Sự Phát Triển Nền Kinh Tế Nhật Bản- Những năm trước cách mạng của vua Minh Trị 1868 Nhật Bản là một nước phong kiến, nhà nước thi hành chính sách đóng cửa nền kinh tế lạc hậu nền công
Trang 1CHỦ ĐỀ: CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở NHẬT BẢN
THỰC HIỆN: DƯƠNG TRUNG NGHIA
Trang 2CÁC HÌNH THỨC TỔ CHƯC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
Điểm công nghiệp
Khu công nghiệp Trung tâm công nghiệp
Vùng công nghiệp
Tổ hai CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC CÔNG NHGIỆP
Trang 3biển là nhân tố tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Nhật Bản và
là con đường giao thông thuận lợi để giao lưu với các nước Địa hình chủ yếu là đồi núi.và là một nước nghèo tài nguyên.Nhật bản là một quốc gia kém may mắn về điều kiện tự nhiên như các quốc gia khác, Là một nước rất nghèo nàn về tài nguyên trong khi dân số quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong Đệ nhị thế chiến song với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phát triểnvà trở nên giàu có, và phồn vinh với nền kinh tế ngày càng hùng mạnh như ngày nay
Trang 4Sự Phát Triển Nền Kinh Tế Nhật Bản
- Những năm trước cách mạng của vua Minh Trị (1868) Nhật Bản là
một nước phong kiến, nhà nước thi hành chính sách đóng cửa nền
kinh tế lạc hậu nền công nghiệp không có chỉ có thủ công và thương
nghiệp trong khi Tây Âu và Hoa Kì đã trãi qua con đuờng TBCN
- Sau cách mạng Minh Trị đến chiến tranh thế giới thứ II Nhật Bản tiến hành xâm luợc thuộc địa
Kể từ khi chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản phát động cuộc chiến tranh xâm lược, Nhật Bản bị chủ nghĩa phát xít làm cho nghèo nàn, kiệt quệ Nỗi đau lớn nhất của nền kinh tế của Nhật là Mỹ đã ném hai quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ xuống 2 thành phố lớn của Nhật Bản là
HIROSHIMA và NAGASAKI Làm đất nứơc Nhật Bản bị tàn phá
nặng nề.
Video Clip
Trang 5Đến 1952 kinh tế đã khôi phục và phát triển cao độ trong thời
Tốc độ phát triển tổng sản phẩm quốc dân (GDP) bình quân năm từ 1950-1973
Thời kỳ 1686-1990 được gọi là nền kinh tế “bong bóng”, với tóc độ tăng GDP trung bình 5,3% Từ năm 1991, kinh tế
nhật bản phát triển chậm
Trang 6Tuy tốc độ phát triển tăng chậm, nhưng nhật bản hiện nay tiếp tục là nước có tiềm năng lớn thứ hai thế giới về kinh tế, khoa học kĩ thuật, tài chính Như vậy trong cơ cấu nền kinh
tế nhật bản có các hình thức tổ chức phổ biến sau:
CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC CÔNG NGHIỆP Ở NHẬT BẢN
Trang 7I.KHU CÔNG NGHIỆP
Trong suốt thời kì tăng trưởng ( những năm
70 của thế kỷXX)của nền kinh tế Nhật Bản,các khu công nghiệp đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển các ngành sản xuất công
nghiệp và đảm bảo phát triển kinh tế cân đối
giữa các vùng, miền của Nhật Bản.
Tính đến những năm cuối của thế kỷ trước,Nhật đã có 602 KCN, gồm có 77 KCN ven biển,525 KCN nội địa với tổng diện tích 34.968
ha, tổng diện tích các KCN ven biển là 20.257
ha và các KCN nội địa là 14.511 ha Khu công nghiệp Quang Minh
Trang 8Nhân tố cơ bản đã tạo sự thành công của hệ
nghiệp; đồng thời đề cập đến các kế hoạch xây dựng nhà máy mới hay mở rộng các nhà máy hiện có, bảo vẽ môi trường và ổn định lao động
Trang 9Quy hoạch phát triển các KCN.
Trang 10Chính phủ NB đã dành một
lượng lớn đầu tư ngày càng lớm cho
khu vực này.Năm 1955, tổng vốn
đầu tư cho cơ sở hạ tầng công
nghiệp là 80 tỷ yên, tương đương
triển công nghiệp: hỗ trợ về thuế,hỗ
trợ vốn kinh doanh từ nguồn vốn
sách trung ương và ngân sách địa
phương,tạo điều kiện vay vốn ưu đãi
cho các tổ chức thuộc Chính phủ
Chính phủ NB đã hỗ trợ vốn
ngân sách để xây dựng các co8 sở
phúc lợi cho xã hội và bảo vệ môi
trường phục vụ cho các KCN.
Cơ chế hổ trợ phát triển khu công nghiệp.
Tổ hai CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC CÔNG NHGIỆP Ở NHẬT BẢN
Trang 11II TRUNG TÂM CÔNG NGIỆP
Đặc điểm của ngành công nghiệp
Có một không gian rộng lớn, trong đó bao gồm rất nhiều điểm công nghiệp, khu công nghiệp và trung tâm công nghiệp, có mối liên hệ mật thiết với nhau về mặt sản xuất; Có những nét tương đồng trong quá trình hình thành công nghiệp
trong vùng Trong vùng công nghiệp bao giờ
cũng có một vài ngành công nghiệp chủ yếu, tạo nên hướng chuyên môn hóa của vùng công
nghiệp đó.
