1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006

82 566 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả Chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam 2005 – 2006
Tác giả Nguyễn Trần Hiển, Nguyễn Anh Tuấn, Bùi Đức Thắng, Stephen J. Mills, Nguyễn Duy Tùng, Trần Vũ Hoàng, Nguyễn Đức Dương, Nguyễn Thanh Long, Phan Thị Thu Huơng, Mitchell Wolfe, Lê Nguyễn Linh-Vy, Ray L Ransom, Nguyễn Minh Thắng, Trần Vũ Hoàng, Nguyễn Anh Tuấn, Stephen J. Mills, Nguyễn Duy Tùng, Bùi Đức Thắng, Nguyễn Thanh Hà, Lê Thị Cẩm Thuý, Nguyễn Lê Hải
Trường học Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006

Trang 1

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (NIHE)

Số 1 Yersin, Hà Nội

Tel: (84-4) 972 1005

FHI/Việt Nam

Tầng 3, số 1 Bà Triệu, Hà Nội Tel: (84-4) 934 8560

Kết quả Chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam

2005 – 2006

Trang 2

Nguyễn Anh Tuấn

Cục Phòng Chống hiV/aiDS Việt nam (VaaC)

Nguyễn Thanh Long

Phan Thị Thu Huơng

trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh tật hoa Kỳ (CDC)

Nguyễn Lê Hải

Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn các cán bộ, giám sát viên, điều tra viên, kỹ thuật viên xét nghiệm của Uỷ ban phòng phống AIDS, Trung Tâm phòng chống AIDS, Trung tâm Y tế dự phòng các tỉnh thành phố:

Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ và An Giang đã hỗ trợ nhóm nghiên cứu trong quá trình thu thập số liệu

Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn ông Richard Pierce về những đóng góp trong quá trình hiệu chỉnh bản tiếng Anh của báo cáo

Trân trọng cảm ơn Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ đã hợ trợ tài chính và kỹ thuật cho nghiên cứu

từ nguồn kinh phí của Kế hoạch viện trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ cho chương trình phòng chống AIDS (PEPFAR)

Trang 3

VIETNAMESE AND AMERICANS

IN PARTNERSHIP TO FIGHT HIV/AIDS

7JFjO74%55e

2 0 0 5 – 2 0 0 6

giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học hiV/Sti

(iBBS) tại Việt nam

Trang 5

7 Quản lý và phân tích số liệu 15

8 Các vấn đề về đạo đức nghiên cứu 15

1 Đặc điểm các nhóm quần thể nghiên cứu 17

2 Tỷ lệ hiện nhiễm HIV và STI trong các nhóm quần thể nghiên cứu 192.1 Tỷ lệ hiện nhiễm HIV 192.2 Tỷ lệ hiện nhiễm STI 21

3 Hành vi nguy cơ của các nhóm quần thể nghiên cứu 233.1 Người nghiện chích ma túy 23

3.3 Nam quan hệ tình dục đồng giới 32

4 Tiếp cận với các chương trình can thiệp 38

Phụ lục I: Phân tích mô tả các chỉ số hành vi và sinh học nhóm người NCMT 48Phụ lục II: Phân tích mô tả các chỉ số hành vi và sinh học nhóm phụ nữ MDĐP 55Phụ lục III: Phân tích mô tả các chỉ số hành vi và sinh học nhóm phụ nữ MDNH 61Phụ lục IV: Phân tích mô tả các chỉ số hành vi và sinh học nhóm MSM 67

Trang 6

aiDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

BCS Bao cao su

BKt Bơm Kim Tiêm

BttX Bạn tình thường xuyên

BtKtX Bạn tình không thường xuyên

ĐtgShV Điều tra giám sát hành vi

Fhi Tổ chức Sức khỏe Gia đình Quốc tế

hiV Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người

iBBS Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI

LĐtBXh Lao động thương binh và xã hội

marP Quần thể có nguy cơ cao nhiễm HIV

mDĐP Mại dâm đường phố

mDn Mại dâm nam

mDnh Mại dâm tại tụ điểm nhà hàng, cơ sở dịch vụ, giải trí

rDS Chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát

Sti Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục

tP hCm Thành phố Hồ Chí Minh

ungaSS Khoá họp đặc biệt về HIV/AIDS của Liên Hợp Quốc

uS CDC Trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ

uSaiD Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ

VCt Tư vấn xét nghiệm tự nguyện

Viện VSDttư Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (NIHE)

Danh mụC tỪ ViẾt tẮt

Trang 7

Số người nhiễm HIV/AIDS được phát hiện ở Việt Nam tăng nhanh trong những năm cuối của thập kỷ 90 cho thấy khả năng lan truyền mạnh của dịch HIV, với các mức độ khác nhau trong nhiều nhóm quần thể nguy cơ, nhất là ở các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, TP HCM, Cần Thơ, An Giang Mặc dù dịch HIV ở Việt Nam hiện vẫn đang trong giai đoạn “dịch tập trung”, tác động chủ yếu tới những quần thể có nguy

cơ cao như người tiêm chích ma tuý, phụ nữ mại dâm và khách hàng của họ, và những người có hành vi tình dục không an toàn với nhóm quần thể có nguy cơ cao, tuy nhiên, đã có những bằng chứng cho thấy dịch HIV đã lây truyền trong các nhóm quần thể nguy cơ thấp và có khả năng thay đổi nhanh với những diễn biến phức tạp Kết quả nghiên cứu “Ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam 2005 – 2010” do Bộ Y tế và Tổ chức Sức khoẻ gia đình Quốc tế, với sự hỗ trợ của USAID, tiến hành năm 2004 cho thấy ước tính có 263.470 người nhiễm HIV vào năm 2005 và dự báo đến năm 2010 sẽ có 311.500 người nhiễm ở Việt Nam

Hệ thống giám sát HIV/AIDS quốc gia được thiết lập từ năm 1994 đã cung cấp kịp thời những thông tin cập nhật phục vụ công tác hoạch định chính sách và xây dựng kế hoạch phòng chống HIV/AIDS Ước tính và

dự báo HIV/AIDS 2005-2010 đã được sử dụng để phục vụ cho việc xây dựng và triển khai Chiến lược phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 Tuy nhiên, diễn biến dịch HIV hoàn toàn có thể được cảnh báo sớm nhờ giám sát hành vi của mỗi cá nhân và sự thay đổi hành vi của họ là một trong những yếu tố quyết định diễn biến dịch HIV Do vậy, bên cạnh hệ thống giám sát huyết thanh học HIV,

từ năm 2000, Bộ Y tế đã bắt đầu thực hiện các điều tra giám sát hành vi liên quan tới lây nhiễm HIV/AIDS nhằm bổ sung thông tin cho công tác phòng chống HIV/AIDS

Với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ Kế hoạch khẩn cấp phòng chống AIDS của Tổng thống Hoa Kỳ (PEPFAR), năm 2005-2006 Bộ Y tế, Viện Vệ Sinh Dịch Tế Trung Ương đã tiến hành điều tra giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học tại 7 tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP HCM, Cần Thơ và An Giang Đây là một điều tra có hệ thống trên quy mô cộng đồng, tập trung vào các nhóm có nguy cơ cao lây nhiễm HIV cao nhất (người nghiện chích ma tuý, phụ nữ mại dâm và nam quan hệ tình dục đồng giới) nhằm cung cấp các chỉ số về hành vi, cũng như tỷ lệ hiện nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục Những kết quả chính từ cuộc điều tra được tổng hợp trong báo cáo “Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam”

Bộ Y tế trân trọng giới thiệu báo cáo này với các cơ quan tham gia phòng chống AIDS tại Việt Nam và các bạn đồng nghiệp, tin tưởng rằng báo cáo này sẽ cung cấp được những thông tin có giá trị cho việc xây dựng các can thiệp dự phòng và chăm sóc HIV/AIDS hiệu quả và giúp theo dõi, đánh giá chương trình trong thời gian tới Nhân dịp xuất bản báo cáo, Bộ Y tế trân trọng cảm ơn sự hợp tác của cơ quan phòng chống AIDS các địa phương trên địa bàn nghiên cứu, các cán bộ trực tiếp tham gia chương trình Bộ Y tế đánh giá cao sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ Cơ quan hợp tác phát triển Hoa Kỳ (USAID), Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa

Kỳ (CDC) và Tổ chức sức khoẻ gia đình quốc tế (FHI) trong việc thực hiện chương trình này

LỜi giỚi thiỆu

Thứ trưởng Bộ Y tế

Trang 8

tóm tẮt nghiên Cứu

Chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học (IBBS) được triển khai tại các tỉnh, thành phố Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HCM, An Giang và Cần Thơ từ tháng 11 năm 2005 đến tháng 6 năm 2006 Mẫu nghiên cứu được thu thập tại cộng đồng nhằm ước lượng tỷ lệ hiện nhiễm HIV, các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI), các hành vi nguy cơ và mức độ tiếp cận các chương trình can thiệp trong các nhóm quần thể có nguy cơ cao nhiễm HIV (MARP) Các nhóm quần thể này bao gồm phụ nữ mại dâm (PNMD), người nghiện chích ma tuý (NCMT) và nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) Phương pháp chọn mẫu chùm và chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDS) đã được sử dụng nhằm lựa chọn 3.547 PNMD, 2.032 NCMT tại 7 tỉnh và 790 MSM tại Hà Nội và TP HCM Bên cạnh thông tin về hành vi nguy cơ được thu thập thông qua phỏng vấn cá nhân, mẫu bệnh phẩm máu, nước tiểu và mẫu ngoáy hậu môn cũng được thu thập nhằm xác định tỷ lệ hiện nhiễm HIV và STI

những phát hiện chính

Người nghiện chích ma tuý: HIV đang lây nhiễm nhanh trong những người NCMT trẻ và mới tiêm chích

Những người NCMT là quần thể có tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất so với những quần thể khác, mặc dù

có sự khác nhau giữa các tỉnh, thành phố Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong những người NCMT cao nhất tại Hải Phòng (66%) và Quảng Ninh (59%), thấp nhất tại An Giang (13%) và Đà Nẵng (2%) Kết quả nghiên cứu cho thấy những dấu hiệu của sự lây truyền HIV nhanh chóng trong quần thể những người NCMT trẻ tuổi và mới tiêm chích Ví dụ, tại TP HCM, khoảng một nửa (48%) những người NCMT dưới 25 tuổi

và khoảng 1/4 người NCMT có thời gian tiêm chích dưới một năm Tuy nhiên, HIV lan truyền rất nhanh trong cả hai nhóm trên, với tỷ lệ hiện nhiễm tương ứng là 33% và 28% Tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm NCMT trẻ và mới tiêm chích tương đương với với tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm NCMT lớn tuổi và có thời gian tiêm chích ma tuý dài hơn cũng được ghi nhận tại nhiều tỉnh, thành phố khác

