHẨM: ROTAVIRUS 10
BỆNH LÂY TRUYỀN THỰC PHẨM: NORWALK VIRUS 13
BỆNH LÂY TRUYỀN TỪ THỰC PHẨM: CÁC VIRUS KHÁC 15
BỆNH LÂY TRUYỀN TỪ THỰC PHẨM: NHIỄM ĐỘC TỪ NẤM 18
BỆNH NHIỄM ĐỘC AFLATOXIN TỪ NẤM MỐC 24
Trang 3ĐẠI CƯƠNG VỂ BỆNH VIRUS LÂY TRUYỀN TỪ THỰC PHẨM
Lê Hoàng Ninh
Các bệnh virus lây truyền từ thực phẩm
Trong những năm gần đây, các bệnh do virus được lây truyền từ thực phẩm được ghi nhận ngày một gia tăng.Người ta ghi nhận có sự nhiễm virus ngay tại môi trường sản xuất Hơn nửa, có những chứng cứ cho thấy các vụ bùng phát bệnh do virus có liên quan tới sự nhiễm khuẩn từ khâu chuẩn bị thực phẩm hay từ tay cả người chế biến thực phẩm
Tại nhiều quốc gia virus hiện nay được xem như là nguyên nhân phổ biến của các bệnh lây truyền từ thực phẩm, tuy nhiên nó lại ít được chẩn đoán do các phương tiện chẩn đoán chưa sẳn có, còn lạc hậu Gần đây, những kỹ thuật, phương tiện nầy đang được trang bị để phát hiện và xác định virus, cho nên sẽ có cơ hội để đánh giá một cách thật toàn diện vai trò của virus trong các vụ dịch, các vụ bùng phát bệnh lây truyền từ thực phẩm, cũng như cải thiện các chiến lược ngăn ngừa và kiểm soát nhiễm virus trong thực phẩm và các nguy cơ có liên quan tới thực phẩm
Virus thâm nhập tới người thông qua nhiều con đường, nhưng con đường chủ yếu, quan trọng hơn cả là đường tiêu hóa, virus được thải theo phân người bệnh/người nhiễm ra ngoài, cũng có khi từ các chất nôn Nhóm virus gây viêm dạ dày ruột là nguyên nhân phổ biến tại nhiều quốc gia và bệnh viêm gan do virus A cũng là bệnh lây truyền từ thực phẩm tiếp tục là mối nguy, đe dọa sức khỏe toàn cầu Ngoài ra còn
có Rotavirus, astrovirus, viêm gan E do virus…
Triệu chứng phổ biến của viêm dạ dày ruột do virus là: ói mửa và tiêu chảy Ngoài ra, còn nhiều trường hợp nhiễm trùng nhưng không có triệu chứng lâm sàng là nguồn phát tán virus ra môi trường bên ngoài rất khó kiểm soát
Đặc điểm dịch tễ của các virus gây bệnh qua thực phẩm
Virus là sinh vật cực kỳ nhỏ, đường kính của chúng chỉ vào khoảng từ 0,02 đến 0,40 micrometers, trong khi vi trùng thì kích thước vào khoảng từ 0,5 đến 5,0 micrometers Ngoài ra, từng loài virus có những đặc tính rất khác nhau trong các loài virus và giữa virus và vi trùng
Không như vi trùng chúng sống tự do, virus phải sống trong tế bào ký chủ để nhân lên Cấu trúc của các chủng virus cũng khác, chúng có thể chỉ là RNA, hay DNA ở dạng đơn hay dạng đôi Chúng được bao bọc bởi capsid protein phức hợp hay được bao bọc bởi một màng rõ ràng Cấu trúc của virus có liên quan tới sự đề kháng của chúng với môi trường bên ngoài
Trang 4Virus có thể gây bệnh ở thực vật, động vật và con người.Mỗi loại virus gây ra một bệnh lý chuyên biệt, và mỗi nhóm virus có một ký chủ và tế bào tương thích tương ứng.Virus có thể lây truyền theo nhiều cách khác nhau Thí dụ như chúng có thể lây truyền theo đường hô hấp, khi ho hắt hơi, những giọt nhỏ ( droplet) được rơi ra môi trường bên ngoài hay theo đường phân-miệng, cũng có thể theo đường tình dục hay tiếp xúc với những sản phẩm như máu bị nhiễm, động vật bị nhiễm, vật dụng bị nhiễm hay thông qua vector như muỗi, ve…
