MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Cách đây 20 năm, vào ngày 8111993, Hội nghị bàn tròn về ODA dành cho Việt Nam đã được tổ chức tại Paris, thủ đô nước Pháp. Sự kiện quan trọng này chính thức đánh dấu cho sự mở đầu mối quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam, một đất nước đang trên con đường đổi mới, với cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế. Từ đó đến nay, “Việt Nam đã chứng kiến những đổi thay toàn diện trong đời sống kinh tế và xã hội, đất nước đã đạt được nhiều thànhtựu phát triển nổi bật với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình năm khoảng 7% trong suốthai thập kỷ. Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình vào năm 2010, mức thu nhập bình quân đầu người hiện nay là 1.600 USD”1 và “Tỷ lệ nghèo đói đã giảm xuống còn 10% vào năm 2012, hơn 30 triệu người Việt Nam đã thoát khỏi đói nghèo, các chỉ số xã hội cũng đã tốt hơn so với nhiều nước có trình độ phát triển tương đồng”2. Hiện nay, có khoảng 51 nhà tài trợ, trong đó có 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương đang hoạt động, cung cấp nguồn ODA không hoàn lại và vốn vay ưu đãi cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội của Việt Nam. Tổng vốn ODA ký kết trong các điều ước quốc tếcụ thể từ năm 1993 đến 2012 đạt trên 58,4 tỷ USD, bằng 71,69% tổng vốn ODAcam kết, trong đó vốn vay ưu đãi đạt 51,6 tỷ USD (chiếm khoảng 88,4%), vốn ODA không hoàn lại đạt 6,76 tỷ USD (chiếm khoảng 11,6%). Trong hai thập kỷ qua, tổng vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỷ USD, chiếm trên 66,92% tổng vốn ODA ký kết. “Nguồn vốn ODA đã hỗ trợ hiệu quả cho Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống chính sách, tăng cường năng lực thể chế, cải cách hành chính, chuyển đổi nền kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế; phát triển nguồn nhân lực; chuyển giao công nghệ, kiến thức và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, qua đó, góp phần nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của một số ngành kinh tế, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để thúc đẩy 1 Phát biểu của Ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Kếhoạch và Đàu tư tại Lễ kỷ niệm 20 năm quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ 2 Phát biểu của Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam tại Lễ kỷ niệm 20 năm quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ 2thương mại, đầu tư và phát triển khu vực kinh tế tưnhân; tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế”3. Ở Việt Nam, lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nôngthôn kết hợp xóa đói giảm nghèo là lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA. Vốn ODA cho lĩnh vực này chỉ đứng sau các lĩnh vực Giao thông vận tải Bưu chính viễn thông và Năng lượng Công nghiệp. Trong thời kỳ 19932012, tổng nguồn vốn ODA ký kết cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam kết hợp xóa đói giảm nghèo đạt trên 8,85 tỷ USD (bao gồm vốn vay 7,43 tỷ USD, vốn viện trợ không hoàn lại 1,42 tỷ USD). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ quản chính các chương trình, dự án ODA với tổng vốn 5,89 tỷ USD, trong đó có 3,43 tỷ USD vốn vay (chiếm 58,23%) và 2,46 tỷ USD vốn viện trợ không hoàn lại (chiếm 41,77%). Cũng trong 20 năm qua, vùng Duyên hải MiềnTrung luôn được xem là vùng ưu tiên của các nhà tài trợ lớn như WB, ADB, JICA, tỷ lệ huy động vốn của Vùng luôn chiếm khoảng 40% tổng vốn ODA của cả nướcBên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình thuhút, quản lý và sử dụng ODA trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn nói chung và ở vùng Duyên hải Miền Trung nói riêng vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế. Chẳng hạn như năng lực hấp thu viện trợ chưa cao, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn ODA còn chậm so với kế hoạch, thủ tục trong nước vẫn còn phức tạp, khác biệt với quy định của các nhà tài trợ quốc tế,… Trong khi đó, Nghị định số 382013NĐCP về quản lý và sử dụng nguồn Hỗ trợ phát triển chính thức vànguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ đã xác định nông nghiệp và phát triển nông thôn tiếp tục là một trong chín lĩnh vực được ưu tiên sử dụng các nguồn vốn này. Mặt khác, từ khi Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình, nguồn vốn ODA với Việt Nam sẽ thay đổi cả về số lượng và tính chất tài trợ. Để tiếp tục thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn ODA đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn trong những năm tới, vấn đề cần thiết là phải đánh giá đúng thực trạng thu hút và sử dụng 3 Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Lễ kỷniệm 20 năm quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ ngày 1710 2013, 3ODA trong lĩnh vực này để có các giải pháp cụ thể, phù hợp. Qua nghiên cứu tổng quan cho thấy đã có một số công trình nghiên cứu về ODA trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trước năm 2010, chưa có đề tài nghiên cứu cho giai đoạn sau đó khi Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình tính chất hỗ trợ ODA có nhiều thay đổi. Đặc biệt là chưa có nghiên cứu đề tài này tại vùng DHMT một cách cụ thể. Vì vậy, Nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài“Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào phát triển nôngnghiệp, nông thôn Việt Nam: Nghiên cứu tại vùng Duyên hải Miền Trung”,để nghiên cứu làm luận án tiến sĩ, với mong muốn góp phần vào việc giải quyết vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn về huy động, sử dụng nguồn vốn ODA cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Trang 1Vµ N¤NG TH¤N VIÖT NAM: NGHI£N CøU T¹I VïNG
DUY£N H¶I MIÒN TRUNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Luận án tiến sĩ “Thu hút và sử dụng
nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam: nghiên cứu tại vùng Duyên hải Miền Trung” là công trình nghiên cứu độc lập, do chính tôi hoàn thành Các tài liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Nghiên cứu sinh
Hà Thị Thu
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 7
1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan mật thiết đến đề tài luận án 7
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thu hút và sử dụng ODA ở các nước và các tổ chức trên thế giới 7
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam 10
1.1.3 Tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước và xác định hướng nghiên cứu 13 1.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu được sử dụng 14
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CƠ BẢN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA VÀO NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 18
2.1 Khái niệm và đặc điểm của Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) 18
2.1.1 Khái niệm ODA 18
2.1.2 Phân loại ODA và các nhà tài trợ ODA 23
2.1.3 Đặc điểm và các ưu, nhược điểm của ODA 28
2.2 Vai trò của ODA đối với nông nghiệp và nông thôn 35
2.2.1 ODA góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn 36
2.2.2 ODA tác động tới đổi mới tư duy và phương thức sản xuất, chế biến nông sản theo hướng thị trường 37
2.2.3 ODA góp phần thúc đẩy đa dạng hóa nông nghiệp 38
2.2.4 ODA góp phần thực hiện chiến lược tăng trưởng toàn diện và xóa đói giảm nghèo của Chính phủ 39
Trang 42.2.5 ODA góp phần phòng chống và giảm thiểu thiệt hại thiên tai, thích ứng
với biến đổi khí hậu 40
2.2.6 ODA góp phần nâng cao năng lực quản lý và chuyên môn 41
2.3 Quy trình và tiêu chí đánh giá thu hút và sử dụng ODA vào nông nghiệp và PTNT 42
2.3.1 Quy trình thu hút và sử dụng ODA vào Nông nghiệp và PTNT 42
2.3.2 Tiêu chí đánh giá thu hút và sử dụng ODA vào nông nghiệp và PTNT 46
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút và sử dụng ODA 49
2.4.1 Các nhân tố khách quan 49
2.4.2 Các nhân tố chủ quan 50
2.5 Kinh nghiệm của một số quốc gia về thu hút và sử dụng ODA trong phát triển nông nghiệp và nông thôn 52
2.5.1 Những kinh nghiệm thành công trong thu hút và sử dụng ODA 52
2.5.2 Những kinh nghiệm từ sự không thành công trong sử dụng ODA 55
2.5.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 57
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA VÀO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM VÀ VÙNG DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG 58
3.1 Khái quát về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam và đặc điểm vùng Duyên Hải Miền Trung 58
3.1.1 Khái quát về nông nghiệp nông thôn Việt Nam 58
3.1.2 Đặc điểm vùng Duyên hải Miền Trung 63
3.2 Tổng quan tình hình thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA vào phát triển nông nghiệp và nông thôn tại Việt Nam 71
3.2.1 Tình hình cam kết và giải ngân ODA tại Việt Nam thời kỳ 1993-2012 71
