1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

QL và sử dụng NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Giang

45 486 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề về nâng cao công tác quản lý và sử dụng NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý ngân sách nhà nước
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hà Giang
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 168,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QL và sử dụng NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Trang 1

mục lục

Trang

Đặt vấn đề Nội dung chuyên đề

Phần thứ nhất

một số vấn đề lý luận chung về ngân sách Nhà nớc

I Khái niệm về NSNN và chính sách tài khoá

II Bản chất, chức năng và vai trò của NSNN nói chung, của Hà

Giang nói riêng trong sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội

III Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về chính sách động

viên tài chính nói chung và thuế nói riêng cho ngân sách

Nhà nớc

Phần thứ hai

tình hình về tự nhiên- kinh tế-xã hội và thc trạng công

tác quản lý sử dụng NSNN tỉnh hà giang

I Điệu kiện tự nhiên- kinh tế-xã hội của tỉnh Hà Giang

II Thực trạng công tác quản lý và sử dụng NSNN tỉnh Hà Giang

1997- 1999

III Đánh giá tình hình công tác quản lý thu thuế trong mấy

năm qua

Phần thứ ba

phơng hớng và những giải pháp chủ yếu để nâng cao

công tác quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh hà giang

I Phơng hớng, mục tiêu chung

II Những giải pháp chung chủ yếu để nâng cao công tác quản

lý và sử dụng NSNN của tỉnh Hà Giang

1 Sự cần thiết của đề tài.

Trong hệ thống tài chính của mỗi quốc gia thì NSNN có vị tríquan trọng đặc biệt, nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có

ý nghĩa quyết định trong quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân

Trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nớc, thực hiện CNH,HĐH đất nớc, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hànhtheo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hộichủ nghĩa thì đòi hỏi có khối lợng vốn vô cùng lớn và phát triển bềnvững Muốn vậy phải có chính sách tài chính quốc gia tiên tiến phù hợp,

Trang 2

trong đó NSNN là một tong những công cụ quan trọng nhất Thông quacông cụ NSNN thực hiện phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhậpquốc dân, nhờ đó tập trung một phần quan trọng thu nhập quốc dân vàoNSNN, đảm bảo nguồn vốn cho tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế.

NSNN là công cụ để thực hiện tích luỹ và tập trung vốn, phân phối

và sử dụng vốn cho quá trình CNH, HĐH đất nớc, xây dựng cơ sở vậtchất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, từng bớc làm thay đổi cơ cấu nềnkinh tế theo hớng đi lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa

NSNN giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện các mục tiêuchiến lợc phát triển kinh tế - xã hội, các kế hoạch phát triển kinh tế - xãhội, các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân NSNN còn cung cấpkinh phí cho hoạt động của các lĩnh vực không sản xuất vật chất, duy trìhoạt động của bộ máy Nhà nớc, giữ ổn định tình hình kinh tế - xã hội,phấn đấu xây dựng một nền kinh tế phát triển theo hớng CNH, HĐH

Vì vậy cần phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò củaNSNN, trên cơ sở đó tiến hành đổi mới các hoạt động của NSNN cho phùhợp với điều kiện nền kinh tế thị trờng hiện nay, nhằm đảm bảo nguồnvốn đáp ứng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc

Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc của Tổ quốc, có nhiềutiềm năng thế mạnh Tuy nhiên cho đến nay vẫn là một tỉnh nghèo nhấtcủa nớc ta Điều đó đợc thể hiện rõ nhất trên các mặt kinh tế, xã hội, vềcác cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là kết cấu hạ tầng, về lực lợng sảnxuất và NSLĐ đang yếu kém và lạc hậu Với tình trạng đó thì cha thể

đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH nền kinh tế của tỉnhvà đồng thời cũng gặpkhó khăn trong việc cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân các dân tộctrong tỉnh Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó là HàGiang còn quá thiếu nguồn vốn vật chất Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫntrên đây cần phải tiến hành đồng bộ nhiều vấn đề Một trong những vấn đề

có tầm quan trọng đặc biệt là giải quyết tốt vấn đề ngân sách Chính vì

vậy tôi chọn đề tài "Một số vấn đề về nâng cao công tác quản lý và sử dụng NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Giang" để viết luận văn tốt nghiệp cử

nhân chính trị

2 Mục đích, nhiệm vụ, phơng pháp và phạm vi của đề tài.

- Mục đích của đề tài: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề về lý luận,

quan điểm của Đảng, thực tiễn của địa phơng để trình bày bản luận văntốt nghiệp cử nhân chính trị của mình; đồng thời thông qua sự nghiên cứunày có thể có đóng góp nhỏ về suy nghĩ của bản thân tôi trong lĩnh vựcquản lý NSNN ở tỉnh Hà Giang

Trang 3

- Nhiệm vụ của đề tài: Từ mục đích nói trên, đề tài luận văn có các

nhiệm vụ sau:

+ Khái quát một vài nét chung nhất về lý luận của NSNN và vai tròcủa NSNN trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của n -

Để thể hiện đề tài, luận văn còn sử dụng tổng hợp phơng phápphân tích, thống kê, tổng hợp từ tình hình và các số liệu của thực tiễn, để

từ đó rút ra những nhận xét có căn cứ Luận văn còn coi trọng tính kếthừa có chọn lọc thành quả của những công trình, những tác giả đãnghiên cứu vấn đề này

- Phạm vi của đề tài:

Vấn đề quản lý và sử dụng NSNN là một vấn đề rộng lớn, khókhăn và phức tạp, đặc biệt là đối với những địa phơng nh Hà Giang nềnkinh tế còn ở trình độ thấp và phát triển chậm Tuy nhiên, trong khuônkhổ có mức độ của luận văn cử nhân chính trị, đề tài chỉ giới hạn ở phạm

vi nghiên cứu công tác quản lý và sử dụng NSNN ở một địa phơng - đó làtỉnh Hà Giang Trong đó tập trung làm rõ thực trạng của quản lý và sửdụng NSNN của tỉnh và qua đó nêu lên một số giải pháp để thực hiệnquản lý tốt hơn NSNN của tỉnh Đề tài không đủ điều kiện để nghiên cứu

và thể hiện hết mọi khía cạnh của đề tài nói trên

3 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần đặt vấn đề, kiến nghị và kết luận, nội dung của luậnvăn gồm cả 3 phần chính sau đây:

Phần thứ nhất: Một số vấn đề lý luận chung về ngân sách Nhà nớc

(NSNN)

Trang 4

Phần thứ hai: Tình hình cơ bản về tự nhiên - kinh tế - xã hội và

thực trạng công tác quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh Hà Giang

Phần thứ ba: Phơng hớng và những giải pháp chủ yếu để nâng cao

công tác quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh Hà Giang

Nội Dung Luận Văn

Thuật ngữ "NSNN " có từ lâu và ngày nay đợc dùng phổ biến trong

đời sống kinh tế - xã hội và đợc diễn đạt dới nhiều góc độ khác nhau.Song quan niệm NSNN đợc bao quát nhất cả về lý luận và thực tiễn củanớc ta hiện nay là:

NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nớc trong dự toán đã

đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền quyết định và đợc thực hiện trongmột năm để bảo đảm thực hiện các chức năng của Nhà nớc

Trong thực tế nhìn bề ngoài, hoạt động NSNN là hoạt động thu chitài chính của Nhà nớc Hoạt động đó đa dạng, phong phú, đợc tiến hànhhầu hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội Tuy