Nhiều vurus thường gây bệnh thông qua thực phẩm bị nhiễm như virus viêm gan A,
E, rotavirus, adenovirus, parvovirus… Dựa trên những triệu chứng/ hội chứng khi nhiễm bệnh/ virus có thể xếp thành theo nhóm như nhóm viêm dạ dày ruột, nhóm viêm gan và nhóm thứ ba, nhóm nầy khi virus vào tế bào ruột nhưng chỉ gây bệnh sau khi thâm nhập vào cơ quan khác ( không phải ở ruột) như hệ thần kinh trung ương ( Enterovirus) Tất cả những virus nầy có ở trong phân người bệnh và gây nhiễm cho người khác sau khi nuốt phải chúng qua đường tiêu hóa
Hầu hết virus nầy có dạng hình cầu nhỏ với sợi đơn RNA và không có vỏ; trừ Rotavirus, có sợi đôi RNA; adenovirus và parvovirus là DNA virus và coronaviruses thì có vỏ
Dưới đây là một số đặc điểm mà virus gây bệnh từ thực phẩm và sự nhiễm khuẩn kết hợp với bệnh lý:
- Virus cần xâm nhập vào tế bào sống để nhân lên, không như vi trùng chúng sẽ không bao giờ nhân lên được trong thực phẩm.Do vậy chúng không làm phân hủy sản phẩm, và tính chất của thực phẩm sẽ không đổi do nhiễm virus
- Chỉ cần một ít virus ( 1 – 100) là đủ để gây nhiễm và gây bệnh
- Có một số lượng virus rất cao trong phân người bị bệnh ( 10 triệu/ 1 gram phân), có thể lên tới 100 tỷ / 1 gram phân ( rotavirus)
- Các virus lây truyền theo đường phân miệng cho thấy khó tồn tại lâu ở môi trường bên ngoài Hầu hết virus gây bệnh truyền từ thực phẩm đều không có
vỏ, vì vậy chúng thường bất hoạt khi ra khỏi ký chủ, và chụi tác động mạnh từ
độ pH, sự khô nóng, và sự bức xạ
- Sự lây truyền các virus từ động vật (như là thực phẩm của người) thì khá phổ
biến là yếu tố bệnh sinh vi trùng thí dụ Salmonella và Campylobacter spp,
nhưng không thường gặp đối với virus trừ virus viêm gan E
- Norovirus và virus viêm gan A gây nhiễm cao, và sự lây truyền từ người qua
Trang 5dài Do vậy, sự bùng phát từ các vụ dịch viêm gan A hay norovirus thường không thể hiện dạng dịch (trên đường cong dịch) như có sự tiếp xúc với một nguồn nhiễm chung, như thường thấy ở dạng đường cong dịch lan truyền từ thực phẩm do vi trùng
Ngoài ra, những người chế biến thức ăn, thường họ không biết chính họ làm nhiễm thực phẩm Cũng vì thế virus thường có đợt lan truyền thứ cấp, mà kiểu
dịch nầy ít gặp ở tác nhân gây bệnh là vi trùng như salmonella và
Trong phần trình bày các bệnh virus lây truyền qua thực phẩm, chúng tôi sẽ trình bày những loại bệnh do virus phổ biến lây truyền qua thực phẩm sau đây:
1 Viêm gan A
2 Viêm gan E
3 Rotavirus
4 Norwalk virus Group
5 Những virus viêm dạ dày ruột khác
Tài liệu tham khảo:
1 FDA ( US) Bad Bug Book: introduction http://fda.gov/food/foodsafety
2 CDC (US) Viruses of foodborne diseases http://cdc.gov/foodbornediseases/
3 Lê Hoàng Ninh Lâm sàng các bệnh do virus trong sách Các bệnh lây truyền từ thực phẩm: lâm sàng, dịch tễ,điều tra sự bùng phát Trang 31-32, NXBYH,