Trang 12Thành phố Kyoto là trung tâm sản xuất áo Kimono.Tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là hàng thủ công
mỹ nghệ.Công nghiệp nặng chủ yếu là sản xuất hàng điện tử, đây là nơi đóng trụ sở của các hãng Nintendo,OMRON,Kyocera và MurataMachinery.Hãng Wacoal lớn cũng hoạt động ở đây.Tuy nhiên,sự tăng trưởng của ngành công nghệ cao cũng không kịp nhịp suy giảm của công nghiệp truyền thống Sản lượng công nghiệp của Kyoto đã giảm súc khá nhiều và giảm súc so với csác thành phố Nhật Bản.
Trang 13Hiroshima được coi là trung tâm văn hoá,kinh
tế ,chính trị của khu vực phía tây đất nước Nhật Bản.Hiroshima được
nhân dân thế giới biết đến sau khi bị Mỹ thả
bom nguyên tử 1945.
Hiện nay Hiroshima rất
có nhiều nhà máy và
một trong những trung tâm công nghiệp của
đất nước
Trang 14Tokio là một trung tâm công nghiệp nặng và chế tạo từ thời Minh Trị cho đến cuối thế chiến II.Sau năm 1965,các ngành thương mại,tài chính,giao thông ,thông tin,bán sỉ- bán lẻ và ngàng dịch vụ bất đầu vượt trội.Tokio cũng là trung tâm tài chính lớn.Thị trường chứng khoán Tokio là một trong những thị trường lớn nhất thế giới.Hầu hêt các tập đoàn,các công ty nước ngoài cũng như các cơ quan thông tin báo chí có trụ sở chính ở Tokio.
Tokio vừa khánh thành một trung tâm hoạt hình được xem là tầm cở nhất trên thế giới,nhằm mục đích thúc đẩy nên công nghiệp phim hoạt hình của Nhật trong nước cũng như xuất ngoại.
Trang 15Nagoya là trung tâm hành chính của tỉnh Aichi và là một trong 15 đô thị quốc gia của Nhật Bản.Ngành công nghiệp chính là công nghiệp Ôtô.Rất nhiều công ty sản xuất Ôtô của Nhật đều đặt ở Nagoya,giống như ở Mỹ các nhà sản xuất oto đều đặt ở Detroit.Tổng hành dinh công ty Toyota đặt ở thành phố lân cận.Tổng công ty bánh kẹo Nhật Bản Marukawa cũng đặt ở Nagoya,rồi công ty đồ gốm Noritake Rất nhiều ngành công nghiệp cao của Nhật Bản như oto,hàng không, máy công cụ,robot công nghệ… Tập trung ở Nagoya và vùng lân cận,trung tâm công nghiệp sản xuất đồ gia dụng và công nghiệp dệt,nên Nagoya chiếm gần 1% sản lượng công nghiệp thế giới.
Trang 16IV VÙNG CÔNG NGHIỆP
Mỗi ngành công nghiệp thường
được phân bố trên một phạm vi, lãnh
thổ nhất định, với đầy đủ các điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thuận
lợi cho sự phát triển.Đó là vùng
phân bố của ngành, thường gọi là
vùng ngành.Các vùng ngành thường
gặp là vùng khai thác than ,vùng
khai thác dầu khí…
Trên thực tế một lãnh thổ nhất định
có những điều thuận lợi cho việc
phân bố các xí nghiệp không chỉ của
một ngành mà của một số ngành
công Nghiệp.Do đó, các vùng ngành
chồng chéo lên nhau và là thành
phần của vùng công nghiệp tổng
hợp, gọi là vùng công nghiệp.
TOKYO Thành phố không ngủ đêm
Trang 17Đặc điểm của ngành công nghiệp
Có một không gian rộng lớn,
trong đó bao gồm rất nhiều
điểm công nghiệp, khu công
nghiệp và trung tâm công
nghiệp, có mối liên hệ mật thiết
với nhau về mặt sản xuất; Có
những nét tương đồng trong quá
trình hình thành công nghiệp
trong vùng Trong vùng công
nghiệp bao giờ cũng có một vài
ngành công nghiệp chủ yếu, tạo
nên hướng chuyên môn hóa của
vùng công nghiệp đó.
Trang 18Các vùng công nghiêp gắn với các đảo:
Hônxu:diện tích rộng nhất, dân số đông nhất,kinh tế phát triển nhất trong các vùng- tập trung ở phần phía nam đảo.Các trung tâm công nghiệp lớn:Tô-ki-ô,I-ô-cô-ha- ma,Na-gôi-a,Ki-ô-tô,Ô-xa-ka,Cô -bê,tạo nên “chuỗi đô thị” Kiu-xiu:phát triển công nghiệp nặng,đặc biệt khai thác than và luyện thép.Các trung tâm công nghiệp lớn:Phu-cu- ô-ca, Na-ga-xa-ki.Miền Đông Nam trồng nhiều cây công nghiệp và rau quả.
Xi-cô-cư:khai thác quặng đồng.Nông nghiệp đóng vai trò chính trong hoạt động kinh tế.
Hô-cai-đô:rừng bao phủ phần lớn diện tích Dân cư thưa thớt Công nghiệp :khai thác than đá,quặng sắt,luyện kim đen, khai thác và chế biến gỗ, sản xuất giấy,…Các trung tâm công nghiệp lớn:Xa-pô-rô, Mu-rô-ran
Trang 19Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển
Quy mô nền kinh tế này theo thước đo GDP với tỷ giá thị trường
lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, còn theo thước đo GDP ngang
giá sức mua lớn thứ ba sau Mỹ và Tung Quốc.
Tỷ trọng các hoạt động kinh tế trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2005 như sau: