Sự giúp đỡ của Công tyMay Hưng Yên về mọi mặt từ nguồn nhân lực cũng như hệ thống máy móc thiết bị và điều quan trọng nhất là sự giúp đỡ về nguồn hàng ổn định cùng với các cán bộ và nhân
Trang 1Tiền thân của công ty là xí nghiệp may Mỹ Hào thuộc công ty may Hưng Yên được xây dựng và đi vào hoạt động xây dựng và đi vào hoạt động từ năm
1996
Theo yêu cầu của Bộ Công nghiệp và chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, ngày 18/12/2000 Bộ trưởng Bộ Công nghiệp đã ký quyết định số 70/2000/QĐ-BCN về việc chuyển đổi xí nghiệp may Mỹ Hào thuộc công ty may Hưng Yên thành công ty Cổ phần may và Dịch vụ Hưng Long Đến tháng 01/2001 Công ty chính thức được thành lập và đi vào hoạt động
Vốn điều lệ ban đầu của công ty là 7 000.000.000 VND trong đó:
- Vốn thuộc sở hữu Nhà nước: 1.190.000.000 VND chiếm 17%
- Vốn thuộc cổ phần là cán bộ công nhân viên: 3.373.600.0000VND chiếm 53,91%
Trang 2- Vốn thuộc cổ đông khác: 2.036.400.00ĐVN chiếm 29.09%
Vốn điều lệ của công ty được chia thành 70.000 cổ phần mỗi cổ phần trị giá 100.000 VND
Ra đời trong bối cảnh ngành dệt may đang có những bước chuyển mình to lớn cùng với những thách thức và những thuận lợi do công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước mang lại, đặc biệt là hiệp định thương mại Việt -Mỹ được ký kết Bên cạnh đó còn có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo công ty may Hưng Yên
Công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long đã đạt được thành công đáng
kể trong 2 năm đầu thành lập với nền tảng là công ty may Hưng Yên Sự giúp đỡ của Công tyMay Hưng Yên về mọi mặt từ nguồn nhân lực cũng như hệ thống máy móc thiết bị và điều quan trọng nhất là sự giúp đỡ về nguồn hàng ổn định cùng với các cán bộ và nhân viên kỹ thuật kết hợp với sự nhạy bén trong công tác nắm bắt
xu thế phát triển của thị trường đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe về chát lượng sản phẩm cũng như về mẫu mã, kiểu dáng do đó công ty đã tạo được niềm tin nơi khách hàng về những sản phẩm mà mình làm ra Nhờ biết vận dụng khai thác những điều kiện thuận lợi đồng thời khắc phục những khó khăn ban đầu giờ đây công ty đã khẳng định được uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế Sản phẩm của công ty đã có mặt ở nhiều nước như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Pháp, Đức Đặc biệt trong tháng 6/2002 Công ty đã ký được hợp đồng đầu tiên với khách hàng Mỹ đánh dấu một bước ngoặt trong việc tham gia thâm nhập vào một thị trường rộng lớn để mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh
Hiện nay, quy mô và năng lực sản xuất của công ty ngày càng phát triển theo hướng đa dạng hoá công nghệ, tự chủ trong sản xuất kinh doanh kết hợp đầu
tư cho dịch vụ sau này:
Trang 3- Tổng diện tích mặt bằng nhà xưởng của công ty là 18.000m2 Trong năm
2002 công ty đã làm đơn xin thêm phần đất phía sau công ty với diện tích đã được chấp thuận là 28.000m2
- Số lượng máy móc thiết bị hiện nay của công ty đã tăng lên nhiều so với trước Hiện tại công ty đã tăng thêm 6 dây chuyền sản xuất do đó năng suất đã tăng lên 1,5 lần