đa dạng, phong phú nh vậy, nhng chúng có những đặc điểm chung:

Các hoạt động thu chi của NSNN luôn luôn gắn chặt với quyền lựckinh tế - chính trị của Nhà nớc, đợc Nhà nớc tiến hành trên cơ sở nhữngluật lệ nhất định Đằng sau những hoạt động thu chi tài chính đó chứa

đựng nội dung kinh tế - xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh

tế, quan hệ lợi ích nhất định Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốcgia, lợi ích chung bao giờ cũng đợc đặt lên hàng đầu và chi phối các mặtlợi ích khác trong thu, chi ngân sách Nhà nớc

Quá trình thực hiện các chỉ tiêu thu, chi NSNN nhằm hình thànhquỹ tiền tệ tập trung của Nhà nớc và là quá trình phân phối và phối lại

Trang 5

giá trị tổng sản phẩm xã hội phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm

vụ của Nhà nớc trên các lĩnh vực, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Nh vậy, chúng ta thấy rằng thu, chi của NSNN hoàn toàn khônggiống bất kỳ một hình thức thu chi của một loại quỹ nào Thu của NSNNphần lớn đều mang tính chất bắt buộc, còn các khoản chi của NSNN lạimang tính chất không hoàn lại Đây là đặc trng nổi bật của NSNN trongbất cứ một Nhà nớc nào Xuất phát từ quyền lực của Nhà nớc và các nhucầu về tài chính để thực hiện chức năng quản lý và điều hành của Nhà n-

ớc đối với nền kinh tế - xã hội Do nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà nớc đã

sử dụng quyền lực thông qua hệ thống pháp luật tài chính buộc mọi phápnhân và thể nhân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho NSNN,tức là các chủ thể kinh tế thực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nớc Sựbắt buộc đó là hoàn toàn khách quan, vì lợi ích của toàn xã hội chứkhông phải phục vụ cho lợi ích riêng của Nhà nớc Các đối tợng nộp thuếcũng hoàn toàn ý thức đợc nghĩa vụ của mình trong việc đảm bảo sự tồntại và phát triển của Nhà nớc Họ cũng hiểu đợc vai trò của Nhà nớctrong việc sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các chức năngkinh tế, xã hội, do nhân dân giao phó Sự tồn tại và hoạt động của Nhà n-

ớc chính là yếu tố quyết định tính chất hoạt động của NSNN, nói lên bảnchất của NSNN Mọi hoạt động của NSNN đều nhằm vào việc tạo lập và

sử dụng các nguồn lực tài chính, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh

tế giữa Nhà nớc và các chủ thể trong xã hội, phát sinh do Nhà nớc tạo lậpthông qua NSNN Đó là mối quan hệ kinh tế giữa phần nộp vào NSNN vàphần để lại cho các chủ thể kinh tế trong xã hội Phần nộp vào ngân sách

sẽ tiếp tục đợc phân phối lại nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nớc

và phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nớc có thể sử dụng các công

cụ sẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình cácnguồn lực tài chính cần thiết Song cơ sở tạo lập các nguồn lực tài chínhxuất phát từ sản xuất, mà chủ thể của sản xuất chính là các thành viêntrong xã hội Mọi thành viên đều có lợi ích kinh tế và đấu tranh bảo vệlợi ích kinh tế đó, nghĩa là thông qua quyền lực của mình, Nhà nớc sửdụng các công cụ, chính sách giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nớc vàlợi ích của các thành viên trong xã hội Do vậy muốn có NSNN đúng

đắn, lành mạnh thì phải tôn trọng và vận dụng các quy luật kinh tế mộtcách khách quan, phải dựa trên cơ sở đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà n-

ớc và lợi ích cho các thành viên trong xã hội Một NSNN lớn mạnh phải

đảm bảo sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinhdoanh, bao quát hết toàn bộ các nguồn thu, nuôi dỡng nguồn thu để đápứng nhu cầu chi ngày càng tăng

Trang 6

Nh vậy bản chất của NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữaNhà nớc và các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nớchuy động và sử dụng các nguồn lực tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện cácchức năng quản lý và điều hành nền kinh tế, xã hội của Nhà nớc.

Chức năng đầu tiên của NSNN là chức năng phân phối Bất kỳ mộtNhà nớc nào, muốn tồn tại và duy trì đợc các chức năng của mình, trớchết phải có nguồn lực tài chính Đó là các khoản chi cho bộ máy quản lýNhà nớc, cho lực lợng quân đội, cảnh sát, cho nhu cầu văn hoá, giáo dục,

y tế, phúc lợi xã hội, chi cho đầu t phát triển v.v Nhng muốn tạo lập

đ-ợc NSNN, trớc hết phải tập hợp các khoản thu theo luật định, cân đối chitiêu theo tiêu chuẩn định mức đúng với chính sách hiện hành Đó chính

là sự huy động các nguồn lực tài chính và đảm bảo nhu cầu chi tiêu theo

kế hoạch của Nhà nớc, thực hiện việc cân đối thu chi bằng tiền của Nhànớc

Chức năng thứ hai của NSNN là giám đốc quá trình huy động cáckhoản thu và thực hiện các khoản chi Thông qua chức năng này, NSNNkiểm tra, giám sát quá trình động viên các nguồn thu, tránh tình trạngtrốn lậu thuế, chây ỳ nộp thuế của các đối tợng thực hiện nghĩa vụ nộpNSNN hoặc bị lạm dụng, làm trái pháp luật, coi thờng pháp luật và cácchính sách động viên khác Trong khâu cấp phát nếu buông lỏng việckiểm tra, kiểm soát chi thì dễ dẫn đến tình trạng làm sai luật định và cácchế độ chi quy định Đồng thời thông qua kiểm tra, kiểm soát hoạt độngthu chi NSNN giúp ta giám sát việc chấp hành các chế độ, chính sách của

Đảng và Nhà nớc Thông qua đó đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quảxã hội của vốn NSNN, hiệu quả của các chủ trơng, chính sách, chế độ do

Đảng và Nhà nớc đề ra

Nh vậy, hai chức năng phân phối và giám đốc luôn có mối quan hệmật thiết với nhau, có vị trí và tầm quan trọng nh nhau, không thể coichức năng này hơn chức năng kia, mà phải coi trọng cả hai chức năng ởmọi lúc, mọi nới trong tạo lập và sử dụng vốn NSNN

b Các khoản thu huy động vào NSNN và chi NSNN.

* Các khoản thu NSNN.

- Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí

Đây là các khoản thu bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của các doanhnghiệp, các tổ chức và công dân do những yêu cầu tất yếu về kinh tế -chính trị - xã hội để bảo đảm các hoạt động của bộ máy Nhà n ớc, giữvững quốc phòng, an ninh và bảo đảm các sự nghiệp xã hội

- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nớc

Trang 7

Đây là các quan hệ thu thực hiện lợi ích kinh tế các loại tài sản vàvốn bằng tiền thuộc sở hữu toàn dân giao cho Nhà nớc quản lý và chophép các chủ thể trong nền kinh tế sử dụng Các quan hệ này cũng là bắtbuộc, nhng dựa trên các yếu tố kinh tế là đảm bảo cho chủ sở hữu thựchiện đợc lợi ích kinh tế, quyền sở hữu các loại tài sản đa vào quá trình sảnxuất xã hội Những ai sử dụng nhiều tài sản của Nhà nớc vào mục đích kinhdoanh trên các địa bàn và những ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao thì phải

- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân thuộc đối tợngphải đóng góp theo luật định

- Các khoản viện trợ: Hình thức chủ yếu là viện trợ không hoàn lại,của các tổ chức, các tổ chức phi chính phủ của các nớc và quốc tế Nguồnthu này chủ yếu phụ thuộc vào đờng lối đối ngoại của Đảng và Nhà nớc

Đây là nguồn thu nhất thời, không ổn định, không tính toán trớc mộtcách chính xác

- Các khoản do Nhà nớc vay để bù đắp bội chi đợc đa vào cân đốiNSNN

Khoản thu này đợc thực hiện thông qua quan hệ tín dụng Nhà nớctrong nớc và quốc tế để sử dụng vào mục đích đầu t phát triển kinh tế

Đây là nguồn thu không thuộc quyền sở hữu Nhà nớc, đến kỳ hạn Nhà

n-ớc phải thanh toán Vì vậy, việc sử dụng hình thức này đòi hỏi các tổ chứcNhà nớc phải tính toán nhu cầu đầu t, hiệu quả kinh tế - xã hội của côngtrình và khả năng thu hồi vốn để trả nợ

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

* Các khoản chi lấy từ NSNN.

Chi NSNN là một hệ thống các quan hệ rất đa dạng, phức tạp, bao gồm:

- Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội

- Các khoản chi bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt độngcủa bộ máy Nhà nớc

Đây là những khoản chi bắt buộc trong NSNN của mọi quốc gianhằm để giữ vững an ninh tổ quốc, ổn định chính trị - xã hội

Trang 8

Quy mô khoản chi này tuỳ thuộc vào việc xác định chức năngnhiệm vụ và tổ chức bộ máy Nhà nớc xuất phát từ tình hình kinh tế -chính trị - xã hội ở trong nớc và quốc tế Trên cơ sở xác định quy mô chitiêu cần thiết cho lĩnh vực này, tiến hành phân bổ các loại thuế trực thu

và gián thu, thông qua thực thu các sắc thuế mà bảo đảm nguồn lực tàichính đầy đủ cho nhu cầu này

- Các khoản chi trả nợ củ Nhà nớc: Tuỳ theo mức độ bội chi củangân sách, quy mô và các điều kiện tín dụng Nhà nớc về thời hạn trả nợ

và mức lãi suất mà khoản chi này có tỷ lệ cao hay thấp trong tổng chiNSNN ở nớc ta hiện nay, do hậu quả của việc quản lý vốn vay cha tốt,

để thất thoát lớn và việc sử dụng hiệu quả thấp, cho nên nợ nớc ngoài tồn

đọng rất lớn, cho nên chi trả nợ nớc ngoài đang là vấn đề căng thẳng.Khả năng trả nợ thấp, tuy nhiên chúng ta vẫn phải đảm bảo uy tín trongquan hệ quốc tế Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần khống chế nhucầu chi tiêu trong nớc để dành tiền trả nợ

Đối với vay từ nguồn trong nớc dới nhiều hình thức, trong đó chủyếu là hình thức tín phiếu kho bạc Nhà nớc ngắn hạn và tín phiếu dài hạn

để huy động vốn trong dân vào nhu cầu đầu t Hớng chủ yếu của tín dụngNhà nớc là các khoản vay dài hạn đầu t phát triển kinh tế Nhng hìnhthức này chỉ phát triển trong điều kiện sức mua đồng tiền ổn định và lãisuất hợp lý đem lại lợi ích ngời cho vay, đồng thời đảm bảo cho Nhà nớcthanh toán đợc nợ

- Các khoản chi dự trữ Nhà nớc (từ 3 - 5% tổng số d) Đây là khoản

dự phòng cho những nhu cầu đột xuất bất trắc có thể xảy ra trong khithực hiện nhiệm vụ của Nhà nớc

- Các khoản chi viện chợ và các khoản chi khác theo quy định củapháp luật

NSNN bao gồm hai cấp: Trung ơng và địa phơng Quan hệ giữa haicấp này đợc thực hiện theo nguyên tắc chủ yếu là phân định nguồn thu vànhiệm vụ chi cụ thể; thực hiện bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngânsách cấp dới để bảo đảm sự cân bằng, phát triển cân đối và thực hiện đợcnhiệm vụ của các vùng, các địa phơng

NSNN đợc cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phíphải lớn hơn tổng số chi thờng xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng caovào đầu t phát triển Nếu có bội chi thì số bội chi đó phải nhỏ hơn chi

đầu t phát triển, tiến tới cân bằng thu - chi ngân sách Nếu có vay để bù

đắp bội chi NSNN thì phải trên nguyên tắc tiền vay đợc không sử dụngcho tiêu dùng mà chỉ sử dụng vào mục đích phát triển và có kế hoạchthu hồi vốn vay để đảm bảo cân đối ngân sách, chủ động trả nợ đến hạn

Trang 9

Ngân sách địa phơng đợc cân đối theo quy tắc: tổng số chi không đợc vợtquá tổng số thu

2 Chính sách tài khoá.

Chính sách tài khoá là chính sách của Nhà nớc trong việc huy độngcác nguồn thu vào NSNN và sử dụng nó trong hạn nhất định (thờng là 1năm)

Chính sách tài khoá có tác động đến sản lợng thực tế, đến kiềm chếlạm phát và tình trạng thất nghiệp; có tác động đến điều chỉnh nền kinh

tế, cơ cấu kinh tế Mục tiêu của chính sách tài khoá là bảo đảm cácnguồn lực tài chính, tạo môi trờng và điều kiện cho phát triển kinh tế - xãhội Để đạt đợc mục tiêu đó, chính sách tài khoá cần xử lý nhiều mốiquan hệ, trong đó giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu sau đây

là nội dung cốt lõi của chính sách tài khoá:

+ Mâu thuẫn thu - chi NSNN Đây là mâu thuẫn vốn có của bất kỳmột quốc gia nào, đặc biệt gay gắt đối với các nớc kém phát triển Xuấtphát của mâu thuẫn này là do chi tiêu của Nhà nớc lớn, trong khi nguồnthu bị hạn chế Vì vậy, cần có những biện pháp tích cực để khống chếnhu cầu chi của Nhà nớc Đồng thời tích cực thu đúng, thu đủ, tận dụngcác nguồn thu

Để thực hiện cân đối thu - chi, cần giữ vững 2 đối cân đối chủ yếu:Một là, thu từ các loại thuế trực thu và gián thu phải bảo đảm nhucầu chi thờng xuyên của bộ máy Nhà nớc, quốc phòng, an ninh

Hai là, quy mô đầu t phát triển kinh tế - xã hội phải tơng ứng vớitổng số thu từ thực hiện lợi ích kinh tế các tài sản thuộc sở hữu Nhà n ớc

và các nguồn lực huy động đợc trong nớc và ngoài nớc thông qua tíndụng dài hạn

+ Mâu thuẫn giữa tập trung vào NSNN với tích luỹ trong các cơ sởkinh doanh Vì vậy chính sách tài khoá cần giải quyết tốt mâu thuẫn này,

đó là yêu cầu khách quan của phát triển kinh tế - xã hội

Mâu thuẫn này hiện nay ở nớc ta đang gay gắt, biểu hiện ở chỗ tốc

độ tăng thu vào NSNN năm sau cao hơn năm trớc và lớn hơn nhiều lần sovới tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân, trong khi tình trạng thất thu từthuế còn lớn

+ Mẫu thuẫn giữa tăng trởng kinh tế với việc thực hiện công bằngxã hội Nguyên nhân của mâu thuẫn này: từ một mặt NSLĐ xã hội cònthấp kém, muốn tăng trởng thì phải tích luỹ, do đó tiêu dùng bị hạn chế,không giải quyết đúng mức những vấn đề xã hội cấp bách Nếu ngợc lại

Trang 10

thì không đảm bảo thực hiện đợc mục tiêu kinh tế Mặt khác, do pháttriển kinh tế theo cơ chế thị trờng, sẽ dẫn tới phân hoá giàu nghèo làkhông tránh khỏi Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn trên, chính sách tàikhoá phải thể hiện nội dung điều tiết thu nhập sao cho hợp lý.