Dựa trên số liệu hành vi tự báo cáo, tỷ lệ dùng chung BKT dường như có xu hướng giảm xuống, tuy nhiên vẫn ở mức độ cao Từ 12% đến 33% người NCMT báo cáo có dùng chung BKT trong khoảng thời gian 6 tháng trước cuộc điều tra Tỷ lệ dùng chung BKT rất cao tại Đà Nẵng và các tỉnh phía nam với 1/3 hoặc nhiều hơn người NCMT báo cáo có dùng chung BKT Khi dùng chung BKT, người NCMT thường dùng chung BKT với nhiều người, do đó họ có nguy cơ nhiễm HIV rất cao Tại TP HCM, số liệu cho thấy người NCMT trẻ và mới tiêm chích có hành vi không an toàn rất sớm, ngay sau khi họ bắt đầu tiêm chích, và do đó tỷ lệ hiện nhiễm được dự báo sẽ tăng cao hơn mức 34%, là kết quả của điều tra này

Người NCMT cũng đồng thời có các hành vi tình dục không an toàn Khoảng 1/2 người NCMT báo cáo có QHTD trong vòng một năm trước cuộc điều tra Tuỳ thuộc vào từng tỉnh, khoảng từ 20%- 40% người NCMT báo cáo có QHTD với PNMD và từ 28% đến 60% có QHTD với BTTX trong 12 tháng trước cuộc điều tra Tỷ lệ sử dụng BCS thấp khi người NCMT có QHTD, đặc biệt trong nhóm những người đã

Trang 9

nhiễm HIV Khoảng từ 1/5 đến 1/2 người NCMT đã nhiễm HIV tại Hà Nội, TP HCM và An Giang không dùng BCS thường xuyên với vợ, bạn gái của họ.

Phụ nữ mại dâm: nhiễm HIV liên quan chặt chẽ với tiền sử tiêm chích ma tuý

Hơn 10% PNMD đã nhiễm HIV tại 5 trên 7 tỉnh, thành phố trong địa bàn nghiên cứu và tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm MDĐP cao hơn tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm MDNH Tỷ lệ hiện nhiễm cao nhất được ghi nhận trong nhóm MDĐP tại Cần Thơ (29%) và Hà Nội (23%) Nhiễm HIV trong nhóm PNMD

có liên quan chặt chẽ tới hành vi tiêm chích ma tuý và những PNMD đã từng tiêm chích ma tuý dường như có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn những PNMD không tiêm chích ma tuý từ 3,5 tới 31 lần Ví dụ, trong nhóm MDĐP tại Hải Phòng, chỉ khoảng 3% những PNMD không có tiền sử tiêm chích ma tuý nhiễm HIV, trong khi tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm PNMD đã từng tiêm chích ma tuý là 55%

Tỷ lệ hiện nhiễm STI thay đổi tuỳ thuộc vào từng tỉnh, thành phố Tỷ lệ hiện nhiễm chlamydia cao nhất trong nhóm MDĐP tại Hà Nội (17%), MDNH tại TP HCM (14%) và dưới 10% trong nhóm MDNH tại Hà Nội, MDĐP tại TP HCM Tỷ lệ hiện nhiễm lậu thấp hơn, trong khoảng từ 0,3% đến 2,7% tại Hà Nội và TP HCM Giang mai phổ biến hơn tại các tỉnh phía nam, đặc biệt tại TP HCM với 9% MDĐP và 7% MDNH hiện nhiễm

Tỷ lệ sử dụng BCS tự báo cáo lần QHTD gần nhất với khách hàng rất cao và mặc dù kết quả này tương

tự như các nghiên cứu định lượng khác, song có thể bị ảnh hưởng bởi sai số báo cáo Tuy nhiên, tỷ

lệ PNMD sử dụng BCS thường xuyên với khách trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra thấp hơn rất nhiều, thay đổi từ 36% trong nhóm MDNH tại Quảng Ninh tới 89% trong nhóm MDĐP tại Cần Thơ Nhiều PNMD đã từng tiêm chích ma tuý, với tỷ lệ cao nhất trong nhóm MDĐP tại Hà Nội và Cần Thơ (17%) Như đã đề cập ở phần trên, có mối quan hệ chặt chẽ giữa tỷ lệ hiện nhiễm HIV và hành vi tiêm chích ma tuý ở mức độ từng cá nhân cũng như ở mức độ quần thể: tỉnh, thành phố có tỷ lệ PNMD tiêm chích ma tuý cao hơn, thì tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm này tại tỉnh thành phố đó cũng cao hơn Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hành vi dùng chung BKT rất phổ biến trong nhóm PNMD, với

tỷ lệ sử dụng chung BKT cao hơn nhóm nam NMCT tại nhiều tỉnh, thành phố

Nam quan hệ tình dục đồng giới: tỷ lệ nhiễm STI cao và nhiều hình thái hành vi nguy cơ

Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM tại TP HCM là 5% và tại Hà Nội là 9%, tuy nhiên sự khác biệt trên không có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ hiện nhiễm STI khá cao Ví dụ, trung bình trong số 10 MSM tại

Hà Nội, có trên một người nhiễm lậu trực tràng (tỷ lệ là 12%), và 8% MSM tại Hà Nội nhiễm chlamydia trực tràng 22% MSM tại Hà Nội và 16% MSM tại TP HCM mắc ít nhất một nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục

MSM có nhiều bạn tình, với 44% MSM tại Hà Nội và 70% MSM tại TP HCM có 2 bạn tình hoặc nhiều hơn trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra Tình dục mại dâm cũng phổ biến trong nhóm quần thể này với 22% MSM tại Hà Nội và 41% MSM tại TP HCM báo cáo có QHTD nhận tiền trong 1 tháng trước cuộc điều tra Tỷ lệ MSM có QHTD hậu môn, hành vi có nguy cơ nhiễm HIV cao nhất trong nhóm MSM, rất cao: đa số những lần QHTD với bạn tình nam là QHTD hậu môn Khi QHTD có nhận tiền, 82% MSM tại Hà Nội và 85% MSM tại TP HCM có QHTD hậu môn

Tỷ lệ sử dụng BCS khi QHTD hậu môn rất thấp, xấp xỉ 1/3 (29% tại Hà Nội và 37% tại TP HCM) báo cáo

sử dụng BCS thường xuyên với BTTX 33% MSM tại Hà Nội và 51% MSM tại TP HCM báo cáo sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD có nhận tiền Trung bình khoảng 4 trong số 10 MSM được hỏi cho biết

có QHTD với bạn tình nữ trong vòng 1 năm trước cuộc điều tra, và khoảng 15% MSM có QHTD với PNMD

Trang 10

Tỷ lệ MSM đã từng tiêm chích ma tuý tại Hà Nội cao hơn TP HCM (9% so với 4%) Tiêm chích ma tuý cũng liên quan chặt chẽ với nhiễm HIV Ví dụ, tại TP HCM, khoảng 1/3 (26%) những MSM đã từng tiêm chích ma tuý đã nhiễm HIV, trong khi tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm MSM chưa từng tiêm chích

cơ cao cho biết họ đã từng xét nghiệm và biết kết quả

Tuy nhiên, khoảng 3/4 những người đã nhiễm HIV trong nghiên cứu này không biết về tình trạng nhiễm của họ Ví dụ, 90% MSM đã nhiễm tại Hà Nội, 84% người NCMT đã nhiễm HIV tại Cần Thơ, 75% MDĐP và 85% MDNH đã nhiễm HIV tại An Giang không biết là họ đã nhiễm HIV

Tiếp cận với các chương trình can thiệp cộng đồng trong nhóm NCMT thay đổi từ 18% tại Hà Nội tới 59% tại TP HCM, trong khi tỷ lệ này trong nhóm PNMD thay đổi trong khoảng 34% tại Hà Nội tới 81% tại Cần Thơ 60% MSM tại TP HCM và 53% MSM tại Hà Nội đã từng nhận được thông tin giáo dục về những hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV Tỷ lệ PNMD nhận được BCS trong khoảng thời gian 6 tháng trước cuộc điều tra tương đương tỷ lệ PNMD tiếp cận được với các chương trình can thiệp cộng đồng

Tỷ lệ nhận được BKT sạch thấp hơn, với khoảng từ 56% tới 97% người NCMT tại các tỉnh trên địa bàn nghiên cứu báo cáo đã từng nhận được BKT trong khoảng thời gian 6 tháng trước cuộc điều tra

Trang 11

Nhiều bằng chứng dịch tễ học cho thấy các quần thể có nguy cơ cao nhất nhiễm HIV ở Việt Nam là những người tiêm chích ma tuý, phụ nữ mại dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới và bạn tình của của những người này Số liệu giám sát trọng điểm cho thấy sự phát triển nhanh chóng của dịch HIV tại TP HCM trong giai đoạn 1998 - 2001, khởi đầu trong nhóm nam NCMT trẻ tuổi, trong độ tuổi hoạt động tình dục, sau đó lan truyền sang mạng luới tình dục mại dâm và sẽ lan truyền sang cộng đồng dân cư bình thường nếu như không có những can thiệp hiệu quả

Tại nhiều thời điểm và tại một số khu vực, hệ thống giám sát trọng điểm chủ yếu tiến hành trong các trung tâm giáo dục dạy nghề, trung tâm 05-06 hoặc tại các bệnh viện, phòng khám Do đó, nguồn

số liệu trên có thể không phản ánh diễn biến và chiều hướng nhiễm HIV, STI cũng như chiều hướng hành vi nguy cơ trên thực tế, như kết quả từ mẫu nghiên cứu đại diện được thu thập trong các nhóm quần thể nguy cơ cao tại cộng đồng

Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học, với những kết quả được trình bày trong báo cáo này, được thiết kế nhằm bổ sung những nguồn thông tin thiếu hụt trên Nghiên cứu này bao gồm số liệu

về tỷ lệ hiện nhiễm HIV, STI và hành vi nguy cơ trong nhóm NCMT, PNMD, MSM tại các tỉnh, thành phố chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của dịch HIV, ở khu vực phía Bắc là Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, ở khu vực phía Nam là TP HCM, Cần Thơ, An Giang và thành phố Đà Nẵng ở khu vực miền Trung

tổng quan

Trang 12

Ước lượng độ bao phủ và tiếp cận các can thiệp dự phòng

Cung cấp các thông tin quan trọng giúp vận động và xây dựng chính sách

mụC tiêu

Trang 13

1 Địa điểm nghiên cứu và quần thể nghiên cứu

1.1 Địa điểm nghiên cứu:

Bảy tỉnh và thành phố đã được chọn vào nghiên cứu gồm có Hà Nội , Hải Phòng, Quảng Ninh, TP HCM, Cần Thơ, An Giang và Đà Nẵng Sáu trong số 7 tỉnh/thành phố này (trừ Đà Nẵng), là địa bàn trọng điểm trong Kế hoạch viện trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ cho cho phòng chống AIDS (PEPFAR) Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học được tiến hành trên 3 nhóm quần thể có nguy cơ cao nhất: Người NCMT (tại tất cả các tỉnh), PNMD bao gồm MDĐP và MDNH (tại tất cả các tỉnh), và MSM (tại Hà Nội và TP HCM)

Phương PhÁP

Bảng : Khu ực tuyển chọn người tham gia nghiên cứu

Tỉnh/thành phố Quận huyện (khu vực tuyển chọn người tham gia nghiên cứu) Vị trí các trung tâm nghiên cứu

Hà nội Đống Đa, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân, Cầu Giấy Đống Đa

Hải Phòng Lê Chân, Hồng Bàng, Ngô Quyền, Hải An Lê Chân

Quảng Ninh Bãi Cháy, Hòn Gai, Cẩm Phả1 Bãi Cháy, Hòn Gai, Cẩm Phả

TP Hồ Chí Minh Quận 1, 3, 8 và Bình Thạnh Quận 1 và Quận 8

Tùy thuộc vào tình hình địa phương, tại mỗi tỉnh và thành phố, các quận huyện được chọn nghiên cứu đều được coi là các “điểm nóng”, nơi có nhiều người có thể tuyển chọn tham gia nghiên cứu Các “điểm nóng” do nhóm nghiên cứu và các cán bộ địa phương đề xuất sau đợt đánh giá trước điều tra ở 7 tỉnh, thành phố Cụ thể về địa bàn nghiên cứu tại mỗi tỉnh, thành phố được trình bày trong bảng 1

Đối với nhóm NCMT, phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDS), theo như mô tả dưới đây, được áp dụng tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP HCM và Cần Thơ Do đó, địa điểm tuyển chọn người NCMT tham gia nghiên cứu ở những thành phố này có thể không chỉ giới hạn tại các quận huyện liệt kê trong bảng trên

Nhóm MSM chỉ được nghiên cứu tại Hà Nội và TP HCM với phương pháp chọn mẫu RDS, do đó địa bàn nghiên cứu của nhóm ngày tại hai thành phố cũng không giới hạn về địa lý

1

Ở tỉnh Quảng Ninh: toàn bộ nhóm NCMT được chọn mẫu ở Cẩm Phả Toàn bộ nhóm PNMD được chọn mẫu ở Hòn Gai và Bãi Cháy.

Trang 14

1.2 quần thể nghiên cứu và tiêu chuẩn tuyển chọn:

Nhóm nghiện chích ma túy (NCMT):

Người NCMT trong nghiên cứu này là nam giới, 18 tuổi trở lên, hiện đang nghiện chích ma túy (tiêu chí này được xác định bằng hành vi tiêm chích ma túy trong vòng một tháng trước cuộc điều tra), tiếp cận được tại các tụ điểm được chọn (ở Hải Phòng, Quảng Ninh và An Giang) vào thời điểm nghiên cứu,

và tự nguyện tham gia nghiên cứu

Nhóm phụ nữ mại dâm (PNMD):

PNMD được tuyển chọn dựa trên các tiêu chuẩn sau: nữ giới ở độ tuổi 18 trở lên, có QHTD để kiếm tiền

ít nhất là một lần trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra, làm việc trên đường phố (MDĐP) hoặc các

tụ điểm như quán karaoke, các điểm massage (MDNH) Ở một vài tỉnh, mặc dù PNMD được xác định ở các cơ sở dịch vụ giải trí, song dựa vào đặc điểm và hình thức làm việc của họ, những người này được coi như những phụ nữ thuộc nhóm MDĐP Ví dụ, tại Hải Phòng, một số PNMD hoạt động trong nhà hàng vẫn được xem là PNMD đường phố do họ phải di chuyển từ đường phố vào trong các tụ điểm, nhằm tránh các chiến dịch truy quét trên đường phố

Bảng : Cỡ mẫu nghiên cứu được thu thập.

Trang 15

3.1 Chọn mẫu chùm hai giai đoạn:

Hai giai đoạn chọn mẫu bao gồm:

Giai đoạn I: xây dựng khung mẫu và lựa chọn chùm

Giai đoạn II: lựa chọn các cá nhân tham gia nghiên cứu

giai đoạn i: Xây dựng khung mẫu và lựa chọn chùm Bản đồ các tụ điểm từng nhóm quần thể, nơi các cá

thể có thể tiếp cận được nhằm tuyển chọn họ tham gia nghiên cứu, được xây dựng ở từng tỉnh, thành phố Quá trình lập bản đồ kéo dài trong khoảng 2 tuần cho mỗi nhóm quần thể tại các khu vực được chọn (Xem bảng 1: Khu vực tuyển chọn người tham gia nghiên cứu) Trước khi triển khai lập bản đồ các nhóm đối tượng nghiên cứu, một khóa tập huấn 3 ngày được tổ chức tại mỗi tỉnh, thành phố Khóa tập huấn cung cấp các phương pháp giúp xác định được thành viên của các nhóm quần thể, cách tiếp cận họ, ước lượng

và ghi nhận kích cỡ quần thể tại mỗi tụ điểm Kỹ năng phỏng vấn cũng được cung cấp trong khóa tập huấn này Cán bộ tham gia quá trình lập bản đồ do các cơ quan chức năng về phòng chống AIDS tuyến tỉnh lựa chọn, bao gồm cán bộ Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng, hoặc trung tâm phòng chống AIDS tuyến tỉnh, nhân viên y tế tại quận huyện, cán bộ xã hội và cán bộ của Hội liên hiệp phụ nữ và Đoàn thanh niên.Trong thời gian triển khai thực địa, các cán bộ lập bản đồ tới các khu vực được phân công xác định các tụ điểm có thể có các nhóm quần thể nghiên cứu Thông qua những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với một số người cung cấp thông tin chính, nhóm cán bộ bắt đầu quá trình lập bản đồ từ một vài tụ điểm được xác định ban đầu, sau đó áp dụng phương pháp hòn tuyết lăn (snowballing) để tìm kiếm thêm các tụ điểm khác trong địa bàn được phân công Ở mỗi tụ điểm, để thu thập được thông tin về kích

cỡ quần thể và cách tiếp cận với từng đối tượng mục tiêu, các cuộc phỏng vấn nhanh với nhân viên bảo vệ, chủ nhà hàng, những người ở khu vực lân cận được tiến hành, hoặc có thể thông qua đếm trực tiếp Thông tin của mỗi tụ điểm được ghi lại vào phiếu thu thập số liệu trong đó nêu rõ địa chỉ, các dấu hiệu đặc biệt để nhận biết và 3 ước tính về kích cỡ quần thể: ước lượng cao, ước lượng trung bình và ước lượng thấp

Các bảng số liệu được cập nhật và lưu trữ trên máy tính hàng ngày trong suốt quá trình lập bản đồ Quá trình lập bản đồ kết thúc khi không có thêm một tụ điểm mới nào được xác định hoặc được giới thiệu thêm

Trang 16

Kết thúc quá trình lập bản đồ các nhóm đối tượng nghiên cứu, toàn bộ thông tin về các tụ điểm được phát hiện cùng kích cỡ quần thể tại từng tụ điểm được tổng hợp để xây dựng khung chọn mẫu cho từng nhóm quần thể nghiên cứu Ước lượng trung bình được sử dụng để xây dựng khung mẫu và lựa chọn chùm nghiên cứu Đơn vị chọn mẫu cơ bản (PSU) hay chùm được định nghĩa là một nhóm gồm

3 thành viên của quần thể nghiên cứu 100 chùm trong mỗi nhóm quần thể nghiên cứu được lựa chọn một cách ngẫu nhiên sử dụng phần mềm Csurvey (Frerichs, 1999) Danh mục các tụ điểm được chọn vào nghiên cứu cùng địa chỉ và số lượng cá thể cần điều tra tại từng tụ điểm cụ thể được các cán bộ giám sát tuyến trung ương thông qua lần cuối cùng

giai đoạn ii: Lựa chọn các cá thể tham gia nghiên cứu tại các tụ điểm được chọn Trong quá trình thu

thập số liệu, các cán bộ được phân công (cán bộ giám sát tuyến tỉnh) cùng các giáo dục viên đồng đẳng đến các tụ điểm được chọn, xác định và tiếp cận các cá thể có đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu Tại một tụ điểm được chọn, có thể có nhiều hơn một chùm cần được điều tra Khi nhóm nghiên cứu tới tụ điểm đó, nếu phát hiện thấy số lượng cá nhân có đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu nhiều hơn

cỡ mẫu yêu cầu, đối tượng nghiên cứu được lựa chọn một cách ngẫu nhiên Nếu không, toàn bộ số người tại tụ điểm trong thời gian đó được lựa chọn Trong trường hợp nếu không đạt được cỡ mẫu tại thời điểm đó, nhóm nghiên cứu quay lại tụ điểm này vào thời điểm khác để tiếp tục tuyển chọn thêm số người tham gia cho đến khi đạt được cỡ mẫu phân bổ cho tụ điểm đó

Tất cả các cá nhân hội đủ điều kiện tham gia nghiên cứu được giải thích tóm tắt về mục đích của nghiên cứu và được phát giấy mời tham gia có ghi đầy đủ thông tin cơ bản về nghiên cứu, địa chỉ các trung tâm nghiên cứu nơi thu thập số liệu, và ngày hẹn phỏng vấn Nếu quá ngày hẹn 2 tuần mà cá nhân được chọn không đến trung tâm nghiên cứu, người thay thế sẽ được lựa chọn tại chính tụ điểm

đó Sau nhiều nỗ lực tuyển chọn nhằm đạt đủ cỡ mẫu phân bổ, nhưng vẫn không thể đạt được, có thể tiến hành lựa chọn người tham gia ở các tụ điểm gần nhất trong khung mẫu để thay thế Toàn

bộ kế hoạch thay thế này đều được Viện VSDTTƯ xem xét và phê chuẩn sau khi tham khảo ý kiến của các cán bộ tại địa phương

