Trong chơng trình Toán 5 ở học kì I thì phần giải toán về tỉ số phần trăm cũng là một phần khó đối với các em nhất là HS trung bình và yếu lại càng khó khăn hơn.. II - Thực trang của vấn
Trang 1A đặt vấn đề
I - lời mở đầu
Nh chúng ta đã biết, t duy của đối tợng HS Tiểu học là t duy cụ thể Nội dung GV cần truyền đạt càng gắn với thực tế thì hiệu quả càng cao, tuy nhiên kiến thức thì cũng phải bắt đầu từ lí thuyết, mà lí thuyết không phải lúc nào cũng có thể đa ra dẫn chứng bằng cái mắt thấy, tay sờ đợc hay nói cách khác những gì mà các em cần tiếp thu thì GV cố gắng làm sao đó cho HS dễ nắm bắt, dễ hiểu nhất và quan trọng là biết vận dụng vào thực tế cuộc sống Việc ban hành các tài liệu chỉ là cái gốc, cái cơ bản làm định hớng tiêu chuẩn cho công việc dạy học bắt buộc mỗi GV cần phải nắm vững và căn cứ vào đó để thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả, phù hợp với đối tợng HS cụ thể mà mình đang giảng dạy Điều đó thể hiện rõ trong quan điểm xây dựng chơng trình theo h-ớng mở tạo điều kiện cho GV đợc phát huy hết khả năng cống hiến của mình với mục tiêu cao nhất là ơm mầm cho xã hội những thế hệ trẻ vừa
có đức vừa có tài, những con ngời thực sự có ích cho đất nớc mai sau
Trong chơng trình giáo dục Tiểu học đợc dành cho tất cả các đối t-ợng HS trên toàn quốc đã rất đầy đủ nội dung kiến thức cho mỗi cá nhân sau khi hoàn thành chơng trình có những kĩ năng có thể vận dụng ngay vào cuộc sống hàng ngày của các em
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện các tài liệu chuyên môn cũng
đã chỉ rõ việc cần thiết áp dụng theo thực tế đến từng vùng miền cụ thể cũng nh đến từng đối tợng HS, đặc biệt trong chơng trình đổi mới luôn khuyến khích những ngời trực tiếp giảng dạy cần ứng dụng một cách linh hoạt với mục tiêu cao nhất là các em nắm vững đợc kiến thức và biến nó thành kĩ năng sống và có ứng dụng vào thực tế chứ không phải nhồi nhét vào đầu HS những lí thuyết suông Mục tiêu của một tiết dạy cụ thể, một môn học, một lớp và cả chơng trình Tiểu học đều u tiên hàng đầu cho việc đánh giá kĩ năng vận dụng của HS Một ngời thầy có kiến thức phong phú, truyền tải đến các em rất nhiều nhng HS chẳng vận dụng đợc bao nhiêu và không lâu sau các em bị mai một thì cũng đồng nghĩa với việc ngời thầy đó đã không làm tốt công việc trồng ngời của mình Sản phẩm của ngời thầy sẽ là những gì HS vận dụng đợc vào trong thực tế cuộc sống của chính các em Quan điểm đổi mới giáo dục cũng đánh giá thành công trong việc dạy học là hiệu quả của khả năng hiện thực hoá kiến thức đã tiếp thu ở trờng vào thực tiễn của HS
Chính vì điều đó mà yêu cầu giáo dục ngày càng cao hơn, hoàn thiện hơn khi yêu cầu mỗi bài học GV phải tạo đợc hứng thú học tập cho các em, không để cho tiết học trở nên khô khan dù đó là những tiết học các môn khoa học tự nhiên, để mỗi ngày đến lớp là một ngày vui, các em
đợc hoạt động trong một môi trờng đúng nghĩa “Trờng học thân thiện,
HS tích cực”
ở một khía cạnh khác chúng ta cũng nhận thấy một thực tế là HS ở các vùng quê nghèo thì số lợng HS trung bình và yếu còn chiếm tỉ lệ
