1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYÊN ĐỀ: DẠY NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC.

49 985 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tập Làm Văn Cho Học Sinh Tiểu Học
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Tài liệu học tập
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 374 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Việc nâng cao cất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh là nhiệm vụ của các trường phổ thông. Để có chất lượng giáo dục toàn diện thì việc nâng cao chất lượng đại trà là vô cùng quan trọng. Đối với cấp tiểu học, nội dung học tập là chất lượng bốn môn Toán và Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử Địa lí. Môn Tiếng Việt có vai trò vô cùng quan trọng giáo dục tình cảm, thẩm mĩ cho học sinh. Chính vì thế ngay từ đầu năm học, Các tổ chuyên môn kết hợp với Ban Giám hiệu các nhà trường lập kế hoạch dạy học. Để nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới cách dạy có hiệu quả thì một việc không thể thiếu là tổ chức các chuyên đề giảng dạy, mở rộng kiến thức cho giáo viên, từ đó giáo viên dạy thấy rõ được những kiến thức cơ bản cần hiểu biết để dạy cho mỗi lớp. Giáo viên dạy sẽ có kế hoạch điều chỉnh cách dạy, đổi mới phương pháp, giúp đỡ kịp thời cho mỗi học sinh.v.v... Trân trọng giới thiệu với thầy giáo và cô giáo cùng quý vị bạn đọc tham khảo và phát triển: “CHUYÊN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC”. Mong nhận được ý kiến quý báu của thầy cô giáo, các em học sinh và các bạn Chân thành cảm ơn

Trang 1

TƯ LIỆU HỌC TẬP TIỂU HỌC.

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Việc nâng cao cất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh là nhiệm vụ của các trường phổ thông Để có chất lượng giáo dục toàn diện thì việc nâng cao chất lượng đại trà

là vô cùng quan trọng Đối với cấp tiểu học, nội dung học tập

là chất lượng bốn môn Toán và Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử

& Địa lí Môn Tiếng Việt có vai trò vô cùng quan trọng giáo dục tình cảm, thẩm mĩ cho học sinh.

Chính vì thế ngay từ đầu năm học, Các tổ chuyên môn kết hợp với Ban Giám hiệu các nhà trường lập kế hoạch dạy học Để nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới cách dạy có hiệu quả thì một việc không thể thiếu là tổ chức các chuyên đề giảng dạy, mở rộng kiến thức cho giáo viên, từ đó giáo viên dạy thấy rõ được những kiến thức cơ bản cần hiểu biết để dạy cho mỗi lớp Giáo viên dạy sẽ có kế hoạch điều chỉnh cách dạy, đổi mới phương pháp, giúp đỡ kịp thời cho mỗi học sinh.v.v

Trân trọng giới thiệu với thầy giáo và cô giáo cùng quý

vị bạn đọc tham khảo và phát triển: “CHUYÊN ĐỀ NÂNG

CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC”.

Mong nhận được ý kiến quý báu của thầy cô giáo, các

em học sinh và các bạn!

Chân thành cảm ơn!

Trang 3

TÀI LIỆU GỒM CÁC NỘI DUNG:

PHẦN I: Mô đun 1

KHÁI QUÁT VỀ DẠY HỌC VĂN Ở TRƯỜNG

TIỂU HỌC PHẦN II: Mô đun 2

NGUYÊN TẮC DẠY HỌC VĂN Ở TIỂU HỌC PHẦN III: Mô đun 3

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN Ở TIỂU HỌC PHẦN IV: Mô đun 4

HỆ THỐNG BÀI TẬP CẢM THỤ VĂN HỌC Ở

TIỂU HỌC PHẦN V: BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ CUỐI CHUYÊN ĐỀ

Trang 4

Mô đun 1

KHÁI QUÁT VỀ DẠY HỌC VĂN Ở TRƯỜNG

TIỂU HỌC

I MỤC TIÊU

1 Kiến thức: Nắm được ý nghĩa, sự cần thiết và cơ sở

của việc dạy học văn cho học sinh tiểu học, hệ thốngvăn học trong chương trình, sách giáo khoa Tiếng Việttiểu học cũng như những nội dung dạy văn tích hợp vớidạy học Tiếng Việt tiểu học hiện nay