3.2.2 Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam thời kỳ 1993-2012 75
3.3 Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào phát triển nông nghiệp và nông thôn vùng Duyên hải Miền Trung 88
Trang 53.3.1 Thực trạng thu hút ODA vào phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng
Duyên hải Miền Trung 88
3.3.2 Thực trạng sử dụng ODA vào phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng Duyên hải Miền Trung 96
3.3.3 Đánh giá chung thực trạng thu hút và sử dụng ODA vào Phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng Duyên hải Miền Trung 110
3.4 Các vấn đề cần giải quyết trong thu hút và sử dụng ODA phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam và vùng Duyên hải Miền Trung đến năm 2020 121
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA VÀO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN VIỆT NAM VÀ VÙNG DUYÊNHẢI MIỀN TRUNG ĐẾN NĂM 2020 124
4.1 Định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam nói chung và vùng Duyên hải Miền Trung nói riêng đến năm 2020 và nhu cầu nguồn vốn ODA 124
4.1.1 Khái quát bối cảnh phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đến năm 2020 124
4.1.2 Mục tiêu và định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đến năm 2020 128
4.1.3 Định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng Duyên hải Miền Trung 131
4.1.4 Nhu cầu vốn đầu tư phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam và vùng Duyên hải Miền Trung 132
4.2 Các giải pháp nhằm thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam và vùng Duyên hải Miền Trung đến năm 2020 135
4.2.1 Nhóm giải pháp vĩ mô 135
4.2.2 Nhóm giải pháp về tổ chức, thực hiện 154
4.3 Một số kiến nghị với Nhà nước và cộng đồng các Nhà tài trợ 163
4.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 163
4.3.2 Kiến nghị với Nhà tài trợ 164
KẾT LUẬN 166
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 168
TÀI LIỆU THAM KHẢO 169 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
DAC Ủy ban hỗ trợ phát triển
DCs Các nước đang phát triển
DHMT Duyên hải miền Trung
F/S Nghiên cứu tiền khả thi
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
GTGT Giá trị gia tăng
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
IRR Tỷ suất hoàn vốn nội bộ
JICA Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản
KFW Ngân hàng Tái thiết Đức
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PTNT Phát triển nông thôn
TA Hỗ trợ kỹ thuật
WB Ngân hàng Thế giới
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
XHCN Xã hội Chủ nghĩa
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Danh mục bảng:
Bảng 3.1: GDP của Vùng Duyên hải Miền Trung giai đoạn 2007- 2010 66
Bảng 3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng Duyên hải Miền Trung 2007 - 2010 67
Bảng 3.3 Tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản toàn Vùng năm 2008 – 2010 69
Bảng 3.4: Nguồn vốn ODA lĩnh vực NN&PTNT theo nhà tài trợ thời kỳ 1993-2012 79
Bảng 3.5 Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA theo quy mô dự án thời kỳ 1993-2012 80
Bảng 3.6 Nguồn vốn ODA cho phát triển nông nghiệp và nông thôn 89
phân theo vùng thời kỳ 1993-2012 89
Bảng 3.7 Đánh giá năng lực chuẩn bị, đàm phán và ký kết dự án ODA 96
trong lĩnh vực Nông nghiệp và PTNT 96
Bảng 3.8 Đánh giá năng lực quản lý và thực hiện dự án của các Ban quản lý dự án ODA trong lĩnh vực nông nghiệp và PTNT 100
Bảng 3.9 Kết quả giảm nghèo thời kỳ 1993-2012 vùng Duyên hải Miền Trung 111 Bảng 3.10 Kết quả phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn vùng Duyên hải Miền Trung đến năm 2011 112
Bảng 3.11 Kết quả khảo sát nguyên nhân chậm giải ngân của các dự án phát triển nông nghiệp và nông thôn tại vùng DHMT 120
Bảng 4.1 Nhu cầu vốn đầu tư và vốn ODA cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam và vùng Duyên hải Miền Trung đến năm 2020 133
Bảng 4.2 Tổng hợp ý kiến đánh giá về các đề xuất giải pháp thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA 139
Trang 8Danh mục biểu đồ:
Biểu đồ 2.1 ODA cung cấp cho các khu vực trên thế giới 20
Biểu đồ 2.2 ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn trên Thế giới 36
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản vùng DHMT năm 2006 và 2011 65
Biểu đồ 3.2.Tổng vốn ODA cam kết, ký kết, giải ngân thời kỳ 1993-2012 tại Việt Nam 71
Biểu đồ 3.3 Cam kết, ký kết, giải ngân ODA thời kỳ 1993-2012 tại Việt Nam 72
Biểu đồ 3.4 Tỷ trọng ODA vốn vay trong tổng vốn ODA giai đoạn 1993-2012 72
Biểu đồ 3.5 ODA ký kết phân theo vùng 73
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ ODA phân theo vùng 74
Biểu đồ 3.7 Cam kết vốn ODA của các nhà tài trợ thời kỳ 1993-2012 74
Biểu đồ 3.8 Cơ cấu ODA ký kết theo ngành và lĩnh vực thời kỳ 1993-2012 76
Biểu đồ 3.9 Nguồn vốn ODA ký kết phân theo lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, thời kỳ 1993-2012 77
Biểu đồ 3.10 Đánh giá sự hài hòa về khung thể chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA 84 Biểu đồ 3.11 Diễn biến ODA qua các năm theo 5 lĩnh vực nông nghiệp và PTNT 85
Biểu đồ 3.12: Phân bổ vốn ODA lĩnh vực NN&PTNT theo vùng thời kỳ 1993-2012 88
Biểu đồ 3.13 Đánh giá sự phù hợp của dự án ODA với nhu cầu thực tế 92
Biểu đồ 3.14: Đánh giá quy trình thẩm định và phê duyệt dự án 95
Biểu đồ 3.15: Tổng hợp kết quả báo cáo giám sát và đánh giá Dự án ODA 102
Biểu đồ 3.16 Nhận thức của người hưởng lợi về ODA tại vùng DHMT 117
Trang 9Danh mục hình vẽ:
Hình 1.1 Khung nghiên cứu của Luận án 16 Hình 3.1 Bản đồ Vùng Duyên hải Miền Trung 64 Hình 3.2 Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về vốn ODA tại Việt Nam 97 Hình 3.3 Đánh giá nguyên nhân sử dụng vốn ODA chưa hiệu quả của Nhà tài trợ 119 Hình 4.1 Mô hình tổ chức Ban quản lý dự án chuyên nghiệp đề xuất cho Vùng Duyên Hải Miền Trung 142
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Cách đây 20 năm, vào ngày 8/11/1993, Hội nghị bàn tròn về ODA dành cho Việt Nam đã được tổ chức tại Paris, thủ đô nước Pháp Sự kiện quan trọng này chính thức đánh dấu cho sự mở đầu mối quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam, một đất nước đang trên con đường đổi mới, với cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế
Từ đó đến nay, “Việt Nam đã chứng kiến những đổi thay toàn diện trong đời sống kinh tế và xã hội, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu phát triển nổi bật với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình năm khoảng 7% trong suốt hai thập kỷ Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình vào năm 2010, mức thu nhập bình quân đầu người hiện nay là 1.600 USD”1 và “Tỷ lệ nghèo đói đã giảm xuống còn 10% vào năm 2012, hơn 30 triệu người Việt Nam đã thoát khỏi đói nghèo, các chỉ số xã hội cũng đã tốt hơn so với nhiều nước có trình độ phát triển tương đồng”2 Hiện nay, có khoảng 51 nhà tài trợ, trong đó có 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương đang hoạt động, cung cấp nguồn ODA không hoàn lại và vốn vay ưu đãi cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội của Việt Nam Tổng vốn ODA ký kết trong các điều ước quốc tế cụ thể từ năm 1993 đến
2012 đạt trên 58,4 tỷ USD, bằng 71,69% tổng vốn ODA cam kết, trong đó vốn vay
ưu đãi đạt 51,6 tỷ USD (chiếm khoảng 88,4%), vốn ODA không hoàn lại đạt 6,76 tỷ USD (chiếm khoảng 11,6%) Trong hai thập kỷ qua, tổng vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỷ USD, chiếm trên 66,92% tổng vốn ODA ký kết “Nguồn vốn ODA đã hỗ trợ hiệu quả cho Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống chính sách, tăng cường năng lực thể chế, cải cách hành chính, chuyển đổi nền kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế; phát triển nguồn nhân lực; chuyển giao công nghệ, kiến thức và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, qua đó, góp phần nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của một số ngành kinh tế, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để thúc đẩy
1 Phát biểu của Ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đàu tư tại Lễ kỷ niệm 20 năm quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ
2 Phát biểu của Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam tại Lễ kỷ niệm 20 năm quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ
Trang 11thương mại, đầu tư và phát triển khu vực kinh tế tư nhân; tăng cường hội nhập kinh
tế quốc tế”3
Ở Việt Nam, lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo là lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA Vốn ODA cho lĩnh vực này chỉ đứng sau các lĩnh vực Giao thông vận tải & Bưu chính viễn thông và Năng lượng & Công nghiệp Trong thời kỳ 1993-2012, tổng nguồn vốn ODA ký kết cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam kết hợp xóa đói giảm nghèo đạt trên 8,85 tỷ USD (bao gồm vốn vay 7,43 tỷ USD, vốn viện trợ không hoàn lại 1,42 tỷ USD) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ quản chính các chương trình, dự án ODA với tổng vốn 5,89 tỷ USD, trong đó có 3,43 tỷ USD vốn vay (chiếm 58,23%) và 2,46 tỷ USD vốn viện trợ không hoàn lại (chiếm 41,77%) Cũng trong 20 năm qua, vùng Duyên hải Miền Trung luôn được xem là vùng ưu tiên của các nhà tài trợ lớn như WB, ADB, JICA, tỷ lệ huy động vốn của Vùng luôn chiếm khoảng 40% tổng vốn ODA của cả nước
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình thu hút, quản lý và sử dụng ODA trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn nói chung và ở vùng Duyên hải Miền Trung nói riêng vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế Chẳng hạn như năng lực hấp thu viện trợ chưa cao, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn ODA còn chậm so với kế hoạch, thủ tục trong nước vẫn còn phức tạp, khác biệt với quy định của các nhà tài trợ quốc tế,… Trong khi đó, Nghị định số 38/2013/NĐ-CP về quản
lý và sử dụng nguồn Hỗ trợ phát triển chính thức và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ đã xác định nông nghiệp và phát triển nông thôn tiếp tục là một trong chín lĩnh vực được ưu tiên sử dụng các nguồn vốn này Mặt khác, từ khi Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình, nguồn vốn ODA với Việt Nam sẽ thay đổi cả về số lượng và tính chất tài trợ Để tiếp tục thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn ODA đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn trong những năm tới, vấn đề cần thiết là phải đánh giá đúng thực trạng thu hút và sử dụng
3 Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Lễ kỷ niệm 20 năm quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ ngày 17/10/ 2013,
Trang 12ODA trong lĩnh vực này để có các giải pháp cụ thể, phù hợp Qua nghiên cứu tổng quan cho thấy đã có một số công trình nghiên cứu về ODA trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trước năm 2010, chưa có đề tài nghiên cứu cho giai đoạn sau đó khi Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình tính chất hỗ trợ ODA có nhiều thay đổi Đặc biệt là chưa có nghiên cứu đề tài này tại vùng DHMT một cách
cụ thể Vì vậy, Nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài“Thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam: Nghiên cứu tại vùng Duyên hải Miền Trung”, để nghiên cứu làm luận án tiến sĩ, với
mong muốn góp phần vào việc giải quyết vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
về huy động, sử dụng nguồn vốn ODA cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải các cơ sở khoa học và phân tích thực trạng thu hút và sử dụng ODA vào nông nghiệp và PTNT tại Việt Nam nói chung và vùng Duyên hải Miền Trung nói riêng từ đó đề xuất phương các định hướng và các giải pháp nhằm tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng ODA vào nông nghiệp và PTNT Việt Nam và vùng DHMT thời kỳ 2013-2020 Các mục tiêu cụ thể của Luận án gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và đưa ra khung lý thuyết nghiên cứu thu hút và
sử dụng nguồn vốn ODA nói chung và ODA đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng
- Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan đến thu hút và sử dụng ODA nói chung và ODA đối với lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn nói riêng, chỉ
ra những mặt hạn chế và bất cập của các nghiên cứu này cũng như những vấn đề chưa được nghiên cứu và làm rõ về thu hút và sử dụng ODA vào nông nghiệp và PTNT
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam nói chung và ở vùng DHMT nói riêng trong giai đoạn 1993-2012
Trang 13- Đề xuất các định hướng và hệ thống các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút, nâng cao hiệu quả nguồn vốn ODA vào phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam và vùng DHMT trong những năm tiếp theo
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án trả lời 4 câu hỏi nghiên cứu chính là:
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và PTNT?
- Các tiêu chí đánh giá nguồn vốn ODA đối với nông nghiệp và PTNT là gì?
- Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và PTNT Việt Nam và vùng DHMT những năm qua như thế nào?
- Cần có các định hướng và giải pháp gì để nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và PTNT Việt Nam và vùng DHMT?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Luận án là cơ chế, chính sách, biện pháp
tổ chức thu hút và quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam nói chung, vùng DHMT nói riêng Do việc thu hút nguồn vốn ODA được thực hiện bằng các chính sách, cơ chế và giải pháp chủ yếu
do các Bộ/Ngành thuộc Chính phủ, nên tại vùng DHMT nghiên cứu tập trung phân tích và đánh giá quá trình tổ chức, quản lý sử dụng nguồn vốn này trong lĩnh vực nông nghiệp và PTNT và tác động của nó đến trình độ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Vùng
Trang 14Đồng thời, Luận án cũng nghiên cứu các kinh nghiệm thành công và bài học thất bại trong thu hút và sử dụng ODA vào nông nghiệp và PTNT từ các nước nhận viện trợ ODA trên Thế giới
Luận án tập trung đánh giá số liệu thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và PTNT trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2012, tức là từ khi nguồn vốn ODA xuất hiện tại Việt Nam cho đến 2012
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Đóng góp về mặt lý luận
Luận án đã làm rõ khái niệm, điều kiện để được công nhận là ODA, phân loại ODA, tính chất và mặt trái của ODA, vai trò của nguồn vốn ODA đối với nông nghiệp và PTNT, các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút và sử dụng ODA, quy trình thu hút và sử dụng ODA, tiêu chí đánh giá thu hút và sử dụng ODA trong nông nghiệp
và phát triển nông thôn
4.2 Đóng góp về mặt thực tiễn, đề xuất rút ra từ kết quả nghiên cứu
- Luận án tổng kết và làm rõ một số bài học kinh nghiệm về thu hút và sử dụng ODA vào nông nghiệp và PTNT từ các nước nhận viện trợ ODA trên thế giới,
có trình độ và lịch sử phát triển kinh tế tương đồng với Việt Nam như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan và một số nước Châu Phi
- Luận án đã phân tích thực trạng thu hút và sử dụng ODA vào nông nghiệp và PTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT nói chung và vùng DHMT nói riêng, rút ra những thành tựu nổi bật và những điểm yếu cần khắc phục để làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và PTNT tại Việt Nam nói chung và vùng DHMT nói riêng
- Luận án đã phân tích và làm rõ định hướng phát triển nông nghiệp và PTNT Việt Nam và tại vùng DHMT trong thời gian tới, từ đó xác định nhu cầu thu hút ODA cho phát triển ngành và vùng
Trang 15- Luận án đã đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút, nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA vào phát triển ngành nông nghiệp và nông thôn những năm tiếp theo
- Luận án đã đưa ra các kiến nghị với Nhà tài trợ và Cơ quan quản lý nhà nước các cấp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng ODA vào nông nghiệp và PTNT
5 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận án được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan mật thiết đến đề tài luận án
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thu hút và sử dụng ODA ở các nước và các
tổ chức trên thế giới
ODA ra đời sau chiến tranh Thế giới lần thứ II (năm 1943), khởi nguồn từ
Tổ chức tiền thân của OECD Tổ chức này hình thành nhằm quản lý nguồn viện trợ
của Canada và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trong khuôn khổ kế hoạch “Marshall Plane” nhằm tái thiết lại Châu Âu sau chiến tranh Thế giới lần thứ II Năm 1961,
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế ra đời thay thế cho Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Âu, trong khuôn khổ hợp tác phát triển các nước thuộc tổ chức OECD, OECD
đã tiến hành thành lập ra các Uỷ ban chuyên môn nhằm điều phối toàn bộ hoạt động của OECD, trong đó có DAC (Development Co-operation Directorate) là một trong những Uỷ ban có nhiệm vụ hỗ trợ và cân đối toàn bộ nguồn viện trợ do các nước thuộc OECD đóng góp tới các nước đang phát triển, giúp các nước này phát triển kinh tế một cách bền vững
Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA theo vùng và quốc gia chủ yếu là bài báo trên các tạp chí kinh tế, các báo cáo của nhóm tư vấn, diễn văn họp thường niên của các nhà tài trợ Các công trình nghiên cứu của nước ngoài đề cập đến các nội dung sau đây:
Về khái niệm và nguồn gốc ra đời của ODA:
(1)Helmut FUHRER (1996), với nghiên cứu “A history of the development
assistance committee and the development co-operation directorate in dates, names and figures”[62], cho thấy năm 1969, Tổ chức OECD đã đưa ra khái niệm về nguồn vốn ODA lần đầu tiên như sau: “Nguồn vốn Phát triển chính thức (viết tắt là ODA)
là nguồn vốn hỗ trợ để tăng cường phát triển kinh tế và xã hội của các nước đang
Trang 17phát triển; Thành tố hỗ trợ chiếm một khoảng xác định trong khoản tài trợ này” Như vậy, khái niệm sơ khai đã phân biệt ODA với các nguồn vốn đầu tư khác với hai đặc điểm chính: (i) Đây là khoản hỗ trợ phát triển chính thức; (ii) Có bao gồm thành tố hỗ trợ
Các khái niệm sau về ODA đã bổ sung và lượng hóa tỷ lệ phần trăm thành tố
hỗ trợ là 20-30 % tùy vào Nhà tài trợ và Quốc gia nhận tài trợ Tuy nhiên, qua thời gian mục đích viện trợ cũng thay đổi, từ mục đích ban đầu là hàn gắn vết thương chiến tranh, sau này là trách nhiệm của các nước giàu giúp các nước nghèo để phát triển kinh tế - xã hội
Về đánh giá hiệu quả của nguồn vốn ODA vào phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển:
(2) Các nghiên cứu của Boone (1996) [59] và Lensink và Morrissey (2000)[66] đã tập trung đánh giá hiệu quả của nguồn vốn ODA đối với quá trình
phát triển kinh tế của các nước đang phát triển từ góc độ kinh tế vi mô, chỉ ra các hạn chế và tác động xấu của các nước đang phát triển khi tiếp nhận nguồn vốn ODA Đó là việc nhận nguồn viện trợ không ổn định và không chắc chắn từ bên ngoài đã ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách tài chính và đầu tư của nước nhận viện trợ Các nghiên này đã nhấn mạnh trách nhiệm của các nhà tài trợ trong chính sách ODA Hơn nữa, các tác giả đã khẳng định rằng tác động của ODA là nguy hiểm và tiêu cực đến phát triển kinh tế, phần lớn là do tham nhũng và thiếu hiệu quả trong quá trình thực hiện nguồn vốn ODA của nước nhận viện trợ
Đi ngược với quan điểm trên là phần đông các nhà nghiên cứu, trong đó có các công trình nghiên cứu của:
(3) Chenery và Strout (1966 )[60] nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn vốn
ODA Tác giả đã lập luận rằng hỗ trợ phát triển từ các nước giàu cho các nước đang phát triển sẽ thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo, bằng cách cung cấp một lượng vốn cần thiết ở giai đoạn đầu, rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia
Trang 18(4) Teboul và Moustier (2001 [73] cho thấy, lượng vốn ODA từ bên ngoài
ảnh hưởng tích cực đối với trường hợp của các nước trong tiểu vùng Sahara châu Phi Hỗ trợ phát triển từ nước ngoài đã tác động gia tăng tiết kiệm và tăng trưởng GDP, góp phần phát triển kinh tế các nước tiếp nhận ODA của sáu quốc gia đang phát triển trên biển Địa Trung Hải giai đoạn 1960-1966
(5) SANGKIJIN, Korea Student Aid Foundation (KOSAF), South Korea
&CHEOLH.OH, Soongsil University, South Korea (2012 [72], đã nghiên cứu phân
tích hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA tại các nước nhận viện trợ, trên cơ sở phân tích dữ liệu thu hút và sử dụng ODA tại 117 quốc gia trong suốt 28 năm 1980-2008 Kết quả phân tích cho thấy hiệu quả kinh tế ODA của các nước đang phát triển khác nhau tùy thuộc vào điều kiện chính trị (ví dụ, minh bạch quốc gia), và điều kiện kinh tế của từng quốc gia (ví dụ, mức thu nhập) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, một khi mức độ minh bạch của một quốc gia đạt đến một điểm nhất định, hiệu ứng cận biên ròng kinh tế ODA cho các quốc gia giảm, thì ODA tác động có hiệu quả đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các Quốc gia nhận viện trợ
(6) Tun Lin Moe[74], với nghiên cứu “An empirical investigation of
relationships between official development assistance (ODA) and human and educational development”, đã đánh giá tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào sự phát triển giáo dục và con người ở tám quốc gia được lựa chọn tại khu vực Nam Á và chỉ ra sự khác biệt các chỉ số phát triển con người; cơ
sở hạ tầng và chất lượng giáo trình, giáo viên đã được cải thiện sau 15 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA
Về những bài học kinh nghiệm trong quá trình sử dụng ODA vào phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có nông nghiệp và phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo:
(7) Antonio Tujan Jr (2009)[56], đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm trong
quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA là: (i) Sự cởi bỏ vô điều kiện viện trợ, bao gồm cả viện trợ lương thực và hỗ trợ kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực sản xuất
và đời sống của người nghèo thông qua các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ; (ii) Tăng
Trang 19cường quyền sở hữu và trách nhiệm của địa phương bằng cách giảm dần sự phụ thuộc của họ vào nhà tài trợ; (iii) Tăng cường hỗ trợ trực tiếp cho các tổ chức xã hội dân sự là đối tác quan trọng về các chương trình xoá đói giảm nghèo Tác giả đã chỉ ra cụ thể tình hình kinh tế, chính trị của nước nhận viện trợ, khu vực, lĩnh vực thu hút và sử dụng viện trợ và các số liệu để đánh giá hiệu qủa sử dụng từ năm 1960 đến năm 2002
(8) Asian Development Bank (1999)[57], đã chỉ ra một trong những thành
công trong thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Thái Lan là thành lập một hệ thống quản lý, điều phối và thực hiện các chương trình, dự án đủ mạnh từ trung ương đến địa phương, các chương trình viện trợ được tập trung ở một cơ quan là Tổng vụ hợp tác kinh tế và kỹ thuật trực thuộc Chính phủ
(9) Jamie Morrision, Dirk Bezemer and Catherine Arnold (November 2004) [64] thực hiện nghiên cứu động thái nguồn vốn ODA cho nông nghiệp và phát triển
nông thôn trên thế giới giảm liên tiếp trong hai thập kỷ qua, nhằm trả lời hai câu hỏi: (i) Tính chất và khối lượng nguồn vốn ODA viện trợ cho nông nghiệp thay đổi như thế nào?; (ii) Nguyên nhân của sự sụt giảm nguồn vốn ODA đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn là gì? Kết quả của nghiên cứu này cho thấy: (i) Tỷ trọng nguồn vốn ODA cho nông nghiệp cao nhất chiếm 17% vào năm 1982 và giảm xuống còn 3,5% tổng vốn ODA vào năm 2002, về phân bố địa lý từ năm 1982-2002, nguồn vốn ODA cho nông nghiệp tại Châu Phi giảm 50% và giảm 83% tại khu vực Nam và Trung Á; (ii) Nguyên nhân giảm hỗ trợ ODA cho nông nghiệp và nông thôn là do một số nhà tài trợ chuyển đổi trọng tâm hỗ trợ sang y tế, giáo dục và một số các quốc gia chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang phát triển công nghiệp và dịch vụ thay vì phát triển nông nghiệp Đây là một thách thức trong quá trình thu hút nguồn vốn ODA vào phát triển nông nghiệp và nông thôn tại Việt Nam trong những năm tới
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam
Bên cạnh các công trình nghiên cứu của nước ngoài về ODA, cũng đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, bài báo và sách đề cập đến thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam, có thể kể ra các một số công trình nghiên tiêu biểu sau:
Trang 20(1)Tôn Thành Tâm (Đại học Kinh tế Quốc dân, 2005)[39] với luận án về
“Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam”, đã đề cập đến các nội dung: (i) Những vấn đề lý luận cơ bản
về hiệu quả quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); (ii) Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
ở Việt Nam; (iii) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA trong thời gian tới (đến năm 2010) Tác giả đã phân tích kinh nghiệm sử dụng nguồn vốn ODA của các nước trên thế giới và các bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA Tuy nhiên phân tích này chỉ nêu lên kết quả của các nước trong quá trình sử dụng vốn mà không phân tích sâu các nguyên nhân, tác giả cũng không đưa ra các khuyến nghị về chính sách, mô hình quản lý sử dụng ODA, của các nước sử dụng và quản lý thành công hay thất bại nguồn vốn ODA Tác giả đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA tại Việt Nam trong thời gian tới gồm: thành lập ngân hàng bán buôn nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; hoàn thiện các cơ chế, chính sách quản lý ODA; bổ sung, sửa đổi nội dung các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan đến quá trình thực hiện các chương trình, dự án; và các giải pháp bổ trợ khác nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý về ODA
(2) Vũ Thị Kim Oanh (Đại học Ngoại thương, 2002) [51], với đề tài nghiên cứu tiến sỹ “Những giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA”, đã phân tích, đánh giá vai trò của vốn ODA trong chiến
lược phát triển kinh tế của các nước đang và chậm phát triển; thực trạng sử dụng vốn ODA tại Việt Nam trong những năm qua, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA tại Việt Nam trong thời gian đến 2010 như: cần có chiến lược thu hút và sử dụng ODA, nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện các quy hoạch phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại, bao gồm quy hoạch ODA, đẩy nhanh tốc độ giải ngân
Có thể nói, hai luận văn tiến sỹ nêu trên là hai công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA tại Việt
Trang 21Nam Tuy nhiên, các luận án có những bất cập sau: (i) Nội dung nghiên cứu của luận án quá rộng nên không có những phân tích và đánh giá quá trình sử dụng nguồn vốn ODA theo ngành, lĩnh vực, nhà tài trợ và địa phương, do vậy khó có thể
có những khuyến nghị mang tính thực tiễn cao; (ii) Số liệu tại hai luận án đều là số
liệu thứ cấp và chưa phản ánh một “bức tranh đa dạng và nhiều mầu sắc”của quá
trình thu hút, sử dụng và quản lý nguồn vốn ODA tại Việt Nam; (iii) Nhóm hệ thống giải pháp của các tác giả căn cứ vào chiến lược thu hút trong thời gian 5 năm
từ năm 2005-2010 do vậy, tính đến thời điểm hiện tại thì các nhóm giải pháp này cần được điều chỉnh cho phù hợp
(3) Lê Quốc Hội (2012) [63], đã dựa trên số liệu cam kết và thu hút ODA
từ năm 1993-2007 tại Việt Nam để đưa ra một số nhận định là Việt Nam sẽ chuyển một phần lớn các khoản vay ODA ưu đãi sang khoản vay thương mại sau năm 2010, do vậy, cần thiết phải có kế hoạch hành động như: (i) Tăng cường nhận thức về nguồn vốn ODA; (ii) Sử dụng nguồn vốn ODA một cách có lựa chọn; (iii) Thúc đẩy giải ngân nguồn vốn ODA để tăng cường hiệu quả sử dụng; (iv) Tăng cường các hoạt động giám sát đánh giá và quản lý nguồn vốn ODA; (v) Xây dựng kế hoạch dài hạn để giảm thiểu các khoản vốn vay ngắn hạn và các điều kiện ràng buộc
(4) Trần Thị Phương Thảo (Học viện Tài chính, 2005) [45] với nghiên cứu
‘“Các giải pháp thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ Phát triển chính thức (ODA) tại Bộ Nông nghiệp và PTNT trong giai đoạn hiện nay”, là
nghiên cứu liên quan đến ODA cho ngành nông nghiệp, đã chỉ ra một số giải pháp mang tính chất vĩ mô đối với Bộ Nông nghiệp và PTNT Tuy nhiên, thời gian tác giả đưa các giải pháp là từ năm 2006-2010, trong khi sau năm 2010 qui mô và tính chất hỗ trợ ODA cho Việt Nam có nhiều thay đổi nên việc thu hút nguồn vốn ODA sau năm 2010 mới là một vấn đề vô cùng khó khăn của các nhà quản lý vì Việt Nam không còn là nước nghèo để hưởng các ưu đãi về lãi suất Hơn nữa, các giải pháp của tác giả không gắn với các đặc điểm của vùng miền mà tiếp cận theo ngành kinh
tế (nông nghiệp và phát triển nông thôn)
Trang 221.1.3 Tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước và xác định hướng
nghiên cứu
Tổng quan các nghiên cứu về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và phát triển nông thôn đã nêu ra được: (i) Một số vấn đề về lý luận ODA như khái niệm, đặc điểm, ưu nhược điểm khi tiếp nhận và sử dụng ODA; (ii) Đúc rút một số kinh nghiệm về thu hút, sử dụng ODA của các nước trong khu vực và thế giới; (iii) Đưa ra nhóm giải pháp vĩ mô về thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA cho thời kỳ 2006-2010 Tuy nhiên, khung lý thuyết về nguồn vốn, vấn
đề thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA chưa được nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện và có hệ thống, đánh giá thực trạng thu hút và giải ngân chủ yếu dựa vào các số liệu thứ cấp, các giải pháp đưa ra chủ yếu phù hợp với điều kiện trước năm
2010 và chưa đồng bộ, đồng thời các nghiên cứu chưa dựa vào sự khảo sát trên một vùng miền nhất định chỉ nghiên cứu trên cấp độ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn nên chưa đưa ra được giải pháp cụ thể, sát thực
Tác giả nhận thấy rằng, một nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện hơn cả về
lý luận và thực tiễn về ODA, thu hút và sử dụng ODA vào nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 1993-2012 và những năm tiếp theo, nhằm đánh giá đúng được thực trạng và cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà tài trợ và nhà quản lý, đồng thời đề xuất định hướng và giải pháp thu hút và sử dụng ODA phù hợp với bối cảnh mới, vì vậy đề tài nghiên cứu rất cần thiết và có ý nghĩa Để nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề trên, luận án tập trung vào giải quyết 04 (bốn) câu hỏi chính: (1) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và PTNT?; (2) Tiêu chí nào để đánh giá của ODA đối với nông nghiệp và PTNT?; (3) Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và PTNT Việt Nam và vùng DHMTnhư thế nào? và (4) Định hướng và giải pháp nào để nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và PTNT Việt Nam và vùng DHMT?
Trả lời được 4 câu hỏi trên chính là điểm nhấn và là những điểm mới của Luận án
Trang 231.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu được sử dụng
Luận án nghiên cứu 4 nội dung chính và các phương pháp được sử dụng
trong nghiên cứu từng nội dung như dưới đây:
Nội dung 1: Nghiên cứu tổng quan về các công trình có liên quan đến đề tài
Đối tượng nghiên cứu chính: Luận án nghiên cứu tổng quan các công trình
trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và phát triển nông thôn
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp sưu tầm tổng hợp
tài liệu thứ cấp, phân tích tìm ra những nội dung đã nghiên cứu trong các công trình trong và ngoài nước có liên quan mật thiết đến đề tài
Mục tiêu và kết quả đạt được: Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có trong
và ngoài nước và tìm ra khoảng trống nghiên cứu cho luận án
Nội dung 2: Nghiên cứu khung lý luận về ODA, thu hút và sử dụng ODA vào nông nghiệp và PTNT
Đối tượng nghiên cứu chính, đó là: Lịch sử hình thành ODA; khái niệm
ODA; Điều kiện để khoản hỗ trợ được thừa nhận là ODA; phân loại ODA; Tính chất của ODA và mặt trái của nó; vai trò của ODA đối với nông nghiệp, nông thôn; các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút và quản lý ODA; quy trình và tiêu chí đánh giá thu hút và sử dụng ODA; một số kinh nghiệm trong và ngoài nước
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp tiếp cận về hỗ
trợ phát triển, đầu tư; sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp và
so sánh các quan điểm, khái niệm khác nhau của các nhà khoa học, các học giả và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nguồn vốn ODA
Mục tiêu và kết quả đạt được: Xây dựng một khung lý luận hoàn chỉnh, định
hướng và dẫn dắt nghiên cứu phân tích thực trạng và các đề xuất
Nội dung 3: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và PTNT Việt Nam và vùng DHMT
Trang 24Đối tượng nghiên cứu chính: Khái quát về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
và đặc điểm vùng DHMT; tổng quan tình hình thu hút, sử dụng ODA trong nông nghiệp và nông thôn Việt Nam; thực trạng thu hút và sử dụng ODA vào phát triển nông nghiệp nông thôn vùng DHMT, bao gồm các nội dung chi tiết về thực trạng thu hút, quản lý, tổ chức bộ máy, giám sát và đánh giá, quản lý khai thác các công trình xây dựng từ nguồn ODA, kết quả thực hiện một số dự án, đánh giá chung về kết quả, hạn chế nguyên nhân, đồng thời xác định các vấn đề cần giải quyết
Mục tiêu và kết quả đạt được: Mô tả bức tranh thực trạng về thu hút và quản
lý ODA trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam và Vùng DHMT; đặc biệt là phân tích và chỉ rõ những kết quả tốt cần được kế thừa, những hạn chế cần khắc phục, các vấn đề đặt ra cần giải quyết để thu hút nhiều hơn và nâng cao hiệu qủa sử dụng ODA vào nông nghiệp và PTNT Việt Nam và vùng DHMT
Phương pháp nghiên cứu: Trong phần này, luận án sử dụng phương pháp
phân tích kinh tế, phân tích thống kê, so sánh và tổng hợp Đồng thời cũng sử dụng phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp, tổng hợp và phân tích các ý kiến đánh giá của các nhà tài trợ, các cán bộ quản lý và người hưởng lợi từ dự án ODA
Nội dung 4: Đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút
và sử dụng nguồn vốn ODA vào Nông nghiệp và PTNT Việt Nam và vùng DHMT, đưa ra một số kiến nghị đối với Chính phủ và đối với các nhà tài trợ
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp dự báo, chuyên gia,
kết hợp phân tích và tổng hợp
Mục tiêu và kết quả đạt được: Dự báo bối cảnh nông nghiệp, nông thôn trong
và ngoài nước, xu hướng cung cấp ODA trong thời gian tới; Đề xuất các định hướng phát triển nông nghiệp nông thôn vùng DHMT và nhu cầu vốn ODA cho vùng; Đề xuất các nhóm giải pháp tổng thể và cụ thể có tính khả thi cao
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu đề tài luận án được tóm tắt trong Hình 1.1 dưới đây
Trang 25PHƯƠNG PHÁP, CÔNG
CỤ NGHIÊN CỨU
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHÍNH
KẾT QUẢ , MỤC TIÊU CHÍNH CẦN ĐẠT ĐƯỢC
Hình 1.1 Khung nghiên cứu của Luận án
- Sưu tầm
- Phân tích
- Tổng hợp
Tổng quan nghiên cứu thu hút, sử dụng ODA vào NN
& PTNT
Lý luận ODA, TH & SD ODA, đặc điểm & phân loại ODA
Thực trạng thu hút & sử dụng ODA vào NN & PTNT Việt Nam và vùng DHMT
Phương hướng &
giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút &
Vai trò & tiêu chí đánh giá ODA đối với NN & PTNT
Xác định khoảng trống cần nghiên cứu về thu hút và sử dụng ODA vào NN&PTNT
Khung lý thuyết ODA, thu hút & sử dụng ODA Đưa ra các nhân tố ảnh hưởng
Đưa ra tác động & tiêu chí đánh giá
Trang 26Tóm lại, việc tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến ODA, thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA vào nông nghiệp và PTNT có ý nghĩa quan trọng đối với nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài nghiên cứu của Luận án Qua tổng quan và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu, có thể thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống
và toàn diện về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam, đặc biệt tại vùng nghiên cứu là vùng DHMT trong giai đoạn 1993-2012, cùng với tổng quan nghiên cứu có liên quan đến đề tài, chương một đã làm rõ mục tiêu nghiên cứu, nội dung và phương pháp nghiên cứu của luận án
Trang 27CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CƠ BẢN
VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA VÀO NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
2.1 Khái niệm và đặc điểm của Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
2.1.1 Khái niệm ODA
2.1.1.1 Quá trình hình thành ODA
Đại chiến Thế giới thứ II kết thúc cũng là thời điểm mở đầu cho một cuộc chiến mới kéo dài gần nửa thế kỷ, đó là chiến tranh lạnh giữa hệ thống Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) và Tư bản chủ nghĩa, mà đứng đầu là Liên Xô và Hoa Kỳ, hai cường quốc này thực thi nhiều biện pháp, đặc biệt là về kinh tế để củng cố hệ thống đồng minh của mình
Đối với Hoa Kỳ, nền kinh tế không những không bị tàn phá mà ngày càng giàu có nhờ chiến tranh, năm 1945 GNP của Hoa Kỳ là 213,5 tỷ USD, bằng 40% tổng sản phẩm toàn thế giới Trong khi đó, các nước đồng minh của Hoa Kỳ lại chịu tác động nặng nề của cuộc chiến tranh, sự yếu kém về kinh tế của các nước này khiến Hoa Kỳ lo ngại trước sự mở rộng của phe XHCN; Để ngăn chặn sự phát triển
đó, giải pháp quan trọng lúc bấy giờ là giúp các nước tư bản sớm hồi phục kinh tế, năm 1947 Hoa Kỳ triển khai kế hoạch Marshall, viện trợ ồ ạt cho các nước Tây Âu
Từ năm 1947 đến 1951, Hoa Kỳ đã viện trợ cho các nước Tây Âu tổng cộng 12 tỷ USD (tương đương 2,2% GDP của thế giới và 5,6% GDP của Hoa Kỳ lúc bấy giờ)
Về phía mình, Liên Xô cũng sử dụng biện pháp trợ giúp kinh tế để củng cố và gia
tăng số lượng các nước gia nhập hệ thống XHCN, với tinh thần “quốc tế vô sản”
Liên Xô đã tài trợ cho nhiều quốc gia trên thế giới, từ các nước ở châu Âu, châu Á, đến châu Phi và Mỹ La-tinh Năm 1991, khi Liên Xô tan rã, tổng số tiền các nước còn nợ Liên Xô lên đến con số khổng lồ, quy đổi ra Đôla Mỹ là 120 tỷ USD
Viện trợ của Hoa Kỳ cho các nước Tây Âu và của Liên Xô cho các nước XHCN được coi là các khoản ODA đầu tiên, mặc dù mục tiêu chính của các khoản
Trang 28viện trợ này là chính trị, nhưng chúng cũng đã có tác dụng nhất định giúp các nước tiếp nhận phát triển KTXH Đến năm 1960, trước sự đấu tranh mạnh mẽ của các nước đang và kém phát triển, cộng với nhận thức thay đổi của các nước giàu đối với
sự phát triển của các nước nghèo, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thành lập Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC), Uỷ ban này có nhiệm vụ yêu cầu, khuyến khích và điều phối viện trợ của các nước OECD cho các nước đang và kém phát triển Kể từ khi bản báo cáo đầu tiên của DAC ra đời vào năm 1961, thuật ngữ ODA được chính thức sử dụng, với ý nghĩa là sự trợ giúp có ưu đãi về mặt tài chính của các nước giàu, các tổ chức quốc tế cho các nước nghèo
Kể từ khi ra đời, ODA liên tục gia tăng với tốc độ khác nhau tùy từng giai đoạn, trong những năm 1960, tổng khối lượng ODA tăng chậm đến những năm (1970 - 1980) viện trợ từ các nước thuộc OECD đạt tốc độ tăng liên tục, giữa thập niên 80 khối lượng viện trợ đạt mức gấp đôi đầu thập niên 70, cuối những năm 1980 đến những năm 1990 vẫn tăng nhưng với tỷ lệ thấp, đến năm 1995 viện trợ phát triển chính thức đã đạt đến con số đỉnh điểm là trên 79 tỷ USD Năm 1996 các nước tài trợ OECD đã dành 0,25% tổng GDP của mình để tài trợ ODA, so với năm 1995 viện trợ của OECD giảm 3,768 tỷ USD, lượng tài trợ ODA trong giai đoạn 1995-2009 được thể hiện trong Biểu đồ 2.1 Theo OECD-DAC (2010), trong tổng số ODA năm 2009 đạt khoảng 165,4 tỷ USD, trong đó Châu Phi nhận $42.2 tỷ USD (chiếm 25,5%) đứng vị trí thứ nhất, khu vực Châu Á đứng vị trí thứ hai với 38,2 tỷ USD, Châu Âu, Trung và Nam Mỹ và khu vực khác nhận được chưa đến 4%
Đến năm 2012, theo số liệu của câu lạc bộ Paris - câu lạc bộ gồm các chủ nợ
là các nước giàu, tổng viện trợ năm 2012 của DAC là 125,7 tỷ USD, giảm 4% so với năm 2011 [68] Nguyên nhân chính là do hầu hết các nước châu Âu cắt giảm chi tiêu viện trợ, đặc biệt là các nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi khủng hoảng kinh tế như Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Ireland Riêng đối với Việt Nam, kể
từ khi nối lại quan hệ với các nước và tổ chức cung cấp viện trợ (năm 1993) thì các nước viện trợ vẫn ưu tiên cho Việt Nam, ngay cả khi khối lượng viện trợ trên thế giới giảm xuống
Trang 29Biểu đồ 2.1 ODA cung cấp cho các khu vực trên thế giới
(Nguồn: OECD-DAC 2010)
2.1.1.2 Khái niệm về ODA
Hỗ trợ (hay Viện trợ) nước ngoài bao gồm các dòng tài chính, trợ giúp kỹ thuật và hàng hóa được cư dân một nước trao cho cư dân nước khác dưới hình thức trợ cấp hay cho vay có trợ cấp bởi Chính phủ các nước, các quỹ, các tổ chức tài chính đa phương, các doanh nghiệp hay cá nhân Không phải mọi sự chuyển giao từ nước giàu sang nước nghèo đều được xem là Hỗ trợ nước ngoài (Foreign Aid/ Foreign Assistance)
Hỗ trợ nước ngoài bao gồm 3 loại chính: (i) Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance, ODA) là lớn nhất, bao gồm viện trợ của chính phủ nước tài trợ (vì thế được gọi là chính thức) dành cho các nước thu nhập thấp
và trung bình; (ii) Hỗ trợ chính thức (Official Assistance, OA), là viện trợ cung ứng bởi chính phủ các nước tài trợ dành cho những quốc gia giàu hơn; và (iii) Hỗ trợ tự nguyện tư nhân (Private Voluntary Assistance, PVA) bao gồm trợ cấp từ các
Trang 30tổ chức phi chính phủ, các nhóm tôn giáo, các tổ chức từ thiện, các quỹ và các công ty tư nhân
Năm 1972, lần đầu tiên OECD đã đưa ra khái niệm về ODA đầy đủ như sau:
“ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triến kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển Điều kiện tài chính của giao dịch này
có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%” [68]
Đến năm 2009, “Báo cáo đánh giá viện trợ khi nào có tác dụng, khi nào không và tại sao?” (WB, 1999) [51] đã bổ sung và hoàn thiện thêm khái niệm về ODA như sau: “ODA là một phần của Tài chính phát triển chính thức (ODF) trong
đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA”, trong đó ODF là tất cả các nguồn tài chính
mà Chính phủ các nước phát triển và tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển
Theo từ điển của UNDP, Viện trợ phát triển chính thức (ODA) là khoản hỗ trợ và vốn vay cung cấp cho các nước trong danh mục được nhận tài trợ của DAC, khoản này hỗ trợ cho các lĩnh vực chính thức với dự định cho mục đích phát triển
và thành tố hỗ trợ chiếm ít nhất là 25%
Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA, kể từ khi chính thức nối lại quan hệ với cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế vào tháng 11 năm 1993 Đến năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 4/5/2001 quy định quy chế quản lý sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) - đây là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất có liên quan đến quản lý ODA tại Việt Nam tính đến thời điểm ban hành Theo văn bản này, khái niệm về ODA lần đầu tiên được cụ thể hóa tại Nghị định như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) trong quy chế này được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ” Ngoài ra, tại Nghị định cũng đã đề cập và phân loại các nội dung liên quan đến thu hút và sử dụng ODA, cụ thể: Nhà tài trợ ODA bao gồm: (i) Chính
Trang 31phủ nước ngoài; (ii) các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia; Hình thức cung
cấp ODA bao gồm: ODA không hoàn lại và ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%”; Các phương thức cung cấp ODA bao gồm: Hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ theo chương trình, hỗ trợ theo dự án; Xác định các lĩnh vực ưu tiên được xác định riêng cho từng nhóm ODA (không hoàn lại; vay ưu đãi) Theo đó, nông nghiệp và phát triển nông thôn chưa được ưu tiên sử dụng ODA không hoàn lại, chỉ được ưu tiên sử dụng ODA vốn vay
