Xây Dựng Gia Đình Luyện Tập TDTT Giải Pháp Chiến Lược Của TDTT Cho Mọi Người Ở Việt Nam
Trang 1THỂ THAO CHO MỌI NGƯỜI
-
XÂY DỰNG “GIA ĐÌNH LUYỆN TẬP
TDTT” GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC CỦA
TDTT CHO MỌI NGƯỜI Ở VIỆT NAM
TS Lê Anh Th ơ
V ụ Trưởng Vụ TDTT Quần chúng
T ổng cục Thể dục thể thao
I Đặt vấn đề:
Chiến lược xây dựng Gia đình Việt Nam
giai đoạn 2005 – 2010 khẳng định rằng: “Gia
đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nịi
giống, là mơi trường quan trọng hình thành,
nuơi dưỡng và giáo dục nhân cách con người,
bảo tồn và phát huy văn hố truyền thống tốt
đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân
lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc… Gia đình là một trong những nhân tố
quan trọng quyết định sự phát triển bền vững
của xã hội, sự thành cơng của sự nghiệp cơng
nghiệp hố, hiện đại hố đất nước và xây dựng
Chủ nghĩa xã hội Xây dựng gia đình Việt Nam
ít con (mỗi cặp vợ chồng cĩ một hoặc hai con),
no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc là động
lực của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
trong thời kỳ cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất
nước”
Luật Thể dục thể thao năm 2006 quy
định:(1) Thể dục thể thao cho mọi người là hoạt
động tập luyện, biểu diễn, thi đấu thể thao của
tất cả mọi người trong cộng đồng, bao gồm:
Các đối tượng quần chúng nhân dân, học sinh,
sinh viên trong nhà trường và cán bộ chiến sỹ
lực lượng vũ trang trong quân đội nhân dân và
cơng an nhân dân Đây là các đối tượng hoạt
động nghiệp dư trong lĩnh vực thể dục thể thao
(Theo khái niệm của các nước đây chính là
Sport For All)
II Nội dung chủ yếu của “Xây dựng gia
đình luyện tập TDTT”:
Mục tiêu – Phương tiện và hình thức của
thể thao cho mọi người:
- Mục tiêu của thể thao cho mọi người là
hình thành thĩi quen rèn luyện thân thể suốt
đời, nhằm củng cố và nâng cao sức khoẻ, phát
triển thể chất, kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất
lượng cuộc sống; đáp ứng nhu cầu vận động,
vui chơi, giải trí, giao lưu văn hố của các tổ
chức và cá nhân trong xã hội, gĩp phần đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp Cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước với phương châm
“Dân c ường thì quốc thịnh” và với khẩu hiệu
“Kho ẻ để xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
− Phương tiện của thể thao cho mọi người
là các bài tập thể dục, trị chơi vận động, các mơn thể thao dân tộc, thể thao giải trí và thể thao Olympic, phương pháp của thể thao cho mọi người là rèn luyện thường xuyên, trong điều kiện lành mạnh của tự nhiên (nước, ánh sáng, khơng khí) Nội dung hoạt động của thể thao cho mọi người được xây dựng phù hợp với từng đối tượng, bao gồm: trẻ em, thanh thiếu niên, phụ nữ, người lao động, người cao tuổi, người khuyết tật, người cĩ bệnh (thể dục chữa bệnh), trẻ em hồn cảnh đặc biệt (lang thang, cơ nhỡ, mồ cơi), các phạm nhân (trong nhà tù, trại giáo dưỡng…)
− Hình thức hoạt động của thể thao cho mọi người bao gồm: phát động phong trào, tổ chức thi đấu (giải từng mơn và Hội thi, ngày hội với nhiều mơn thể thao), kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể (theo độ tuổi và giới tính), tơn vinh các danh hiệu (người tập luyện thường xuyên, gia đình văn hố, làng văn hố, tổ dân phố văn hố thể thao; cơ quan, đơn vị tiến tiến
về thể dục thể thao) và các hình thức khác (như ngày chạy Olympic, ngày hội văn hố thể thao, tháng thể thao cho mọi người, năm quốc tế về giáo dục thể chất và thể thao học đường; Mơ hình đặc trưng của thể thao cho mọi người là
câu lạc bộ (trong đĩ cĩ CLB thể thao gia đình)
Một trong những chỉ tiêu cơ bản của TDTT cho mọi người là tỷ lệ gia đình luyện tập TDTT trong tổng số hộ gia đình ở mỗi địa phương
Đặc điểm của gia đình luyện tập TDTT:
Tính chung trong cả nước năm 1995 cĩ 6.1% dân số là người tập luyện thường xuyên
và 2.2% số hộ gia đình là gia đình thể thao Hai chỉ tiêu này năm 2000 lần lượt là 12.46% và 5.5%; năm 2005 là 19.9% và 11.2%; năm 2008
là 22.4% và 15.6% Nhịp tăng trung bình hàng năm từ 1.3% đến 1.6% Điều này là phù hợp với nhịp tăng trưởng kinh tế và mức sống của từng hộ gia đình
Trang 2THỂ THAO CHO MỌI NGƯỜI
-
Trong mỗi gia đình (một hoặc nhiều thế
hệ) thì từng thành viên đều là đối tượng của
TDTT cho mọi người (và cả thể thao thành tích
cao) Sở dĩ như vậy là vì:
+ Thành viên nhỏ nhất trong gia đình là
trẻ em thanh thiếu niên học sinh cũng đã được
chơi các trị chơi vận động, các hoạt động vui
chơi trong các trường mẫu giáo, nhà trẻ; Khi
vào tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thơng rồi đại học, trung học chuyên nghiệp, dạy
nghề, ở đâu cũng cĩ hệ thống giáo dục thể chất
nội khố (2 tiết học thể dục/1tuần) và các hoạt
động thể thao ngoại khố (hội khoẻ phù đổng,
giải thể thao từng mơn, câu lạc bộ thể thao tự
chọn trong trường học…) Trẻ em, học sinh cĩ
năng khiếu thì được tuyển chọn vào các trường,
lớp phổ thơng năng khiếu thể thao (từ cấp
huyện trở lên) để đào tạo thành các vận động
viên thể thao
+ Thành viên trong gia đình là người lớn
sẽ được tham gia các hoạt động thể thao ở cơ
quan, đơn vị hoặc nơi sinh sống Hàng năm
ngành TDTT đều tổ chức các giải thể thao quần
chúng từ Trung ương đến địa phương như: Thể
thao nơng dân, Thể thao trong cơng nhân viên
chức; Thể thao trong doanh nghiệp, doanh
nhân, Thể thao các ngành dọc như Giáo dục
đào tạo, Quân đội, Cơng an… Đặc biệt là hệ
thống thi đấu thể thao của người cao tuổi, với
các giải truyền thống như: Thể dục Dưỡng sinh,
Thái cực quyền, Bĩng chuyền hơi, Bĩng cửa,
Cầu lơng, Bĩng bàn, Bơi lội, Cờ tướng…; Các
thành viên gia đình là người khuyết tật cĩ hệ
thống thi đấu riêng và trải rộng tới các giải thể
thao khuyết tật ở Đơng Nam Á, Châu Á và Thế
giới
+ Một trong những hoạt động thể thao tiêu
biểu nhất cho mỗi gia đình hiện nay là: Hội thi
thể thao gia đình tồn quốc được tổ chức 2
năm/1 lần bắt đầu từ năm 2006 (trước đĩ là giải
Cầu lơng gia đình được tổ chức hàng năm) Hội
thi này tổ chức với 3 phần thi: Chạy tiếp sức gia
đình, Cầu lơng gia đình, Thi kiến thức gia đình
(về TDTT, về nuơi dạy con cái…) Đây thực sự
là sân chơi hấp dẫn đối với các gia đình ở Việt
Nam Trong định hướng tới, từ năm 2010 sẽ đề
nghị Lãnh đạo Bộ cho phép mở rộng phạm vi
thành Ngày hội Văn hố, Thể thao và Du lịch
các gia đình nhân ngày gia đình Việt Nam (28/6); sẽ tăng thêm các nội dung thi về văn hố thể thao và sẽ thi từ cấp xã, huyện, tỉnh đến tồn quốc
Vấn đề tơn vinh và các danh hiệu:
Tháng 3/2000 Ban bí thư TƯ Đảng và thường trực Chính phủ đã phê chuẩn đề nghị của Ban cán sự Đảng Uỷ ban TDTT (nay là Bộ Văn hố, Thể thao và Du lịch) cho phép phát động trong cả nước cuộc vận động “Tồn dân
rèn luy ện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”
Mục tiêu của cuộc vận động là làm cho mỗi người dân (khơng phân biệt lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ, chức vụ, thành thị hoặc nơng thơn, đồng bằng hay miền núi…) đều cĩ thĩi quen tập thể dục hàng ngày Khuyến khích mọi người tự chọn cho mình một mơn thể thao hoặc một hình thức rèn luyện thân thể nâng cao sức khỏe, thể lực phục vụ sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc
Ngày 26/3/2006, Bộ trưởng Bộ Văn hĩa Thơng tin (Nay là Bộ Văn hĩa, Thể thao và Du lịch) đã ký quyết định số 62/2006/QĐ-BVHTT
ban hành Quy chế cơng nhận “Gia đình văn hố”, “Làng v ăn hố”, “Tổ dân phố văn hố”
nhằm tơn vinh các đơn vị hành chính cấp cơ sở
ở mỗi địa phương đạt các chuẩn mực quy định
cụ thể là:
+ Làng văn hĩa, tổ dân phố văn hố là
một danh hiệu do Chủ tịch UBND cấp huyện cơng nhận cho địa phương nào khi đạt được 05 nhĩm tiêu chuẩn, Trong đĩ cĩ nhĩm tiêu chuẩn xây dựng đời sống văn hĩa tinh thần lành mạnh, phong phú với 06 nội dung, cụ thể là : Cĩ các thiết chế văn hĩa, thơng tin, thể thao, giáo dục,