II Bản chất, chức năng và vai trò của NSNN nói chung, của

Hà Giang nói riêng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.

1 Bản chất và chức năng của NSNN nói chung.

Nh trên đã trình bày, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất củaNhà nớc, là công cụ vật chất quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế -xã hội Cho nên có thể nói chức năng và nhiệm vụ cơ bản của NSNN là

động viên hợp lý các nguồn thu (đặc biệt là thuế, phí, lệ phí) Đồng thời

tổ chức và quản lý chi tiêu NSNN, thực cân đối thu - chi Tóm lại, NSNN

có các chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau đây:

Một là, chức năng phân phối NSNN

Bộ máy Nhà nớc muốn thực hiện đợc sự hoạt động của mình mộtcách bình thờng và ổn định để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ làquản lý mọi mặt của đời sống xã hội của một quốc gia thì nhất thiết phải

có nguồn NSNN đảm bảo

Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nớc sử dụng các công cụ, cácbiện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình cácnguồn lực tài chính cần thiết Nhng cơ sở để hình thành nguồn lực tàichính đó là từ sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh Vìvậy, muốn động viên đợc nguồn thu NSNN ngày càng tăng và có hiệuquả thì nền kinh tế nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng phải đợcphát triển với tốc độ nhanh, bền vững và có hiệu quả cao Vì vậy, Nhà n-

ớc trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội phải nắm đợc quy luật kinh tế

và tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan Đồng thời phải bảo đảmhài hoà các quan hệ lợi ích của các chủ thể của nền kinh tế

Một NSNN vững mạnh là một ngân sách mà cơ chế phân phối của

nó đảm bảo đợc sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuấtkinh doanh nuôi dỡng nguồn thu, trên cơ sở đó tăng đợc thu để đáp ứngnhu cầu chi tiêu của Nhà nớc ngày càng tăng lên

Mặt khác, một NSNN vững mạnh còn phải thể hiện việc phân phối

và quản lý chi đúng đắn, hợp lý và hiệu quả Nhà nớc sử dụng khối lợngtài chính từ nguồn NSNN để chi tiêu vào mục đích phát triển kinh tế - xãhội và chi tiêu cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nớc Nh vậy, chức năngcủa NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phải thực hiện quản

lý và phân phối chi tiêu sao cho có hiệu quả Đó cũng là một tất yếukhách quan

Trang 11

Từ sự phân tích trên đây, ta có thể hiểu đợc bản chất của NSNN

-đó là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nớc với các thành viêntrong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nớc huy động và sử dụng cácnguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện trong các chứcnăng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của Nhà nớc Hoạt độngcủa NSNN luôn luôn gắn liền với thực hiện các chức năng của Nhà nớc

Hai là, chức năng giám đốc quá trình huy động các nguồn thu vàthực hiện các khoản chi tiêu

Thực hiện chức năng này, Nhà nớc thông qua NSNN để biết đợcnguồn thu - chi nào là cơ bản của từng thời kỳ, từng giai đoạn và do đó

có những giải pháp để làm tốt thu - chi Nhà nớc định ra cơ cấu thu- chihợp lý ; theo dõi các phát sinh và những nhân tố ảnh hởng đến thu- chi

Tóm lại, NSNN có hai chức năng cơ bản- chức năng phân phối vàchức năng giám đốc NSNN không thể cân đối đợc nếu nh không thựchiện đầy đủ hai chức năng đó, bởi vì: nếu không có sự giám đốc trongviệc động viên khai thác hợp lý các nguồn thu và do đó sẽ dẫn đến tìnhtrạng thất thu dới nhiều hình thức Nếu không thực hiện tốt chức năngphân phối thì cũng không thể động viên đợc nguồn thu cho NSNN

Chức năng phân phối và chức năng giám đốc của NSNN đều có vịtrí và tầm quan trọng của nó Do đó, cần phải coi trọng cả hai chức năng

đó và tổ chức chỉ đạo để các cơ quan chức năng thực hiện tốt hai chứcnăng đó của NSNN

2 Quan điểm cơ bản về quản lý và sử dụng NSNN.

Để thực hiện tốt công tác quản lý và sử dụng NSNN, tuỳ theo chứcnăng, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, cần phải quán triệt các quan

điểm sau đây:

+ Trong chính sách tạo vốn của NSNN phải quán triệt t tởng khôngtận thu để bao chi, mà phải động viên nguồn thu ngân sách một cách hợp

lý để đáp ứng nhu cầu chi trên cơ sở vừa bồi dỡng và phát triển nguồnthu, vừa kiểm soát và tập trung khai thác một cách hợp lý và có hiệu quảcác nguồn thu

+ Thực hiện tốt công tác phân phối và sử dụng vốn NSNN theonguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, chấm dứt tình trạng các khoản chi baocấp tràn lan của cơ chế cũ trớc đây Thực hiện phơng châm "Nhà nớc vànhân dân cùng làm"

+ Thực hiện phơng pháp cân đối ngân sách một cách khoa học đểvừa phát huy tốt các nguồn lực bên trong và tranh thủ cao độ, có hiệu quả

Trang 12

nguồn lực tài chính bên ngoài; vừa phù hợp với pháp luật của Nhà n ớc ta,vừa phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo đảm sự chủ động của NSNN.

+ Đổi mới chế độ phân cấp quản lý NSNN theo hớng giảm bớtchức năng quản lý kinh tế của chính quyền địa phơng, tránh để tình trạngphân tán và sử dụng kém hiệu quả nguồn vốn ngân sách

+ Ban hành đồng bộ hoá và tiếp tục hoàn thiện luật NSNN Đồng thờigiáo dục, nâng cao trình độ cho toàn dân, cho các chủ thể của nền kinh tếcũng nh trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chức năng trực tiếp làmcông tác quản lý NSNN Nghiêm chỉnh chấp hành luật NSNN