Ngày 7/11/2006, Nghị định số 131/2006/NĐ-CP được Chính phủ ban hành thay thế Nghị định 17/2001/NĐ-CP quy định về quy chế quản lý sử dụng ODA Khái niệm ODA tại Nghị định số 131/2006/NĐ-CP được đề cập như sau: “ODA là các hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc Chính phủ với các nhà tài trợ bao gồm chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên Quốc gia hay liên Chính phủ” Ngày 23/4/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng ODA và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ Trong đó quy định: “ODA là nguồn vốn của Chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên Quốc gia (gọi tắt là Nhà tài trợ) cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam dưới 2 hình thức: (i) ODA viện trợ không hoàn lại và (ii) ODA vốn vay tức là phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ, yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% với khoản vay có ràng buộc và 25% đối với khoản vay không ràng buộc” Nghị định này cũng đã đưa ra khái niệm vốn vay ưu đãi: “Là hình thức cung cấp vốn vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại, nhưng yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của ODA vốn vay”
Như vậy, các khái niệm của Quốc tế và Việt Nam về ODA nêu trên đều thống nhất nội dung về bản chất của ODA là: (i) ODA phản ánh mối quan hệ giữa hai bên: bên tài trợ gồm các tổ chức Quốc tế, Chính phủ các nước phát triển, các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên Quốc gia và bên nhận tài trợ là Chính phủ một nước (thường là nước đang phát triển hay kém phát triển); (ii) với mục đích giúp đỡ nước này phát triển kinh tế - xã hội; (iii) bộ phận chính của nguồn vốn ODA là vốn vay
Trang 32ưu đãi, Chính phủ nước nhận tài trợ (vay nợ) phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ trong tương lai
Từ những khái niệm trên, chúng ta hiểu một cách đầy đủ rằng:
- ODA là khoản vốn các nước phát triển (nước giàu) hoặc các tổ chức quốc
tế hỗ trợ cho các nước đang phát triển và kém phát triển (nước nghèo) Khoản vốn
hỗ trợ này thường thể hiện dưới dạng tiền tệ, hàng hoá, chuyển giao công nghệ, chuyển giao tri thức theo khuôn khổ Hiệp định, Thoả ước hoặc các văn bản thoả thuận ký kết chính thức;
- Khoản hỗ trợ dưới hình thức hỗ trợ không hoàn lại hoặc có hoàn lại, nhưng
tỷ lệ phần ưu đãi không hoàn lại (phần cho không cộng với các phần ưu đãi về lãi suất, ưu đãi ân hạn, …) phải chiếm ít nhất là 25% tổng giá trị hỗ trợ đối với khoản ODA không ràng buộc và 35% đối với khoản ODA có ràng buộc;
- Khoản hỗ trợ này nhằm mục đích hỗ trợ cho các ngành, lĩnh vực với các mục tiêu cụ thể như: phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu
2.1.2 Phân loại ODA và các nhà tài trợ ODA
ODA có thể được phân loại theo 6 tiêu chí sau: tính chất nguồn vốn, mục đích
sử dụng, nguồn cung cấp, điều kiện ràng buộc, hình thức hỗ trợ và cơ chế quản lý: 2.1.2.1 Phân loại theo tính chất nguồn vốn
Theo tính chất nguồn vốn, ODA bao gồm 3 loại: Viện trợ không hoàn lại, Viện trợ có hoàn lại và Viện trợ hỗn hợp
Viện trợ không hoàn lại: Là các khoản cho không, bên nhận không phải trả
cho bên tài trợ Bên nhận tài trợ phải thực hiện theo các chương trình, dự án đã được thỏa thuận trước giữa các bên ODA không hoàn lại cũng là một nguồn thu của ngân sách nhà nước, được sử dụng trực tiếp cho chương trình, dự án đã ký kết nhắm phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 33Viện trợ có hoàn lại: là khoản cho vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu
đãi), tức là cho vay với những điều kiện ưu đãi và rõ ràng hơn, khoản vay này có lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất thị trường, hoặc không lãi mà chịu phí dịch vụ, thời hạn vay và thời hạn trả nợ dài Tín dụng ưu đãi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn vay ODA trên thế giới, mục đích khoản vay giúp các nước đi vay bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thông qua chương trình, dự án
Viện trợ hỗn hợp: là các khoản vay vừa cho không, vừa cho vay (có thể vay
ưu đãi, hoặc cho vay thông thường), thậm trí có dự án ODA kết hợp 3 loại hình gồm một phần ODA không hoàn lại, một phần vốn ưu đãi và một phần vốn tín dụng thương mại Hiện nay, yếu tố không hoàn lại thường chiếm khoảng 20-25% trong các dự án ODA
Cách phân loại theo tính chất nêu trên giúp các quốc gia nhận ODA nắm rõ được tình trạng nợ nần của mình trong từng thời kỳ, qua đó xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng từng nguồn cho phù hợp
2.1.2.2 Phân loại theo mục đích sử dụng
Theo mục đích sử dụng, ODA được phân thành 8 loại: Hỗ trợ đầu tư phát triển, Hỗ trợ cán cân thanh toán, Hỗ trợ nhập khẩu, Hỗ trợ theo chương trình, Hỗ trợ theo dự án, Hỗ trợ kỹ thuật, Viện trợ nhân đạo và cứu trợ và Viện trợ quân sự
Hỗ trợ đầu tư phát triển: thường chiếm khoảng 50-60% tổng vốn ODA,
được chính phủ các nước tiếp nhận trực tiếp tổ chức đầu tư, quản lý dự án và có trách nhiệm trả nợ phần vốn vay Hỗ trợ đầu tư phát triển thường được dành để đầu
tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển bền vững (như tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên môi trường) và cho các dự án thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp hoặc lĩnh vực mũi nhọn của nền kinh tế Đối với một số dự án thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp hoặc lĩnh vực mũi nhọn khác, Chính phủ giao cho các doanh nghiệp tổ chức kinh doanh, đầu tư, quản lý dự án và có trách nhiệm thu hồi vốn để trả nợ
Trang 34Hỗ trợ cán cân thanh toán (còn gọi là vốn tín dụng điều chỉnh cơ cấu tài chính): loại vốn này được cung cấp nhằm giúp chính phủ các nước thanh toán các
khoản nợ đến hạn và các loại lãi suất được tính lãi từ những năm trước (cộng dồn) Trong một số trường hợp, đây là vốn tài trợ giúp các nước khắc phục khủng hoảng tài chính (như các khoản IMF cho Inđônêxia, Hàn Quốc, Thái Lan vay trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997-1998), nguồn vốn này chủ yếu được lấy từ vốn ODA đa phương
Hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hóa): là khoản hỗ trợ bằng hàng hóa, Chính
phủ các nước được tài trợ ODA tiếp nhận một lượng hàng hóa có giá trị tương đương với các khoản cam kết, mang bán cho thị trường nội địa và thu nội tệ cho ngân sách
Hỗ trợ theo chương trình: là hỗ trợ theo khuôn khổ đạt được bằng Hiệp định
với các nhà tài trợ nhằm cung cấp một lượng ODA trong một khoảng thời gian mà không phải xác định trước một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào, đây
là loại ODA trong đó các bên lồng ghép một hay nhiều mục tiêu với tập hợp nhiều
dự án Loại hỗ trợ này được ADB và WB áp dụng trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn để tăng hiệu quả sử dụng nguồn ODA và tránh sự chồng chéo
Hỗ trợ theo dự án: là khoản hỗ trợ mà để nhận được nó thì trước đó các nước
phải chuẩn bị chi tiết dự án Hỗ trợ theo dự án thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn ODA và chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông, thủy lợi, nước sạch, giáo dục, y tế và môi trường Hỗ trợ theo
dự án cũng thường là những khoản vay ưu đãi
Hỗ trợ kỹ thuật: là các khoản vốn tài trợ để đào tạo chuyên gia, nâng cao
năng lực tổ chức và quản lý, thực hiện cải cách thể chế và cơ cấu kinh tế, mục đích của viện trợ kỹ thuật là giúp các cơ quan quản lý nhà nước của các nước nhận vốn nâng cao năng lực quản lý của mình, bao gồm cả năng lực sử dụng viện trợ tài chính Về mặt kinh tế, loại hỗ trợ này không có đầy đủ các yếu tố của hoạt động đầu
tư và do vậy thường là các khoản viện trợ không hoàn lại và thường chiếm khoảng 20-30% tổng vốn ODA
Trang 35Viện trợ nhân đạo và cứu trợ: Loại hỗ trợ này được sử dụng cho các mục
đích cứu trợ đột xuất, cứu đói, khắc phục thiên tai hoặc chiến tranh và thường chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn ODA
Viện trợ quân sự: chủ yếu là các khoản viện trợ song phương cho các nước
đồng minh trong thời kỳ chiến tranh lạnh Mỹ và Liên Xô cũ là hai nước trước đây viện trợ quân sự nhiều nhất, từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, viện trợ quân sự giảm mạnh 2.1.2.3 Phân loại theo nguồn cung cấp
Phân loại theo nguồn cung cấp, ODA có hai loại là Viện trợ song phương và Viện trợ đa phương:
Viện trợ song phương: là hỗ trợ phát triển chính thức của nước phát triển
dành cho nước đang và kém phát triển thông qua Hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ, trong tổng số ODA lưu chuyển trên thế giới, phần viện trợ song phương chiếm tỷ trọng lớn, cao hơn rất nhiều so với viện trợ đa phương
Viện trợ đa phương: là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (chẳng
hạn như IMF, WB) hay tổ chức khu vực (chẳng hạn như ADB, EU), hoặc của một Chính phủ của một nước dành cho Chính phủ nước khác nhưng được thực hiện thông qua tổ chức đa phương (chẳng hạn như UNDP, UNICEF), các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp viện trợ đa phương chủ yếu là IMF, WB và ADB
2.1.2.4 Phân loại theo điều kiện ràng buộc
Theo cách phân loại này, ODA bao gồm có ODA không ràng buộc và ODA ràng buộc
