LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhật Bản là quốc gia có nền kinh tế phát triển dẫn đầu thế giới về khoa học công nghệ, và là thị trường có dân số đông, sức mua lớn. Đây là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn đối với Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Nhật Bản liên tục tăng qua các năm. Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản chủ yếu là hàng may mặc, thủy hải sản, đồ gỗ,… Số lượng xuất khẩu hàng hóa nhiều nhưng thị phần Việt Nam mới chỉ chiếm 1,19% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thị trường Nhật, (Nguồn: Tổng cục thủy sản năm 2011). Đây được xem là thị trường có nhiều tiềm năng đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, đặc biệt từ khi Hiệp định thương mại Việt – Nhật (VietnamJapan Economic Partnership Agreement VJEPA) có hiệu lực vào ngày 01102009 tạo động lực mạnh mẽ , khoảng 86% sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam được hưởng thuế suất ưu đãi, trong đó tôm được giảm thuế nhập khẩu xuống còn 1 – 2% ngay thời điểm VJEPA có hiệu lực. Có thể xem Nhật là thị trường truyền thống của các mặt hàng thủy sản Việt Nam, vì vậy bên cạnh việc tìm cách nâng cao sản lượng xuất khẩu thì việc đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng rất khắt khe của Nhật là điều bắt buộc đối với các sản phẩm thủy sản. Năm 2010, Bộ Y tế , Lao động và An sinh Xã hội nước này cảnh báo dư lượng kháng sinh trong mặt hàng thủy sản của Việt Nam đã vượt mức cho phép. Điều đó đòi hỏi chúng ta cần tìm ra phương hướng giải quyết cho vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm xuất khẩu vào thị trường này. Chính vì lý do trên, nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Lý thuyết về chất lượng sản phẩm – Áp dụng vào mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản” để nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời tìm ra hướng đi để nâng cao chất lượng của mặt hàng này. 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề tài nhằm mục đích phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thị trường Nhật Bản, chỉ ra các rào cản kỹ thuật yêu cầu của Nhật Bản đối với thủy sản Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục những rủi ro trong việc nuôi trồng và chế biến xuất khẩu nhằm mục tiêu đẩy mạnh việc xuất khẩu sang thị trường Nhật. 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Để tiến hành viết nghiên cứu, nhóm nghiên cứ u đã dựa vào kết quả báo cáo của Tổng cục Thủy sản Việt Nam để điều tra trên diện rộng các doanh nghiệp xuất khẩu thủyhải sản Việt Nam vào thị trường Nhật Bản trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2010. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính: Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu thứ cấp là số liệu thu thập từ báo cáo kết quả của Tổng cục thủy sản điều tra trên diện rộng cả nước Việt Nam ở các tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Vũng Tàu, TP. HCM, và 13 tỉnh miền Nam. Số liệu được thống kê từ các lô hàng xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam sang thị trường Nhật từ năm 2008 đến 2010. Phương pháp phân tích: Nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối, số tương đối, so sánh số bình quân để thấy sự thay đổi số liệu tăng giảm qua các năm. Căn cứ trên số liệu này, nghiên cứu dựa vào tình hình thực tế của các doanh nghiệp xuất khẩu để tìm ra những rào cản kỹ thuật mà hàng hóa Việt Nam đang gặp phải. Đồng thời nghiên cứu dựa trên các chính sách, hiệp định Việt Nam – Nhật Bản đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam vào thị trường nước Nhật. 5. Bố cục của đề tài Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, đề tài được chia làm 3 chương với nội dung như sau: Chương I: Lý thuyết về chất lượng sản phẩm Chương II: Chất lượng sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong những năm qua Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhật Bản là quốc gia có nền kinh tế phát triển dẫn đầu thế giới về khoa học côngnghệ, và là thị trường có dân số đông, sức mua lớn Đây là thị trường tiêu thụ hàng hóalớn đối với Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Nhật Bản liêntục tăng qua các năm Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản chủ yếu làhàng may mặc, thủy - hải sản, đồ gỗ,… Số lượng xuất khẩu hàng hóa nhiều nhưng thịphần Việt Nam mới chỉ chiếm 1,19% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thị trường Nhật,
(Nguồn: Tổng cục thủy sản năm 2011) Đây được xem là thị trường có nhiều tiềm năng
đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, đặc biệt từ khi Hiệp định thương mại Việt –Nhật (Vietnam-Japan Economic Partnership Agreement - VJEPA) có hiệu lực vào ngày01/10/2009 tạo động lực mạnh mẽ , khoảng 86% sản phẩm thủy sản xuất khẩu của ViệtNam được hưởng thuế suất ưu đãi, trong đó tôm được giảm thuế nhập khẩu xuống còn 1– 2% ngay thời điểm VJEPA có hiệu lực Có thể xem Nhật là thị trường truyền thống củacác mặt hàng thủy sản Việt Nam, vì vậy bên cạnh việc tìm cách nâng cao sản lượng xuấtkhẩu thì việc đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng rất khắt khe của Nhật là điều bắt buộcđối với các sản phẩm thủy sản Năm 2010, Bộ Y tế , Lao động và An sinh Xã hội nướcnày cảnh báo dư lượng kháng sinh trong mặt hàng thủy sản của Việt Nam đã vượt mứccho phép Điều đó đòi hỏi chúng ta cần tìm ra phương hướng giải quyết cho vấn đề quản
lý chất lượng sản phẩm xuất khẩu vào thị trường này Chính vì lý do trên, nhóm chúng tôi
đã lựa chọn đề tài “Lý thuyết về chất lượng sản phẩm – Áp dụng vào mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản” để nghiên cứu nhằm phân
tích thực trạng sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua, đồng thờitìm ra hướng đi để nâng cao chất lượng của mặt hàng này
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài nhằm mục đích phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thịtrường Nhật Bản, chỉ ra các rào cản kỹ thuật yêu cầu của Nhật Bản đối với thủy sản ViệtNam, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục những rủi ro trong việc nuôi trồng và chế biến
Trang 2xuất khẩu nhằm mục tiêu đẩy mạnh việc xuất khẩu sang thị trường Nhật.
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Để tiến hành viết nghiên cứu, nhóm nghiên cứ u đã dựa vào kết quả báo cáo củaTổng cục Thủy sản Việt Nam để điều tra trên diện rộng các doanh nghiệp xuất khẩu thủy-hải sản Việt Nam vào thị trường Nhật Bản trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu thứ cấp là số liệu thu thập từ báo cáo kết
quả của Tổng cục thủy sản điều tra trên diện rộng cả nước Việt Nam ở các tỉnh: QuảngNinh, Hải Phòng, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Vũng Tàu, TP HCM, và 13 tỉnhmiền Nam Số liệu được thống kê từ các lô hàng xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam sangthị trường Nhật từ năm 2008 đến 2010
- Phương pháp phân tích: Nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối, số
tương đối, so sánh số bình quân để thấy sự thay đổi số liệu tăng giảm qua các năm Căn
cứ trên số liệu này, nghiên cứu dựa vào tình hình thực tế của các doanh nghiệp xuất khẩu
để tìm ra những rào cản kỹ thuật mà hàng hóa Việt Nam đang gặp phải Đồng thời nghiêncứu dựa trên các chính sách, hiệp định Việt Nam – Nhật Bản đề xuất giải pháp nâng caohiệu quả xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam vào thị trường nước Nhật
5 Bố cục của đề tài
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, đề tài được chia làm 3 chương với nội dung nhưsau:
Chương I: Lý thuyết về chất lượng sản phẩm
Chương II: Chất lượng sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trườngNhật Bản trong những năm qua
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản xuấtkhẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
Trang 3CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.1 Khái niệm cơ bản về chất lượng sản phẩm
1.1.1 Định nghĩa
Chất lượng là một khái niệm quen thuộc với loài người ngay từ thời cổ đại, tuynhiên đây cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi Tùy theo từng đối tượng sử dụng,
từ “Chất lượng” có ý nghĩa khác nhau Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm
để đáp ứng các quy định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấpnhận Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo cácchi phí, giá cả Dưới quan điểm của người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm phải thể hiệncác khía cạnh sau:
- Chất lượng sản phẩm là tập hợp các chỉ tiêu, các đặc trưng thể hiện tính năng kỹthuật hay tính hữu dụng của nó
- Chất lượng sản phẩm được thể hiện cùng với chi phí Người tiêu dùng không chấpnhận mua một sản phẩm với bất kỳ giá nào
- Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể của từngngười, từng địa phương
Do con người và các nền văn hóa trên thế giới khác nhau nên cách hiểu của họ vềchất lượng và đảm bảo chất lượng của họ cũng khác nhau, và sẽ luôn luôn thay đổi Tổchức Quốc tế và Tiêu chuẩn hóa ISO trong dự thảo DIS 9000:2000 đã đưa ra định nghĩasau:
“Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”.