3 Vai trò của NSNN trong các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội.

Chúng ta biết rằng, trong cơ chế thị trờng, mọi hoạt động kinh tế,sản xuất kinh doanh chủ yếu của các thành phần kinh tế, các ngành kinh

tế chủ yếu tuân theo sự điều tiết của các quy luật vốn có của thị trờng.Nhận thức đợc điều đó, Nhà nớc ta đã có những cơ chế, chính sách hạnchế sự can thiệp và kiểm soát trực tiếp đối với các hoạt động kinh tế, nhất

là các hoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nớc ta với chức năng củamình là thực hiện quản lý hành chính kinh tế bằng các công cụ pháp luật,

kế hoạch hoá và các chính sách do Nhà nớc ban hành tuân theo pháp luậthiện hành do cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội ban hành Đó chính

là sự đổi mới cơ bản về cơ chế quản lý của Nhà nớc ta: từ chỗ quản lý,

điều hành nên kinh tế một cách trực tiếp đến chỗ quản lý và điều hànhmọi hoạt động kinh tế- xã hội thông qua việc tạo mọi điều kiện, môi tr-ờng, hành lang (trong đó có cả hành lang pháp lý) để cho nền kinh tếphát triển vừa tuân theo qui lụt kinh tế khách quan, vừa bảo đảm sự địnhhớng XHCN, nhằm nhanh chóng đạt đợc các mục tiêu mà Đảng ta đã đề

ra trong các kỳ đại hội

Trong tất cả các công cụ để quản lý mọi hoạt động kinh tế- xã hội, Nhànớc ta hết sức quan tâm đến công cụ NSNN, vì nó là yếu tố vật chất vô cùngquan trọng trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN

Với cơ chế cũ trớc đây, Nhà nớc can thiệp sâu vào hoạt động kinh

tế vi mô Trong cơ chế mới- cơ chế thị trờng các vấn đề của kinh tế sẽ

đ-ợc giải quyết theo qui luật của thị trờng và các quan hệ cung- cầu Nhà

n-ớc chỉ dùng các biện pháp về thuế, các khoản chi ngân sách để can thiệpnhằm ổn định nên kinh tế và phát triển theo mục tiêu đã định

Hoạt động của NSNN gắn với hoạt động của nền kinh tế thị trờng,

do đó thu NSNN luôn luôn biến đổi và phụ thuộc vào nhịp độ phát triểnkinh tế và hiệu quả kinh tế Xu hớng chung là khi nền kinh tế tăng trởng

sẽ làm tăng khả năng tăng khối lợng thu và ngợc lại Tuy nhiên, điều cần

lu ý ở đây là mức thu NSNN phải gắn với nhịp độ tăng của nền kinh tế,

Trang 13

nếu tận thu quá mức sẽ dẫn tới tình trạng suy thoái do không kích thích

đợc sản xuất và đầu t

Trong bất kỳ tình huống nào, sức ép chi luôn luôn là gánh nặngcho NSNN Đặc biệt là trong giai đoạn đầu khi mà nền kinh tế cha kịpphát triển, trong khi đó phải nhanh chóng giải quyết nhiều vấn đề bứcxúc của xã hội Bên cạnh đó chi NSNN còn bị sức ép của tình trạng cólạm phát cao xẩy ra Khi có lạm phát cao thì khối lợng ngân sách tăngchậm hơn nhu cầu chi, vì vậy nếu xử lý không tốt sẽ dẫn đến rối loạn,gây thiệt hại về nhiều mặt cho nền kinh tế

Tóm lại, NSNN có vai trò vô cùng quan trọng Bởi lẽ NSNN cóchức năng huy động nguồn lực tài chính để hình thành các quỹ tiền tệ tậptrung, đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nớc Đồng thời NSNN cònthực hiện cân đối bằng tiền giữa các khoản thu và các khoản chi tiêu củaNhà nớc Đây là vai trò cơ bản của NSNN mà bất kỳ một quốc gia nàocũng phải thực hiện

NSNN là một công cụ quản lý quan trọng trong điều chỉnh nềnkinh tế vĩ mô của đất nớc, đặc biệt thể hiện rất rõ trong nền kinh tế thị tr-ờng định hớng xã hội chủ nghĩa Vai trò đó đã đợc thể hiện cụ thể ở cáclĩnh vực sau:

- Về kinh tế: Nhà nớc tạo các môi trờng và điều kiện để xây dựngcơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống

độc quyền NSNN đảm bảo cung cấp kinh phí đầu t xây dựng và nângcấp cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp Nhà nớc thuộccác ngành kinh tế, các lĩnh vực kinh tế then chốt Trên cơ sở đó từng b ớclàm cho kinh tế Nhà nớc đảm đơng đợc vai trò chủ đạo nền kinh tế nhiềuthành phần

Mặt khác, trong những điều kiện cho phép thì nguồn kinh phí từNSNN cũng có thể đợc sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanhnghiệp thuộc các TPKT khác để các doanh nghiệp đó có cơ sở về tàichính tốt hơn và do đó có đợc phơng hớng kinh doanh có hiệu quả hơn

- Về mặt xã hội: Thông qua hoạt động thu, chi NSNN cấp phátkinh phí cho tất cả các lĩnh vực hoạt động vì mục đích phúc lợi xã hội.Thông qua công cụ ngân sách, Nhà nớc có thể điều chỉnh các mặt hoạt

động trong đời sống xã hội nh: Thông qua chính sách thuế để kích thíchsản xuất đối với những sản phẩm cần thiết cấp bách, đồng thời có thể hạnchế sản xuất những sản phẩm không cần khuyến khích sản xuất Hoặc đểhớng dẫn sản xuất và tiêu dùng hợp lý Thông qua nguồn vốn ngân sách

để thực hiện hình thức trợ cấp giá đối với các hoạt động thuộc chính sách dân

số, chính sách việc làm, chính sách thu nhập, chính sách bảo trợ xã hội v.v

Trang 14

- Về thị trờng: Thông qua các khoản thu, chi NSNN sẽ góp phần bình

ổn giá cả thị trờng Ta biết rằng, trong điều kiện kinh tế thị trờng, sự biến

động giá cả đến mức gây ảnh hởng xấu đến sự phát triển nền kinh tế cónguyên nhân từ sự mất cân đối cung - cầu Bằng công cụ thuế và dự trữ Nhànớc can thiệp đến quan hệ cung - cầu và bình ổn giá cả thị trờng

Hoạt động thu chi NSNN có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạmphát Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế Lạm phát xảy

ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng Để kiềm chế đợc lạm pháttất yếu phải dùng các biện pháp để hạ thấp giá, hạ thấp chi phí Bằngbiện pháp giải quyết tốt thu chi NSNN có thể kiềm chế, đẩy lùi đợc lạmphát, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

4 Vai trò của NSNN trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang.

Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới, trình độ dân trí thấp, điềukiện địa lý phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, lại có nhiều dân tộc cùngchung sống Sau chiến tranh giải phóng dân tộc, tỉnh Hà Giang còn chịuhậu quả nặng nề của 10 năm chiến tranh bảo vệ biên giới Hầu nh các cơ

sở kinh tế đều bị tàn phá nặng nề, đời sống vật chất, tinh thần của đồngbào các dân tộc hết sức khó khăn Tháng 10/1991 khi tách tỉnh, kết cấu hạtầng hầu nh không có gì Trong những năm qua đợc sự quan tâm giúp đỡcủa Trung ơng, nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang đã khắc phục khókhăn, từng bớc ổn định đời sống, phát triển sản xuất Đạt đợc những thànhtích đó, ngoài sự lãnh chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nớc từ Trung ớng

đến cơ sở, còn có các nhân tố khác, trong đó có vai trò của NSNN Nhờ cónguồn thu NSNN mới đảm bảo chi thờng xuyên cho sự hoạt động của cáccơ quan Đảng, Nhà nớc, các đoàn thể và các cơ quan hành chính sựnghiệp, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng Nhờ có NSNN màphần nào đã đáp ứng đợc nhu cầu các khoản chi cấp bách, đặc biệt là chicho đầu t phát triển chiếm tỷ lệ khá cao trong chi ngân sách Nhờ đó màhiện nay ở Hà Giang nhiều cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá xã hội đã và