3.2 Phương pháp chọn toàn bộ:

Phương pháp này được sử dụng trong trường hợp không áp dụng phương pháp chọn mẫu chùm Sau quá trình lập bản đồ, nếu ước tính kích cỡ quần thể nghiên cứu nhỏ hơn cỡ mẫu dự kiến, phương pháp chọn toàn bộ sẽ được sử dụng Nhóm nghiên cứu đến toàn bộ các tụ điểm được liệt kê, với sự trợ giúp của các giáo dục viên đồng đẳng, tiếp cận với các cá nhân đủ điều kiện tham gia, giải thích mục đích,

và phát giấy mời tham gia nghiên cứu (giống giấy mời dùng trong chọn mẫu chùm nêu trên)

3.3 Chọn mẫu dây chuyển có kiểm soát (rDS):

Phương pháp chọn mẫu này được áp dụng với nhóm NCMT tại 4 thành phố (Hà Nội, Đà Nẵng, TP HCM và Cần Thơ) và nhóm MSM tại 2 thành phố (Hà Nội, TP HCM) Đây là phương pháp chọn mẫu dây chuyền thông qua sự giới thiệu của chính những người được phỏng vấn, song không hoàn toàn giống với phương pháp hòn tuyết lăn “snowball”, phương pháp này cho chúng ta ước tính chính xác

về những biến số nghiên cứu của quần thể (Heckathorn, 1997)

Quá trình tuyển chọn bắt đầu bằng tuyển chọn các cá nhân đầu tiên tham gia nghiên cứu: họ được xem như những “hạt giống” Các tiêu chuẩn để lựa chọn “hạt giống” là: những người có các đặc điểm khác biệt nhau, ở nhiều địa điểm khác nhau và biết rõ các mạng lưới của quần thể nghiên cứu Những “hạt giống” do nhóm nghiên cứu lựa chọn có tham khảo ý kiến và sự giới thiệu của các cán

bộ tại địa phương

Trang 17

Sau khi kết thúc phỏng vấn các cá nhân tham gia ban đầu và phát phiếu tuyển chọn để họ tiếp tục chọn lựa các đồng đẳng trong nhóm, những người này không còn là đối tượng nghiên cứu, mà trở thành người đi tuyển chọn Khi một người nào đó được tuyển chọn, nhưng chưa tham gia vào nghiên cứu, người đó được xem như một người được chọn.

Đợt đầu tiên tuyển chọn đối tượng nghiên cứu được các “hạt giống” thực hiện Sau đó, mỗi người được chọn và tham gia vào nghiên cứu đều được nhận 3 phiếu tuyển chọn nhằm giúp họ tuyển các đồng đẳng trong nhóm vào nghiên cứu Tuỳ thuộc vào tình hình của từng địa phương và từng nhóm quần thể nghiên cứu, có từ 5 đến 8 đợt tuyển chọn được tiến hành để đạt được cỡ mẫu dự kiến.Phiếu tuyển chọn được mã hóa nhằm liên kết giữa người đi tuyển chọn và người được chọn Mã số của phiếu tuyển chọn được ghi lại trên các bộ câu hỏi Tất cả các nhân viên tiếp đón tại trung tâm nghiên cứu được tập huấn về quy trình quản lý phiếu tuyển chọn Toàn bộ người mới được chọn tới trung tâm nghiên cứu đều được ghi nhận vào bảng quản lý phiếu tuyển chọn

4 Các chỉ số nghiên cứu:

Các chỉ số chính trong nghiên cứu được xác định dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế và các chỉ số UNGASS, bao gồm:

Tỷ lệ hiện nhiễm HIV, giang mai, lậu và chlamydia

Hành vi tình dục trong đó bao gồm số lượng bạn tình và các loại bạn tình (“mại dâm”,

“thường xuyên” và “không thường xuyên”, nam giới và nữ giới)

Sử dụng BCS khi QHTD với các loại bạn tình khác nhau

Thực hành hành vi khác liên quan đến sử dụng BCS và tình dục an toàn

Kiến thức hiểu biết về STI và hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc khi mắc STI

Kiến thức và thái độ đối với HIV/AIDS

Sử dụng ma túy và chất gây nghiện (bao gồm tiêm chích ma túy và dùng chung BKT)

Nhận thức về nguy cơ lây nhiễm HIV và STI

Tiếp cận các can thiệp dự phòng HIV/AIDS

Các câu hỏi về mạng lưới (chỉ dành cho phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát): các câu hỏi về cơ cấu mạng lưới, quan hệ của thành viên tham gia nghiên cứu và hiểu biết

về người được tuyển chọn, đều được đưa vào trong bộ câu hỏi

5 thu thập số liệu

5.1 Chuẩn bị thu thập số liệu

Xây dựng và thử nghiệm bộ câu hỏi: bộ câu hỏi được soạn thảo để đo lường toàn bộ các chỉ số cơ bản

như mô tả ở trên Bộ câu hỏi dài khoảng 10 trang và mất khoảng 30 – 40 phút để hoàn tất các câu trả lời Mỗi bộ câu hỏi đều có số mã số nghiên cứu (ID) riêng biệt, mã hóa cho từng người tham gia nghiên cứu Mã số nghiên cứu này cũng được dán trên các ống nghiệm đựng mẫu bệnh phẩm sinh học (máu, nước tiểu, v.v.)

Trang 18

Các bộ câu hỏi được thử nghiệm thông qua phỏng vấn thử một số người NCMT, PNMD, MSM và có những chỉnh sửa, điều chỉnh về cấu trúc, cách dùng từ và ngôn ngữ Bộ câu hỏi cuối cùng được hoàn chỉnh và thông qua với sự đồng thuận của tổ chức FHI và Viện VSDTTƯ

Lựa chọn cán bộ phỏng vấn và tập huấn:

Cán bộ tại các trung tâm y tế quận, huyện, trung tâm y tế dự phòng, trung tâm phòng chống HIV/AIDS, các cán bộ xã hội được lựa chọn để thực hiện các cuộc phỏng vấn cho nghiên cứu này (điều tra viên) Tiêu chuẩn tuyển chọn điều tra viên như sau:

Có kinh nghiệm làm việc với quần thể nguy cơ cao như người NCMT, PNMD, MSM

Mong muốn và có thể thu xếp đủ thời gian dành cho nghiên cứu

Có kinh nghiệm phỏng vấn sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc

Cam kết tôn trọng người được phỏng vấn

Các cán bộ xét nghiệm tại Trung tâm y tế dự phòng hoặc Trung tâm phòng chống AIDS tuyến tỉnh được phân công thu thập các mẫu bệnh phẩm sinh học Cán bộ tư vấn chịu trách nhiệm tư vấn trước

và sau xét nghiệm tại các trung tâm này cũng tham gia vào quá trình thu thập mẫu bệnh phẩm.Một khóa tập huấn 3-4 ngày được tổ chức tại mỗi tỉnh, thành phố trước giai đoạn thu thập số liệu Nội dung tập huấn bao gồm kiến thức, các kỹ năng phỏng vấn, giới thiệu về bộ câu hỏi, kinh nghiệm và hướng dẫn cách tiếp cận các nhóm quần thể nghiên cứu Điều tra viên có cơ hội thực hành đóng vai hoặc thảo luận với các giáo dục viên đồng đẳng đang làm việc cho các chương trình can thiệp đang được triển khai trên địa bàn Một số chủ đề phụ trợ khác như quản lý quy trình chọn mẫu dây chuyền

có kiểm soát, tuân thủ quy trình nghiên cứu tại các trung tâm nghiên cứu, hoặc theo dõi, giám sát quá trình thu thập số liệu cũng được đưa vào chương trình tập huấn

Các cán bộ xét nghiệm tham gia nghiên cứu được các cán bộ xét nghiệm của Viện VSDTTƯ tập huấn

về cách thu thập mẫu bệnh phẩm, bảo quản và tiến hành xét nghiệm tuân thủ theo Hướng dẫn quốc gia về xét nghiệm HIV và STI

5.2 trung tâm nghiên cứu và quá trình thu thập số liệu

Các trung tâm nghiên cứu được thiết lập nhằm thu thập số liệu hành vi và mẫu bệnh phẩm sinh học Mỗi nhóm quẩn thể có một trung tâm nghiên cứu riêng trên địa bàn nghiên cứu Sau đây là các yếu

tố đã được cân nhắc xem xét khi lựa chọn địa điểm làm trung tâm nghiên cứu:

Có khoảng cách hợp lý về mặt địa lý với các tụ điểm nhóm quần thể nghiên cứu

Trường hợp các tụ điểm quần thể nghiên cứu phân tán rải rác, một vị trí tại khu vực trung tâm được chọn lựa

Đủ chỗ và không gian dành cho khu vực đón tiếp, phòng phỏng vấn và phòng thu thập mẫu bệnh phẩm Các yếu tố liên quan đến tính bảo mật, riêng tư và tôn trọng người tham gia là các yếu tố quan trọng trong quá trình xem xét, chọn lựa

Phải có đầy đủ điện, nước máy, và khu vệ sinh

Vị trí thuận tiện và dễ tìm

Trang 19

Do gặp khó khăn trong việc thuê địa điểm tạm thời để thu thập số liệu, ở một số tỉnh, câu lạc bộ dành cho các nhóm quần thể có nguy cơ cao trong khuôn khổ các dự án can thiệp được sử dụng làm trung tâm nghiên cứu.