t-ơng đối cao Trong quá trình dạy học tôi luôn trăn trở với đối tợng này, với hầu hết HS lớp 5 thì việc tiếp thu các môn khác nếu chỉ là mức độ TB
Trang 2trở lên đối với các em có lẽ không quá khó Riêng môn Toán mà để 100% các em có mức độ trung bình trở lên thì không hề đơn giản chút nào
Suy cho cùng thì GV nào cũng chẳng muốn dạy đối tợng HS khá giỏi bởi vừa nhàn việc vừa thoải mái về tâm lí, còn nếu có HS trung bình
và yếu dù chỉ có một số ít chứ cho nói là số lợng lớn thì vất vả hơn nhiều lần Nếu có HS giỏi thì cũng có thể cho là ngời thầy đã biết khơi dậy tiềm năng của các em có năng lực và đơng nhiên đợc đánh giá làm tốt nhiệm vụ, nhng nếu còn HS yếu kém thì “công” không bù đợc cho “tội”,
và vẫn để cho HS không có kiến thức và kĩ năng đạt yêu cầu thì có thể xem nh ngời GV đó cha hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm của mình ( trừ một vài trờng hợp HS đặc biệt) Theo ý kiến tôi việc xoá bỏ HS yếu kém khó khăn cũng không kém gì việc chăm lo cho HS giỏi vì các em có lực học khá giỏi đã có năng lực thì có thể bù đắp bằng thời gian và ý thức của các em khi lớn dần nhng HS Tiểu học là đang ở giai đoạn nền móng cần phải xây dựng vững chắc mới đảm bảo cho tơng lai của các em Ví
dụ giáo viên A có HS giỏi nhiều hơn giáo viên B nhng lại đang tồn tại
HS yếu kém trong khi đó giáo viên B có số lợng HS giỏi tuy ít hơn nhng không còn HS yếu kém thì tôi vẫn cho rằng giáo viên B làm tốt công việc của mình hơn vì thực tế thì dạy một HS yếu trở nên tiến bộ hơn khó khăn, vất vả và mất thời gian hơn nhiều so với việc bồi dỡng một HS khá giỏi vơn lên Cũng dễ hiểu vì hầu hết những HS yếu thì không những khả năng tiếp thu chậm mà còn ham chơi, nhác học nên càng ngày càng xem việc đi học nh là một cái “ách” càng tránh đợc lúc nào hay lúc ấy Trong quá trình dạy học tôi thấy cũng còn rất nhiều lúc cha thực sự phát huy hết khả năng cho giờ dạy đạt hiệu quả cao nhất do đó tôi luôn trăn trở để tìm ra những cách nào đó khả dĩ cho HS đợc nhiều hơn nữa về kiến thức
và đặc biệt là kĩ năng vận dụng kiến thức ó vào thực hành luyện tập cũng
nh cuộc sống sau này của các em
Trong chơng trình Toán 5 ở học kì I thì phần giải toán về tỉ số phần trăm cũng là một phần khó đối với các em nhất là HS trung bình và yếu lại càng khó khăn hơn Tuy phần này không chiếm nhiều thời lợng trong chơng trình nhng lại có giá trị ứng dụng trong thực tế cuộc sống Qua nhiều năm chuyên dạy lớp 5 tôi tự nghiên cứu và đa ra cách giúp cho
HS có thể dễ dàng giải quyết bài toán này mà đặc biệt là đối tợng HS trung bình và yếu cũng không cảm thấy khó khăn khi gặp những bài toán cùng dạng giải toán về tỉ số phần trăm Với cách làm này thì có thể rờm
rà và dài với một số bài nhng hầu hết HS đều có thể làm đợc khi gặp các bài tơng tự cũng nh các em nhớ đợc rất lâu cách làm này Tôi xin mạnh dạn đa ra để tham khảo ý kiến các đồng nghiệp và mong đợc sự góp ý chân thành của mọi ngời cho tôi tự đánh giá đợc khả năng của bản thân mình trong công việc dạy học hàng ngày và biết đâu có thể giúp đợc cho đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy là điều tôi không mong muốn gì hơn Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3II - Thực trang của vấn đề nghiên cứu