đang đợc xây dựng, tu bổ, nâng cấp và đa vào sử dụng

Trong nông nghiệp, chi NSNN tập trung cho việc ứng dụng khoahọc- kỹ thuật vào sản xuất, đầu t để tạo điều kiện thực hiện chuyển dịchcơ cấu cây trồng vật nuôi và cơ cấu mùa vụ v.v Chẳng hạn đầu t choviệc lai tạo giống cây con cho năng suất cao Tuy lâm nghiệp đã chú ý

đầu t để đẩy mạnh trồng mới rừng, bảo vệ và tái sinh rừng, phát triển môhình rừng trang trại, vờn rừng, theo phơng thức lâm-nông kết hợp

Trong lĩnh vực văn hoá- xã hội: NSNN đã dành một tỷ lệ thích

đáng cho đầu t xây dựng và phát triển các cơ sở vật chất- kỹ thuật cholĩnh vực giáo dục đào tạo, hệ thống trờng chuyên, lớp chọn, trờng dân tộc

Trang 15

nội trú, trờng cao đẳng s phạm Mặc dù nguồn thu ngân sách còn hạnchế, nhng tỉnh cũng rất quan tâm đầu t cho lĩnh vực y tế và dân số kếhoạch hoá gia đình Cụ thể là đầu t nâng cấp cải tạo các cơ sở khám chữabệnh, tạo điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân đợc tốt hơn

Ngoài ra NSNN còn thực hiện một loạt các chơng trình khác nh:củng cố mở rộng nâng cấp các đờng giao thông liên huyện, liên xã, đầu

t để xây dựng đờng dây, trạm biến áp để đa điện lới quốc gia về cáchuyện vùng cao Đầu t xây dựng các cơ sở phát thanh, truyền hình, bu

điện để đáp ứng nhu cầu đời sống văn hoá, tinh thần cho các dân tộctrong tỉnh Đồng thời cũng nhằm tạo các phơng tiện tuyên truyền đờnglối chính sách của Đảng và Nhà nớc, để nhân dân các dân tộc hiểu rõ đ-ờng lối, chủ trơng của Đảng và Nhà nớc trên tất cả các mặt của đời sốngxã hội, để họ có sự tin tởng và tự giác thực hiện

Đối với lĩnh vực thu NSNN: thông qua các hình thức hoạt động thuNSNN mà đã động viên đợc ngày càng nhiều hơn, tốt hơn nguồn lực tàichính cho địa phơng Sự động viên đó, một mặt đảm bảo nguồn thu,tránh thất thu cho NSNN, nhng đồng thời cũng qua đó thực hiện sự bình

đẳng về quyền và nghĩa vụ đóng góp của nhân dân, của các chủ thể kinh

tế, các TPKT trong tỉnh

Tóm lại, NSNN có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triểnkinh tế - xã hội nói chung Đối với tỉnh Hà Giang thì vai trò NSNN lạicàng đặc biệt quan trọng Nhờ có nguồn thu NSNN mà đã tạo điều kiện

về nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo kinh phí chi tiêu cho các hoạt động của bộ máy chínhquyền và các tổ chức Đảng, đoàn thể, các lực lợng vũ trang an ninh

-Tuy nhiên, hiện nay NSNN của tỉnh còn hết sức nhỏ bé, cha đápứng nhu cầu nói trên Do đó, chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu để tìm

i điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của tỉnh hà giang.

1 Về điều kiện tự nhiên.

Trang 16

* Vị trí địa lý: Hà Giang là tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam,

nằm ở vị trí từ 21023' đến 22010' vĩ bắc và 104025' đến 105034' kinh đông,cách thủ đô Hà Nội trên 320 km

Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, có đờng biên giápTrung Quốc dài trên 270 km

Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Lào Cai và YênBái, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang

Hà Giang có 10 huyện, thị: Bắc Giang, Vị Xuyên, Bắc Mê, Hoàng

Su Phì, Xí Mần, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc và thị xã Hà Giang

* Địa hình:

- Hà Giang có địa hình núi cao chia cắt phức tạp, độ dốc lớn, nhiềudãy núi đá có độ cao trên 2000m, tạo nên nhiều tiểu vùng với các điềukiện về địa hình, khí hậu, đất đai, nguồn nớc và dân c khác biệt, độc đáo,

có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đa dạng theo cơ cấu nông lâm - công nghiệp với nhiều sản phẩm phong phú, có nhiều cảnh quanthiên nhiên đẹp để phát triển du lịch, dã ngoại

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên còn không ít khó khăn

do địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, nhiều dãy núi đá nên không ít khókhăn trong phát triển sản xuất nông nghiệp đặc biệt ở các huyện vùng cao

+ Đất dùng vào chăn nuôi : 1.140,45 ha

+ Đất cây lâu năm : 9.874,87 ha

+ Đất có mặt nớc nuôi thuỷ sản : 683,75 ha

- Đất nông nghiệp : 279.450,7 ha

+ Đất có rừng tự nhiên : 229.587,96 ha

Đất có rừng sản xuất : 34.071,03 ha

Trang 17

Đất có rừng phòng hộ : 177.439,97 ha

Đất có rừng đặc dụng : 17.191,36 ha+ Đất có rừng trồng : 49.861,09 ha

Đất có rừng sản xuất : 41.030,68 ha

Đất có rừng phòng hộ : 8.793,46 ha+ Đất cây ơm giống : 1,65 ha

- Đất chuyên dùng : 4.183,33 ha

- Đất cha sử dụng : 392.404,74 ha

Đất bằng cha sử dụng : 1.663,77 ha

Đất đồi núi cha sử dụng : 313.165,67 ha

* Về đặc điểm khí hậu thuỷ văn:

Do địa bàn rộng, khí hậu thuỷ văn các vùng phân bố không đồng đều:

ở các huyện vùng cao: Lợng ma trung bình 2000mm - 2400mm; Nhiệt

độ trung bình 15 - 200C, có tháng mùa đông xuống 3- 40C, có tuyết Vùngnày khí hậu mang tính ôn đới

Các huyện vùng thấp: Nhiệt độ trung bình 270C; Lợng ma 4.633mm/năm ở huyện Bắc Quang là vùng có lợng ma bình quân cao nhất n-

ớc Thông thờng mùa đông Hà Giang chịu ảnh hởng nhiều của gió mùa

đông bắc

Sông suối: Toàn tỉnh có 7 sông lớn nhỏ: Sông Lô, Sông Gâm, SôngChảy, Sông Nho Quế, Sông Niệm, Sông Con, Sông Bạc, còn lại là suốicạn Lu lợng nớc sông phụ thuộc lớn vào mùa ma lũ, mùa khô thờng cạn

Trang 18

kiệt, các dòng sông phân bổ không đều, đặc biệt là vùng cao núi đá, rất ítnớc Những tháng mùa khô còn trên 100.000 ngời thiếu nớc sinh hoạt.