Mỗi một trung tâm nghiên cứu đều có ba khu vực riêng biệt: Khu tiếp đón, phòng phỏng vấn, và phòng lấy mẫu bệnh phẩm, bao gồm khu vực được bố trí dành cho tư vấn cá nhân

Khi các đối tượng được mời tới trung tâm nghiên cứu, họ tiến hành thủ tục đăng ký tại bàn tiếp đón Nhân viên tiếp đón thực hiện các bước sàng lọc cơ bản đối với những người được mời tới tham gia bằng cách đặt các câu hỏi dựa theo các tiêu chuẩn lựa chọn người tham gia nghiên cứu Những người không đủ tiêu chuẩn sẽ bị loại Ngoài ra, nhân viên tiếp đón cũng hỏi một số câu hỏi nhằm sàng lọc

và loại ra những người đã tham gia nghiên cứu Điều này giúp tránh sự trùng lặp trong quá trình chọn mẫu nghiên cứu Trong trường hợp có những người đến trung tâm để xét nghiệm HIV song không đủ tiêu chuẩn tham gia, họ sẽ được giới thiệu sang các trung tâm VCT gần nhất Để kết thúc phần đăng

ký, nhân viên tiếp đón sẽ đọc cho những người đáp ứng đủ tiêu chuẩn tham gia nghe thỏa thuận tham gia nghiên cứu Mọi thắc mắc cũng được giải thích ngay tại bàn tiếp đón Nếu đồng ý, những người được mời ký vào thoả thuận tham gia nghiên cứu Nhân viên tiếp đón và một người làm chứng cùng ký vào bản thoả thuận này Bộ câu hỏi cùng với mã số nghiên cứu cho từng người tham gia được chuẩn bị trong giai đoạn tiếp đón

Sau khi kết thúc thủ tục đăng ký, những người đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu được giới thiệu sang phòng phỏng vấn Phòng phỏng vấn được thu xếp đảm bảo kín đáo và riêng biệt Những cuộc phỏng vấn cá nhân được thực hiện bởi các điều tra viên đã được tập huấn Ngay trước phỏng vấn, điều tra viên hỏi thêm một câu hỏi sàng lọc khác để chắc chắn rằng những người tham gia đáp ứng

đủ tiêu chuẩn lựa chọn Bộ câu hỏi có cấu trúc được sử dụng trong quá trình phỏng vấn, các cán bộ phỏng vấn có thể giúp người tham gia hiểu rõ hơn nội dung các câu hỏi nếu được yêu cầu Tuy nhiên, không có gợi ý trả lời bất kỳ câu hỏi nào Tùy thuộc vào người tham gia, mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 30 - 45 phút

Khi phỏng vấn kết thúc, người tham gia được hướng dẫn sang phòng lấy mẫu bệnh phẩm Tại đây, những người tham gia sẽ được tư vấn trước xét nghiệm Sau đó, kỹ thuật viên sẽ lấy các mẫu bệnh phẩm sinh học như lấy mẫu máu, mẫu nước tiểu và ngoáy hậu môn Tương tự với phòng phỏng vấn, phòng xét nghiệm cũng được bố trí để đảm bảo được tính kín đáo và riêng biệt cho người tham gia Mỗi trung tâm nghiên cứu có một kỹ thuật viên xét nghiệm chuyên trách lấy bệnh phẩm Người tham gia được phát một ống nghiệm và được hướng dẫn cách lấy mẫu nước tiểu để xét nghiệm lậu

và chalmydia

Mã số nghiên cứu luôn được kiểm tra sau mỗi bước thực hiện nhằm bảo đảm rằng mã số được ghi trong các bộ câu hỏi và mã số trên ống nghiệm đựng mẫu bệnh phẩm trùng khớp Kết thúc quá trình thu thập số liệu với mỗi cá nhân, nhân viên tiếp đón kiểm tra lại một lần nữa để đảm bảo rằng người tham gia không bỏ sót quy trình nào

Những người tham gia nghiên cứu nhận được một số tiền từ 30.000-50.000 đồng, khác nhau tuỳ thuộc vào đối tượng và địa bàn nghiên cứu, tương đương với 1,8 - 3 USD để bù đắp cho thời gian họ dành cho nghiên cứu

Thu thập số liệu kéo dài khoảng 2 tháng rưỡi (kể cả tập huấn) tại mỗi tỉnh Thời gian thu thập số liệu tại 7 tỉnh/thành phố kéo dài từ tháng 12/2005 đến tháng 6/2006

Trang 20

5.3 theo dõi và kiểm định chất lượng

Tại mỗi tỉnh, một cán bộ Viện VSDTTƯ được phân công theo dõi toàn bộ quá trình nghiên cứu từ giai đoạn lập bản đồ cho tới khi kết thúc thu thập số liệu Cán bộ FHI, CDC, USAID và một số cộng tác viên tham gia các chuyến công tác thực địa trong quá trình lập bản đồ, tập huấn điều tra viên, và quá trình thu thập số liệu

Ở các tỉnh miền Bắc, trường Đại học Y Hà Nội tham gia trong quá trình kiểm định chất lượng (QA) Cán

bộ kiểm định chất lượng tới trung tâm nghiên cứu hàng ngày, sử dụng bảng kiểm để đảm bảo các bước thực hiện tuân thủ theo đề cương nghiên cứu Toàn bộ các phát hiện và khuyến nghị đều được cung cấp cho nhóm nghiên cứu ngay trong ngày

6 quy trình xét nghiệm

– Xét nghiệm HIV được tiến hành sử dụng một test xét nghiệm nhanh (Rapid test) và hai xét nghiệm Miễn dịch huỳnh quang ngưng kết men (ELISA) nhằm sàng lọc và khẳng định các kết quả dương tính Xét nghiệm HIV được thực hiện tại trung tâm y tế dự phòng tỉnh, nơi có các cơ sở xét nghiệm HIV và các kỹ thuật viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn quốc gia 10% mẫu âm tính và 5% mẫu dương tính đã được lựa chọn ngẫu nhiên và xét nghiệm lại để kiểm định chất lượng tại phòng xét nghiệm của Viện VSDTTƯ

– Xét nghiệm phản ứng chuỗi men Polymerase (PCR) đối với lậu và chlamydia: mẫu nước tiểu được thu thập cho xét nghiệm này trong nhóm PNMD và MSM, và mẫu ngoáy hậu môn sử dụng cho xét nghiệm lậu và chlamydia trực tràng cho nhóm MSM, được cất giữ

và bảo quản trong thùng lạnh và vận chuyển đến phòng xét nghiệm của Viện VSDTTƯ Mẫu bệnh phẩm được giữ ở nhiệt độ –20ºC, xử lý, và xét nghiệm theo hướng dẫn của nhà sản xuất

– Xét nghiệm giang mai được thực hiện trên mẫu huyết thanh, được vận chuyển bằng thùng lạnh chuyên dụng và sử dụng kỹ thuật RPR định lượng Xét nghiệm định tính xác định Hemagglutin Treponema Pallidum (TPHA) được dùng để khẳng định Giang mai được chẩn đoán xác định và điều trị khi xét mẫu huyết thanh dương tính với cả 2 xét nghiệm

Đối tượng nghiên cứu dương tính với xét nghiệm HIV và giang mai khi quay lại lấy kết quả đều được nhận hoặc giới thiệu những dịch vụ chăm sóc thích hợp: được điều trị miễn phí nếu phát hiện bị bệnh giang mai, và được giới thiệu chuyển đến các dịch vụ hỗ trợ và chăm sóc HIV nếu phát hiện bị nhiễm HIV Quy trình tư vấn và trả kết quả được thực hiện như sau:

Trong quá trình thoả thuận tham gia nghiên cứu, và trước khi xét nghiệm, người tham gia nghiên cứu đều được tư vấn trước xét nghiệm Người tham gia có thể yêu cầu được tư vấn

bổ sung khi có nhu cầu

Cán bộ tư vấn ký vào Biểu mẫu tư vấn trước xét nghiệm, đính kèm theo thoả thuận tham gia nghiên cứu, và được lưu giữ cùng với các tài liệu giấy tờ khác

Những người tham gia được phát một phiếu hẹn quay lại lấy kết quả xét nghiệm HIV và giang mai tại trung tâm nghiên cứu Kết quả này sẽ được trả lại trong vòng 2 tuần sau khi tham gia nghiên cứu Phiếu hẹn này có ghi chi tiết về trung tâm dịch vụ tư vấn (địa chỉ, điện thoại và thời gian làm việc), cùng địa chỉ và số điện thoại của cán bộ chịu trách nhiệm về nghiên cứu tại địa phương, phòng trường hợp cần thiết

Trang 21

Cán bộ tư vấn được tập huấn thông báo kết quả trực tiếp cho người được xét nghiệm (không trả lời bằng văn bản hoặc qua điện thoại) Không có giấy tờ xác nhận tình trạng HIV hoặc phiếu trả kết quả nào được cung cấp, kết quả được trả lời trực tiếp cùng với tư vấn cá nhân khi người được xét nghiệm đến nhận kết quả Khi nhận được kết quả, người tham gia đến một mình với phiếu hẹn trả kết quả gốc mà họ được phát Nếu không có phiếu hẹn, kết quả xét nghiệm sẽ không được thông báo.

7 quản lý và phân tích số liệu

Số liệu được nhập sử dụng phần mềm EPI- Info bản 6.04 (WHO, 1998) Nhằm kiểm soát chất lượng và làm sạch số liệu, toàn bộ số liệu được nhập hai lần tại Viện VSDTTƯ Số liệu được nhập riêng theo từng địa phương và từng nhóm quần thể nghiên cứu Sau khi nhập xong, các bộ số liệu được chuyển sang chương trình phần mềm STATA bản 8.2 (StataCorp, 2004) Nhóm nghiên cứu thực hiện phân tích mô

tả toàn bộ các biến số nhằm kiểm tra giá trị và tính hợp lý của bộ số liệu Bộ số liệu cuối cùng được lưu giữ tại Viện VSDTTƯ, tổ chức FHI và Trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ Chỉ có các cán bộ có trách nhiệm mới có thể truy cập được những bộ số liệu này Các bộ câu hỏi hoàn chỉnh được lưu giữ tại Viện VSDTTƯ

Phân tích số liệu thu thập sử dụng phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDS): Phần mềm

Công cụ phân tích mẫu nghiên cứu thu thập bằng phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDSAT, Trường đại học Cornell, 2003) được dùng để phân tích các mẫu RDS Phần mềm này được thiết kế nhằm sử dụng thông tin thu được để hiệu chỉnh 3 sai số tiềm tàng thường gặp trong quá trình chọn mẫu: sai số mạng lưới, sai số tương đồng và sai số do kích cỡ mạng lưới (Heckathorn 1998)

Bộ số liệu được chuẩn bị bằng phần mềm STATA 8.2 Quá trình này bao gồm tạo ra các biến số mới,

mã hoá những giá trị trống (missing), và được tiến hành dựa trên chiến lược phân tích (được xây dựng bởi nhóm nghiên cứu) và hướng dẫn sử dụng RDSAT Số liệu sau đó được chuyển lưu sang tập tin Excel (Microsoft Corp, 2001) sử dụng Stat/transfer (Circle System Inc, 2005), và từ đó tiếp tục chuyển sang tập tin RDS Phân tích mô tả, phân tích tương quan và ước lượng điểm được tiến hành sử dụng phần mềm RDSAT Phiên bản mới nhất của RDSAT chưa cho phép tính toán giá trị trung bình, trung

vị hoặc hồi quy tuyến tính đơn và đa biến số

Phân tích số liệu thu thập sử dụng phương pháp chọn mẫu chùm hoặc chọn mẫu toàn bộ: Phần mềm