2 Kĩ năng: Có được các kĩ năng cơ bản trong nhận

xét, đánh giá chương trình theo quan điểm tích hợp dạyhọc văn qua môn Tiếng Việt để vận dụng vào thực tiễndạy học ở tiểu học

3 Thái độ: Đề cao vai trò của văn học trong đời sống

cũng như trong dạy học; có ý thức rèn luyện thường xuyên để có năng lực dạy học văn, nâng cao chất

lượng giảng dạy môn Tiếng Việt, Văn học ở trường tiểu học

II TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ ĐỂ THỰC HIỆN

MÔ ĐUN

1 Tài liệu

1 Hoàng Hòa Bình (2000), Dạy văn cho học sinh

Trang 5

tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

2 Ho ng V n C n (2005), àng Văn Cẩn (2005), ăn Cẩn (2005), ẩn (2005), D y h c tác ph m ạy học tác phẩm ọc tác phẩm ẩm

v n h c d nh cho thi u nhi ăn học dành cho thiếu nhi ọc tác phẩm ành cho thiếu nhi ếu nhi , Nxb Giáo d c, H ục, Hà àng Văn Cẩn (2005),

N i ội.

3 Lê Phương Nga - Đặng Kim Nga (2007), Phương

pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, Nxb Đại học Sư

phạm – Nxb Giáo dục, Hà Nội

4 Nhiều tác giả (2002, 2003, 2004, 2005, 2006),

Sách giáo khoa Tiếng Việt 1, 2, 3, 4, 5, Nxb Giáo dục,

Hà Nội

5 Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2003, 2004,

2005, 2006), Hỏi – đáp về dạy học Tiếng Việt 2, 3, 4,

5, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

6 Bùi Thanh Truyền (Chủ biên) Trần Quỳnh Nga

-Nguyễn Thanh Tâm (2009), Thi pháp trong văn học

thiếu nhi, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

7 Bùi Thanh Truyền (Chủ biên) (2011), Học và

thực hành theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt 1, 2,

3, 4, 5 (10 tập), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam,

Quảng Nam

2 Thiết bị: Máy chiếu đa năng, phần mềm power

point, máy tính, băng hình, tranh ảnh,…

III NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MÔ ĐUN

1 Ý nghĩa của việc dạy học văn cho học sinh tiểu học

Trang 6

1.1 Sức mạnh của văn học trong việc giáo dục trẻ em

- Tác phẩm văn học có tác dụng giáo dục rất lớntrong việc hình thành nhân cách, tâm hồn trẻ, có vị tríquan trọng trong quá trình dạy học ở tiểu học nói riêng,giáo dục trẻ thơ nói chung

- Ở tiểu học, môn văn không được giảng dạy nhưmột môn học độc lập; nhưng nó được tích hợp thôngqua dạy học môn Tiếng Việt Dạy tích hợp văn với tiếng

là một trong những quan điểm mới mẻ và tích cực trongphương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học hiện nay

- Văn học (với tư cách là ngữ liệu để dạy học cácphân môn của môn Tiếng Việt) có tác dụng tích cựctrong việc làm giàu tâm hồn, phong phú hoá tình cảm,rèn luyện tính cách, nhân cách con người, có ý nghĩagiáo dục rất lớn về thẩm mĩ, về lòng yêu con người, yêuquê hương đất nước hơn rất nhiều so với những lờigiáo huấn khô khan, khiên cưỡng; mang lại cho các emnhững bài học nhân sinh nhẹ nhàng, tự nhiên nhưngcũng không kém phần tế nhị, sâu sắc

- Tác phẩm văn học cho thiếu nhi bồi dưỡng, pháttriển chất nhân văn - cái sẽ đi với các em suốt cuộc đời.Thơ, văn cho thiếu nhi thoát ra khỏi một chế phẩmmượn văn chương để chuyển tải một ý đồ giáo huấngiản đơn, lộ liễu, khô khan, gò bó hay nhạt nhẽo, trừu