1.Thực trạng
Trong chơng trình Toán 5 kiến thức mới đợc cung cấp cho học sinh thì cũng rất đa dạng nhng có lẽ các bài toán về tỉ số phần trăm là hoàn toàn mới mặc dù trong cuộc sống hàng ngày các em có đợc nghe, đợc thấy nơi ngời lớn, nhất là khi nghe các buổi tổng kết , báo cáo tập thể… Nhng khi bắt đầu làm quen với dạng toán này hầu hết là các em ngỡ ngàng, kể cả học sinh có lực học khá ở tiết đầu tiên (tiết 73) khi tập làm quen và nhận biết với tỉ số phần trăm thì học sinh có vẻ cha thực sự cảm thấy khó khăn lắm nhng khi bắt đầu sang các tiết giải toán về tỉ số phần trăm sau thì các em thực sự lúng túng mà nhất là học sinh trung bình và yếu ( một đối tợng còn nhiều ở các trờng vùng nông thôn, vùng khó khăn…) Mặc dù ban đầu đổi từ số thập phân sang tỉ số phần trăm các
em vẫn có thể thực hiện đợc nhng sau một thời gian các em rất hay nhầm lẫn hay nói đúng hơn là cảm thấy trừu tợng khi đụng đến tỉ số phần trăm Thậm chí khi hớng dẫn các em giải đợc bài toán rồi, các em tính đợc kết quả cụ thể rồi nhng vẫn còn lúng túng khi viết tên đơn vị vào kết quả vừa tìm ra Ví dụ bài 1 tiết 76 trang 77SGK học sinh tính đợc 32:100 x 25 =
8 nhng có em không biết là nên điền bạn hay % vào sau kết quả Và một thực tế nữa là khi giải bài toán về tỉ số phần trăm phần đông học sinh rất mơ hồ về việc xác định cái gốc của vấn đề hay nói rõ hơn là các em dù làm bài đấy nhng không dám chắc là mình đã làm đúng hay cha Kể cả học sinh khá giỏi vì các em rất lúng túng khi làm các bài toán dạng này
Ví dụ: bài toán dành cho học sinh khá giỏi sau đây: Một cửa hàng hạ
giá sản phẩm của mình xuống 20% trong đợt khuyến mại Hỏi bây giờ cửa hàng phải tăng giá bao nhiêu phần trăm để bán nh giá trớc kia?
Không phải tất cả các em đi thi học sinh giỏi đều làm đợc và trong số các em làm đợc không phải em nào cũng tờng minh vấn đề tại sao khi
Trang 4giảm thì giảm 20% mà khi tăng lại phải tăng lên 25% để trở lại nh giá ban đầu Việc lẫn lộn về khái niệm phần trăm của các em chúng ta có thể hiểu đợc do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà tôi không
có ý đa ra bàn ở đây Vấn đề theo tôi là các em phải làm đợc bài toán về
tỉ số phần trăm nh một kĩ năng và có lẽ không thể đặt vấn đề các em học sinh trung bình và yếu phải nhất thiết hiểu đến tận gốc của vấn đề- một
điều chúng ta không nên dòi hỏi quá cao với các em học sinh trung bình và yếu Ngay cả chơng trình hiện nay cũng đang đợc giảm tải bớt
để đáp ứng khả năng tiếp thu của các em cho phù hợp Các nhà quản lí
và nghiên cứu cũng đã và đang lợc bỏ bớt nội dung kiến thức mà tăng c-ờng kĩ năng thực hành cho học sinh và đó đúng là một việc làm kịp thời giúp giáo viên trực tiếp đứng lớp và cán bộ quản lí giáo dục đỡ áy náy khi phải nhồi nhét cho các em một lợng kiến thức mà cũng ngầm hiẻu với nhau rằng các em lĩnh hội đâu có đợc nhiều
Trang 52.Kết quả của thực trạng
Trong chơng trình Toán 5 có một số bài toán về tỉ số phần trăm
đ-ợc Hớng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học
lớp 5 cho phép giảm tải với học sinh đại trà nhng trong quá trình dạy học