Một cách tổng quát, chúng ta có thể hiểu chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu Sựphù hợp này phải được thể hiện trên cả 3 phương diện, mà ta có thể gọi tóm tắt là 3P, đó
là: Performance/Perfectibility: hiệu năng, khả năng hoàn thiện; Price: giá thỏa mãn nhu cầu; Punctuallity: đúng thời điểm.
Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi
là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa Đánh
Trang 4giá chất lượng cao hay thấp phải dựa trên quan điểm người tiêu dùng Cùng mục đích sửdụng như nhau, sản phẩm nào thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng caohơn.
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
1.1.2.1 Các yếu tố bên ngoài
* Thị trường
Nói đến thị trường là đề cập tới các yếu tố: Cung, cầu, giá cả, quy mô thị trường,cạnh tranh Chất lượng sản phẩm luôn gắn liền với sự vận động và biến đổi của thịtrường, đặc biệt là nhu cầu thị trường, tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Trên
cơ sở nghiên cứu thị trường doanh nghiệp xác định được khách hàng của mình là đốitượng nào? Quy mô ra sao? và tiêu thụ ở mức như thế nào?
Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược sản phẩm, kế hoạch sản xuất để cóthể đưa ra những sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, giá cả hợp lý với nhu cầu và khảnăng tiêu dùng ở những thời điểm nhất định Bởi vì sản phẩm có chất lượng cao khôngphải lúc nào cũng tiêu thụ nhanh và ngược lại chất lượng có thể không cao nhưng ngườitiêu dùng lịa mua chúng nhiều Điều này có thể do giá cả, thị hiếu của người tiêu dùng ởcác thị trường khác nhau là khác nhau, hoặc sự tiêu dùng mang tính thời điểm Điều nàyđược phản ánh rõ nét nhất với các sản phẩm mốt hoặc những sản phẩm sản xuât theo mùavụ
Thông thường, khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêu cầu củangười tiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm nhiều tới mặt xã hội của sản phẩm.Nhưng khi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chất lượng cũng tăng theo Đôi khi họchấp nhận mua sản phẩm với giá cao tới rất cao để có thể thoả mãn nhu cầu cá nhân củamình
Chính vì vậy, các doanh nghiệp không chỉ phải sản xuất ra những sản phẩm có chấtlượng cao, đáp ứng được nhu cầu thị trường mà còn phải quan tâm tới khía cạnh tẩm mỹ,
an toàn và kinh tế của người tiêu dùng khi tiêu thụ sản phẩm
* Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật.
Trang 5Ngày nay, không có sự tiến bộ kinh tế xã hội nào không gắn liền với tiến bộ khoahọc công nghệ trên thế giới Trong vài thập kỷ trở lại đây, trình độ phát triển của khoahọc kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Tiến bộ khoa học
kỹ thuật đã tạo ra những bước đột phá quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực mới: Tựđộng hoá, điện tử, tin học, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, robot đã tại ra nhữngthay đổi to lớn trong sản xuất cho phép rút ngắn chu trình sản xuất, tiết kiệm nguyên vậtliệu nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng đặt ra những thách thứckhông nhỏ cho các doanh nghiệp trong việc quản lý, khai thác và vận hành công nghệ cóhiệu quả cao Bởi vì, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì thời gian để chếtạocông nghệ mới thay thế công nghệ cũ dần dần được rút ngắn lại Sự ra đời của một côngnghệ mới thường đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm cao hơn, hoàn thiện hơn Bên cạnh
đó, đào tạo nhân lực để thích ứng với sự thay đổi liên tục của khoa học công nghệ khôngthể ngày một ngày hai mà phải có thời gian Đây cũng là những khó khăn của các doanhnghiệp Việt Nam trong khi nguồn kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng không nhiều
* Cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước
Cơ chế chính sách của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình thúc đẩycải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp Việc ban hành các hệthống chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, các quy định về sản phẩm đạt chất lượng, xử lýnghiêm việc sản xuất hàng giả, hành kém chất lượng, không bảo đảm an toàn vệ sinh,thuế quan, các chính sách ưu đãi cho đầu tư đổi mới công nghệ là những nhân tố hết sứcquan trọng, tạo động lực phát huy tính tự chủ, sáng tạo trong cải tiến và nâng cao chấtlượng sản phẩm
Rõ ràng, các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách biệt lập mà luôn có mối quan
hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệtphải kể đến là cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước Cơ chế quản lý vừa là môi trường,vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến và nâng cao chấtlượng sản phẩm
* Điều kiện tự nhiên
Trang 6Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và nâng cao chất lượngsản phẩm, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt dới, nóng ẩm mưa nhiều nhưViệt Nam Nó tác động tới các đặc tính cơ lý hoá của sản phẩm, làm giảm đi chất lượngcủa sản phẩm, của hàng hoá trong quá trình sản xuất cũng như trong trao đổi, lưu thông
và tiêu dùng
Khí hậu, thời tiết, các hiện tượng tự nhiên như: gió, mưa, bão, sét ảnh hưởng trựctiếp tới chất lượng các, nguyên vật liệu dự trữ tại các kho tàng, bến bãi Đồng thời, nócũng ảnh hưởng tới hiệu quả vận hành các thiết bị, máy móc, đặc biệt đối với các thiết bị,máy móc hoạt động ngoài trời Khí hậu, nóng ẩm cũng tạo điều kiện cho côn trùng, visinh vật hoạt động làm cho sản phẩm bị phân huỷ, nấm mốc, thối rữa ảnh hưởng tớihình thức và chất lượng của sản phẩm Điều này dễ dàng gặp ở các sản phẩm có nguồngốc từ nông nghiệp,ngư nghiệp
* Văn minh và thói quen tiêu dùng
Trình độ văn hoá, thói quen và sở thích tiêu dùng của mỗi người là khác nhau Điềunày phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố tác động như: Thu nhập, trình độ học vấn, môitrường sống, phong tục, tập quán tiêu dùng của mỗi quốc gia, mỗi khu vực Do đó, đòihỏi các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, phân đoạn thị trường theo các tiêu thức lựachọn khác nhau trên cơ sở các nhân tố ảnh hưỏng để xác định các đối tượng mà sản phẩmmình phục vụ với chất lượng đáp ứng phù hợp với từng nhóm khách hàng riêng biệt.Tuy nhiên, khi kinh tế càng phát triển, đời sống ngày càng được nâng cao thì vănminh và thói quen tiêu dùng cùng đòi hỏi ở mức cao hơn Vì thế, doanh nghiệp cần phảinắm bắt được xu hướng đó, hoàn thiện và nâng cảo sản phẩm của mình để đáp ứng nhucầu luôn thay đổi của người tiêu dùng
1.1.2.2 Các yếu tố bên trong
Đây là nhân tố nằm trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp, do vậy để đảm bảo việcnâng cao chất lượng sản phẩm có hiệu quả thì doanh nghiệp phải quản lý các nhân tố này
* Các yếu tố nguyên vật liệu
Đây là yếu tố cơ bản của đầu vào có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm
vì nguyên vật liệu tham gia trực tiếp vào cấu thành sản phẩm Muốn có sản phẩm đạt chất
Trang 7lượng (theo yêu cầu của thị trường, thiết kế…) thì nguyên vật liệu để chế tạo sản phẩmphải đảm bảo những yêu cầu về chất lượng Mỗi sản phẩm được tạo ra từ những nguyênvật liệu khác nhau, vì vậy chủng loại, cơ cấu tính đồng bộ của chất lượng nguyên vật liệuảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Do đó doanh nghiệp còn kiểm tra chặt chẽchất lượng nguyên vật liệu khi mua nhập kho trước khi sử dụng, đảm bảo đúng số lượng,đúng chất lượng, đúng kỳ hạn, có như vậy sản xuất mới chủ động ổn định quá trình sảnxuất và thực hiện đúng kế hoạch chất lượng Vì vậy, doanh nghiệp cần phải quan tâm đặcbiệt đến khâu dự trữ, bảo quản nguyên vật liệu, tránh không để cho nguyên vật liệu xuốngcấp Ngoài ra chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào việc thiếtlập được hệ thống cung ứng nguyên vật liệu trên cơ sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài hiểubiết tin tưởng lẫn nhau giữa người sản xuất và người cung ứng.