* Về thổ nhỡng: Trên địa hình tỉnh Hà Giang hình thành các nhóm

đất chính nh đất phù sa tập trung ở vùng Bắc Quang, nhóm đất đỏ vàng( có tác dụng tốt phát triển cây công nghiệp ăn quả) ở Vị Xuyên, BắcQuang, Thị xã Hà Giang, Xín Mần, Hoàng Su Phì, nhóm đất phù sa cổtrên cao nguyên Đồng Văn và các huyện vùng cao

* Tài nguyên khoáng sản: Qua khảo sát điều tra Hà Giang pháthiện đợc 28 loại khoáng sản khác nhau nh ( Ăngtimon, vàng, chì, kẽm,sắt, Măngan, thuỷ ngân , nớc khoáng) với số lợng 149 mỏ và các điểmquặng Hiện nay đang tiến hành thăm dò khai thác các loại khoáng sản

nh Măngan, Firit, Kẽm, Thiếc, đồng, chì, sắt, vàng, nớc khoáng khoángsản có nhiều triển vọng nếu đợc đầu t thăm dò khai thác thích hợp

2 Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang

* Dân số và lao động: Dân số toàn tỉnh tính đến 1/4/1999 có:

60,268 vạn ngời với 22 dân tộc, trong đó 90% là đồng bào dân tộc thiểu

số Trong đó dân tộc Mông chiếm 31,3%; Tày 26,5%; Dao 15,3%; Kinh11,8% còn lại các dân tộc ít ngời khác

Hà Giang có 9 Huyện và 1 thị xã tỉnh lỵ, trong đó có 7 Huyệnvùng cao biên giới thì có 4 huyện đặc biệt khó khăn trong 9 Huyện khókhăn nhất cả nớc Hiện nay toàn tỉnh có 128/191 xã thuộc diện xã đặcbiệt khó khăn (vùng III)

* Về sự phân vùng kinh tế:

Xuất phát từ điều kiện, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh HàGiang hình thành làm 3 vùng kinh tế - xã hội và mỗi vùng có các tiềmnăng thế mạnh khác nhau:

- Vùng cao núi đá gồm 4 huyện phía Bắc là Mèo Vạc, Đồng Văn,Yên Minh, Quản Bạ Đây là vùng khó khăn nhất so với cả nớc Diện tíchtoàn vùng này là 2.353 km2, độ cao trung bình: 1000 - 1600m; Dân số:203.027 ngời, khí hậu đất đai phù hợp với trồng cây ôn đới, dợc liệu Sảnxuất nông nghiệp chủ yếu là trồng ngô một vụ trên đất hốc đá, chăn nuôi là

bò, ngựa, dê, ong và gia cầm Trong vùng có tiềm năng về khoáng sản

Khó khăn lớn của vùng: Khí hậu khắc nghiệt của mùa đông kéodài, nhiệt độ thấp 5 - 100C, có năm tuyết rơi, sơng muối ảnh hởng tớiphát triển nông nghiệp, là vùng cao núi đá tình trạng thiếu nớc sinh hoạt,nghiêm trọng nhất là trong những tháng mùa khô lên tới 10 vạn dân Thunhập bình quân chỉ đạt 70 - 80 USD/ngời/năm Tỷ lệ ngời mù chữ thất

Trang 19

học vẫn còn rất cao, địa hình hiểm trở, diện tích canh tác manh mún,giao thông đi lại khó khăn.

- Vùng cao núi đất gồm 2 huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần; diệntích vùng này là 1460 km2, độ cao trung bình 500 - 900 m; Dân số:105.083 ngời, khí hậu thích hợp với những cây ôn đới, thuận lợi cho pháttriển rừng, nuôi ong, trồng cây công nghiệp nh chè, thông nhựa, trẩu, đậutơng cây lợng thực chính là lúa, ngô, chăn nuôi chủ yếu là trâu, bò,ngựa, dê và gia cầm

Khó khăn lớn nhất của vùng này là độ dốc rất lớn, hệ thống giaothông dễ sạt lở và sinh lầy trong mùa ma lũ Thu thập bình quân 80 -90USD/ngời/năm, về văn hoá xã hội cũng khó khăn tơng tự nh vùng cao

- Vùng thấp gồm 3 huyện, thị xã: Bắc Quang, Bắc Mê, Vị Xuyên

và thị xã Hà Giang Diện tích tự nhiên là 4071 km2, độ cao trung bình

100 - 500 m; dân số: 294.574 ngời Đây là vùng phù hợp với cây nhiệt

đới phát triển nh cam, quýt, dợc liệu, cây công nghiệp nh chè, cà phê,quế, dâu tằm, đậu tơng, lạc cây lơng thực chủ yếu là lúa nớc, ngô Chănnuôi: trâu bò, dê, cá và gia cầm Trong vùng có cửa khẩu quốc gia ThanhThuỷ rất thuận lợi cho giao lu kinh tế, văn hoá với Trung Quốc, có điềukiện về xuất nhập khẩu và phát triển thơng mại, dịch vụ

Đây là vùng thuận lợi nhất của tỉnh, song vẫn là khu vực cònnhững khó khăn về đời sống kinh tế - xã hội Thu nhập bình quân ở mức

100 - 130 USD/ngời/năm Hầu hết hệ thống thuỷ lợi, kênh mơng cha đợckiên cố hoá

* Thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh trong những năm vừa qua:

- Một số kết quả chung về phát triển kinh tế xã hội của tỉnh:

Thực hiện đờng lối của Đảng và chính sách của Nhà nớc, trong đóvấn đề quan trọng có tính chiến lợc lầu dài là chủ trơng phát triển kinh tếnhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhànớc theo định hớng XHCN Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh

tế Tỉnh đã phát huy đợc cơ bản các thành phần kinh tế tham gia trong sảnxuất kinh doanh, khẳng định hộ nông dân là một đơn vị tự chủ trong kinhtế đồng thời đã thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nớc nhất

là Nghị quyết 22 NQ Trung ơng của Bộ Chính trị, và Nghị quyết 72CTcủa Chủ tịch Hội đồng Bộ Trởng về một số chính sách phát triển kinh tếxã hội miền núi, các Quyết định 327CP về sử dụng đất trống đồi núi trọc,

và các chính sách vay vốn, trợ giá trợ cớc vận chuyển và đảm bảo cáchàng thiết yếu cho miền núi, chơng trình 06CP về không trồng thuốc

Trang 20

phiện và cai nghiện ma tuý; chơng trình y tế và giáo dục VHXH đã trựctiếp thúc đẩy kinh tế xã hội ở địa phơng.

Về sản xuất: Trong những năm qua nền kinh tế của tỉnh phát triểntăng dần, đã duy trì nhịp độ tăng trởng GDP từ 9 - 10,0% ( Năm 1994GDP tăng 9,1% thì năm 1999 tăng 10,3%) GDP bình quân đầu ngời tăng

từ 685.000 đồng năm 1994 lên 1.535.000 đồng năm 1999, chất lợng vàhiệu quả của nền kinh tế nông lâm nghiệp lạc hậu mang tính tự cấp tự túccủa những năm trớc đây thì vài ba năm nay sản xuất hàng hoá đã bắt đầuphát triển, đã hình thành đợc một số vùng sản xuất tập trung Cơ cấu kinh

+ Tỷ trọng ngành công nghiệp + xây dựng từ 17,02% năm 1994lên 21,3% năm 1999 Trong công nghiệp từ chỗ hầu nh cha có gì, sảnxuất quy mô thiết bị nhỏ bé lạc hậu nay đã bắt đầu đợc mở mang xâydựng phát huy tác dụng nh: Nhà máy Xi măng 4 vạn tấn/năm, dây truyềnNhà máy gạch 15 triệu viên/năm, nhiều cơ sở chế biến chè, chế biếnnông sản thực phẩm ra đời thu hút sản phẩm nông nghiệp và tạo công