2009
Trang 6BỆNH LÂY TRUYỀN TỪ THỰC PHẨM : VIÊM GAN A
Lê Hoàng Ninh
Đặc tính chung của virus
Virus viêm gan A được xếp nhóm virus đường ruột thuộc họ Picornavidae Có nhiều loại Picornavirus khác gây bệnh cho người như Poliovirus, Coxsackie virus, Echovirus và Rhinovirus
Từ virus viêm gan A ( viết tắt HA = hepatitis A ) hay viêm gan virus type A được dùng để thay thế những từ được dùng trước đây như Việm gan nhiễm trùng, viêm gan phát dịch ( epidemic hepatitis), vàng da phát dịch ( epidemic Jaudice) bệnh Botkins,
và việm gan MS-1 ( MS 1- hepatitis)
Hội Chứng lâm sàng của Bệnh:
Bệnh viêm gan A thường nhẹ, khởi phát đột ngột gồm những hội chứng như sốt, mệt mỏi khó chịu, buồn nôn, biếng ăn, khó chịu vùng bụng, tiếp theo sau đó là vàng da kéo dài nhiều ngày Liều nhiễm đến nay chưa được biết chính xác, tuy nhiên theo ý kiến của các chuyên gia thì vào khoảng 10-100 virus
Thời kỳ ủ bệnh có biên độ từ 10 cho đến 50 ngày, trung bình là 30 ngày, thời gian ủ bệnh dài ngắn tùy thuộc vào số lượng virus nhiễm vào người.Nếu số lượng virus thấp thì thời kỳ ủ bệnh sẽ dài
Thời gian lây truyền bệnh từ rất sớm ngay trong thời kỳ ủ bệnh cho đến sau vàng da khoảng 1 tuần Mức độ lây truyền mạnh và nguy hiểm nằm trong khoảng giữa của thời kỳ ủ bệnh cho đến khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng đầu tiên
Rất nhiều trường hợp nhiễm virus viêm gan A nhưng không có biểu hiện lâm sàng, nhất là ở trẻ em.Khi bệnh xảy ra thường là nhẹ và hoàn toàn bình phục trong vòng 1 đến 2 tuần
Tuy nhiên cũng có một số trường hợp bệnh chuyển nặng và thời gian hồi phục phải mất nhiều tháng.Những bệnh nhân nầy rất mệt mỏi và kéo dài trong suốt thời kỳ bình phục, họ không thể làm việc, do vậy nên tổn hại về nhiều mặt cho gia đình, nhất là khía cạnh tài chính, kinh tế Tỷ lệ tử vong ( case-fatality rate) là dưới 0,4 %, và số tử vong hầu hết là ở người già
Chẩn Đoán
Trang 7Bệnh viêm gan A được chẩn đoán dựa vào việc phát hiện IgM chống HAV trong huyết thanh bệnh nhân được lấy trong giai đoạn cấp hay giai đoạn đầu của thời kỳ hồi phục.Hiện nay có nhiều loại KIT có sẳn trên thị trường
Những thực phẩm có liên quan:
Virus viêm gan A được thảy ra theo phân của người bị nhiễm hay người bệnh ra ngoài làm nhiễm thực phẩm hay nước Người sử dụng thực phẩm hay nước bị nhiễm nầy có thể sẽ nhiễm bệnh
Bánh Sandwiches, trái cây, nước trái cây, sửa và các sản phẩm sửa, nước làm lạnh, hải sản thường là những thực phẩm phổ biến gây ra các vụ bùng phát bệnh viêm gan A Thực phẩm bị nhiễm từ công nhân, nhân viên trong các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm và tại các nhà hàng là rất phổ biến
Đặc điểm dịch:
Bệnh viêm gan A hiện diện khắp nơi trên thế giới và thường xuất hiện dưới 2 dạng bùng phát dịch là dịch ( epidemic) và các trường hợp tản phát ( Sporadic)
Tại Hoa kỳ, hàng năm có khoảng 22.700 ca viêm gan A, chiếm khoảng 38 % tổng số