- Số lượng cán bộ công nhân viên của công ty hiện có là 1227 người, tăng gấp đôi so với ngày mới thành lập Tháng 9 năm 2001 công ty đã đưa vào sử dụng dãy nhà điều hành 4 tầng hiện đại, khang trang với đầy đủ điều kiện làm việc hiện tại, tiến hành lắp đặt hoàn chỉnh một hệ thống giặt là hơi hoàn chỉnh đáp ứng nhu cầu tại chỗ cho lượng hàng quần âu của công ty và tiến hành làm dịch vụ cho các công ty may khác trong khu vực
Đến cuối năm 2002 công ty cũng đã hoàn chỉnh và đưa vào sử dụng dãy nhà 4 tầng mới đầu tư xây dựng theo hướng xây dựng theo hướng liên doanh với khách hàng nước ngoài Khách hàng đàu tư trang thiết bị cũng như nguồn hàng và bao tiêu sản phẩm đầu ra
Như vậy qua 2 năm đầu thành lập công ty đã đạt được một số thành quả đáng khích lệ:
- Giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động
- Tăng doanh thu, tăng lợi nhuận cho cổ đông
-Tạo được uy tín hình ảnh của công ty trong địa bàn và trong mắt khách hàng, xứng đáng là công ty Cổ phần đầu tiên – con chim đầu đàn trong lĩnh vực may mặc của tỉnh Hưng Yên
2 So sánh kết quả kinh doanh giữa 2 năm 2001 và 2002
Trang 4Qua 2 năm chuyển đổi hình thức sở hữu sang công ty cổ phần, Công ty Hưng Long đã đạt được nhiều kết quả đáng tự hào, để hiểu rõ hơn về những hợp đồng kinh doanh đó ta có bảng so sánh các chỉ tiêu sau đây:
Biểu 1: Kết quả kinh doanh 2 năm 2001 và 2002
Các chỉ tiêu Đơn vị Thực hiện
2001
Thực hiện
2002
Tỷ lệ 2002/2001(%)
Xem xét kết quả hợp đồng kinh doanh ta thấy:
- Về giá trị tổng sản lượng tăng 53,19% qua đó ta thấy quy mô sản xuất của công ty đã tăng cao, máy móc thiết bị mới, hiện đại đã làm ra được nhiều
Trang 5chủng loại sản phẩm, đa dạng về mẫu mã, cao về chất lượng thu hút được nhiều đơn đặt hàng từ Tây Âu, Mỹ và Đông Bắc á
- Doanh thu tăng 38,4% đạt 23, 754 tỷ đồng là chỉ tiêu đáng kích lệ, nó cho phép lãnh đạo công ty có thể đưa ra những chiến lược mới nhằm thu hút được những hợp đồng hấp dẫn hơn và chắc chắn hơn
- Tổng lợi nhuận tăng rất cao năm 2002 đạt 3,761 tỷ đồng tăng hơn 2 lần so với năm 2001 Chỉ tiêu này là quan trọng nhất đối với công ty nó thúc đẩy mạnh
mẽ mọi hợp đồng sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp hiệu quả kinh doanh của công
Như vậy, sau hai năm chuyển đổi hình thức tổ chức quản lý công ty Hưng Long đã đạt được những thành công đáng kể, bước đầu đã vượt qua những khó khăn ban đầu của 1 công ty mới thành lập và ngày càng đứng vững trên thị trường ngày một đòi hỏi đa dạng về mẫu mã kiểu dáng, cao về chất lượng sản phẩm
3 Bộ máy quản trị của công ty:
Trang 8Nhìn vào sơ đồ tổ chức ta có thể nhận thấy công ty tổ chức và quản lý theo
mô hình quản trị kiểu trực tuyến, do vậy nó đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động quản trị, xoá bỏ việc 1 cấp (một bộ phận) quản trị phải nhận nhiều mệnh lệnh quản trị khác nhau, nó giúp cho quản lý công ty không bị chồng chéo, mâu thuẫn mặt khác nó cũng có nhược điểm : đòi thủ trưởng các cấp phải có trình độ tổng hợp, ra quyết định thường phức tạp, hao phí lao động lớn
Trang 9Là Công ty trực thuộc ngành dệt may của tỉnh Hưng Yên, tuy đã tách ra cổ phần hoá nhưng nó cũng mang những nét giống nhau về chức năng quản lý Mỗi