y tế phù hợp và hoạt động thường xuyên; Cĩ nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và
lễ hội; Khơng cĩ người mắc tệ nạn xã hội; Cĩ
75% số hộ trở lên đạt danh hiệu “Gia đình văn hĩa”; Cĩ 100% trẻ trong độ tuổi đi học được đến trường và khơng để xảy ra dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm đong người
+ Gia đình văn hĩa là một danh hiệu do
Chủ tịch UBND cấp xã cơng nhận cho gia đình nào đạt được 03 nhĩm tiêu chuẩn Trong đĩ nhĩm tiêu chuẩn thứ 2 quy định: Gia đình sống hồ thuận, hạnh phúc, tiến bộ, thường xuyên tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng
Trang 3THỂ THAO CHO MỌI NGƯỜI
-
Trong nhĩm này ghi rõ một nội dung là : Các
thành viên trong gia đình thường xuyên tập
luy ện Thể dục thể thao
Ngày 17/3/2009 Bộ trưởng Bộ Văn hố,
Thể thao và Du lịch ban hành thơng tư số
02/2009/TT-BVHTTDL hướng dẫn việc tổ
chức và đánh giá phong trào TDTT quần chúng
tại địa phương Tại mục 3 phần I thơng tư này
quy định các biện pháp tổ chức hoạt động
TDTT quần chúng tại địa phương bao
gồm: Tuyên truyền phổ biến lợi ích, tác dụng
của TDTT; Vận động tồn dân rèn luyện thân
thể nâng cao sức khoẻ; Xây dựng gia đình văn
hố, làng v ăn hố, tổ dân phố văn hố; Hướng
dẫn người tập tại các cơ sở TDTT cơng lập và
ngồi cơng lập; Thành lập các câu lạc bộ thể
thao cơ sở, hội thể thao quần chúng tại các làng,
bản, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, trường học;
Khuyến khích các hoạt động phối hợp, liên kết
giữa văn hố, thể thao và du lịch và gia đình
theo chủ trương xã hội hố
Tại mục 1 và 3 phần II thơng tư này quy
định: Phong trào TDTT quần chúng tại địa
phương được đánh giá bằng 2 tiêu chí cơ bản
(t ỷ lệ người luyện tập TDTT thường xuyên trên
t ổng dân số và tỷ lệ gia đình luyện tập TDTT
trên t ổng số hộ gia đình) Người luyện tập
TDTT thường xuyên là người mỗi tuần ít nhất
ba lần, mỗi lần ít nhất 30 phút, trong thời gian
liên tục tối thiểu 6 tháng trong một năm thường
xuyên rèn luyện sức khoẻ bằng các phương
tiện, phương pháp của TDTT Gia đình luyện
t ập TDTT là gia đình cĩ ít nhất 50% số thành
viên đại diện các thế hệ trong gia đình đĩ là
người luyện tập TDTT thường xuyên Gia đình
luyện tập TDTT khơng phải là danh hiệu mà chỉ
là một trong những tiêu chuẩn của danh hiệu
“Gia đình văn hố”
III Kết luận:
Thực hiện các văn bản nĩi trên, hiện nay,
cơ quan Văn hố, Thể thao ở mỗi địa phương
đều tổ chức, hướng dẫn phong trào “Tồn dân
rèn luy ện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”
với nhiều nội dung hoạt động phong phú từ thể
dục buổi sáng đến thể thao buổi chiều trong mỗi
cơ quan đơn vị, địa bàn dân cư và trong mỗi gia
đình Việc tổ chức kiểm tra, cơng nhận các
danh hiệu “Gia đình văn hố”, “Làng văn
hố”, “T ổ dân phố văn hố” trên cơ sở cĩ nhiều “Gia đình luyện tập TDTT” đã trở thành
một giải pháp chiến lược của TDTT cho mọi người với ý nghĩa làm tăng tỷ lệ người tập thường xuyên so với tổng dân số và tăng tỷ lệ người đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể so với tổng số người trong độ tuổi Đĩ chính là mục
tiêu cao cả nhất của sự nghiệp TDTT vì “Dân
c ường, nước thịnh” như lời dạy của Bác Hồ
(1): B ộ VHTTDL - kết quả điều tra gia đình Việt
Nam 2006 – Hà N ội 6/2008
(2): Lu ật TDTT – NXB chính trị Quốc gia – 2/2007
(3): Sáu m ươi năm TDTT Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng – NXB TDTT 2006
PHÁT TRIỂN CÁC MƠN THỂ THAO GIẢI TRÍ NGỒI TRỜI TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT TP HCM
Nguyễn Thị Thảo Vy - Khoa Thể thao giải trí
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong xã hội hiện đại mức sống của con người ngày càng được nâng cao, càng nhiều người quan tâm đến chất lượng cuộc sống Một trong những yếu tố giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của con người đĩ là các hoạt động giải trí ngồi trời, phần lớn hoạt động này cĩ liên quan đến việc tập luyện TDTT Thể thao giải trí (TTGT) ngồi trời cĩ nội dung rất rộng, bao gồm: các hoạt động, các mơn thể thao được lựa chọn phụ thuộc vào sở thích, mức độ vận động, địa hình, mơi trường, điều kiện phục vụ…