STATA 8.2 được dùng để phân tích các bộ số liệu này Phân tích mô tả hoặc tương quan được thực hiện dựa trên chiến lược phân tích được phát triển bởi nhóm nghiên cứu Phân tích hồi quy logistic

đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan tới tình trạng nhiễm HIV, sau khi hiệu chỉnh cho các yếu tố nhiễu tiềm tàng

8 Các vấn đề về đạo đức nghiên cứu

Sự tham gia của tất cả các đối tượng vào nghiên cứu hoàn toàn mang tính tự nguyện Tầm quan trọng của việc tự nguyện chấp thuận tham gia nghiên cứu được nhấn mạnh tại các buổi tập huấn cho cán bộ tại thực địa Tuyệt đối giữ bí mật thông tin về người tham gia nghiên cứu cũng được nhấn mạnh trong toàn bộ quá trình Không có thông tin nào về tên tuổi và địa chỉ của người tham gia nghiên cứu được ghi nhận lại

Đề cương nghiên cứu, bộ câu hỏi và bản chấp thuận tham gia nghiên cứu cho các nhóm quần thể nghiên cứu được Ban xét duyệt đạo đức nghiên cứu, Viện VSDTTW, Bộ Y tế Việt Nam và Uỷ ban bảo

vệ quyền con người của tổ chức FHI đồng phê duyệt

Trang 22

Các thủ tục cơ bản sau đây được tiến hành nhằm bảo vệ người tham gia nghiên cứu trong trường hợp

có những ảnh hưởng không mong muốn từ nghiên cứu:

– Các buổi thảo luận với chủ lao động (chẳng hạn như chủ quán bar, Karaoke) nhằm làm rõ mục đích nghiên cứu Điều tra viên không thu thập thông tin cá nhân người tham gia và điền vào bất kỳ biểu mẫu số liệu nào, không có thông tin nào được cung cấp cho chủ lao động và sự tham gia là hoàn toàn tự nguyện Điều tra viên tuyệt đối không can thiệp ảnh hưởng tới việc tuyển dụng của chủ lao động

– Thông tin về nghiên cứu được chuyển tải tới quần thể nghiên cứu thông qua các tổ chức, qua các buổi làm việc trực tiếp với các nhóm, tổ chức các buổi giáo dục tại nơi làm việc hoặc thông qua các đồng đẳng nhằm thông báo trước khi tuyển chọn người tham gia nghiên cứu Tại những buổi thảo luận, các vấn đề có liên quan đến nghiên cứu được đưa ra giải thích và trả lời rõ ràng

– Trước khi tuyển chọn, cán bộ nghiên cứu giải thích cho những người có đủ điều kiện, được chọn tham gia nghiên cứu các thủ tục nghiên cứu một cách chi tiết và trả lời tất cả các câu hỏi thắc mắc của họ Cán bộ nghiên cứu luôn nhấn mạnh rằng nếu người tham gia quyết định thôi không tham gia nghiên cứu nữa, quyết định đó không hề ảnh hưởng tới các dịch vụ mà họ đang được các tổ chức hay phòng khám cung cấp Chữ ký của người làm chứng, và chữ ký của cán bộ nghiên cứu cùng được thu thập trong thoả thuận tham gia nghiên cứu

– Đây là nghiên cứu vô danh Không có tên hoặc đặc điểm nhận dạng cá nhân nào được thu thập Tất cả các bộ câu hỏi và các mẫu bệnh phẩm sinh học đều được dán mã số nghiên cứu riêng Người tham gia nghiên cứu được phát một phiếu hẹn mang mã số riêng của

họ và họ dùng phiếu này để nhận kết quả xét nghiệm, tư vấn cá nhân, chữa STI miễn phí

Do không có các đặc điểm nhận dạng nên không thể xác định ai có xét nghiệm dương tính hoặc xác định ai tham gia và ai không tham gia vào nghiên cứu Tại thời gian và địa điểm nhất định, người tham gia đến để nhận kết quả xét nghiệm sử dụng phiếu hẹn trả kết quả

– Các cán bộ địa phương và trung ương theo dõi chặt chẽ quá trình thực hiện và hoàn thành thoả thuận tham gia nghiên cứu

Trang 23

KẾt quẢ

1 Đặc điểm các nhóm quần thể nghiên cứu

Một số đặc điểm cơ bản của các nhóm quần thể nghiên cứu được trình bày trong bảng 4, 5, 6 và 7 dưới đây Chi tiết hơn có thể tìm thấy trong bảng 9 Phụ lục I, bảng 18 Phụ lục II, bảng 26 Phụ lục III, bảng 34 Phụ lục IV

Độ tuổi trung bình của PNMD khoảng 30 đối với MDĐP và trẻ hơn trong nhóm MDNH, tuy nhiên sự khác biệt không lớn Khoảng 50% số MDNH ở Hải Phòng, Quảng Ninh và Đà Nẵng trên 30 tuổi, có thể do họ đã có khoảng thời gian hành nghề mại dâm lâu hơn các MDNH ở các tỉnh khác Khác biệt không lớn trong một số đặc điểm của MDĐP và MDNH có thể do sự di chuyển giữa hai nhóm như đã nêu trong phần phương pháp

Trung bình, PNMD hành nghề tại các tỉnh, thành phố trong nghiên cứu được hơn 2 năm trừ TP HCM

và Cần Thơ, nơi có khoảng 50% MDNH có thời gian hành nghề ngắn hơn (bảng 5 và 6)

Đa số MSM ở độ tuổi dưới 25 (77,4% ở Hà Nội và 58,6 ở TP HCM) 35,3% MSM ở Hà Nội là sinh viên Hầu hết MSM ở Hà Nội tự nhận định họ là “Bóng kín” (86,8%), cao hơn so với TP HCM (54,5%) Đáng lưu ý

là những MSM tự cho bản thân là những “Nam giới bình thường” có chiều hướng bán dâm nhiều hơn những nhóm MSM khác trên địa bàn nghiên cứu (bảng 7)

Trang 25

“Bóng kín” là những người MSM có vẻ ngoài là nam giới

2 tỷ lệ hiện nhiễm hiV và Sti trong các nhóm quần thể nghiên cứu

2.1 tỷ lệ hiện nhiễm hiV

Tỷ lệ hiện nhiễm HIV rất cao trong nhóm NCMT tại Hải Phòng và Quảng Ninh (65,5% và 58,7%) Khoảng 24% tới 36,6% người NCMT đã nhiễm HIV tại các tỉnh Hà Nội, TP HCM và Cần Thơ Tỷ lệ hiện nhiễm trong những người NCMT thấp nhất được ghi nhận tại Đà Nẵng với 1,9% trong số họ đã nhiễm HIV (Biểu đồ 1) Tại TP HCM, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT là 34% và kết quả này thấp hơn kết quả giám sát trọng điểm (xấp xỉ khoảng 60%) vào năm 2005 Tuy nhiên, sự khác biệt này cần được phiên giải một cách thận trọng do tại TP HCM, một số lượng lớn những người NCMT đang ở trong các trung tâm 06 tại thời điểm nghiên cứu Tỷ lệ hiện nhiễm HIV đo lường trong các trung tâm 06 có thể rất khác so với tỷ lệ đo lường trong cộng đồng Người NCMT tại TP HCM trong nghiên cứu này ở

Trang 26

độ tuổi trẻ và có thời gian tiêm chích ngắn (sẽ được đề cập chi tiết trong phần sau), do đó tỷ lệ hiện nhiễm HIV có thể không phản ánh tỷ lệ hiện nhiễm trong quần thể lớn tuổi hơn, có thời gian tiêm chích dài hơn, như kết quả giám sát trọng điểm, hoặc một số nghiên cứu được thực hiện trước đây.

Biểu đồ : Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT: rất cao tại Hải Phòng à Quảng Ninh, cao tại Hà Nội, TP HCM, Cần Thơ, An Giang à thấp tại Đà Nẵng.

0

Tỷ lệ hiện nhiễm cao nhất trong nhóm MDĐP được phát hiện ở Hà nội Cần Thơ, hơn 20% Tỷ lệ nhiễm HIV trên 10% trong nhóm MDĐP ở Quảng Ninh và TP HCM (Biểu đồ 2) Tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm quần thể này cao hơn so với kết quả thu được từ giám sát trọng điểm năm 2005, đặc biệt là ở Hà Nội

29,0

6,0

11,11,0

0,64,3

12,45,1

7,29,4

22,6

20

Trang 27

Đây là lần đầu tiên tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM ở Hà Nội được đo lường, với khoảng trên 9% dương tính với HIV Tỷ lệ này ở TP HCM là 5,3% (Biểu đồ 3), phần nào thấp hơn kết quả từ một nghiên cứu được thực hiện năm 20044, mặc dù sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Sự khác biệt về

tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM giữ Hà Nội và TP HCM cũng không có ý nghĩa thống kê

2.2 tỷ lệ hiện nhiễm Sti

Biểu đồ : Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM: ,% ở Hà Nội à ,% ở TP HCM

0

Biểu đồ : Tỷ lệ hiện nhiễm giang mai trong nhóm NCMT, PNMD à MSM

5,4

2,4 9,1

1,7 0,9 5,6

0,3 2,7

5,5 5,87,3

3,0

0,6 0,5

0,6 0,5

0,1

2

0

Trang 28

PNMD tại các tỉnh phía nam có tỷ lệ nhiễm giang mai cao hơn các nhóm quần thể khác trong nghiên cứu Tỷ lệ giang mai cao nhất trong nhóm MDĐP tại TP HCM với 9% những người được xét nghiệm cho kết quả dương tính Tỷ lệ hiện nhiễm giang mai trong nhóm MDNH tại TP HCM cũng khá cao với hơn 7% số PNMD hiện nhiễm Tỷ lệ hiện nhiễm giang mai thấp trong nhóm MSM tại Hà Nội và TP HCM (Biểu đồ 4)

Biểu đồ : Tỷ lệ hiện nhiễm lậu à chlamydia trong nhóm PNMD (tại Hà Nội à TP HCM)

8,5

4

0

Lậu Chlamydia

Biểu đồ : Tỷ lệ hiện nhiễm lậu à chlamydia trong nhóm MSM

Lậu sinh dục Chlamydia sinh dục Lậu trực tràng Chlamydia trực tràng

5,04

0

Hà Nội TP HCM

Trang 29

Tại Hà Nội và TP HCM, tỷ lệ hiện nhiễm lậu trong nhóm PNMD thấp hơn 3%, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm chlamydia cao hơn rất nhiều lần, từ 6,4% trong nhóm MDĐP tại TP HCM tới 17,5% trong nhóm MDĐP tại Hà Nội Tại TP HCM, tỷ lệ nhiễm lậu và chlamydia trong nhóm MDNH cao hơn so với MDĐP (Biểu đồ 5)

Khác với giang mai, lậu và chlamydia trong nhóm MSM là những vấn đề đáng quan tâm với tỷ lệ hiện nhiễm chlamydia sinh dục và lậu trực tràng khá cao Tỷ lệ hiện nhiễm cao nhất là lậu trực tràng trong nhóm MSM tại Hà Nội với hơn 10% MSM dương tính với xét nghiệm PCR Cũng trong nhóm này, tỷ

lệ nhiễm chlamydia sinh dục là 7,6 % Tỷ lệ hiện nhiễm STI trong nhóm MSM Hà Nội cao hơn so với MSM tại TP HCM (Biểu đồ 6)

3 hành vi nguy cơ của các nhóm quần thể nghiên cứu

3.1 người nghiện chích ma túy

Dưới đây là những chỉ số chính đo lường hành vi nguy cơ trong nhóm người NCMT bao gồm hành vi liên quan đến tiêm chích ma túy và QHTD Số liệu chi tiết về các chỉ số hành vi và sinh học trong nhóm NCMT được trình bày trong Phụ lục I

15% hoặc ít hơn (trong khoảng từ 12-15%) số người NCMT ở Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh báo cáo có dùng chung BKT trong 6 tháng trước cuộc điều tra Tỷ lệ dùng chung BKT trong khoảng thời gian 6 tháng cao hơn tại Đà Nẵng, TP HCM, Cần Thơ và An Giang, khoảng 25% – 37% (Biểu đồ 7) Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ dùng chung BKT trong nhóm NCMT rất cao, đặc biệt là ở các tỉnh miền nam Đáng lưu ý là mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV tại các tỉnh miền Nam thấp hơn các tỉnh miền Bắc, song với một tỷ lệ hành vi nguy cơ cao như vậy, tỷ lệ nhiễm HIV sẽ tăng nhanh trong một thời gian ngắn, tương tự như tỷ lệ nhiễm HIV ở Hải Phòng và Quảng Ninh Chi tiết về hành vi tiêm chích trong nhóm NCMT được trình bày rõ hơn trong bảng 11, Phụ lục I

Biểu đồ : Tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT trong òng  tháng à  tháng trước cuộc điều tra: Dùng chung BKT phổ biến hơn tại các tỉnh phía nam so ới các tỉnh phía bắc.

Dùng BKT đã sử dụng trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra

Đưa BKT đã sử dụng cho người khác trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra

Trang 30

Biểu đồ 8 cho thấy số người mà một người NCMT dùng chung BKT trong lần tiêm chích lần cuối cùng trước cuộc điều tra Ở các tỉnh miền Nam, hơn một nửa số người NCMT báo cáo có hành vi dùng chung BKT trong lần tiêm chích gần nhất, đã dùng chung với hơn một người Tần suất tiêm chích cao (phần lớn người NCMT tiêm chích khoảng 2 – 3 lần trong một ngày), dùng chung BKT với nhiều người

là những yếu tố dự báo dự báo số người NCMT nhiễm HIV sẽ tăng nhanh nếu không triển khai các can thiệp hiệu quả trong thời gian tới

Biểu đồ : Số người NCMT dùng chung BKT khi tiêm chích, trong số những người NCMT báo cáo có dùng chung BKT lần tiêm chích gần nhất.

33 67

Biểu đồ : Tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT trong  tháng truớc cuộc điều tra theo thời gian tiêm chích: người NCMT có hành i nguy cơ ngay sau khi bắt đầu tiêm chích.

20

NCMT có thời gian tiêm chích ít hơn 1 năm NCMT có thời gian tiêm chích 1 năm hoặc lâu hơn

Trang 31

Khoảng một nửa số người NCMT bắt đầu dùng ma túy trước tuổi 20 Tại TP HCM, Cần Thơ và An Giang, khoảng 1/5 số người NCMT có thời gian tiêm chích ma tuý ít hơn 1 năm Biểu đồ 9 cho thấy không có sự khác biệt trong các hành vi nguy cơ khi tiêm chích giữa những người mới tiêm chích với những người

có thời gian tiêm chích dài hơn (tiêm chích chưa đến một năm và từ một năm trở lên) Điều này có nghĩa

là ngay từ khi mới chích, họ đã đối diện với nguy cơ nhiễm HIV do hành vi dùng chung BKT

Trong nhóm người NCMT, dùng chung BKT và dụng cụ tiêm chích không phải là những hành vi nguy

cơ duy nhất, hành vi tình dục của những người NCMT cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ Khoảng 70% hoặc hơn người NCMT có QHTD với bạn tình nữ trong 12 tháng trước cuộc điều tra tại nhiều tỉnh, thành phố (Biểu đồ 10) Tình dục mại dâm phổ biến hơn tại khu vực phía Nam với khoảng 30% hoặc hơn người NCMT ở Đà Nẵng, TP HCM, Cần Thơ và An Giang báo cáo có quan hệ với PNMD trong khoảng thời gian như trên Các số liệu về hành vi tình dục của nhóm NCMT có thể tìm trong bảng 12, 13, Phụ lục I

Biểu đồ 0: Tỷ lệ người NCMT có QHTD ới bạn tình nữ: Nhiều người NCMT có QHTD ới cả BTTX (ợ hoặc bạn gái) à PNMD.

50 39

ở các tỉnh miền Bắc Chưa đến 50% người NCMT tại các tỉnh, thành phố này báo cáo thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với PNMD (Biểu đồ 12)

Trang 32

Mức độ sử dụng BCS đặc biệt thấp trong số những người NCMT đã nhiễm HIV, và rất nhiều người trong số này không biết tình trạng nhiễm của họ Ví dụ, gần 1/3 (31,3%) người NCMT tại Hà Nội, gần một nửa (45%) tại An Giang có QHTD không an toàn với BTTX Tỷ lệ người NCMT đã nhiễm HIV có QHTD không an toàn với PNMD thấp hơn, tuy nhiên vẫn khá cao, đặc biệt tại An Giang (Biểu đồ 13).

Biểu đồ : Sử dụng BCS khi QHTD ới PNMD của nhóm NCMT trong  tháng qua.

7981

91

7284

5259

40

253236

47

2934

16

33

20

0

Trang 33

Biểu đồ : Hành i tình dục không an toàn trong nhóm NCMT đã nhiễm HIV tại một số tỉnh, thành phố: Nhiều người NCMT đã nhiễm HIV có QHTD không an toàn ới bạn tình của họ trong òng  tháng trước cuộc điều tra.

Dưới đây là những chỉ số chính về hành vi trong nhóm PNMD bao gồm hành vi nguy cơ trong QHTD

và tiêm chích ma tuý Số liệu chi tiết được trình bày trong Phụ lục II và Phụ lục III

Biểu đồ : Tổng số khách hàng của một PNMD trong tuần trước cuộc điều tra: PNMD ở Hải Phòng, Cần Thơ à

An Giang có nhiều khách hàng hơn PNMD tại các tỉnh, thành phố khác.

3,8

7,9

4,95,1

2,8

4,13,6

4,0

7,18,9

5,25,6

2

0

Trang 34

Tần suất bán dâm của nhóm PNMD ở Hải Phòng, Cần Thơ và An Giang cao hơn các nơi khác, trung bình một ngày đêm một PNMD tiếp một khách hàng Ở các tỉnh khác, đặc biệt là ở Đà Nẵng và Quảng Ninh, một PNMD trung bình có khoảng 4 khách hàng trong một tuần (Biểu đồ 14) Chỉ số này có thể thấp hơn thực tế do những sai số hồi tưởng và sai số báo cáo Số liệu về số lượng khách hàng của PNMD có thể tìm thêm trong bảng 19, Phụ lục II và bảng 27 Phụ lục III.

Biểu đồ : Tỷ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất ới khách lạ trong nhóm PNMD: hơn 0% PNMD báo cáo dùng BCS trong lần QHTD gần nhất

9798

67

Sử dụng BCS thường xuyên Sử dụng BCS không thường xuyên

Trang 35

Phần lớn PNMD báo cáo có sử dụng BCS với khách hàng trong lần QHTD gần nhất Hơn 90% PNMD bao gồm cả MDĐP và MDNH báo cáo sử dụng BCS trong lần QHTD lần gần nhất với khách lạ (Biểu

đồ 15) Tỷ lệ dùng BCS trong lần QHTD gần nhất với khách quen cũng rất cao (hơn 85%, trừ MDNH ở Quảng Ninh) (Bảng 20, Phụ lục II và bảng 28, Phụ lục III) Tuy nhiên, cần lưu ý là các câu hỏi về sử dụng BCS thường có nhiều sai số do người được hỏi thường có xu hướng che dấu những hành vi không an toàn (không sử dụng BCS)

Tuy nhiên, tỷ lệ PNMD thường xuyên sử dụng BCS thấp hơn rất nhiều và có sự khác biệt giữa các tỉnh, thành phố trong nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 56% và 62% PNMD ở Hà Nội, Hải Phòng báo cáo sử dụng BCS thường xuyên khi quan hệ với khách làng chơi (bao gồm cả khách lạ và khách quen) trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra Chỉ số này vào khoảng 60 – 70% (tương ứng với nhóm MDĐP và MDNH) tại TP HCM và khoảng 80% tại Cần Thơ và An Giang Tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS thấp nhất ghi nhận được trong nhóm PNMD (cả nhóm MDĐP và MDNH) tại Quảng Ninh (Biểu đồ 16)

Tỷ lệ PNMD thường xuyên sử dụng BCS với BTTX rất thấp Tỷ lệ này cao nhất tại An Giang với 51% MDĐP và 45% MDNH báo cáo thường xuyên sử dụng BCS với chồng, bạn trai của họ (Biểu đồ 17) PNMD cho biết cả BTTX và khách làng chơi có tiêm chích ma túy (biểu đồ 18) Tỷ lệ này đặc biệt cao tại Quảng Ninh với khoảng 1/4 (25%) phụ nữ MDĐP có quan hệ với khách hàng là những người tiêm chích ma tuý (Biểu đồ 18) Do PNMD không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với BTTX, HIV sẽ lây truyền nhanh chóng giữa hai nhóm quần thể nguy cơ cao này PNMD ở Hà Nội là một ví dụ:5 PNMD

có QHTD với BTTX là người nghiện chích ma túy dường như có khả năng nhiễm nhiều gấp 4 lần so với PNMD khác