bộ phận đều có chức năng riêng biệt rõ ràng:
Là người giúp việc cho giám đốc được sử dụng một số quyền hạn của Giám đốc
để giải quyết các công việc Giám đốc uỷ nhiệm chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về những việc được phân công Phó giám đốc có quyền phân công và yêu cầu trợ lý Giám đốc báo cáo những công việc có liên quan thuộc phạm vi trách nhiệm của mình, thay mặt Giám đốc khi Giám đốc vắng mặt, phó giám đốc ký các chứng từ có liên quan đến lĩnh vực của mình
- Trợ giúp cho Giám đốc
- Trực tiếp phụ trách về sản xuất
3.2.1 Phó giám đốc kỹ thuật:
Quản lý khối sản xuất bao gồm:
- Phân xưởng cắt: chịu trách nhiệm cắt topàn bộ các khâu của sản phẩm
Trang 10- Phân xưởng may I và II: Có nhiệm vụ may thành phẩm như quần áo xuân
hè
- Phân xưởng may III: chuyên may áo Jacket, quần âu
- Phân xưởng hoàn thiện: chịu trách nhiệm khâu cuối cùng của sản phẩm như: đơm khuy
3.2.2 Phó giám đốc kinh doanh
Là người giúp việc cho Giám đốc trực tiếp phụ trách các hợp đồng kinh doanh
và cùng trực tiếp chỉ đạo về mặt kinh doanh quản lý khối-hành chính bao gồm:
- Văn phòng: Nơi giao tiếp với khách hàng, tổ chức họp mặt
- Phòng tổ chức lao động:
+ Lập kế hoạch về lao động, tiền lương
+ Bố trí sắp xếp lao động
+ Giải quyết chế độ chính sách cho người lao động
+ Thực hiện các công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề các công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho cán bộ và công nhân viên
Trang 11+ Sản xuất các mẫu đôi, mẫu chào hàng
+ Công tác quản lý, kiểm tra chất lượng sản phẩm (KSS)
+ Cử cán bộ đào tạo các ngành nghề
- Phòng xuất nhập khẩu – kế hoạch kinh doanh:
Là phòng tham mưu giúp Giám đốc công ty xây dựng triển khai, quản lý đôn đốc và giám sát tổ chức thực hiện các chỉ tiêu kinh tế – kế hoạch hàng năm, quý, tháng của công ty và các đơn vị thành viên đồng thời dự kiến đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổng hợp số giá kết quả hợp đồng sản xuất kinh doanh, tổng hợp số liệu báo cáo Bộ Thương Mại, Nhà nước theo quy định hiện hành Đề xuất chủ trương định hướng và các biện pháp kinh tế nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển lành mạnh vững chắc Trưởng phòng xuất nhập khẩu – kế hoạch kinh doanh được phép ký hoá đơn bán hàng nội địa và ký tên đóng dấu ở tờ khai hải quan chứng từ thanh toán, hợp đồng ngoại giám đốc
Cụ thể phòng xuất nhập khẩu – kế hoạch có những nhiệm vụ sau:
+Xây dựng kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiến độ
+Thực hiện các nghiệm vụ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế
+Phối hợp với phòng phục vụ xuất nhập khẩu trong việc thực hiện vận chuyển giao nhận hàng hoá vật tư
+Thực hiện công tác tiếp thị đối với khách hàng nước ngoài
- Phòng kế toán-tài chính:
Trang 12Có nhiệm vụ theo dõi tình hình tài chính của đơn vị về vốn và tình hình lưu chuyển vốn theo dõi về tình hình xuất nguyên vật liệu và tính giá thành sản phẩm, tiền lương, tiền thưởng Sau đó lập báo cáo kết quả kinh doanh
Phòng kế toán – tài chính với cơ cấu tổ chức chặt chẽ của bộ máy kế toán theo mô hình tập trung thực hiện hạch toán toàn công ty theo đó toàn bộ công tác