nếu chúng ta biết cách giúp các em thực hiện một cách hợp lí thì sẽ giải quyết cả những bài toán đợc phép “giảm tải” Nếu GV làm đúng theo yêu cầu chung thì đơng nhiên không ai có thể nói gì nhng với lơng tâm của một nhà giáo tôi thiết nghĩ nếu làm đợc cho các em nhiều hơn thế là
điều nên làm và đáng bỏ công bỏ sức Tất nhiên không thể đòi hỏi ở những học sinh yếu nắm vững vấn đề nh học sinh khá giỏi đợc Và có một thực tế là học sinh trung bình và yếu thì khó khăn ngay từ việc thực hiện các phép tính cộng trừ nhân chia số thập phân Đó cũng là trở ngại lớn cho việc tiếp thu kiến thức mới của các em Do đó nếu không có giải pháp hợp lí thì ngay việc thực hiện các bài đã giảm tải cho các em trong thời lợng một tiết học là một điều không hề dễ dàng, kể cả với giáo viên giàu kinh nghiệm có trình độ chuyên môn vững, kiến thức nhiều bởi lực bất tòng tâm Và trong thực tế học sinh đại trà thờng không đạt kết quả cao trong khi giải bài toán về tỉ số phần trăm Những năm học trớc đây, khi cha áp dụng cách làm này thì tỉ lệ các em HS đại trà giải dạng toán này đạt 70 – 80% chỉ đạt khoảng
4
1
số này, phần lớn các em không đạt
số điểm trung bình khi thực hành trên lớp Và trên thực tế là giải quyết những bài toán về tỉ số phần trăm đối với học sinh đại trà là cả một vấn
đề nan giải cho thầy và trò Nhiều học sinh do không làm đợc bài nên càng sinh ra tâm lí ngại học, ngại làm bài ở lớp cũng nh ở nhà hoặc ỷ lại thầy cô, bố mẹ, bạn bè…Bản thân giáo viên cũng mất nhiều thời gian cho các em mà cũng không đạt kết quả nh mong muốn, Kết quả học tập của các em phản ánh qua bài thi còn thấp, không đáp ứng đợc lòng mong mỏi của thầy cô , gia đình và xã hội Sau này các em nhanh chóng quên mất cách thực hiện và vận dụng vào chính cuộc sống, nhất là với những
em không may có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục theo học lên chơng trình THCS Việc giải các bài toán về tỉ số phần trăm nhanh chóng
chữ thầy lại trả cho thầy và đối tợng này thuộc về học sinh trung bình và
yếu Các em cha thành thạo đợc kĩ năng giải các bài toán về tỉ số phần trăm thì nói gì đến chuyện quên kiến thức cơ bản, vì ít nhất cũng phải có cái để mà quên
Phần II : giải quyết vấn đề
1 Cơ sở lí luận
Không phải bỗng dng mà cha ông xa đã có câu “Mu thầy, mẹo thợ”
để nêu ra một kinh nghiệm khi làm việc Việc làm sẽ dới sự chỉ đạo của thầy nhng làm nh thế nào cho tốt lại do thợ, mỗi ngời tự đúc rút cho mình một kinh nghiệm riêng, một cách làm riêng khi cùng thực hiện một công việc có yêu cầu nh nhau Với nhà giáo dục hiển nhiên là thầy bởi khi ai cũng biết nhà giáo dục sẽ truyền đạt các em tri thức cuộc sống,
nh-ng hiệu quả của việc truyền đạt nh thế nào lại thuộc khía cạnh của một
Trang 6ngời thợ Với một ngời thợ bất kì, dù làm ra sản phẩm gì cũng phải có tâm, có lòng kiên trì, có trách nhiệm với sản phẩm của mình làm