Ở nước ta, TTGT ngồi trời bước đầu phát triển thơng qua các hoạt động tập luyện tại các cơng viên; các trung tâm, CLB TDTT ngồi trời; các khu du lịch, nghỉ dưỡng;… Các địa điểm tổ chức hoạt động TTGT ngồi trời thường gắn liền với thiên nhiên hoặc nhân tạo như: cơng viên giải trí; sơng, hồ; biển và bờ biển; núi, đồi, rừng; trên khơng… Các loại hình hoạt động giải trí cĩ liên quan đến thể thao rất nhiều và đa dạng được nhiều người ưa thích hiện nay
Qua nghiên cứu thực tiễn về cơ sở vật chất hiện hữu của trường Đại học TDTT TP
Trang 4THỂ THAO CHO MỌI NGƯỜI
-
HCM, cĩ thể đầu tư xây dựng với chi phí khơng
nhiều cho các mơn TTGT mới như: Paintball,
Climbing wall, Parkour Đây là những mơn
TTGT hấp dẫn, độc đáo nhằm tạo ra các hình
thức tập luyện mới cho cán bộ, giảng viên,
HLV, sinh viên, vận động viên để rèn luyện thể
lực, nâng cao kỹ năng vận động và đặc biệt là
nâng cao ý chí, giải tỏa những áp lực trong
cơng việc, học tập…
1 Paintball (Bắn súng đạn nước sơn):
Năm 1976, Hayes Noel - một nhà kinh
doanh chứng khốn, Bob Gurnsey, Charles
Gaines và Richard Connell’s đã cĩ ý tưởng tạo
ra một trị chơi cĩ thể truy đuổi và săn nhau
Mãi cho đến 1 năm sau, George Butler – một
người bạn của họ cho thấy một khẩu súng
Paintball tại một cửa hàng nơng nghiệp Loại
súng đĩ là súng Nelspot 007 marker sản xuất
bởi các cơng ty sơn Nelson
Ngày 27/06/1981, trận đấu Paintball đầu
tiên được diễn ra giữa 12 người cạnh tranh với
nhau bằng súng Nelspot 007s
Tập trận Paintball là một mơn TTGT rất
phổ biến ở nước ngồi với các đội trang phục
quân đội tập trận, súng sẽ bắn ra đạn sơn màu
Người chơi sẽ được trang bị áo giáp, mặt nạ,
súng, đạn… và tham gia tập trận như những
người lính thật sự (chỉ khác đạn được sử dụng
bắn khơng gây thương tích)
Paintball giúp cho người chơi rèn luyện
khả năng phán đốn, xử lý tình huống linh hoạt,
sáng tạo, rèn luyện thể lực và tinh thần đồng
đội Ngồi ra, Paintball cịn địi hỏi người chơi
phải cĩ kiến thức quân sự cơ bản như biết lợi
dụng địa hình, địa vật, tiến cơng, phịng ngự
hay nghi binh…
Mơn Paintball ở Việt Nam:
Trước đây, người Việt Nam muốn tham gia chơi Paintball phải sang Thái Lan, Singapore, Malaysia, Canada, Mỹ,… nhưng hiện nay mơn Paintball đã bắt đầu xuất hiện và phát triển ở Việt Nam với 2 CLB bắn súng đạn nước sơn trong cả nước:
- CLB Trung tâm TDTT Quốc phịng 4 (trực thuộc QK 9) tại Cần Thơ
- CLB tại khu du lịch Madagui, Lâm Đồng
Trang 5THỂ THAO CHO MỌI NGƯỜI
-
Trong điều kiện của Trường Đại học
TDTT TP HCM, cĩ thể cải tạo lại địa hình của
khu vực trường bắn súng (bên trong và bên
ngồi) theo thiết kế của mơn Paintball Việc đầu
tư các trang thiết bị được giao cho Trung tâm tư
vấn dịch vụ thể thao của Trường liên kết hoặc
liên doanh với Trung tâm TDTT quốc phịng và
các đơn vị kinh tế ngồi trường Thành lập CLB
Paintball của Trường để thu hút, tổ chức tập
luyện cho các đối tượng trong trường và ngồi
trường Trong tương lai sẽ tham gia giao lưu,
thi đấu với các CLB Paintball trong nước, quốc
tế Đặc biệt, đây là điều kiện cho việc phát triển
du lịch thể thao của Trường Đại học TDTT TP
HCM
2 Climbing wall (Leo núi nhân tạo):
Bức tường leo núi nhân tạo đầu tiên đã
xuất phát từ Vương Quốc Anh Các bức tường
được tạo ra vào năm 1964 tại trường Đại Học
Leeds bởi Don Robinson, ơng là một giảng viên
giáo dục thể chất và cũng là người sáng lập ra
DR Climbing Walls, ơng đã dùng những phiến
đá nhỏ gắn vào một bức tường hành lang được
xây dựng tại Sheffield, và đĩ cũng là bức tường
thương mại đầu tiên Và kể từ đĩ Don Robinson
đã phá triển rơng rãi tại các trường Đại Học ở
nước Anh bộ mơn Climbing Wall
Climbing wall là một mơn thể thao mạo
hiểm mang tính chất giải trí Một dãy núi nhân
tạo được tạo ra từ những phiến gỗ lớn hoặc từ