ăn việc làm cho hàng ngàn lao động Nguồn điện lới đã tới 10/10 huyện,thị trên toàn tỉnh

+ Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 19.9% năm 1994 lên 27,13% năm

1999 Các hoạt động lĩnh vực thơng mại, dịch vụ, tiền tệ tín dụng cơ bản

đáp ứng đợc các nhu cầu, phát triển cho các thành phần kinh tế thu ngânsách tăng từ 24 tỷ đồng năm 1994 lên 64 tỷ đồng năm 1999 Giá trị hànghoá xuất khẩu và có tính chất xuất khẩu đạt 6,1 triệu USD/năm

+ Về xây dựng cơ sở hạ tầng: Đã có bơc phát triển khá về số lợngchất lợng, góp phần to lớn trong việc phát triển nền kinh tế xã hội theo h-ớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ đang từngbớc đợc nâng cấp, mở rộng nhựa hoá Đến nay có 232 km đờng quốc lộ

và 91 km đờng tỉnh lộ đợc nhựa hoá Đờng cửa khẩu quốc gia ThanhThuỷ, cửa khẩu tiểu ngạch đợc khai thông Đặc biệt đến nay có 183/191xã có đờng về đến trung tâm xã

Trang 21

Công tác thuỷ lợi có những chuyển biến mạnh Từ những côngtrình trớc đây còn tạm bợ, cha đợc kiên cố hoá, khả năng tới 22.000 hathì đến nay đã có 215 công trình lớn nhỏ đợc sửa chữa nâng cấp, cộngvới 5283 công trình siêu nhỏ do dân tự làm với năng lực tới đạt trên28.000 ha.

+ Sự nghiệp y tế - Giáo dục - phát thanh , truyền hình trên địa bàntỉnh đã từng bớc đợc phát triển mở rộng, đã xoá đợc tất cả các xã trắngkhông có trạm xá và từng bớc xây dựng kiên cố vững chắc Tỉnh đợccông nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về hoàn thành phổ cập giáo dục tiểuhọc và chống mù chữ trên địa bàn toàn tỉnh vào năm 1999 Tỷ lệ phủsóng phát thanh đạt 67,7%, sóng truyền hình đạt 61% năm 1999 Anninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đợc đảm bảo Từ những kết quảchung nêu trên đã có tác dụng kích thích môi trờng thuận lợi cho sảnxuất kinh tế phát triển, có nhu nhập đời sống dần tăng lên Tỷ lệ đóinghèo giảm từ 35% năm 1998 xuống còn 22% năm 1999, tỷ lệ hộ khágiàu đạt 3-4%, các khoản thu cho NSNN cũng tăng lên

- Thực trạng của cơ cấu ngành và sản xuất nông, lâm nghiệp trongnhững năm qua của địa phơng:

+ Về nông nghiệp: Là một ngành kinh tế truyền thống đồng thời làngành quan trọng hàng đầu trong các ngành kinh tế của tỉnh Trên cơ sở

về tiềm năng đất đai, khí hậu, đợc sự đầu t giúp đỡ của Chính phủ, sựlãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, Chính quyền tỉnh cộng với sự vợt khó đilên của nhân dân các dân tộc trong những năm gần đây bộ mặt nông thôn

và đời sống nhân dân đã có nhiều chuyển biến phát triển rõ nét Sản xuấtnông, lâm nghiệp năm sau đều cao hơn năm trớc

Tỉnh đã tập trung chỉ đạo phát triển nông, lâm nghiệp một cáchtòan diện, bằng nhiều biện pháp tích cực, nh làm thuỷ lợi, cung ứng vật t

kỹ thuật, công tác khuyến nông, khuyến lâm; có chính sách hỗ trợ sảnxuất kịp thời để mở rộng diện tích thâm canh, thay đổi cơ cấu mùa vụ, đ agiống mới có năng suất cao vào sản xuất

Tổng sản lợng quy thóc toàn tỉnh tăng lên đáng kể qua các năm.Nếu năm 1995 đạt 15,4 vạn tấn thì đến năm 1999 sản lợng lơng thực quythóc đạt 18,4 vạn tấn tăng 3,0 vạn tấn Tăng bình quân mỗi năm 6000tấn Thể hiện qua biểu sau:

Biểu 1 Sản lợng lơng thực quy thóc Sản lợng Tổng số Chia ra

Trang 22

Bỉểu 2 Tổng diện tích cây lơng thực từ năm 1995 đến 1999

Bên cạnh cây lơng thực cây công nghiệp ngắn ngày cũng đuợc pháttriển khá tạo ra những vùng tập trung có sản lợng hàng hoá trao đổi nhhuyện Hoàng Su Phì, Bắc Quang, Vị Xuyên đặc biệt là cây đậu tơng:Năm 1995 diện tích 3.271 ha đến năm 1999 diện tích 5079,9 ha tăng1,826 ha, năng suất đạt 6,53 tạ/ha Đa tổng sản lợng năm 1999 lên 3.338tấn tăng gấp 2 lần so với năm 1995 Sản lợng bán ra hàng năm trên 2.500tấn

Một số cây công nghiệp ăn quả chính dài ngày nh cây chè, cà phê,cây ăn quả cam, quýt đang có chiều hớng tăng lên đáng kể tạo ra hànghoá lớn trên địa bàn nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân Cây soài,cây lê, cây hồng cũng đã phát triển mở ra hớng chuyển đổi mới về cơ cấucây trồng cho vùng cao Kết quả thể hiện:

Biểu 3 Diện tích cây công nghiệp lâu năm Diện tích Tổng số Chia ra

Ngày đăng: 08/09/2012, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII Khác
2. Các nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng trong đó có các nội dung liên quan đề tài Khác
3. Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Hà Giang lần thứ XII Khác
4. Tài liệu giáo khoa KTCT - Phân Viện Hà Nội Khác
5. Tài liệu giáo khoa quản lý kinh tế - Phân Viện Hà Nội Khác
6. Tài liệu giáo khoa kinh tế phát triển- Phân Viện Hà Nội Khác
7. Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tài chính phục vụ CNH, HĐH đất nớc, Nxb Tài chính, HN 6/1996 Khác
8. Tài chính học, Nxb Thống kê 1993 Khác
9. Luật NSNN, Nxb Chính Trị Quốc Gia, HN 1996 Khác
10. Luật thuế giá trị gia tăng (VAT) Khác
11. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Khác
12. Nghị định số 51/ND - CP ngày 18/7/1998 sửa đổi một số điều nghị định 87/CP Khác
13. Thông t số 103/TT - BTC ngày 18/7/1998 của Bộ tài chính hớng dẫn việc phân cấp, lập, chấp hành và quyết toán NSNN Khác
14. Kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh Hà Giang 1997-2000 Khác
15. Báo cáo tình thực hiện thu-chi NSĐP năm 1997 của UBND tỉnh Hà Giang Khác
16. Báo cáo thực hiện kết quả thu-chi NSĐP năm 1998 và những nhiệm vụ thu- chi NSĐP năm 1999 của UBND tỉnh Hà Giang Khác
17. Báo cáo kết quả thực hiện thu-chi ngân sách năm 1999 và phơng hớng, nhiệm vụ thu- chi ngân sách năm 2000 của UBND tỉnh Hà Giang Khác
18. Số liệu tổng hợp thu -chi NSĐP của chi cục thống kê- vật giá tỉnh Hà Giang Khác
19. Các bài báo Đảng trên các tạp chí và các báo hàng ngày có liên quan đến đề tài Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w