ca viêm gan do nhiều thể cách lây truyền khác nhau Năm 1988, các chuyên gia ước lượng có khoảng 7,3 % số ca lây truyền từ thực phẩm và nguồn nước
Viêm gan A được lây truyền tiên phát là từ người tới người do tiếp xúc với phân nhiễm virus, nhưng các vụ dịch xuất hiện từ một nguồn nhiễm chung thường là do thực phẩm hay nước bị nhiễm Điều kiện vệ sinh kém, nơi ở chật chội đông đúc là điều kiện thuận lợi cho sự lây truyền virus viêm gan A
Các vụ bùng phát viêm gan A thường phổ biến tại các khu dân cư đông đúc, trong các
cơ quan đơn vị, các nhà tù hay trong các đơn vị quân đội
Tại các nước đang phát triển thì tỷ suất mới mắc ở người lớn thường thấp do hầu hết đều tiếp xúc với mầm bệnh từ lúc nhỏ những cá nhân từ 18 tuổi trở lên khi có miễn dịch cho thấy rằng đủ để chống lại sự tái nhiễm Tại Hoa Kỳ thì tỷ lệ người lớn có miễn dịch gia tăng theo tuổi: 10 % ở nhóm 18-19 tuổi lên 65 % ở nhóm trên 65 tuổi Lưu ý khi có sự gia tăng số người cảm nhiễm trong dân số thì nguy cơ bùng phát dịch
có thể xảy ra nhanh nếu như có sự tiếp xúc với một nguồn nhiễm chung
Phân tích thực phẩm:
Virus không được phân lập được từ bất kỳ thực phẩm nào có liên quan đến vụ bùng phát bệnh, do thời kỳ ủ bệnh thường dài nên thực phẩm nghi ngờ trong vụ dịch
Trang 8thường không còn nửa để phân tích.Hiện nay chưa có phương pháp phân tích nào thích hợp cho phân tích thực phẩm một cách hệ thống trừ phương pháp phân tử được dùng để phát hiện HAV trong nước, trong các bệnh phẩm lâm sàng, cũng như thực phẩm.Trong số những phương pháp phân tích thì PCR được xem là có triển vọng nhất
Phòng ngừa
Bệnh có thể phòng ngừa được bằng vệ sinh cá nhân tốt và nấu chín các thực phẩm trước khi ăn ( trên 80 độ C )
Dân số nguy cơ
Tất cả mọi người ăn phải, tiếp xúc phải virus và những người mà miễn dịch không bảo vệ được là những người cảm nhiễm với virus.Tuy nhiên bệnh thường gặp ở người lớn hơn trẻ em
Tài liệu tham khảo
3 CDC ( US) Epidemiology and prevention of viral hepatitis A to E An Overview 2000
Trang 9BỆNH LÂY TRUYỀN TỪ THỰC PHẨM: VIÊM GAN E
Lê Hoàng Ninh Đặc tính chung của virus:
Virus viêm gan E ( HEV = Hepatitis E Virus ) có đường kính phân tử từ 32 -34 nm Dựa trên những đặc điểm hóa lý của virus, chúng được xem như nhóm virus giống Calici ( Calici - like virus)
Hội chứng lâm sàng của bệnh:
Bệnh gây ra do HEV được gọi là bệnh viêm gan E hay bệnh viêm gan lây truyền đường ruột không A không B ( gọi tắt là ET-NANBH = enterically transmitted non A non B hepatitis) Một tên gọi khác là virus viêm gan lây truyền đường phân miệng không A không B ( Faecal-oral non - A non - B) và viêm gan giống A nhưng không A không B ( A – like non –A non -B hepatitis )
Biểu hiện lâm sàng của viêm gan E rất khó phân biệt với viêm gan A Những hội chứng gồm lừ đừ, mêt mỏi, biếng ăn, đau vùng bụng, đau nhức và sốt.Liều nhiễm đến nay chưa được biết
Thời kỳ ủ bệnh của viêm gan E là từ 2 đến 9 tuần Bệnh thường nhẹ và khỏi trong 2 tuần Tỷ lệ tử vong ( chết- mắc) là từ 0,1 - 1 % Riêng phụ nữ có thai thì tỷ lệ nầy có thể lên đến 20 %