ra… Nghề giáo cũng là một nghề dù sản phẩm làm ra là sản phẩm đặc biệt thì cũng cần phải có mẹo mực (ở đây tôi muốn đề cập đến nghĩa tích cực chứ không có ý nói việc làm nhanh, ẩu, làm cho xong tay, làm gian dối…)để đạt hiệu quả cao nhất và hiển nhiên tự lơng tâm mình cũng phải chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình Một công việc tởng chừng đơn giản là đóng một cái đinh vào tờng chẳng hạn có rất nhiều ngời xem th-ờng nhng kì thực lúc thực hiện có phải ai cũng đóng đợc đinh đảm bảo không cong, không rạn tờng,… ợc đâu Trong việc dạy học cũng vậy.đ Cũng một yêu cầu về lợng kiến thức, về thời gian, cùng một trình độ học sinh, cùng một ngời dạy nhng nếu có một cách nào đó để các em tiếp thu nhanh hơn, hiệu quả hơn thì không hề đơn giản một chút nào vì bản thân mỗi ngời phải tự học hỏi, tự đúc rút kinh nghiệm từ chính quá trình làm việc của mình Quá trình sáng tạo trong lao động luôn đợc khuyến khích
động viên ở mọi ngành nghề Với riêng ngành giáo dục vấn đề này càng
đợc thờng xuyên quan tâm bởi tầm quan trọng của sản phẩm làm ra Một cái máy làm sai một chi tiết có thể làm chậm tiến độ sản xuất nhng một con ngời thậm chí một thế hệ sẽ phải chậm hơn thế hệ khác một bớc về tri thức thì khó có thể mà lấy lại đợc Một em hay thậm chí là nhiều em
đáng lẽ ra đến lứa tuổi đó phải đợc tiếp thu kĩ năng đó nhng do thầy cô cha thể truyền đạt cho các em nắm vững nên dẫn đến bản thân các em và xã hội bị kéo lùi tri thức
Chơng trình học ở Tiểu học đã đợc tính toán cho phù hợp với lứa tuổi và khả năng tiếp thu kiến thức cũng nh kĩ năng để các em có thể bớc vào cuộc sống từ những hành trang cấp thiết nhất Chơng trình Toán lớp
5 cũng ở trong vòng tròn đồng tâm đó với những kiến thức dù đơn giản nhng rất cơ bản Dạng toán tỉ lệ phần trăm dù xuất hiện trong chơng trình với thời lợng khiêm tốn nhng cũng rất cần thiết cho các em sau này , bằng chứng là trong các bài thi, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lớp 5 và hoàn thành chơng trình Tiểu học qua các năm hầu
nh đều có bài toán về tỉ số phần trăm
Nói về bài toán về tỉ số phần trăm thì đây là dạng toán có hai đại l-ợng tỉ lệ thuận với nhau, đó là tỉ lệ phần trăm và số ll-ợng tơng ứng cùng tăng hoặc cùng giảm trong khi đó hầu hết các bài toán về tỉ số phần trăm luôn có một yếu tố cố định nhng không phải lúc nào cũng xuất hiện trong bài toán để học sinh dễ nhận biết là 100% Đây là thành phần cơ bản của dạng toán này khi chúng ta hình thành khái niệm phần trăm cho các em nhng các em có thể thuộc lòng hoặc hiểu phần trăm là phép tính chia cho 100 hay 100% là phép tính 100: 100 hay đơn giản nó tơng đơng với một đơn vị, còn việc ta đa nó về dạng phần trăm chỉ để đáp ứng cho nhu cầu ứng dụng vào công tác thống kê trong cuộc sống mà thôi.Và tôi nghĩ rằng gắn cho nó là một xuất phát điểm, một cái gốc để các em dựa vào đó để tính toán là rất khả thi, đặc biệt là học sinh có lực học trung bình và yếu về môn Toán Khi các em đã có một cái chìa khoá, một con
đờng mà tự các em có thể lập trình đợc thì thực sự hữu ích cho các em
Trang 7khi thực hành giải bài toán về tỉ số phần trăm Và thực tế là khi chứng kiến những học sinh trung bình và yếu tự mình giải đợc những bài tập theo yêu cầu của chơng trình tôi không diễn tả đợc tam trạng của mình lúc đó
2,Các giải pháp cụ thể
*Phân phối và thời l ợng của phần giải toán về tỉ số phần trăm trong ch -
ơng trình Toán Tiểu học.
Trong chơng trình Toán lớp 5 175 tuần riêng phần giải toán về tỉ số phần trăm tập trung chủ yếu từ tiết 74 đến tiết 80 Các tiết có nội dung giải toán về tỉ số phần trăm có 3 dạng toán cơ bản:
- Dạng 1 : Tìm tỉ số phần trăm của hai số (Hoặc tìm tỉ số phần trăm giữa a và b)
Những bài toán này thì rất dễ xác định yêu cầu của bài và đặt chúng vào sơ đồ mà ta muốn mặc định cho các em bởi chúng thờng có các
cụm từ Tìm tỉ số phần trăm của hai số … ? tăng bao nhiêu phần … trăm ? thực hiện đợc bao nhiêu phần trăm ? … chiếm bao nhiêu phần trăm ? … .bằng bao nhiêu phần trăm ? là bao nhiêu phần … trăm ?.v.v….
Một số bài tập dạng này trong SGK lớp 5 nh :
Bài 1,2,3 tiết 73 trang 74 ; bài 1,2,3 tiết 74 trang 75 ; bài 2,3 tiết 75 trang 76, bài 1a,1b tiết 80 trang 79, bài 3a tiết 81 trang 80, bài 3a tiết 84 trang83…
- Dạng 2 : Tìm giá trị phần trăm của một số
Một số bài tập dạng này trong SGK lớp 5 nh :
Bài 1,2,3 tiết 77 trang 77 ; bài 1,2,3,4 tiết 78 trang 77 ; bài 2a,2b tiết 80 trang 79, bài 2 tiết 84 trang 84 ; bài 3b tiết 153 trng 161…
- Dạng 3 : Tìm một số khi biết một số giá trị phần trăm của nó
Một số bài tập dạng này trong SGK lớp 5 nh :
Trang 8bài 1,2,3 tiết 79 trang 78 ; bài 3 tiết 80 trang 79 ; bài 3b tiết 81trang 7, bài 1 tiết 117 trang 124 ; bài 4 tiết 170 trang 176 bài 4 tíêt 172 rang 178., v …
Việc hớng dẫn giảng dạy của từng phần, từng bài thì đã có rất nhiều các tài liệu chuyên môn đa ra nh Phơng pháp , SGV… Tuy nhiên có một thực tế là với học sinh trung bình và yếu không dễ dàng tiếp thu kiến thức kĩ năng theo yêu cầu mà thời lợng tiết dạy có hạn và các em dễ dàng…quên hoặc là nhầm lẫn các dạng toán khi đa ra cách hỏi khác nhau của các bài tập cụ thể
Trong 3 dạng bài toán về tỉ số phần trăm thì dạng 1 là tơng đối dễ dàng với các em nhng 2 dạng còn lại không hề dễ với HS kể cả HS khá
và trung bình Các em luẩn quẩn trong việc xác định đợc các đại lợng và giá trị tơng ứng và cách làm thì càng có vẻ mơ hồ
Để giải quyết dứt điểm vấn đề này qua nhiều lần quan sát , thực hành tôi mạnh dạn đa ra cách thức giúp đỡ các em học sinh đại trà giải bài toán về tỉ số phần trăm nh sau :
- Lập sơ đồ với những yếu tố bài toán đã cho bao gồm
100% ?
.% ?
Trong 3 chỗ chấm thì sẽ có một cái cần tìm và 2 cái còn lại thì đã có ngay trong nội dung bài toán Vậy cái nào đã có thì ta phải đa vào Trong khi đa ra sơ đồ tôi yêu cầu các em phải luôn luôn xếp tỉ lệ % về một bên và các giá trị còn lại về một bên, thông thờng cho các em viết giá trị phần trăm bên trái trớc.
- Dạng 1 sẽ là 100% .a
?% b
- Dạng 2 sẽ là 100% .b
a/b % ……… a) (
- Dạng 3 sẽ là : 100% .(b)
a/b % a
Sau đó HS sẽ lập phép tính nh sau : trong sơ đồ trên sẽ có 3 vị trí xác
định đợc số cụ thể , chỉ còn lại một vị trí cha xác định Chúng ta sẽ đặt chéo thớc lên nối hai đại lợng đã biết và nhân chúng với nhau sau đó chia cho đại lợng đã biết còn lại sẽ tìm ra kết quả mong muốn.
Khi các em đã đợc dần dần làm quen với cách lập sơ đồ thì học sinh không nhất thiết phải xác định rõ ràng là dạng 1 hay 2 hay 3 để làm bài tập và thực tế dạng nào các em cũng có thể làm đợc và có kết quả rất tốt Việc của tôi bây giờ dễ dàng hơn nhiều khi chỉ phải giúp học sinh xác định đợc các đại lợng tơng ứng với 100% và giá trị% kia (nếu có),
và hầu nh các em không quá khó khăn một khi đã qua một vài lần thực
hành Điều này lại liên quan đến kiến thức cơ bản từ lớp dới bài toán
cho biết gì ? từ nào cần phải lu ý ? bài toán hỏi điều gì ?., v.v ….
Quá trình thực hiện hớng dẫn các em giải bài toán về tỉ số phần trăm
đ-ợc tiến hành cụ thể nh sau Tiết đầu tiên giới thiệu cho học sinh khái
Trang 9niệm tỉ số phần trăm là 74 Sang tiết 75 các em đợc làm quen viê4cj giải toán về tỉ sốphần trăm (dạng 1) và có ví dụ minh hoạ của bài học nh sau (SGK tr75) :
Trờng Tiểu học Vạn Thọ có 600 học sinh , trong đó có 315 học sinh nữ Tìm tỉ sốphần trăm của số học sinh nữ và số học sinh toàn trờng ?
Tỉ số của học sinh nữ và số học sinh toàn trờng là 315 : 600
ta có : 315 : 600 = 0,525
0,525 x 100 : 100 = 52,5 : 100 = 52,5%
Vậy tỉ số phần trăm của số học sinh nữ với số học sinh toàn trờng là 52,5%
Thông thờng ta viết gọn cách tính nh sau :
315 :600 = 0,525 = 52,5%
Muốn tìm tỉ sốphần trăm của hai số 315 và 600 ta làm nh sau :
- Tìm thơng của 315 và 600.
- Nhân thơng đó với 100 và viết thêm kí hiệu % vào bên phải tích
tìm đợc.
Sau khi giáo viên hớng dẫn các em thực hiện ví dụ trên và nêu cụ thể các bớc rồi gọi 2 học sinh nêu quy tắc gồm 2 bớc trong SGK Tuy nhiên để học sinh nhớ đợc quy tắc này là rất khó khăn Do đó sau khi đi các bớc
nh SGV hớng dẫn tôi cho các em tập lập sơ đồ nh sau ;
Viết 100%
Quan sát và đọc bài có 2 số liệu đợc nêu cụ thể là 600HS và 315HS
Câu hỏi của bài là Tìm tỉ sốphần trăm ….
Vậy sơ đồ đợc bổ sung nh sau : 100%
?%
Yêu cầu nhiều em đứng lên phân tích và xác định 2 số liệu cụ thể tơng ứng với vị trí nào trên sơ đồ
Sau đó hoàn thành sơ đồ : 100% 600HS
?% 315HS
Cho các em tập nêu câu trả lời căn cứ vào câu hỏi của bài
Tỉ sốphần trăm của học sinh nữ và học sinh toàn trờng là :
Sau khi học sinh nêu câu trả lời thì hớng dẫn các em lập phép tính nh sau :
- Khi lập sơ đồ thì 100% phía trên bên phải và cùng phía với nó là một giá trị % còn lại
- Sắp xếp 2 giá trị đã cho sao cho phù hợp với giá trị tơng ứng của nó
- Dùng thớc kẻ đặt chéo lên sơ đồ sao cho 2 đầu thớc kẻ là 2 số liệu
cụ thể ví dụ bài này là 100% và 315
100% 600HS
?% 315HS
Trang 10- Chỗ vị trí có dấu ? thì không đặt thớc kẻ.
- Nhân 2 số liệu hai đầu thớc với nhau và chia cho số đã biết còn lại, sau đó điền danh số của dấu hỏi và kết quả Trong trờng hợp này là
315 x 100 : 600 = 52,5%
- Kiểm tra lại kết quả phép tính và điền đáp số
- Sau đó cho học sinh thực hành nêu sơ đồ và cách lập phép tính ở bài 3
- 100% 25HS
? % 13HS
Sang tiết sau là tiết luyện tập (tiết 76) ở 2 bài 2 và 3 tôi cũng cho các em lập sơ đồ cụ thể nh sau :
bài 2a : 100% ……….20ha
?% 18ha
phép tính đợc lập là 18 x 100 : 20 = …%
bài 2b : 100% ……….20ha
?% 23,5ha
và các em đều có thể tự lập đợc phép tính sau khi đã có câu trả lời
đi kèm
Sang tiết 77 sau khi giới thiệu đến học sinh cách làm dạng 2
thông qua ví dụ Một trờng tiểu học có 800 học sinh, trong đó số học sinh
nữ chiếm 52,5% Tính số học sinh nữ của trờng đó ? cũng thế, để các em
nhớ đợc quy tắc tính : Muốn tìm 52,5% của 800 ta có thể lấy 800 chia
cho 100 rồi nhân với 52,5 hoặc lấy 800 nhân với 52,5 rồi chia cho 100
quả là rất khó khăn mà nhất là đối tợng học sinh trung bình và yếu Do
đó sau khi thực hiện các bớc theo quy trình tôi cho học sinh lập sơ đồ theo nguyên tắc đã làm ở tiết trớc và hầu hết các em đã lập đợc sơ đồ : 100% ……….800HS
52,5% ? HS
Từ sơ đồ trên việc lập phép tính 800 x 52,5 : 100 hì học sinh nào cũng có thể làm đợc và thực tế là tất cả các em đều làm đợc
Sang phần luyện tập tôi yêu cầu học sinh tóm tắt bằng sơ đồ bài 1và 2 vào vở, viết câu trả lời và phép tính cho thầy giáo kiểm tra trớc rồi mới tính kết quả điền vào sau HS đã thực hiện việc lập sơ đồ ,viết câu trả
lời và phép tính rất tốt Tất nhiên là các em phải bám theo yêu cầu đặt ra
của đề bài và có thể phải 2 câu trả lời, 2 phép tính mới đến kết quả cuối cùng
Sang đến tiết 79 giới thiệu cho học sinh cách tính dạng 3 cũng
vậy.Yêu cầu các em nhớ đợc quy tắc (tất nhiên đã có phần giới thiệu
minh hoạ) có nội dung Muốn tìm một số biết52,5% của nó là 420, ta có
thể lấy 420 chia cho 52,5 rồi nhân với 100 hoặc lấy 420 nhân với 100 rồi chia cho 52,25 quả là không đơn giản ngay cả với học sinh khá giỏi.