kế toán tài chính đều được thực hiện trọn vẹn từ khâu đâù đến khâu cuối ở phòng
kế toán của công ty
- Phòng y tế: Có trách nhiệm chăm lo sức khoẻ cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp
để tiến hành quá trình khảo sát, bấm giờ làm việc ở bộ phận kỹ thuật may của phân xưởng để làm thiết kế chuyền, các phân xưởng căn cứ vào thiết truyền để bố trí lao động
và làm đơn giá chi tiết sản phẩm
Trong mỗi phân xưởng sản xuất sẽ chia ra thành các tổ sản xuất, mỗi tổ khoảng 50- 55 lao động Công ty đã áp dụng mô hình sản xuất khép kín ở từng tổ, từng phân xưởng Sản phẩm cuối cùng của các tổ là sản phẩm hoàn thiện Trong một dây truyền sản
Trang 13xuất có nhiều công đoạn, mỗi công đoạn sản xuất ra một chi tiết khác nhau và có đơn giá khác nhau Sau mỗi công đoạn sản xuất sẽ có từ 5- 7 giây để tự kiểm tra chất lượng bán thành phẩm sau đó tiếp tục đưa đến các công đoạn sản xuất sau
Trang 14Chuẩn bị nguyên phụ liệu: gồm vải chính, vải lót, vải phối, nẹp dán, tài liệu may tổ cắt sẽ làm nhiệm vụ đi lấy nguyên phụ liệu, đối chiếu với thông số, định mức của khách hàng
Cắt chi tiết: Trước khi cắt chi tiết tổ phó phải đi lấy mẫu cứng do nhân viên giác mẫu sao từ mẫu mỏng của kỹ thuật phân xưởng Vải, phụ liệu phải được trải lên mặt bàn theo đúng chiều và mặt vải đưa bản giác vào, tiến hành cắt Do cắt với số lượng nhiều nên cần phải được trang bị máy cắt, thuốc vẽ và bản giác chính xác để cho công việc được hoàn thành tốt nhất
Đánh số, phân loại chi tiết, cấp phụ liệu cho các tổ máy, tổ phó của các tổ may có nhiệm vụ thực hiện công việc này Sau đó cùng với tổ trưởng phân truyền cho các công nhân của mình dựa vào thiết kế truyền do phòng kỹ thuật đưa xuống và dựa vào trình độ công nhân của mình
Để làm được công việc này yêu cầu các tổ trưởng tổ phó phải nắm vững trình độ chuyên môn về may, các yêu cầu, các bước thực hiện công việc và trình độ tay nghề của từng công nhân đảm bảo cho công nhân làm những việc phù hợp với trình độ tay nghề của mình
Trang 15Đối với mỗi công nhân sau khi hoàn thành xong mỗi bán thành phẩm của mình sẽ
tự kiểm tra, gọt rửa các chi tiết theo đúng mẫu tổ phó có nhiệm vụ nhận các bán thành phẩm đó để chuyển sang giai đoạn may sau
Thợ cả kiểm tra hàng ngày từng bộ phận của vỏ áo, và kiểm tra lần cuối trước khi dấu vỏ vào lót và có trách nhiệm sửa hàng khi hàng hỏng
Sau khi may song hoàn chỉnh một sản phẩm thu hoá có trách nhiệm thu gom sản phẩm để đặt chỉnh, VSCN Sau đó mang đến KCS của công ty vệ sinh, nhặt chỉ lần nữa trước khi mang đến kỹ thuật công ty để nghiệm thu sản phẩm cán bộ kỹ thuật ghi nhận số lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn sau đó sẽ chuyển sang bộ phận hoàn thành đóng gói để mang đi xuất khẩu
5.Công tác quản lý lao động tiền lương
Về nguồn nhân lực:
Biểu 2: Cơ cấu nhân lực của công ty
Chênh lệch Các chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002
Trang 16so với năm 2001 cả về lao động trực tiếp (công nhân xưởng cắt, may) và cán bộ quản lý cũng tăng tương ứng là 31 người ứng 51%