Trang 7

tượng Nó coi trọng tìm tòi, triển khai cái đẹp, các hìnhtượng giàu tính thẩm mĩ, chân thực, gắn liền với cuộcsống hằng ngày của các em một cách nhẹ nhàng, thoảimái và rất hấp dẫn, thuyết phục, nhằm hướng bạn đọcnhỏ tuổi tới những cảm xúc lớn lao về cuộc sống, vềcon người với tất cả sự mới mẻ, phong phú, đẹp đẽ và kì

lạ của chúng

=> Văn học thiếu nhi có tác dụng quan trọng trongviệc giáo dục toàn diện đối với trẻ, là chất bổ dưỡngnuôi người từ khởi điểm làm người Khai thác nhữngnội dung giáo dục sao cho phát huy hết sức mạnh nghệthuật của tác phẩm mà vẫn giữ nguyên vẻ đẹp của nó làcông việc không hề đơn giản; đòi hỏi rất lớn ở tài năng,tâm huyết, tình cảm yêu mến và tinh thần trách nhiệmthực sự của các nhà sư phạm đối với lứa tuổi này

1.2 Sự cần thiết của việc dạy học văn cho học sinh tiểu học

- Mục tiêu dạy học văn ở tiểu học nhằm giúp các

em có những ấn tượng ban đầu về giá trị thẩm mĩ củangôn từ và hình tượng nghệ thuật để cảm thụ văn học,bước đầu nắm được một số khái niệm, kĩ năng cơ đểvận dụng trong học tập trên lớp và trong thưởng thứcnghệ thuật ở ngoài lớp học

- Việc giáo dục văn học không chỉ chú ý bồi dưỡngtình cảm trong sáng, lành mạnh mà đồng thời phải nâng

Trang 8

cao trí tuệ cho trẻ Những áng văn hay kết hợp với nănglực, nghệ thuật sư phạm của người giáo viên tiểu học, sẽđem đến cho học sinh những rung cảm sâu sắc trước vẻđẹp bình dị của cuộc sống hằng ngày, khắc sâu vào tâmkhảm các em những tình cảm thiêng liêng và hình thành

ở trẻ những phẩm chất cao đẹp

=> Dạy văn ở tiểu học không được chính danh nhưmột môn học độc lập; nhưng dạy học nó phải là tất yếu,vì:

- Tầm quan trọng của dạy học văn: bồi dưỡng, nângcao chất nhân văn – cái sẽ đi vùng trẻ thơ đến suốt cuộcđời

- Đặc điểm tâm – sinh lí, nhận thức của học sinhtiểu học: say mê văn học, có những phát hiện độc đáo,đậm cá tính của người học nhỏ tuổi

- Ngữ liệu dạy học các phân môn Tiếng Việt ở tiểuhọc đa phần là các văn bản có giá trị nghệ thuật của ViệtNam và thế giới

Như thế, dù không được dạy như một môn học độclập ở tiểu học thì văn vẫn được dạy tích hợp trong mônTiếng Việt, và giáo viên dạy môn học này không thểlàm tốt nhiệm vụ cảu mình nếu không có những hiểubiết cần thiết về văn học, không có một tâm hồn văn

2 Cơ sở của việc dạy học văn ở trường tiểu học

2.1 Vai trò của trẻ em trong tiếp nhận văn học

Trang 9

Trẻ em rất say mê văn học, nghệ thuật; có nhữngcảm nhận, suy nghĩ theo lối riêng của mình, ngoài tínhchất trẻ thơ, thơ ngây, ở từng mặt, từng khía cạnh cụthể, nhiều khi cũng rất sâu sắc và đầy chất trí tuệ Đây lànhững nguyên nhân dẫn đến những đặc trưng trong tiếpnhận văn học ở lứa tuổi này.

2.2 Đặc trưng trong tiếp nhận văn học của học sinh tiểu học

- Học sinh tiểu học là lứa tuổi ngây thơ, hồn nhiên

và tràn đầy cảm xúc Những đặc điểm đó nói lên phẩmchất nghệ sĩ của các em: đa số các em dường như lànhững nghệ sĩ

- Học sinh dễ nhập thân vào tác phẩm; tưởng tượngsinh động bức tranh tác phẩm; dễ xúc động với những

sự kiện của tác phẩm và tâm trạng nhân vật Cảm thụcủa các em cũng thường mang tính trực tiếp, ngây thơnhưng ít nhầm lẫn thiện/ác, không bao giờ đồng tình vớinhững hành động tàn nhẫn, luôn xúc động trước tìnhngười nhân ái và tinh thần nhân đạo của tác phẩm

- Đầy mơ ước, tưởng tượng khi đọc sách, học sinhtiểu học thường dễ tin những gì diễn ra trong tác phẩm

là có thực Thế giới các em đang sống là sự hoà quyệncủa mơ ước và hiện thực Vì vậy các em dễ mơ mộng,

dễ nhầm lẫn thế giới trong truyện với đời thực - có khiđến quá khích

Trang 10

- Hứng thú tiếp nhận văn học của trẻ em thườngthiên về những tác phẩm có cốt truyện rõ ràng, có thể kểlại một cách dễ dàng, hấp dẫn; có tình tiết li kì, lôi cuốn,các nhân vật không có sự nhập nhoà, pha trộn về tínhcách

- Học sinh ít cảm thụ, tiếp nhận tác phẩm văn họcbằng thể nghiệm cá nhân, chưa biết lí giải một cáchtường tận, thấu đáo các cung bậc, trạng thái tình cảmcủa mình Sự yêu thích của trẻ đối với tác phẩm vănhọc, đa phần là do sáng tác đề cập đến những con người,

sự việc tốt đẹp, tích cực, có nhiều tình tiết li kì, hómhỉnh, nhiều yếu tố gây cười nhẹ nhàng, gần gũi với cácem

- Một số nhược điểm trong tiếp nhận văn học củahọc sinh tiểu học: Các em ít đánh giá với óc phê phántác phẩm và nhà văn, thường chỉ nhận xét về nhân vật,

và những nhận xét này cũng dễ cực đoan, một chiều.Các em không hiểu và không thích những nhân vật mâuthuẫn, phức tạp, giàu suy tư Những truyện kết thúc theolối để ngỏ cũng không được trẻ ưa thích vì các em muốnmọi chuyện phải đi đến kết thúc với sự phân biệt rạchròi

3 Đặc điểm của văn học trong nhà trường tiểu học

- Những tác phẩm được dạy trong chương trìnhtiếng Việt tiểu học thường là tác phẩm trọn vẹn hoặc

Trang 11

trích đoạn (chiếm đa số) của các tác giả Việt Nam và thếgiới Độ dài tác phẩm từ 70 tiếng (lớp 1) đến 10 trang(truyện kể dân gian ở lớp 5)

- Đa phần đều mang phong cách trẻ thơ, phù hợpvới tâm lý tiếp nhận của độc giả nhỏ tuổi nhằm giáo dụccho các em các giá trị nhân văn, tinh thần hướng thiện,lòng say mê cái đẹp, những hiểu biết về văn hoá xãhội thông qua con đường tiếp thu lẫn phê phán

- Tác phẩm vừa đến với các em một cách trực tiếp(khi các em tự đọc), vừa gián tiếp, tích cực: thông quavai trò trung gian, qua sự phân tích, hướng dẫn, gợi ý,gợi mở của người giáo viên

- Văn, thơ trong nhà trường tiểu học là một trongnhững công cụ giáo dục đặc biệt với sự tác động củamôi trường đặc thù (trường học, lớp học) và dưới sự dẫndắt của giáo viên, sự khống chế về thời gian (tiết học)

và sự quy định chặt chẽ của tính chất văn bản – tácphẩm (có giờ học thơ, có giờ học truyện, kịch…) Đóvừa là phương tiện, công cụ nhận thức, vừa là đối tượngthẩm mĩ của những độc giả đặc biệt – học sinh

- Thường xoay quanh các chủ điểm: gia đình, nhà

trường, quê hương, đất nước, măng non, Bác Hồ kínhyêu,…

- Sự đa dạng về thể loại, đề tài, nội dung phản ánh

Trang 12

=> Đặc trưng của một tác phẩm văn học thiếu nhitrong nhà trường tiểu học:

- Vừa đáp ứng được cả phần văn, vừa phải là công

cụ để các em học tập phần tiếng, vừa phải là một văn

bản mẫu mực, vừa là sự gợi mở để các em tiếp tục sángtạo theo sự hiểu biết của mình

- Mở mang kiến thức, sự hiểu biết của trẻ về tựnhiên và xã hội, xây dựng cho các em những tình cảmđẹp, lối sống đẹp, cách cư xử, quan hệ trong đời thường

và trong các mối quan hệ xã hội khác

- Góp phần nâng cao khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ,

phát triển vốn ngôn ngữ mà còn góp phần tạo ra chất

văn cho các em.

- Vừa phải đảm bảo tính sư phạm, vừa phải đảmbảo tính khoa học, vừa phải là “văn mẫu” vừa là cơ sở

để các em tưởng tượng, sáng tạo theo trình độ, vốnsống, sự hiểu biết của mình

=> Có thể nói, văn học thiếu nhi trong nhà trườngtiểu học là cuốn bách khoa toàn thư, giúp các em cóchiếc chìa khóa phù hợp nhất mở cánh cửa cuộc đời vàbước vào một cách tự nhiên Phần lớn chúng đều thấmđượm sâu sắc chủ nghĩa nhân văn, tinh thần nhân đạo,

có tác dụng quan trọng trong việc hình thành nên bảnsắc của con người Việt Nam trong thời đại mới

Trang 13

4 Nội dung dạy văn tích hợp với dạy học Tiếng Việt

ở tiểu học hiện nay

4.1 Lớp 1

Gồm ca dao, đồng dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố,thơ hoặc đoạn trích thơ có minh họa; văn xuôi hoặcđoạn trích có minh họa (độ dài khoảng 70 tiếng); truyện

cổ dân gian (cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn…) (độ dài từ

1 đến 2 trang) vui, giản dị, dễ hiểu của dân tộc và thếgiới viết về thiên nhiên, con vật, nhà trường, gia đình,thiếu nhi, đất nước… có tác dụng giáo dục nhân cách vàcung cấp những hiểu biết thú vị về đời sống

Trên các văn bản đó, học sinh đọc đúng, đọc trơntrọn vẹn câu, biết ngắt nghỉ đúng chỗ; hiểu nghĩa của từ,

ý của câu, đoạn, bài; tìm được những từ ngữ tả đặc điểmnhân vật, tả bức tranh trong bài, trả lời được một vài câuhỏi về nội dung đã đọc; kể lại (nói, viết) được nội dungbài học

4.2 Lớp 2

Học sinh học ca dao, đồng dao, tục ngữ, thành ngữ,câu đố, thơ hoặc đoạn trích (có minh họa); các bài vănhoặc đoạn trích (có minh họa) (khoảng 150 tiếng); cáctruyện kể dân gian (độ dài từ 2 đến 3 trang)…

Yêu cầu về kiến thức và kĩ năng văn học đối vớihọc sinh lớp 2 là:

Trang 14

- Có khả năng đọc – đúng, đọc – hiểu tốt hơn lớp 1,bước đầu biết tập đọc đóng vai, biết chuyển từ đọcthành tiếng sang đọc nhẩm rồi đọc thầm.

- Biết tìm những từ ngữ, sự kiện, chi tiết chính vàquan trọng trong bài; hiểu nghĩa từ; bước đầu nhận biếtđược sự khác nhau về sắc thái của từ trong những câukhác nhau; hiểu được ý chính của một đoạn, ý nghĩa củamột bài; nhận xét được đơn giản về nhân vật, về ý nghĩacủa những hành động của nhân vật và sự việc trong tácphẩm

- Biết chọn từ, đặt câu, trả lời câu hỏi khi xemtranh, khi đọc một đoạn, một bài văn; sau đó, biết nốicác câu đơn lẻ trên thành một văn bản ngắn

- Kể lại tóm tắt một đoạn, một văn bản ngắn hoặc

kể tỉ mỉ dưới hình thức sáng tạo (ví dụ: kể theo lời mộtnhân vật) bước đầu có cái riêng

- Nói, viết được theo một đề tài tự chọn bằng mộtvăn bản gồm 5 đến 7 câu

đã phức tạp hơn

Trang 15

Yêu cầu về kiến thức và kĩ năng đối với học sinhlớp 3 là:

- Đọc có ý thức hơn, lưu loát hơn, thể hiện rõ hơnnhững phản ứng cảm xúc, tình cảm (tập đọc trong vainhân vật); tốc độ đọc và đọc thầm tăng so với lớp 2;bước đầu biết đọc lướt để tìm ý chính của văn bản

- Hiểu nghĩa từ trong văn cảnh, bước đầu hiểu đượcgiá trị biểu đạt của từ, từ đó bước đầu có ý thức về vẻđẹp của ngôn từ và nghệ thuật sử dụng từ ngữ của tácgiả

- Biết rõ hơn những đặc điểm phân biệt các thể loạivăn học: thơ, văn xuôi, truyện cổ tích; nhận biết rõ một

số biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa,…; hiểu một sốkhái niệm: bố cục, cốt truyện, nhân vật, tác giả, ý nghĩa,

- Thấy được mối liên hệ giữa các sự việc, tình tiết;nhận ra cốt truyện và tuyến nhân vật trong các bài có cốttruyện; so sánh được giản đơn đặc điểm tính cách vàhoạt động của các nhân vật trong cùng một tác phẩmhay với nhân vật của các tác phẩm khác; hiểu quan hệcủa tác giả với các sự kiện, nhân vật, đánh giá đúng điềuđọc được

- Dựa trên hệ thống câu hỏi của giáo viên, biết tả,biết kể lại bằng một văn bản ngắn về nội dung bài học,

về kết quả quan sát tranh, quan sát hiện thực, về những

Trang 16

điều đã học, đã nghe, đã cảm, bước đầu bộc lộ khả năngsáng tạo.

4.4 Lớp 4

Học sinh đọc những đoạn trích hay tác phẩm trọnvẹn của văn học dân tộc và thế giới, độ dài khoảng 250tiếng, có nội dung phong phú và phức tạp hơn các lớp 1,

- Biết mở rộng và tích cực hóa vốn từ để dùng từđúng (và hay) trong nói, viết; hiểu nghĩa của câu vănđược sử dụng với dụng ý nghệ thuật; hiểu ý nghĩa củabài đọc được tác giả gửi trong tác phẩm

- Biết nhận xét với óc phê phán về nhân vật, sựviệc, về cảm xúc và nghệ thuật của tác giả trong bài

- Biết lập dàn bài sơ lược hay chi tiết, liên kết cáccâu thành đoạn văn, chuyển câu văn ở dạng nói (2 đến 4câu) sang dạng viết và ngược lại (khi kể lại hay kể lạisáng tạo văn bản); biết kể hay tả bằng một văn bảnngắn, trọn vẹn điều đã nghe, đã đọc, đã thấy, đã cảm, đã

Trang 17

thích thú; biết viết thư cho bạn bè, người thân; bước đầubiết tranh luận, bảo vệ ý kiến cá nhân bằng chứng lí.

300 tiếng với bài tập đọc, 3 đến 10 trang với các truyện

kể dân gian, hiện đại

Yêu cầu về kiến thức và kĩ năng đối với học sinhlớp 5 là:

- Biết làm chủ giọng đọc hơn trước để diễn tả cảmxúc; củng cố chắc chắn kĩ năng đọc thầm, đọc lướt đểnắm ý của bài (tìm nhanh được dàn ý, đại ý, đặt tên chođoạn, bài văn)

- Hiểu sâu hơn các khái niệm: tác phẩm, nhân vật,tính cách nhân vật, cốt truyện, đại ý, bố cục, nghĩa đen,nghĩa bóng; hiểu và biết dùng đúng hơn các biện pháp

tu từ: so ánh, nhân hóa, chơi chữ, điệp…; có khả năngphân biệt thể loại kịch với các thể loại khác

- Hiểu nghĩa của từ ngữ, của câu văn được sử dụngvới dụng ý nghệ thuật (ở mức vừa sức với lứa tuổi); biếtnhận xét, bình giá về nhân vật dựa trên sự phân tích vềngôn ngữ, hành động…; biết nhận xét, bình giá về cảm

Trang 18

xúc và nghệ thuật của tác giả; suy đoán được về sự pháttriển của nhân vật và tác phẩm.

- Biết lập dàn ý chi tiết một văn bản, nói (viết) theodàn ý; biết kể sáng tạo những truyện đã nghe, đã đọc, đãhọc, đã chứng kiến hoặc tham gia; biết tả cảnh, người,vật và việc gần gũi, thân thiết; có khả năng trao đổi,thảo luận về những vấn đề hấp dẫn với lứa tuổi thuầnthục hơn so với lớp 4

Trang 19

Mô đun 2

NGUYÊN TẮC DẠY HỌC VĂN Ở TIỂU HỌC

I MỤC TIÊU

1 Kiến thức: Học viên nắm được những cơ sở và

những nguyên tắc cơ bản trong dạy học văn ở tiểu họcnhư: nguyên tắc về tính vừa sức, nguyên tắc tích hợp,nguyên tắc về quan hệ giữa nội dung và hình thức,nguyên tắc gắn văn học với đời sống…

2 Kĩ năng: Vận dụng linh hoạt, phù hợp các nguyên tắc

trong dạy học văn qua môn Tiếng Việt ở tiểu học

3 Thái độ: Chú trọng, đề cao nguyên tắc dạy học nói

chung, nguyên tắc dạy học văn ở tiểu học nói riêng

II TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ ĐỂ THỰC HIỆN

MÔ ĐUN

1 Tài liệu

1 Hoàng Hòa Bình (2000), Dạy văn cho học sinh

tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

2 Ho ng V n C n (2005), àng Văn Cẩn (2005), ăn Cẩn (2005), ẩn (2005), D y h c tác ph m ạy học tác phẩm ọc tác phẩm ẩm

v n h c d nh cho thi u nhi ăn học dành cho thiếu nhi ọc tác phẩm ành cho thiếu nhi ếu nhi , Nxb Giáo d c, H ục, Hà àng Văn Cẩn (2005),

N i ội.

3 Lê Phương Nga - Đặng Kim Nga (2007), Phương

pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, Nxb Đại học Sư

phạm – Nxb Giáo dục, Hà Nội

Trang 20

4 Lê Phương Nga (2009), Bồi dưỡng học sinh giỏi

tiếng Việt ở tiểu học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

5 Nguyễn Trí (Chủ biên) – Nguyễn Trọng Hoàn –

Giang Khắc Bình (2003), Rèn kĩ năng cảm thụ thơ

văn cho học sinh lớp 4, Nxb Tổng hợp Đồng Nai,

Đồng Nai

6 Bùi Thanh Truyền (Chủ biên) Trần Quỳnh Nga

-Nguyễn Thanh Tâm (2009), Thi pháp trong văn học

thiếu nhi, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

2 Thiết bị: Máy chiếu đa năng, phần mềm power

point, máy tính, băng hình, tranh ảnh,…

III NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MÔ ĐUN

1 Cơ sở của việc xác định nguyên tắc trong dạy học văn ở tiểu học

- Việc tiếp xúc, tiếp thu tác phẩm văn học của họcsinh tiểu học có một quá trình “liên thông”, liên tục từđơn giản, thô sơ, tự phát, thụ động (lứa tuổi đầu bậc tiểuhọc) chuyển dần sang nửa thụ động, tiến tới tự giác, chủđộng, có ý thức (cuối bậc tiểu học) Từ 10 tuổi, học sinhđến với văn học trên cơ sở lấy hứng thú với sự vật làmchủ đạo

- Những đặc trưng riêng về tâm lí, nhận thức, hoạtđộng tiếp nhận văn học của học sinh tiểu học, thêm vào

đó là tính đối tượng và tính sư phạm trong dạy và học

Trang 21

- Việc tiếp nhận tác phẩm ở ngoài đời là sự tiếpnhận mang tính cá nhân, tự do, dựa vào sở thích, ýthích, còn việc tiếp nhận tác phẩm văn học trong nhàtrường tiểu học lại mang tính tập thể, có sự sắp xếp, có

sự hướng dẫn

- Tác phẩm văn học ở ngoài đời chỉ hiện hình qua

ngôn ngữ đọc thầm của các em, còn trong nhà trường,

tác phẩm như một thực thể hiện ra qua ngôn ngữ đọc,

lời phân tích, lời bình của thầy cô, qua những hình ảnhminh họa trên lớp hoặc qua những hoạt động ngoạikhóa => Việc tiếp nhận tác phẩm trong nhà trường cótính chủ động, tích cực, sáng tạo của cả tập thể trong khi

ở ngoài đời, với tư cách là một bạn đọc, các em đến vớitác phẩm thường đơn độc, bị động, dễ bị lệch lạc…

- Phương pháp tích hợp trong giảng dạy văn vớitiếng hiện nay giúp các em không chỉ có được những trithức về tiếng Việt để học tập, giao tiếp mà còn hiểuđược phần nào giá trị thẩm mĩ của tác phẩm với tư cách

là công trình nghệ thuật bằng ngôn từ

=> Việc dạy học văn ở cấp học này cần có nhữngnguyên tắc chung và những nguyên tắc đặc thù

2 Các nguyên tắc cơ bản trong dạy học văn ở tiểu học

2.1 Nguyên tắc tính vừa sức

Trang 22

- Đây là nguyên tắc có tính xuyên suốt trong dạyhọc văn học thiếu nhi trong nhà trường tiểu học (quamôn Tiếng Việt)