Chẩn đoán:
Chẩn đoán bệnh viêm gan E dựa trên các đặc điểm dịch tễ của sự bùng phát và bằng cách loại trừ các kết quả kiểm nghiệm huyết thanh là không phải viêm gan A, không phải viêm gan B Việc xác định đòi hỏi phải nhận diện được phân tử giống virus từ 27-34 nm bằng kinh hiển vi điện tử miễn dịch từ phân của bệnh nhân cấp tính
Những thực phẩm có liên quan
HEV không phân lập được trực tiếp từ thực phẩm và là virus lây truyền theo đường phân miệng Hiện nay có bằng chứng virus lây truyền từ nguồn nước và từ người sang người, nhất là từ việc xử lý, chế biến thực phẩm không hợp vệ sinh của người bệnh
Do rất khó khăn trong phân biệt giữa viêm gan virus E và A, nên không thể loại ra các trường hợp lây truyền từ thực phẩm khi sự bùng phát xảy ra
Đặc điểm dịch
Trang 10Bệnh viêm gan E có thể xảy ra dưới cả 2 dạng dịch: dịch và ca tản phát Nhiều vụ dịch lây truyền từ nước xảy ra tại Châu Á, Bắc và Đông châu phi
Phân tích thực phẩm
HEV chưa phân lập được từ thực phẩm Hiện nay chưa có phương pháp nào thích hợp
để phân tích hệ thống thực phẩm nhiễm HEV
Phòng ngừa
Bệnh có thể phòng ngừa được bằng vệ sinh cá nhân và thông qua việc nấu chín thực phẩm khi ăn ( trên 80 độ C )
Dân số nguy cơ
Bệnh thường gặp ở người trẻ và người trong độ tuổi trung niên ( từ 15 đên tuổi) Phụ
nữ có thai nhạy cảm thường có bệnh cảnh lâm sàng nặng và tỷ lệ tử vong cao ở nhóm dân số nầy
Tài liệu tham khảo:
1 WHO Hepatitis E factsheet N 280 http:// www.who.int/mediacentre/facsheets/fs280
2 Center for disease control and prevention Epidemiology and prevention of viral hepatitis A
3 Harrison TJ Hepatitis E virus-an update Liver, 1999, 19 (3): 171-176
5 CDC ( US) Epidemiology and prevention of viral hepatitis A to E: An overview 2000
Trang 11BỆNH LÂY TRUYỀN QUA THỰC PHẨM: ROTAVIRUS
Lê Hoàng Ninh
Đặc tính chung của virus
Rotavirus được xếp vào họ Reoviridae.Hiện nay đã xác định được 6 nhóm huyết thanh, 3 trong số đó gây bệnh cho người là nhóm A, B và C
Hội chứng lâm sàng của bệnh
Rotavirus gây bệnh viêm dạ dày ruột cấp.Tiêu chảy ở trẻ < 12 tháng tuổi (infantile diarrhoea), tiêu chảy mùa đông, việm da dày ruột cấp không do vi trùng là tên gọi chung cho sự lây nhiễm phổ biến nhất và lan truyền rộng rãi là rotavirus nhóm A Viêm dạ dày ruột do Rotavirus là bệnh tự giới hạn, diễn biến từ nhẹ tới nặng với những triệu chứng như tiêu chảy mất nước, ói mửa, sốt nhẹ.Liều nhiễm là từ 10 đến
100 phân tử virus Một người mắc bệnh tiêu chảy do virus thường thảy ra phân một lượng rất lớn virus ( từ 108 đến 1010 virus / ml phân), nên với liều nhiễm như trên sẽ
dễ dàng đạt tới sự lây nhiễm thông qua bàn tay hay các vật dụng khác của người bệnh.Hiện nay có chứng cứ cho thấy rằng người nhiễm Rotavirus không triệu chứng
là nguyên nhân gây ra các vụ dịch dưới dạng lưu hành địa phương