những bức tường bằng bê tơng Trên bức tường
đĩ được gắn các Climbing Holds (phiến đá) ở
các vị trí khác nhau để giúp cho người tham gia
chơi cĩ thể dùng tay và chân của mình bám giữ
và leo lên đến đỉnh Bức tường nhân tạo được
xây dựng với các độ khĩ khác nhau làm người tham gia chơi luơn tạo được cảm giác hứng thú mới mẻ Ở mơn thể thao mạo hiểm này mọi người được trang bị các thiết bị bảo hộ giúp trong quá trình chơi diễn ra an tồn và suơn sẻ
Climbing wall được chia làm 2 loại:
- Speed Climbing (Leo tốc độ): Bức tường
nhân tạo được dựng lên với địa hình khá đơn giản, độ khĩ vừa phải Người tham gia sẽ leo với tốc độ tối đa mà mình cĩ thể đạt được để leo lên tới đỉnh Người thắng cuộc là người cĩ
tổng số thời gian leo lên đỉnh ít nhất
- Boulder Climbing (Leo kỹ năng): Địa
hình của Boulder Climbing rất phức tạp, độ khĩ tới cực điểm vì các Climbing Holds (phiến đá)
sẽ ít hơn và độ dĩc nghiêng nhiều hơn so với Speed Climbing Ở nội dung này khơng địi hỏi tốc độ, mà điều quan trọng là sức bền và kỹ năng cá nhân Người thắng cuộc là người leo lên đến đỉnh và cĩ điểm kỹ thuật cao nhất
Speed Climbing
Boulder climbing
Trang 6THỂ THAO CHO MỌI NGƯỜI
-
Để đảm bảo an tồn trong suốt quá trình
chơi, các trang thiết bị để tham gia chơi
Climbing wall gồm: giầy, đai an tồn, phấn
bám dính và túi đựng, dây an tồn, thiết bị giữ
dây (gri gri), thiết bị nối (carabiner), các thiết bị
nối gắn cố định (quick draw)
Để tiến hành tập luyện mơn Climbing
wall tại Trường Đại học TDTT TP HCM,
chúng ta cĩ thể cải tạo các bức tường rộng và
cao ở các nhà tập luyện như: bức tường của nhà
tập bĩng chuyền, bức tường bên hơng của khu
giảng đường A2…; thiết kế xây dựng bức
tường nhân tạo cùng với thiết kế tường leo núi
nhân tạo cho khu giảng đường 5 tầng (khu nhà
xe) đã được Bộ Văn hĩa, Thể thao và Du lịch
đồng ý cho đầu tư
3 Parkour:
Parkour là một mơn thể thao (cĩ thể gọi là
mạo hiểm) dựa vào sự uyển chuyển, linh hoạt
của cơ thể để vượt qua các chướng ngại vật
trong trường hợp khẩn cấp Được sáng lập bởi
David Belle và Sébastien Foucan tại Pháp,
Parkour là sự pha trộn động tác của nhiều mơn
thể thao, võ thuật như: thể dục dụng cụ, judo,
wushu và khơng cĩ bất kỳ một điều luật
chung nào, cũng như khơng hề cĩ tính thi đấu
Một trong các tính chất của Parkour là
tính hiệu quả Người tập Parkour khơng chỉ di
chuyển một cách nhanh nhất mà cịn phải di
chuyển với tính hiệu quả cao nhất, với đường đi
ngắn nhất và dễ dàng nhất Tính hiệu quả cịn
giúp người tập tránh được các chấn thương
trong tập luyện và trong các hoạt động hằng
ngày
Khơng giống các mơn thể thao khác,
Parkour khơng chỉ được tập tại các khu cơng
cộng (như sân trượt ván, sân patin ), người tập
Parkour cĩ thể tập tại các phịng tập thể dục
dụng cụ, cơng viên, các sân chơi cơng cộng, các
cơng trình bỏ hoang…
Một vài động tác cơ bản của Parkour:
Trang 7THỂ THAO CHO MỌI NGƯỜI
-
Parkour ở Việt Nam:
Parkour được biết đến vào đầu thế kỷ XXI
ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, chỉ mới
đây, giới trẻ Việt Nam mới tham gia vào trị
chơi này một cách mạnh mẽ Mặc dù cịn khá
mới lạ nhưng vẫn đang được giới trẻ Việt Nam
tiếp nhận một cách đầy hào hứng
Hiện tại, trên cả nước cĩ khá nhiều nhĩm
Parkour khác nhau.Tuy nhiên, các nhĩm
Parkour luyện tập sơi nổi hơn cả tập trung tại 2
thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM Ở Hà Nội,
hiện nay cĩ 2 nhĩm: Forget Gravity và B13
thường xuyên tập luyện tại cơng viên Thống
Nhất, ĐH Bách khoa, Cơng viên nước Hồ
Tây… cịn tại TPHCM, cĩ nhĩm Parkour Mario
Crew thường luyện tập ở khu vực cơng viên Lê
Thị Riêng
Với điều kiện địa hình hiện cĩ, gồm: các khu nhà tập, các sân bãi, hành lang, cây xanh, hàng rào… rất đa dạng, phù hợp cho mơn Parkour phát triển ở Trường Đại học TDTT TP HCM Đây là mơn thể thao mang tính mạo hiểm nhưng hấp dẫn đối với các đối tượng là sinh viên, vận động viên Parkour khơng những giúp rèn luyện thể lực, kỹ năng vận động vượt qua các địa hình mà cịn là mơn thể thao cĩ tính giải trí cao cho cả người chơi và người xem