Lực lượng lao động của công ty được tăng dần về số lượng và chất lượng, cán bộ công nhân viên được đào tạo bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn tay nghề ngày một nhiều Công nhân được tiếp xúc với Khoa học hiện đại, máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất đã được công nhân điều khiển mà xử lý nhuần nhuyễn góp phần nâng cao năng suất, tiết kiệm thời gian và chi phí cùng một mục đích là thực hiện thành công mục tiêu mà lãnh đạo công ty đã đề ra trong kế hoạch đầu năm
5.1 Công tác lao động tiền lương trong công ty gồm:
- Xác định nhu cầu lao động:
Trang 17Dựa vào năng lực sản xuất, trình độ trang thiết bị và qui mô hoạt động để từ
đó xác định lượng lao động sao cho phù hợp nếu thiếu công ty sẽ tuyển thêm theo các tiêu chí sau:
+ Nếu là cán bộ quản lý thì trình độ chuyên môn nghiệp vụ ít nhất phải là Cao đẳng, Đại học
+ Nếu là công nhân phải có trình độ tay nghề bậc 3/7 trở lên
+ Nếu là công kỹ thuật có trình độ bậc 4 trở lên
- Đào tạo: Mở lớp đào tạo nâng cao <tập chung 6 tháng do trường CNKT thời trang I dạy) bên cạnh đó còn bồi dưỡng nâng bậc hàng năm, mở lớp ngoại ngữ cho cán bộ quản lý mỗi tuần 1 buổi, gửi lao động giỏi cộng cán bộ quản lý đi học các lớp tại chức và tập trung Nếu có điều kiện sẽ được đi nước ngoài học tập kinh nghiệm chuyên môn nghề nghiệp
- Bố trí tổ chức điều kiện lao động
Công ty luôn tạo điều kiện làm việc tốt nhất với đầy đủ ánh sáng, quạt điện, điều hoà, bảo hộ lao động cho công nhân sản xuất Lao động được bố trí phù hợp với khả năng, năng lực và trình độ đúng theo nguyên vọng khi tuyển dụng nhằm phát huy tối đa khả năng mỗi người
- Giải quyết chế độ chính sách lao động, tiền lương chế độ chính sách Nhà nước; BHXH, trợ cấp, phụ cấp khi ốm đau thai sản
- Tổng quỹ lương:
Trang 18Năm 2000 2001 Tỷ lệ%
Quỹ lương trong công ty năm 2001 tăng so với 2000 Và năm 2002 tiếp tục tăng so với 2001 điều này sẽ tạo niềm tin về thu nhập tiền lương đáp ứng được nhu cầu vật chất của công nhân lao động
- Phân phối tiền lương:
Theo tiêu chuẩn cấp bậc thợ đối với công nhân và theo tiêu chuẩn trình độ chuyên môn và chức vụ đối với cán bộ quản lý
- Tiền thưởng:
Được trích từ quỹ khen thưởng phúc lợi
5.2 Cơ cấu lao động:
Cơ cấu lao động phụ thuộc vào qui mô, năng lực sản xuất trong công ty nhằm mục đích bố trí và sử dụng có hiệu quả không thể xảy ra tình trạng phòng thì thừa, phòng thì thiếu, dẫn tới lãng phí nguồn nhân lực
Biểu 3: Cán bộ quản lý trong công ty:
Trang 19Giới tính Phòng ban Số người
Trang 20đã phải trích một lượng tiền không nhỏ từ doanh thu để lập quỹ dự phòng đảm bảo có thể chi trả ngay cho người lao động khi ốm đau, lễ tết, khen thưởng, thi đua
Trang 21Lao động của công ty làm việc trực tiếp với máy móc, thiết bị, mỗi công đoạn sản xuất cho một chi tiết sản phẩm cụ thể nên có thể xác định đơn giá tiền lương dễ dàng, tiền lương của công nhân nhận được gắn với kết quả sản xuất của họ Nên trong quá trình sản xuất người lao động luôn có ý thức, cố gắng thực hiện đầy đủ các yêu cầu của công ty đưa xuống đặc biệt là các yêu cầu về số lượng chất lượng và thời gian hoàn thành kế hoạch Đây là một điều kiện thuận lợi của công ty để có thể chi trả lương cho công nhân công bằng hợp lý, có tác dụng kích thích người lao động tăng NSLĐ, công ty có thể tăng