Thời kỳ ủ bệnh ngắn từ 1 đến 3 ngày.Hội chứng khởi phát thường là nôi ói, sau đó là tiêu chảy có thể kéo dài từ 4 đến 8 ngày.Sự bất dung nạp tạm thời lactose có thể xảy ra.Sau đó là thời kỳ hồi phục.Tuy nhiên, những trường hợp nặng không được bù nước
và điện giải kịp thời có thể diễn biến nặng và có thể tử vong
Chẩn đoán
Chẩn đoán chuyên biệt Rotavirus được dựa vào việc xác định virus trong phân bệnh nhân.Kỹ thuật EIA ( enzyme immunoassay ) là test được dùng rộng rãi để sàng lọc các bệnh phẩm lâm sàng, và hiện nay trên thị trường có nhiều bộ KIT giúp chẩn đoán Rotavirus nhóm A Ngoài ra một số phòng thí nghiệm có thể dùng kính hiển vi điện tử ( EM = electron microscopy) và hay PAGE ( polyacrylamide gel electrophoresis trong chẩn đoán Rotavirus.Hiện nay một số phòng thí nghiệm dùng kỹ thuật RT-PCR ( reverse transcription polymerase chain reaction) để phát hiện và định danh 3 nhóm Rotavirus gây bệnh cho người
Những thực phẩm liên quan
Trang 12Rotavirus được lây truyền theo đường phân miệng.Người lây cho người thông qua bàn tạy bị nhiễm là phương cách lây nhiễm quan trọng nhất mà Rotavirus lây truyền trong cộng đồng có sự quan hệ gần gủi như trại nhi, trại lão khoa, trung tâm chăm sóc người già…
Người nấu nướng chế biến thực phẩm bị nhiễm làm vấy nhiễm thực phẩm phải không được tiếp tục công việc nấu nướng bởi vì họ có thể làm nhiễm những thực phẩm được nấu chín, những thực phẩm không được nấu như rau sống….Rotavirus khá bền vững trong môi trường và người ta đã tìm thấy chúng ở những mẫu nước ở cửa sông (
có chứa tới 1-5 virus/ lít)
Đặc điểm dịch
Rotavirus nhóm A gây dịch dưới dạng lưu hành địa phương.Nó là nhóm virus dẫn đầu gây tiêu chảy nặng ở trẻ dưới 12 tháng tuổi vả trẻ em, và khoảng 1 / 2 số ca nhiễm nầy phải nhập viện
Tùy theo nhiệt độ vùng, khu vực, bệnh thường xảy ra ở mùa đông nhưng ở khu vực nhiệt đới thì bệnh có thể xảy ra quanh năm Số ca bệnh do nhiễm Rotavirus được qui trách do thực phẩm bị nhiễm đến nay vẫn chưa xác định được
Rotavirus nhóm B, còn được gọi là virus gây tiêu chảy ở người lớn ( viết tắt là ADRV
= adult diarrhoea rotavirus) , gây ra các vụ dịch tiêu chảy nặng làm hàng ngàn người mắc bệnh tại Trung quốc
Rotavirus nhóm C thường hiếm gặp và gây ra dịch dưới dạng các ca tản phát ở trẻ em tại nhiều quốc gia.Vụ bùng phát dịch đầu tiên được ghi nhận xảy ra tại Nhật Bản và Anh quốc
Phân tích thực phẩm
Virus chưa phân lập được ở thực phẩm trong các vụ bùng phát và chưa có phương pháp nào đáp ứng đầy đủ cho sự phân tích thực phẩm một cách hệ thống.Tuy nhiên, người ta có thể áp dụng qui trình để phát hiện virus trong nước và trong bệnh phẩm lâm sàng như enzyme immunoassays, gene probing và PCR vào phân tích thực phẩm
Phòng ngừa
Virus rất nhạy cảm với nhiệt độ và sẽ bị giết khi đun ở nhiệt độ trên 70 độ C
Dân số nguy cơ:
Trang 13Mọi lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm Rotavirus.Trẻ em từ 6 tháng đến 2 tuổi, người già, người có vấn đề về miễn dịch khi bị nhiễm Rotavirus nhóm A thì dễ có bệnh cảnh lâm sàng nặng
Tài liệu tham khảo