KẾT LUẬN:
Qua nghiên cứu các mơn TTGT mới hiện đang bắt đầu phát triển ở nước ta, cho thấy các mơn TTGT này cĩ sự hấp dẫn đặc biệt của nĩ ở những đặc trưng sau:
- Là các mơn TTGT mạo hiểm cĩ độ phức tạp khơng cao; vừa sức và cĩ thể điều chỉnh lượng vận động cho mọi đối tượng; dễ tiếp thu được các kỹ thuật vận động chính
- Các chướng ngại vật tạo nên sự thử thách cho người chơi, giúp nâng cao ý chí, tinh thần vượt khĩ và dám mạo hiểm trước những thử thách đĩ
- Các động tác kỹ thuật, các đặc tính vận động của các mơn này khơng những giúp cho người chơi rèn luyện thể lực tồn diện như: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, sự khéo léo…mà cịn cĩ tác dụng nâng cao khả năng chịu đựng của hệ cơ xương, tim mạch và đặc biệt là hệ thần kinh
- Địa hình, tình huống sẽ giúp cho con người trong quá trình chơi phải suy nghĩ, tư duy, thích nghi với các hồn cảnh thay đổi Điều này vừa giúp nâng cao sự sáng tạo, vừa giúp cho sự tập trung cao độ của người chơi trong quá trình vận động
- Đầu tư cho các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị khơng cao so với nhiều mơn thể thao khác Cĩ thể vận dụng nhiều địa hình khác nhau để xây dựng, cải tạo cho phù hợp với điều kiện vận động của từng mơn Các trang thiết
bị cĩ thể tự thiết kế và sản xuất
Trang 8THỂ THAO CHO MỌI NGƯỜI
-
- Đây là các mơn thể thao vừa mang tính
phục vụ vừa mang tính kinh doanh Tuy
chưa phải là mơn thể thao cĩ tính lợi
nhuận cao nhưng nĩ hấp dẫn, thu hút
những người chơi và cả những người
xem, cổ vũ Đây là cơ hội cho các hoạt
động kinh doanh các dịch vụ khác
Với những đặc trưng trên, trong bài
nghiên cứu này chúng tơi mong muốn giới thiệu
3 mơn trong rất nhiều mơn TTGT hiện đang
phát triển trên thế giới cĩ khả năng hình thành
và phát triển ở Trường Đại học TDTT TP
HCM Trong điều kiện hiện nay của Trường,
việc đầu tư để phát triển các mơn TTGT này
khơng những sẽ thu hút các đối tượng trong
trường (sinh viên, VĐV…) mà cịn thu hút
nhiều đối tượng ở ngồi trường như: sinh viên
khu Đại học quốc gia, các đội thể thao đến tập
luyện, các đối tượng ham thích khác (đặc biệt là
giới trẻ) Đây là cơ hội cho Trường Đại học
TDTT TP HCM mở rộng các hoạt động TTGT;
tổ chức các dịch vụ để vừa phục vụ vừa kinh
doanh; giới thiệu và quảng bá những hoạt động
mới trong lĩnh vực TDTT; nâng cao vị thế của
Trường Đại học TDTT TP HCM ở trong nước
và quốc tế./
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tài liệu giảng dạy Thể thao giải trí –
Khoa TTGT – Tr ường ĐH TDTT TP
HCM
2 John J Pigram and John M Jenkins,
(2001), “Outdoor recreation
management”
3 Human Kinetics editor, (2006),
“Introduction of recreation and leisure”
Nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy mơn karatedo vào giờ thể dục tự chọn tại trường THDL Cơng nghệ Thơng tin Sài Gịn
PGS.TS Nguy ễn Tiên Tiến Th.S Hu ỳnh Thị Phương Duyên
Tĩm tắt: Kết quả nghiên cứu đã đánh giá
được thực trạng cơng tác GDTC của trường, đồng thời đề tài đã xây dựng chương trình giảng dạy mơn Karatedo vào giờ thể dục tự chọn tại trường THDL CNTT Sài Gịn, gĩp phần hồn thiện chương trình giảng dạy chính khố và nâng cao hiệu quả của GDTC của trường
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam, võ thuật được coi là mơn thể thao quần chúng được nhiều người ưa thích đặc biệt là Thanh thiếu niên Võ thuật, trong đĩ cĩ Karatedo gồm hệ thống các bài tập từ dễ đến khĩ, từ căn bản đến phức tạp, đa dạng và phong phú về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy Rất thích hợp với thể trạng cùng như thể chất của người Việt Nam chúng ta Với đặc điểm dễ tập luyện khơng địi hỏi cao về năng lực thể chất, phù hợp với mọi lứa tuổi, phong phú về chương trình tập luyện dễ kết hợp tạo sự hưng phấn, thích thú cao nơi người tập đặc biệt
là các em học sinh - sinh viên
Trường THDL Cơng nghệ thơng tin Sài Gịn là một trường mới thành lập từ năm 2004 nên cịn nhiều khĩ khăn, từ lực lượng giáo viên thể dục, đến sân bãi, trang thiết bị và dụng cụ tập luyện Xuất phát từ yêu cầu đổi mới nội dung chương trình giảng dạy cho phù hợp điều kiện thực tiễn của nhà trường nên việc nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy mơn Karatedo vào giờ thể dục tự chọn tại trường THDL CNTT Sài Gịn là điều hết sức cần thiết
II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2.1 Đánh giá thực trạng cơng tác giảng dạy mơn Thể dục tại trường TH Du lịch
CNTT Sài Gịn giai đoạn 2004 – 2007
*Về đội ngũ cán bộ giáo viên:
Trong từng năm học, nhà trường luơn tạo điều kiện nâng cao chất lượng, trình độ
Trang 9THỂ THAO CHO MỌI NGƯỜI
-
chuyên mơn cho giáo viên Song, số lượng sinh
viên của nhà trường ngày càng tăng, mà lực
lượng giáo viên mơn GDTC cịn mỏng, năm
học 2004 – 2006 tỉ lệ sinh viên/giáo viên là hơn
500 em Năm 2006 – 2007 tỉ lệ 752 sinh
viên/01giáo viên tỷ lệ này là cao hơn rất nhiều
so với quy định của Bộ GD và ĐT (150sinh
viên/giáo viên) Điều này cho thấy số lượng
giáo viên cĩ tăng, nhưng chưa tương xứng với
tỉ lệ sinh viên tăng qua từng năm học
* Về cơ sở vật chất:
Bộ mơn GDTC luơn được nhà trường quan
tâm và chú trọng phát triển qua từng năm học,
nhưng thực tế vẫn chưa được đảm bảo đáp ứng
nhu cầu tập luyện của sinh viên
*Về chương trình và nội dung giảng dạy:
Nhìn chung, bộ mơn GDTC của nhà
trường vẫn chỉ vận dụng đầy đủ một cách cứng
nhắc theo chương trình khung của Bộ GD và
ĐT quy định, chưa cĩ tính nâng cao trong việc
mở rộng các nội dung tập luyện, cũng như các
mơn thể thao cho chương trình tự chọn cịn quá
ít và chưa được chuẩn hĩa
Hiệu quả của chương trình GDTC chưa
cao Sau khi học xong nội dung mơn học tự
chọn, thể lực, sức khỏe sinh viên chưa tăng cao
Giờ học ít hấp dẫn, nên chưa lơi cuốn được sinh
viên ít tự tập, tự rèn luyện trong các giờ tập
luyện ngoại khĩa Kết quả học tập về điểm kết
thúc học phần của sinh viên cịn thấp
Quan sát sư phạm tại các buổi tập mơn
GDTC tại trường THDL CNTT Sài Gịn, chúng
tơi cũng xác định và nhận thấy hiệu quả của
chương trình mơn học cịn hạn chế là do một số
các nguyên nhân sau:
- Chương trình được xây dựng dựa trên
kinh nghiệm của giáo viên, nội dung chương
trình học thiếu hấp dẫn, ít lơi cuốn được sinh
viên, chưa tính đến nhu cầu nguyện vọng, hứng
thú, khả năng của sinh viên, nên chất lượng học
tập của mơn GDTC chưa được đảm bảo
- Thời lượng học tập mơn GDTC ít, chỉ
60 tiết/khĩa học
- Cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ tập
luyện khơng đáp ứng được yêu cầu của các
khĩa học
- Mặt khác, nhà trường đã tổ chức giảng dạy mơn Bĩng chuyền là mơn thể thao tự chọn, trong khi đĩ, trường lại cĩ đặc thù là một trường dạy nghề, giảng dạy các ngành: CNTT, bưu chính viễn thơng, điện tử viễn thơng, tin học, tài chính, kế tốn… Tổng số sinh viên nam trên tổng số sinh viên nữ chiếm tỉ lệ khoảng 40/60 Do vậy, đặc thù về giới tính và sức khỏe
cĩ khác do với các trường trong địa bàn thành phố Sinh viên nữ thường cĩ cảm giác nhút nhát, khả năng va chạm kém khi tiếp xúc và tập luyện với mơn bĩng chuyền Chính vì điều này nên việc tập luyện mơn thể thao tự chọn cũng chưa tạo được phong trào TDTT ngoại khĩa cho sinh viên
Do vậy, việc nâng cao chương trình giảng dạy cĩ tính tất yếu nhằm phát huy tinh thần tự giác, tích cực tập luyện của sinh viên
Đĩ là cơ sở để nâng cao chất lượng giảng dạy mơn GDTC trong nhà trường
Căn cứ đặc điểm của trường, trình độ giáo viên GDTC, Bộ mơn GDTC quyết định đưa thêm mơn võ Karatedo là mơn thể thao tự chọn trong chương trình GDTC của nhà trường nhằm làm đa dạng và phong phú thêm các mơn thể thao, giúp sinh viên cĩ điều kiện lựa chọn mơn thể thao phù hợp Đồng thời, với thời lượng giảng dạy nội khĩa là 60 tiết hiện nay chưa đảm bảo cho việc phát triển thể chất của sinh viên