khảnăng cạnh tranh trên thị trường, phát triển mở rộng sản xuất
5.4 Cách thức tuyển dụng lao động:
Thường là tuyển theo cách quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng Phòng tổ chức lao động sẽ lọc hồ sơ tay nghề và tuyển những thí sinh đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về phương thức tuyển này đỡ đã tốn kém thời gian, chi phí mà lại biết được thực chất trình độ của lao động từ đó mới có quyết định chính thức tuyển hay không
5.5 Mức thời gian lao động:
Phụ thuộc nhiều vào sản phẩm đó là quần âu hay aó Jacket và trình độ máy móc thiết bị Để xây dựng mức thời gian lao động công ty thường dùng cả phương pháp tính toán phân tích và kinh nghiệm
5.6 Việc xác định ngày công bảng chấm công, nghỉ việc ngừng việc
Theo qui định của công ty: 1 tuần nghỉ 1 buổi, nghỉ lễ tết nghỉ chế độ theo chính sách của nhà nước
5.7 Năng suất lao động:
Trong công ty thường tính theo cả hai chỉ tiêu giá trị và hiện vật
Trang 22Đơn giá lương cho Tổng quỹ lương 7.910.943.000
1 đơn vị SP (2001)
= Tổng sản lượng
=
1.145.627
= 6.905,34đ
5.8 Hình thức trả lương cho người lao động:
Căn cứ để trả lương là lượng sản phẩm mà người lao động sản xuất ra trong1 đơn vị thời gian nhất định (1 tháng) theo cách này khuyến khích được sự hăng say làm việc của mỗi người vì nó gắn liền với lợi ích của họ, tạo sự thích thú
để nâng cao năng suất
5.9 Thu nhập bình quân của người lao động
Biểu 5:Thu nhập bình quân người lao động
năm Chỉ tiêu
Trang 23Quan sát bảng trên ta thấy thu nhập bình quân năm 2000 cao hơn năm 2001 (tăng cả tiền lương và thu nhập) chỉ tiêu này kích thích lao động làm việc nhiều hơn nữa, nó là một chỉ tiêu rất tốt đối với công ty
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất công ty còn có những hình thức thưởng như hoàn thành kế hoạch xuất sắc, phát minh ra phương thức sản xuất mới, một cách làm mới trong các phong trào thi đua tập thể Nguồn tiền thưởng được tính từ quỹ khen thưởng phúc lợi
6 Đặc điểm về công nghệ
Công ty May và Dịch vụ Hưng Long là một doanh nghiệp mới đi vào cổ phần thuộc công ty may Hưng Yên Một phần vốn do nhà nước cấp còn lại trong quá trình sản xuất kinh doanh hàng năm công ty đã bảo quản và phát triển nguồn vốn của mình do biết tiết kiệm trong chi tiết, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn vốn tự có khai thác từ nhiều nguồn khác nhau như vốn vay tín dụng, cán bộ công nhân viên Năm 2002 Tổng nguồn vốn của Công ty là14.000.000.000 có được nguồn vốn như vậy là một thế mạnh của Công ty để đầu tư phát triển sản xuất theo cả chiều rộng và chiều sâu, mua sắm thêm máy móc thiết bị, hiện đại hoá quy trình công nghệ
Cơ sở vật chất máy móc thiết bị của công ty tương đối đầy đủ Máy móc thiết bị
đa số là của Nhật,Đài Loan Tuy nhiên, do đặc điểm của sản xuất nên hiện nay vẫn còn nhiều công đoạn làm thủ công Máy móc đơn giản, để vận hành sau đây là bảng giới thiệu những máy móc thiết bị chính của công ty