ODA không ràng buộc: là khoản ODA mà nước tiếp nhận sẽ được sử dụng
mà không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng
ODA ràng buộc: là khoản ODA mà trong quá trình sử dụng, nước nhận ODA bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng Ràng buộc bởi nguồn
sử dụng có nghĩa là khi dùng ODA để mua sắm hàng hóa hay thiết bị, dịch vụ, thì việc mua sắm đó chỉ được giới hạn mua từ một số công ty nhất định của nước tài trợ
Trang 36(đối với viện trợ song phương) hoặc công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương) Ràng buộc bởi mục đích sử dụng có nghĩa là nước nhận ODA chỉ được sử dụng ODA vào một số lĩnh vực nhất định, hoặc một số dự án cụ thể
2.1.2.5 Phân loại theo hình thức hỗ trợ
Theo cách phân loại này, Hỗ trợ ODA bao gồm có Hỗ trợ dự án và Hỗ trợ phi dự án
Hỗ trợ dự án: Là các khoản ODA cho các dự án cụ thể, loại hỗ trợ này có thể
là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là hỗ trợ cho không hoặc cho vay ưu đãi Hỗ trợ ODA theo dự án là hình thức chủ yếu của ODA
Hỗ trợ phi dự án: bao gồm có các khoản: (i) Hỗ trợ cán cân thanh toán, có
thể là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hóa, hỗ trợ nhập khẩu, và các khoản này ngoại tệ hoặc hàng hóa này được sử dụng để bổ sung cho ngân sách của nước nhận tài trợ; (ii) Hỗ trợ trả nợ, là khoản để giúp các nước đang phát triển có số nợ lớn nhưng khả năng trả nợ kém thực hiện việc trả bớt một phần nợ để có thể tiếp tục được vay thêm hoặc giảm bớt gánh nặng nợ nần, giảm sức ép đối với nền kinh tế; và (iii) Viện trợ chương trình, là khoản ODA dành cho một mục đích lớn, trong một thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào
2.1.2.6 Phân loại theo cơ chế quản lý
Theo tiêu chí này, ODA được chia thành ODA do quốc gia điều hành, ODA
do nhà tài trợ quản lý toàn bộ và ODA theo cơ chế đồng tài trợ
ODA do quốc gia điều hành: là loại ODA mà nước tiếp nhận vốn được trực tiếp
điều hành việc thực hiện dự án trên cơ sở văn kiện dự án đã được ký kết, hay được thỏa thuận bằng những hiệp định, văn bản thỏa thuận riêng Nhà tài trợ không can thiệp sâu vào công việc điều hành cũng như cơ chế quản lý tài chính - kế toán của bên nhận tài trợ liên quan đến dự án được tài trợ Tuy nhiên, nhà tài trợ thực hiện việc kiểm tra giám sát thông qua các đoàn làm việc theo định kỳ hoặc thông qua một tổ chức tư vấn quốc
Trang 37tế, loại này thường là ODA vay (cả song phương và đa phương) và ODA không hoàn lại của các tổ chức quốc tế dành cho đầu tư và xây dựng cơ bản
ODA do nhà tài trợ quản lý toàn bộ: là loại ODA Nhà tài trợ quản lý toàn bộ
nguồn kinh phí dự án mà họ tài trợ Tất cả các khoản chi tiêu cho dự án đều do nhà tài trợ quyết định Trách nhiệm cụ thể của mỗi bên trong việc thực hiện và quản lý tài chính dự án được qui định trong văn kiện dự án Thông thường nhà tài trợ trực tiếp thanh toán các khoản phát sinh liên quan đến dự án tài trợ tại nước tài trợ (lương chuyên gia, thiết bị, chi phí đi lại), trường hợp đặc biệt thì họ mở tài khoản tại ngân hàng thương mại của nước nhận tài trợ nhưng Chủ tài khoản là người đại diện của bên tài trợ Dạng này chủ yếu là ODA không hoàn lại song phương, tài trợ cho các dự
án hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường năng lực thể chế sử dụng chuyên gia nước ngoài
ODA theo cơ chế đồng tài trợ: Đây là loại ODA đồng giám đốc, một đại diện
cho bên tài trợ, một đại diện cho bên nhận tài trợ Với loại dự án này thông thường mọi hoạt động của dự án được quản lý và xử lý theo một cơ chế thống nhất và được đồng thuận của đại diện cả hai bên Thuộc loại này gồm các dự án hỗ trợ tổng hợp (vừa có chuyên gia, vừa trang bị kỹ thuật, vừa đào tạo tập huấn, chuyển giao công nghệ) do một số nước tài trợ như Đan Mạch, EU và các tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc
Việc phân loại ODA theo những tiêu thức khác nhau nêu trên giúp cho chúng ta hiểu rõ một cách tổng thể các dự án ODA để có phương thức vận động, thu hút để tranh thủ được nhiều nguồn vốn ODA cũng như hiểu được mục đích, tính chất nguồn vốn, nguồn cung cấp, điều kiện ràng buộc, cơ chế điều hành của từng dự
án để có cách thức quản lý phù hợp
2.1.3 Đặc điểm và các ưu, nhược điểm của ODA
2.1.3.1 Đặc điểm của ODA
Một khoản tài trợ được coi là ODA, nếu đáp ứng đầy đủ 3 đặc điểm sau:
- Được cung cấp bởi các tổ chức chính thức hoặc đại diện của các tổ chức chính thức, tổ chức chính thức bao gồm các nhà nước mà đại diện là Chính phủ, các
Trang 38tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và các tổ chức phi chính phủ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận
- Có mục tiêu chính là giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội Các lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA bao gồm: xoá đói, giảm nghèo, nông nghiệp và phát triển nông thôn; cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng; cơ sở hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; các vấn đề xã hội như tạo việc làm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội; cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, cải cách thể chế
- Mang tính ưu đãi: Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn vay) và thời gian ân hạn dài Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là
40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm, thông thường trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại (cho không), đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại Thành tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại
Sự ưu đãi còn được thể hiện ở điểm là vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển, hai điều kiện cơ bản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:
- Có Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người thấp, nước nào có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được nhận được khoản ODA có tỷ
lệ viện trợ không hoàn lại càng cao, khả năng được vay với lãi suất thấp và thời hạn
ưu đãi càng lớn
- Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách
và hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bên nhận ODA, thông thường các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể
Trang 39Vì vậy, nắm bắt được xu hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là điểm then chốt trong công tác vận động và thu hút ODA
Theo Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013 của Chính phủ về quản
lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, công thức xác định thành tố không hoàn lại của các dự án ODA [35] như sau:
Trong đó:
GE: Thành tố không hoàn lại
r: Tỷ lệ lãi suất hàng năm
a: Số lần trả nợ trong năm (theo điều kiện của bên tài trợ)
d: Tỷ lệ chiết khấu của mỗi kỳ d = (1 + d’)1/a – 1(%), trong đó: d’: Tỷ lệ chiết khấu của cả năm (theo thông báo của OECD hoặc các thoả thuận của bên tài trợ)
G: thời gian ân hạn (năm)
M: Thời hạn cho vay (năm)
Thành tố không hoàn lại (Grant element - GE) phải đạt ít nhất 35%, đối với khoản vay có ràng buộc và 25% đối với khoản vay không ràng buộc Thành tố không hoàn lại là một chỉ số biểu hiện tính “ưu đãi” của ODA so với các khoản vay thương mại theo điều kiện thị trường, thành tố không hoàn lại càng cao càng thuận lợi cho nước tiếp nhận Chỉ tiêu này được xác định dựa trên tổ hợp các yếu tố đầu vào: Lãi suất, thời gian ân hạn, thời hạn cho vay, số lần trả nợ trong năm và tỷ lệ chiết khấu
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nước phát triển
[2.1]
Trang 40sang các nước đang phát triển Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía nước tiếp nhận ODA
2.1.3.2 Các tính chất của ODA và mặt trái của nó
để đầu tư cho phát triển là rất cần thiết, lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội phục vụ lợi ích công công, trong các vùng khó khăn nơi mà hiệu quả tài chính của đầu tư chưa cao không thu hút được vốn đầu tư tư nhân, thì sử dụng vốn ODA đầu tư vào các lĩnh vực đó, các vùng đó để rút ngắn khoảng cách chênh lệch
về sự phát triển, tạo nên công bằng xã hội là chiến lược đúng đắn Đồng thời, để tiếp nhận vốn vay ODA gắn với đầu tư, nước nhận viện trợ phải thu xếp vốn đối ứng, cắt giảm chi tiêu công, tăng tỷ trọng tiết kiệm, như vậy nguồn vốn ODA sẽ có tác dụng rất lớn trong khuyến khích đầu tư phát triển
Thứ hai, ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ cho đất nước và bù đắp cán cân thanh toán Hiện nay ở một số nước ASEAN tỷ lệ tiết kiệm nội địa khá cao, chiếm khoảng 30-40% GDP nhưng vẫn xảy ra hiện tượng thâm hụt cán cân vãng lai Trong điều kiện ở một nước không có khả năng tự do chuyển đổi tiền tệ thì một dự
án đầu tư bằng 100% vốn trong nước, nếu có nhu cầu nhập khẩu trang thiết bị, sẽ không khả thi do nguồn ngoại tệ không được đáp ứng Như vậy thì số tiền tiết kiệm nội địa cũng không thể chuyển thành đầu tư Việt Nam hiện vừa thiếu hụt cán cân