Đề tài nhận thấy nhu cầu cấp thiết cần phải tổ chức thêm 30 tiết giờ tập ngoại khĩa, hoạt động TDTT thường xuyên để nâng cao thể chất cho sinh viên của trường
2.2 Nghiên cứu lựa chọn nội dung, xây dựng chương trình giảng dạy cơ bản mơn Karatedo vào giờ thể dục tự chọn
*Lựa chọn nội dung giảng dạy
Để đưa mơn thể thao tự chọn Karatedo vào chương trình GDTC của trường THDL CNTT Sài Gịn và thu được kết quả cao, chúng tơi phỏng vấn với mục đích lựa chọn những bài tập cĩ nội dung phù hợp, nhằm phát triển thể chất cho sinh viên Đề tài tiến hành phỏng vấn
12 giáo viên Bộ mơn Võ trường ĐH TDTT TP HCM, các Huấn luyện viên dạy mơn Karatedo trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Qua kết quả phỏng vấn, đề tài đã lựa chọn được đầy đủ
hệ thống nội dung giảng dạy mơn Karatedo (là
Trang 10THỂ THAO CHO MỌI NGƯỜI
-
những nội dung cĩ trên 70% số phiếu tán
thành) Bao gồm những nội dung sau:
- Lý thuyết trong mơn võ Karatedo
- Các bài tập kỹ thuật cơ bản
- Hệ thống các bài đối luyện
- Một số bài quyền
-Những bài tập phát triển thể lực chung và
chuyên mơn
*Chương trình giảng dạy mơn Karatedo
tại trường THDL CNTT Sài Gịn
M ục đích:
- Phát triển các tố chất vận động và thể
lực, gĩp phần nâng cao sức khỏe cho sinh viên
trường THDL CNTT Sài Gịn
- Nhằm thí điểm và làm cơ sở để phát
triển mơn Karatedo trong giờ học thể dục tự
chọn ở trường THDL CNTT Sài Gịn Gĩp
phần làm đa dạng và phong phú các hoạt động
TDTT trong nhà trường
Nhi ệm vụ:
- Việc tập luyện mơn Karatedo tại giờ học
thể dục tự chọn ở trường THDL CNTT Sài Gịn
sẽ giúp cho sinh viên cĩ thể nắm bắt những vấn
đề cơ bản ban đầu của mơn võ Karatedo Trang
bị cho sinh viên những kỹ năng cơ bản nhất của
mơn Karatedo thơng qua những kỹ thuật cơ
bản, hệ thống đối luyện và một số bài quyền
- Giáo dục đạo đức, hồn thiện nhân cách
của người sinh viên, đáp ứng được yêu cầu và
mục tiêu đào tạo của chương trình
- Ngồi ra, sau khi kết thúc chương trình
học, những sinh viên nào thực sự yêu thích và
cĩ năng khiếu với mơn Karatedo cĩ thể đăng ký
thi lên đai (đai trắng, đai vàng) theo qui định
của Hội Karatedo
Phân ph ối chương trình giảng dạy:
Với những kết quả nghiên cứu trên, cho
phép chúng tơi tiến hành phân phối lại thời gian
giảng dạy mơn Karatedo tại trường THDL
CNTT Sài Gịn, nội dung được trình bày cụ thể
tại bảng 3.6
Bảng 3.6 Bảng phân phối thời gian chung
của chương trình mơn Karatedo tại trường
THDL CNTT Sài Gịn
Nội dung giảng dạy
Mơn học lượng Thời số tiết Tổng
Thể dục
tự chọn
Võ Karatedo
30 tiết
- Thi kết thúc 2 Thể
dục ngoại khĩa
Võ Karatedo
30 tiết
- Thi kết thúc 2
Việc xây dựng chương trình được tuân thủ theo nguyên tắc từ dễ đến khĩ, lượng vận động phù hợp với lứa tuổi cùng với thời gian hoạt động linh hoạt, thuận lợi khơng ảnh hưởng đến giờ học các mơn chuyên ngành của sinh viên
Chương trình mơn học tự chọn và ngoại khĩa Karatedo được xây dựng với số tiết là 60 tiết, chia ra làm 2 giai đoạn, mỗi giai đoạn 30 tiết, mỗi tuần tập 2 tiết, mỗi tiết 45 phút Nội dung chương trình giảng dạy và tiến trình biểu giảng dạy khi thực nghiệm được trình bày tại bảng 3.7 và 3.8
Ph ương pháp kiểm tra đánh giá:
Khi kiểm tra học phần tự chọn gồm 2 nội dung lý thuyết và thực hành (kỹ thuật + thể lực) Trong đĩ, phần lý thuyết sẽ kiểm tra vấn đáp kết hợp trong buổi thi thực hành theo nội dung học Điểm thực hành = Kỹ thuật + Thể lực Như vậy điểm học phần tự chọn được tính như sau:
+ Điểm học phần = (LT + TH x 2)/3 + Điều kiện: Điểm học phần bất kỳ nội dung nào (lý thuyết hay thực hành < 5) đều nợ học phần
III KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xây dựng và ứng dụng chương trình mơn võ Karatedo vào thực tiễn giảng dạy tại trường THDL CNTT Sài Gịn và bước đầu đánh giá được hiệu quả của chương trình Kết quả cho thấy: chương trình mơn học tự chọn mới xây dựng của đề tài đã tỏ ra cĩ hiệu quả cao hơn so với chương trình mơn học tự chọn đang sử