* Nhóm yếu tố kỹ thuật công nghệ, thiết bị
Nếu yếu tố nguyên vật liệu là yếu tố cơ bản quyết định tính chất và chất lượng sảnphẩm thì nhóm yếu tố kỹ thuật công nghệ thiết bị lại có tầm quan trọng đặc biệt quyếtđịnh việc hình thành chất lượng sản phẩm
Trong sản xuất hàng hoá, người ta sử dụng và phối trộn nhiều loại nguyên vật liệukhác nhau về thành phẩm, tính chất, công dụng Nắm vững được đặc tính của nguyên vậtliệu để thiết kế sản phẩm là điều cần thiết song trong quá trình chế tạo, việc theo dõi,kiểm soát chất lượng sản phẩm theo tỷ lệ phối trộn là điều quan trọng để mở rộng mặthàng, thay thế nguyên vật liệu, xác định đúng đắn các chế độ gia công để không ngừngnâng cao chất lượng sản phẩm
Quá trình công nghệ là quá trình phức tạp, vừa làm thay đổi ít nhiều hoặc bổ xung,cải thiện nhiều tính chất ban đầu của nguyên vật liệu theo hướng sao cho phù hợp vớicông dụng của sản phẩm Vì vậy, nó có ảnh hưởng lớn quyết định đến chất lượng sảnphẩm
Ngoài yếu tố kỹ thuật công nghệ cần phải chú ý đến việc lựa chọn thiết bị, khi kỹthuật và công nghệ được đổi mới nhưng thiết bị cũ kỹ thì không thể nào nâng cao đượcchất lượng sản phẩm Hay nói cách khác, nhóm yếu tố kỹ thuật – công nghệ – thiết bị cómối quan hệ khá chặt chẽ, không chỉ góp phần vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm,
Trang 8mà còn tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường, đa dạng hoá chủng loạinhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ.
* Nhóm yếu tố phương pháp tổ chức quản lý
Trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng nói riêng là một trongnhững nhân tố cơ bản góp phần đẩy nhanh tốc độ cải tiến, chất lượng sản phẩm củadoanh nghiệp Các chuyên gia quản lý chất lượng đồng tình cho rằng trong thực tế có80% những vấn đề chất lượng là do quản trị gây ra Vì vậy nói đến quản trị chất lượngngày nay trước hết người ta cho rằng đó là chất lượng của quản trị
Các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, kỹ thuật – công nghệ thiết bị và người laođộng dù có ở trình độ cao nhưng không biết tổ chức quản lý tạo ra sự phối hợp đồng bộ,nhịp nhàng ăn khớp giữa các khâu, giữa các yếu tố của quản trị sản xuất thì không thể tạo
ra một sản phẩm có chất lượng cao được
Chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu và cơ chế quản trị, nhận thứchiểu biết về chất lượng và trình độ của cán bộ quản lý, khả năng xây dựng chính xác mụctiêu, chính sách chất lượng và chỉ đạo tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch chấtlượng,
Ngày nay, các Công ty phải nhận thấy được chất lượng sản phẩm là một vấn đề hếtsức quan trọng thuộc trách nhiệm của toàn bộ Công ty chứ không thể phó mặc cho cácnhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm hoặc một cá nhân nào được
* Nhóm yếu tố con người
Dù cho sản xuất có được tự động hoá thì con người vẫn là yếu tố quyết định đếnchất lượng hàng hoá dịch vụ Trong chế tạo có thể tự động nhưng còn bao nhiêu côngviệc máy móc chưa thay thế được con người Nghiên cứu nhu cầu, ý đồ thiết kế sản phẩm(sáng tạo trong thiết kế), tổ chức sản xuất, tổ chức bán hàng Doanh nghiệp phải biết tạonên một tập thể lao động có trình độ chuyên môn giỏi, có tay nghề thành thạo, khéo léo,nắm vững quy trình sản xuất và sử dụng máy móc thiết bị, có kiến thức quản lý, có khănăng sáng tạo cao Cần có những chương trình đào tạo huấn luyện người lao động thựchiện nâng cao chất lượng sản phẩm một cách tự nguyện chứ không phải bắt buộc, để từ
Trang 9đó mới phát huy được chất lượng công việc và tính chất quyết định đối với chất lượnghàng hoá dịch vụ.