- Tác phẩm văn học dành cho học sinh tiểu học cónhững yêu cầu riêng để “vừa sức” với các em: có nhữngbài giúp các em đọc đúng trọng âm (đúng những từquan trọng, mang nhiều thông tin mới), đúng ngữ điệu,đúng chỗ ngắt giọng; có bài giúp các em đọc đúng kiểucâu để sau đó đọc diễn cảm được cả đoạn văn và bàivăn…

- Văn, thơ dành cho học sinh tiểu học phải bảo đảmcho trẻ đọc được, vừa phải giúp cho trẻ cảm thụ đượctác phẩm một cách tốt nhất

2.2 Nguyên tắc tích hợp trong phân tích tác phẩm

Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm môn học –văn học trong nhà trường: học sinh tiểu học không chỉ

học văn mà còn học ngữ, không chỉ tiếp thu cái đẹp của

văn chương mà còn qua văn chương để hiểu con người,cuộc đời, qua mỗi tác phẩm văn học để tiếp nhận sựgiáo dục và tự giáo dục mình Tiếp xúc với văn họccũng là để các em hiểu thêm về xã hội, môi trường xungquanh, hiểu thêm về nhạc, họa,…

=> Người viết cho thiếu nhi phải có hai tư cách: tưcách một nhà văn và tư cách một người làm cha mẹmuốn con nên người Do đó, mỗi tác phẩm mà họ dành

Trang 23

cho thiếu nhi là một sự tổng hòa của nhiều nội dung và

tư tưởng, tình cảm của tác giả, những điều ‘trông thấy”của nhà văn bao giờ cũng hiện ra bằng những hình thức

cụ thể của tác phẩm và những biểu hiện của hình thứcluôn chứa đựng những nội dung tích cực

- Theo nguyên tắc về tính vừa sức, khi phân tích,giáo viên có thể không cần khai thác hết tất cả nội dung

và nghệ thuật mà chỉ cần nhấn mạnh một vài khía cạnhtiêu biểu nào đó của chúng để tập trung sự chú ý của cácem

- Chú ý mối quan hệ giữa nội dung và hình thứcchính là tôn trọng nguyên tắc chỉnh thể của tác phẩmvăn học Điều cần lưu ý là, ở cuối cấp tiểu học, các em ýthức rõ hơn về hình thức và nội dung nên sự phân tíchcần kĩ càng hơn, nội dung phải sâu hơn, nghệ thuật phảichi tiết hơn

2.4 Nguyên tắc gắn văn học với đời sống

- Tuổi thiếu nhi là lứa tuổi mà cuộc sống đối vớicác em, tất cả vừa quen vừa lạ Vạn vật xung quanh, các

Trang 24

em đều thấy, nhưng thấy mà chưa hiểu, hiểu mà chưathể phân tích cặn kẽ hoặc về cảm tính thì hiểu nhưng lítrí lại chưa thỏa mãn Văn học sẽ là một trong nhữngcánh cửa để giúp các em bước vào và tìm hiểu ngôi nhà– cuộc sống.

- Gắn văn học với cuộc sống là qua tác phẩm giúpcác em hiểu thêm về cuộc đời Điều này rất cần và rấtthiết thực

- Nguyên tắc gắn văn học với cuộc sống cần phải tựnhiên như chính mối quan hệ giữa cuộc sống và vănhọc, tránh trường hợp gò ép, bắt buộc Sự gò ép bao giờcũng là phản tự nhiên, nhất là với lứa tuổi học sinh tiểuhọc

=> Giúp các em biết yêu cái thiện, cái tốt, biết ghétcái xấu, biết xa lánh cái thấp hèn, biết học tập cái caothượng nhưng quan trọng hơn là: các em còn phải hiểuđược, lí giải được : Vì sao ghét?, Vì sao yêu?, Xa lánhcái xấu như thế nào?, Học tập cái tốt ra sao? Dạy văn

ở tiểu học không phải là dạy đạo đức, nhưng dạy đạođức qua văn học không chỉ nhẹ nhàng mà còn sâu sắc,được các em hiểu kĩ và nhớ lâu

2.5 Nguyên tắc chú ý đến sự phối hợp các phương pháp

Ngày đăng: 14/07/2014, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w