Biểu đồ : Tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên ới BTTX: Tỷ lệ PNMD báo cáo thường xuyên sử dụng BCS

2619

Trang 36

Tương tự các nhóm quần thể nguy cơ cao khác, hành vi nguy cơ của nhóm PNMD không chỉ bao gồm hành vi tình dục, mà còn liên quan đến sử dụng ma tuý Biểu đồ 19 cho thấy tỷ lệ PNMD đã từng tiêm chích ở mỗi tỉnh Tỷ lệ PNMD tiêm chích ma tuý cao nhất tại Hà Nội và Cần Thơ với khoảng 17% MDĐP báo cáo đã từng tiêm chích ma túy

Có sự liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ nghiện chích ma túy và tỷ lệ nhiễm HIV của PNMD: tỷ lệ nhiễm HIV

tỷ lệ thuận với tỷ lệ PNMD tiêm chích ma túy Hà Nội và Cần Thơ có tỷ lệ PNMD tiêm chích cao hơn, tỷ

lệ nhiễm HIV tại hai thành phố này cũng cao hơn so với các tỉnh, thành khác (Biểu đồ 20)

Biểu đồ : Tỷ lệ PNMD báo cáo có QHTD ới khách hàng à BTTX là những người tiêm chích ma tuý.

khách hàng NCMT

QHTD với bạn tình thường xuyên NCMT

16

725

17

2

65

74

Trang 37

Biểu đồ 0: Quan hệ giữa tiền sử tiêm chích ma túy à tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm PNMD: Thành phố có tỷ lệ MDĐP báo cáo nghiện chích cao, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này tại thành phố đó sẽ rất cao.

khả năng nhiễm HIV nhiều hơn so ới nhóm PNMD chưa từng tiêm chích.

Các nhóm PNMD Tỷ suất chênh (OR) Khoảng tin cậy (CI) 95%

TP HCM (Tỷ suất chênh OR= 12,6 và 8,9), và MDĐP ở Cần Thơ (Tỷ suất chênh OR=10,2) (Bảng 8) Sự kết hợp chặt chẽ giữa hai yếu tố trên, song không có ý nghĩa thống kê được phát hiện trong nhóm MDNH ở Hà nội, MDĐP và MDNH ở An Giang

6

Hiệu chỉnh cho độ tuổi, trình độ học vấn, khoảng thời gian hành nghề, số ngày hành nghề trong tháng, số khách hàng, tiêm chích ma túy trong các bạn tình, và mức độ sử dụng BCS

Trang 38

Một trong những lý do giải thích về mối liên hệ chặt chẽ giữa nghiện chích ma túy và tình trạng nhiễm HIV là hành vi dùng chung BKT trong nhóm PNMD: 20% đến 30% MDĐP nghiện chích ma túy báo cáo

có hành vi dùng chung BKT trong 6 tháng qua trước khi điều tra Tỉ lệ này trong nhóm PNMD nghiện chích ma túy thậm chí còn cao hơn so với nhóm nam giới nghiện chích ma túy, được trình bày trong biểu đồ 21

Biểu đồ : Tỷ lệ MDĐP NCMT à nam NCMT báo cáo dùng chung BKT trong  tháng trước cuộc điều tra: Tỷ lệ MDĐP NCMT báo cáo có hành i tiêm chích không an toàn cao hơn so ới nam giới NCMT

3.3 nam quan hệ tình dục đồng giới

Dưới đây là những chỉ số hành vi nguy cơ chính trong nhóm MSM Các chỉ số hành vi và sinh học của nhóm MSM được trình bày chi tiết trong Phụ lục IV

MSM có QHTD với nhiều bạn loại bạn tình khác nhau, bao gồm những MSM khác (trong đó có “Bóng lộ” và “ Bóng kín”), bạn tình nữ giới (trong đó có PNMD) Nghiên cứu này cho thấy, 99,5% MSM ở TP HCM và 64,1% MSM ở Hà Nội báo cáo có quan hệ với bạn tình nam giới trong 1 tháng trước cuộc điều tra Nhiều MSM có quan hệ với hơn 3 bạn tình một tháng, đặc biệt là những MSM có bán dâm Thông tin về số lượng và loại bạn tình được trình bày trong Bảng 36, Phụ lục IV

Biểu đồ 22 dưới đây cho thấy tỷ lệ MSM có QHTD và QHTD hậu môn với ba loại bạn tình nam giới: khách hàng trả tiền, nam mại dâm và các bạn tình nam thường xuyên 22% MSM ở Hà Nội và 41% MSM ở TP HCM báo cáo có QHTD nhận tiền trong một tháng trước cuộc điều tra và phần lớn có QHTD hậu môn với khách hàng nam giới

Trang 39

Những thông tin định tính thu thập sau điều tra cho thấy nhiều MSM không cho rằng “nhận tiền khi QHTD” có nghĩa là mại dâm Theo họ, số tiền này được hiểu là “quà tặng” sau khi QHTD với một MSM

và không có sự mặc cả Cả người trả tiền và người nhận tiền đều không tự cho mình là người mua dâm và người bán dâm MSM cho rằng, tình dục mại dâm có nghĩa là phải có sự mặc cả, và với những người bán dâm trên đường phố

Không chỉ QHTD với bạn tình nam giới, khoảng 40% số MSM có quan hệ với bạn tình nữ giới trong 12 tháng qua trước điều tra (bảng 37, Phụ lục IV) Đặc biệt, MSM báo cáo có QHTD nhận tiền với bạn tình nam giới lại có xu hướng có QHTD với PNMD nhiều hơn 28% MSM ở TP HCM có QHTD nhận tiền với bạn tình nam giới đồng thời có QHTD với PNMD, so với 6% trong số MSM không QHTD nhận tiền với bạn tình nam giới có QHTD với PNMD (Biểu đồ 23) Nhóm MSM có thể được coi là mại dâm nam (bán dâm cho bạn tình nam giới) và đồng thời là khách hàng nam giới của PNMD

Thêm vào đó, MSM có QHTD nhận tiền với bạn tình nam giới dường như có xu hướng tiêm chích ma tuý nhiều hơn MSM không QHTD nhận tiền (Biểu đồ 24)

Biểu đồ : Bạn tình nam giới trong nhóm MSM: Nhiều MSM báo cáo có quan hệ mại dâm à QHTD hậu môn trong tháng trước cuộc điều tra.

51

459

0

Trang 40

MSM thường ít sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình Các chỉ số về sử dụng BCS được đo lường với 3 loại bạn tình: khách hàng (bạn tình nam có trả tiền), MDN (những người MSM phải trả tiền khi QHTD), và BTTX (không có sự trao đổi tiền bạc) Tỷ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD hậu môn gần nhất với bạn tình nam giới cao nhất khi MSM có QHTD với BTTX (nam giới) tại Hà Nội và khách hàng nam giới ở TP HCM, trên 70% (Biểu đồ 25) Tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên với bạn tình nam giới trong vòng 1 tháng

Biểu đồ : Tỷ lệ MSM có QHTD ới PNMD: MSM có QHTD nhận tiền ới bạn tình nam giới có xu hướng QHTD ới PNMD nhiều hơn.

Ngày đăng: 12/03/2013, 13:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng : Khu ực tuyển chọn người tham gia nghiên cứu - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Khu ực tuyển chọn người tham gia nghiên cứu (Trang 13)
Bảng : Cỡ mẫu nghiên cứu được thu thập. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Cỡ mẫu nghiên cứu được thu thập (Trang 14)
Bảng : Đặc điểm của nhóm NCMT. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Đặc điểm của nhóm NCMT (Trang 23)
Bảng : Đặc điểm nhóm MDNH. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Đặc điểm nhóm MDNH (Trang 24)
Bảng : Đặc điểm nhóm MDĐP. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Đặc điểm nhóm MDĐP (Trang 24)
Bảng : Đặc điểm nhân khẩu - xã hội của người NCMT. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Đặc điểm nhân khẩu - xã hội của người NCMT (Trang 54)
Bảng 0: Đặc điểm sử dụng ma tuý trong nhóm NCMT. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
Bảng 0 Đặc điểm sử dụng ma tuý trong nhóm NCMT (Trang 55)
Bảng : Tỷ lệ hiện nhiễm HIV à Giang mai trong nhóm NCMT. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Tỷ lệ hiện nhiễm HIV à Giang mai trong nhóm NCMT (Trang 60)
Bảng : Đặc điểm nhân khẩu-xã hội của phụ nữ MDĐP. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Đặc điểm nhân khẩu-xã hội của phụ nữ MDĐP (Trang 61)
Bảng : Số lượng các loại bạn tình của phụ nữ MDĐP. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Số lượng các loại bạn tình của phụ nữ MDĐP (Trang 62)
Bảng : Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) tự báo cáo trong nhóm phụ nữ MDĐP. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) tự báo cáo trong nhóm phụ nữ MDĐP (Trang 63)
Bảng : Hành i sử dụng à tiêm chích ma tuý trong nhóm phụ nữ MDĐP. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Hành i sử dụng à tiêm chích ma tuý trong nhóm phụ nữ MDĐP (Trang 64)
Bảng : Tiếp cận ới các chương trình can thiệp phòng chống HIV trong nhóm phụ nữ MDĐP. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Tiếp cận ới các chương trình can thiệp phòng chống HIV trong nhóm phụ nữ MDĐP (Trang 65)
Bảng : Tỉ lệ hiện nhiễm HIV à STI trong nhóm phụ nữ MDĐP. - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Tỉ lệ hiện nhiễm HIV à STI trong nhóm phụ nữ MDĐP (Trang 66)
Bảng : Tiếp cận ới các chương trình can thiệp phòng chống HIV trong nhóm phụ nữ MDĐP (tiếp). - Kết Quả Chương Trình Giám Sát Kết Hợp Hành Vi Và Các Chỉ Số Sinh Học HIV/STI (IBBS) Tại Việt Nam 2005-2006
ng Tiếp cận ới các chương trình can thiệp phòng chống HIV trong nhóm phụ nữ MDĐP (tiếp) (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w