Tóm lại, sự phân chia các yếu tố trên chỉ là tương đối nhưng tất cả lại nằm trongmột thể thống nhất và trong mối quan hệ hữu cơ với nhau
Trang 10Quá trình 2: Nghiên cứu thiết kế, triển khai thiết kế, xây dựng quy định chất lượngsản phẩm, xác định nguồn nguyên vật liệu, nơi tiêu thụ sản phẩm.
Quá trình 3: Cung cấp vật tư kỹ thuật, xác định nguồn gốc, kiểm tra nguyên vật liệu.Quá trình 4: Kế hoạch triển khai: Thiết kế dây chuyền công nghệ, sản xuất thử, đầu
tư xây dựng cơ bản, dự toán chi phí sản xuất, giá thành, giá bán
Quá trình 5: Sản xuất, chế tạo sản phẩm hàng loạt
Quá trình 6: Thử nghiệm, kiểm tra chất lượng sản phẩm, tìm biện pháp đảm bảochất lượng quy định… chuẩn bị xuất xưởng
Quá trình 7 : Bao gói, dự trữ sản phẩm
Quá trình 8: Bán và phân phối
Quá trình 9: Lắp ráp, vận hành và hướng dẫn sử dụng
Quá trình 10: Dịch vụ bảo dưỡng
Quá trình 11: Thanh lý sau sử dụng, trưng cầu ý kiến khách hàng về chất lượng, sốlượng của sản phẩm, lập dự án cho các bước sau:
Ở mỗi giai đoạn trên người ta luôn cần phải thực thi công tác quản lý chất lượngđồng bộ Trong suốt quá trình người ta không ngừng cải tiến chất lượng, nâng cao chấtlượng sản phẩm, nhằm đạt hiệu quả ngày càng cao Vậy quản trị chất lượng sản phẩm làmột hệ thống liên tục, đi từ nghiên cứu đến triển khai, tiêu dùng và trở lại về nghiên cứu,chu kỳ sau hoàn hảo hơn chu kỳ trước
1.1.3 Phân loại chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm được phân thành các loại sau:
- Chất lượng thiết kế:
Chất lượng thiết kế của sản phẩm là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm đượcphác thảo qua văn bản, trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường, các đặc điểm của sảnxuất, tiêu dùng, đồng thời có thể so sánh với chỉ tiêu chất lượng của các mặt hàng tương
tự cùng loại của nhiều hãng, nhiều công ty trong ngoài nước
- Chất lượng chuẩn:
Chất lượng chuẩn hay còn gọi là chất lượng phê chuẩn là giá trị các chỉ tiêu đặctrưng được cấp có thẩm quyền phê chuẩn Dựa trên cơ sở nghiên cứu chất lượng thiết kế,
Trang 11các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp… điều chỉnh, xét duyệt những chỉ tiêu chất lượngcủa sản phẩm hàng hóa.
- Chất lượng thực tế:
Chất lượng thực tế của sản phẩm là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thực tếđạt được do các yếu tố chi phối, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, phương pháp quảnlý…
- Chất lượng cho phép:
Chất lượng cho phép là mức độ cho phép về độ lệch các chỉ tiêu chất lượng của sảnphẩm giữa chất lượng thực với chất lượng chuẩn Chất lượng cho phép của sản phẩm phụthuộc vào điều kiện kinh tế - kĩ thuật, trình độ lành nghề của công nhân, phương phápquản lý của doanh nghiệp
- Chất lượng tối ưu:
Chất lượng tối ưu là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được mức độ hợp
lý trong điều kiện nền kinh tế - xã hội nhất định, hay nói cách khác là sản phẩm hàng hóađạt mức chất lượng tối ưu là các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thỏa mãn nhu cầu ngườitiêu dùng, có khả năng cạnh tranh với nhiều hãng trên thị trường, sức tiêu thụ nhanh, đạthiệu quả cao
1.2 Quản lý chất lượng sản phẩm
Quản lý chất lượng là tất cả các hoạt động phối hợp để định hướng và kiểm soátmột tổ chức nhằm mục tiêu chất lượng (ISO 9000, 2005) Các hoạt động này bao gồm từxây dựng chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, lập kế hoạch đến kiểm soát, đảmbảo và nâng cao chất lượng
1.2.1 Tiến trình phát triển của hoạt động quản lý chất lượng
Sự phát triển của hoạt động quản lý chất lượng đã trải qua 4 giai đoạn chính, từkiểm tra chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, đến quản lý chất lượngtoàn diện (TQM)
Kiểm tra chất lượng là hoạt động do một đội ngũ nhân viên chuyên trách đảm nhận
nhằm so sánh sản phẩm được sản xuất ra với sản phẩm tiêu chuẩn Mục đích của hoạt
Trang 12động này là phát hiện những sản phẩm không đạt các yêu cầu chất lượng đã được xácđịnh bởi cơ quan, tổ chức hay công ty.
Kiểm soát chất lượng là giai đoạn “tiến hoá” tiếp theo của quản lý chất lượng, phổ
biến trong thời kỳ Chiến tranh thế giới lần II Việc kiểm soát chất lượng tập trung vàocông đoạn thiết lập các quy trình sản xuất, các thủ tục liên quan cho mỗi quy trình, sửdụng các phương pháp thống kê, và đo lường chất lượng sản phẩm Các hoạt động đượcthực hiện để kịp thời phát hiện sai sót trong các quy trình sản xuất, đảm bảo sản phẩmkém chất lượng sẽ không được phân phối ra thị trường
Đảm bảo chất lượng là hình thức phát triển cao hơn, đi từ chất lượng sản phẩm lên
chất lượng hệ thống Hệ thống này bao gồm việc xây dựng cẩm nang chất lượng, lập kếhoạch về chất lượng, áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng, và xây dựng quy trình đảm bảochất lượng
TQM hiện được coi là hình thức “tiến hoá” cao nhất của quản lý chất lượng, được
định nghĩa như là những hoạt động quản lý có sự tham gia tích cực của tất cả các nhânviên của một cơ quan hay tổ chức trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức đó nhằm đạtđược chất lượng với chi phí thấp nhất Trong giai đoạn phát triển này, chất lượng cầnđược không ngừng cải tiến, nâng cao dựa trên những nguyên tắc cơ bản như định hướngkhách hàng, huấn luyện nhân viên về quản lý chất lượng, khả năng lãnh đạo của ngườiquản lý, xây dựng kế hoạch chiến lược, quản lý quy trình hoạt động, và đánh giá chấtlượng hoạt động
1.2.2 Những nguyên tắc chính của quản lý chất lượng
Một số nguyên tắc chính trong hoạt động quản lý chất lượng bao gồm: sự lãnh đạo,lập kế hoạch, định hướng bởi khách hàng, quản lý nguồn nhân lực, quản lý quy trình hoạtđộng và đánh giá hoạt động
Sự lãnh đạo là khả năng ảnh hưởng tích cực đến con người và hệ thống nhằm tạo ra
một ảnh hưởng tích cực hay đạt được kết quả quan trọng (Evans & Lindsay, 2008, tr.212) Một người lãnh đạo hiệu quả cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong cơ quan,lôi cuốn mọi người vào việc đạt được các mục tiêu chất lượng của cơ quan Người lãnh
Trang 13đạo cũng cần phải có tầm nhìn, xác định những mục tiêu trước mắt và lâu dài cần đạtđược, và sử dụng những phương pháp phù hợp để đạt các mục tiêu đó.
Lập kế hoạch là việc xác lập những định hướng nền tảng cho việc phát triển của cơ
quan-tổ chức
Định hướng bởi khách hàng được xem như nguyên tắc cơ bản của khu vực dịch vụ,
trong đó chất lượng được xây dựng dựa trên nhu cầu của khách hàng Vì vậy, mỗi tổ chứccần nghiên cứu nhu cầu của khác hàng, xác định những nhóm khách hàng khác nhau, vàthiết kế các dịch vụ và sản phẩm phù hợp cho từng nhóm
Quản lý nguồn nhân lực được xem như một nguyên tắc quan trọng trong quản lý
chất lượng Một tổ chức cần xây dựng và thực hiện những chính sách phù hợp đối vớinhân viên về tuyển dụng, khen thưởng, huấn luyện và đào tạo nhằm khuyến khích họtham gia vào hoạt động quản lý chất lượng, biến những mục tiêu chất lượng của tổ chứcthành các kết quả thực tiễn
Quản lý quy trình là một nguyên tắc chìa khoá, bao gồm tất cả các hoạt động mà
một tổ chức tiến hành nhằm mang lại những giá trị cho khách hàng thông qua các sảnphẩm và dịch vụ Để có thể quản lý quy trình, các tổ chức trước hết cần xây dựng những
sổ tay chất lượng nhằm chỉ dẫn mọi hoạt động và thao tác cho các quy trình khác nhau.Các quy trình này cần được điều chỉnh và cải tiến khi cần thiết để phù hợp với sự pháttriển và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong tổ chức
Đánh giá các hoạt động là một hoạt động hệ thống nhằm xác định hiệu quả và hiệu
suất của một tổ chức trong mối tương quan với các tiêu chuẩn hay tiêu chí chất lượng đãxác định hoặc các mục tiêu chất lượng đã đề ra Vì vậy, bước đầu tiên là một tổ chức cầnlựa chọn hoặc xây dựng khung tiêu chuẩn về chất lượng, tiếp đó là sử dụng nhữngphương pháp và công cụ phù hợp để tiến hành đánh giá Các số liệu và thông tin thu thậpđược cần được phân tích để phục vụ cho việc ra quyết định và cải tiến-nâng cao chấtlượng
1.2.3 Bộ tiêu chuẩn ISO-9000
Trang 14Bộ tiêu chuẩn ISO-9000, do tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO) ban hành năm
1987, nhằm mục đích đưa ra một số mô hình quản lý chất lượng được chấp thuận ở phạm
vi quốc tế và có thể áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh
ISO-9000 đề cập tới các lĩnh vực chủ yếu trong quản lý chất lượng: Chính sách chấtlượng, thiết kế sản phẩm, cung ứng; kiểm soát quá trình ,phân phối dịch vụ sau bán hàng,đánh giá nội bộ, đào tạo, huấn luyện ISO-9000 là tập hợp những kinh nghiệm quản lýchất lượng đã được thực thi tại nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển
Bộ tiêu chuẩn ISO-9000 bao gồm các hệ thống tiêu chuẩn sau đây:
* ISO-9001
Đây là hệ thống quản lý chất lượng trong khâu thiết kế, triển khai, sản xuất, lắp đặt
và dịch vụ kỹ thuật, là hệ thống có phạm vi áp dụng lớn nhất Nó được sử dụng trong cácdoanh nghiệp có trách nhiệm thiết kế - triển khai, sản xuất – lắp đạt và dịch vụ cho sảnphẩm
Tiêu chuẩn này bao gồm một loạt các yêu cầu về hệ thống quản lý chất lượng củadoanh nghiệp, bắt đầu từ trách nhiệm của quản trị cấp cao, chuẩn bị các chỉ tiêu để thẩmtra các yếu tố chính trong quản lý chất lượng toàn diện cho đến việc thẩm tra chất lượngnội bộ để xác minh hiệu quả của hệ thống quản lý chất lượng
* ISO-9002
Là hệ thống quản lý chất lượng trong sản xuất, lắp đặt tương tự như ISO-9001, song
nó khác ở chỗ chỉ giới hạn cho triển khai làm dịch vụ cho sản phẩm Đối với doanhnghiệp chỉ sản xuất và lắp đặt sản phẩm thì ISO-9002 thoả mãn các yêu cầu cơ bản
* ISO-9003
Là hệ thống quản lý chất lượng trong khâu kiểm tra và thử nghiệm cuối cùng
ISO-9003 được áp dụng cho các doanh nghiệp mà sản phẩm ít liên quan tới thiết kế, lắp đặt.ISO-9003 bảo đảm với khách hàng về mặt kiểm tra và thử nghiệm cuối cùng củadoanh nghiệp đối với số liệu về chất lượng là đảm bảo tích trung thực, phản ánh thực tếchất lượng sản phẩm bán cho khách hàng Nếu doanh nghiệp thực hiện đúng theo ISO-
9003 thì sản phẩm mà khách hàng nhận được là sản phẩm có chất lượng đúng với tiêuchuẩn thiết kế quy định