Trang 24Biểu 6 : Tình hình sử dụng máy móc thiết bị
Trang 26II phân tích thực trạng công tác trả lương, trả thưởng ở Công ty May và Dịch vụ Hưng long trong thời gian qua
1 Phân tích các hình thức trả lương
Nhận thức được tiền lương là lĩnh vực quan trọng trong công tác quản lý động viên kích thích tinh thần, thái độ trách nhiệm của người lao động, là một doanh nghiệp sản xuất, nguồn thu chủ yếu vào hoạt động sản xuất kinh doanh được nhà nước giao cho quyền tự chi trả lương cho phù hợp với hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty May và Dịch vụ Hưng Long đã quan tâm và thực hiện tốt các chính sách tiền lương do nhà nước ban hành trả lương gắn với năng suất, chất lượng, hiệu quả của từng người Mặc dù chưa
có hệ thống thang bảng lương riêng trong công ty nhưng công ty đã xây dựng và thực hiện quy chế trả lương riêng của công ty
Do đặc điểm của công ty khác với các công ty khác như có nguồn lao động đông đảo, lao động nữ chiếm tỷ lệ cao, tuổi đời trẻ, sản xuất theo mùa vụ cho nên quy chế trả lương của công ty có những đặc thù riêng Cơ chế trả lương trước khi ban hành cũng được lấy ý kiến của toàn bộ CBCNV nên đã phản ánh đúng nguyện vọng đông đảo người lao động, tích cực tham gia lao động sản xuất và được công ty may Hưng Yên phê duyệt
Cách phân phối tiền lương của công ty
Hiện nay công ty áp dụng hai hình thức trả lương hình thức trả lương thời gian và hình thức trả lương sản phẩm
Quỹ lương chủ yếu được trích từ giá gia công sản phẩm
QL = 52% giá gia công
Tổng quỹ lương dùng để :
Trang 27+ Dự phòng, khen thưởng lễ tết, trả cho công nhân thôi việc, lương chế độ, phúc lợi
+ Trả lương cho khối hành chính
+ Trả lương cho khối sản xuất: 35-37%
1.1.Hình thức trả lương thời gian
1.1.1.Chế độ trả lương thời gian kết hợp với hiệu quả sản xuất kinh doanh
Khái niệm: là chế độ trả lương cho người lao động căn cứ vào hệ số lương
theo chức danh, số ngày đi làm thực tế và tiền lương bình quân của công ty trong kỳ
- Phạm vi áp dụng: Hình thức trả lương này áp dụng cho lãnh đạo, cán bộ nhân
viên làm trong các phòng ban ở công ty Bao gồm giám đốc, phó giám đốc, các trưởng phó phòng chuyên viên, kỹ sư, cán bộ kỹ thuật
- Điều kiện áp dụng: áp dụng cho các công việc không thể tiến hành định mức
chặt chẽ, khó đánh giá công việc chính xác vì không sản xuất ra sản phẩm nên không thể
áp dụng chế độ trả lương sản phẩm
-Phương pháp tính:
Hàng tháng công ty trả lương cho người lao động theo công thức:
BHYT BHXH
Aca Pc V xHxBQ
Trang 28H: Hệ số lương theo chức danh
V cd: Lương chế độ, lễ, tết, phép, con bú
P c: Các khoản phụ cấp nếu có
A ca: Tiền ăn ca
BQ CT: Lương bình quân toàn công ty
- Cách xác định hệ số lương theo chức danh
Hệ số lương theo chức danh được công ty xây dựng, xác định căn cứ trên cơ sở mức độ phức tạp công việc đảm nhiệm, tính trách nhiệm yêu cầu về trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ của người lao động
Hệ số lương theo chức danh được quy định như sau:
- GĐ: hưởng hệ số 3,5
-Phó GĐ: Hệ số 3,0
-Chủ tịch công đoàn, trưởng phòng: hệ số 2,5
- Các phó phòng: Hệ số 2,0
-Nhân viên làm việc tại các phòng ban hệ số 1,2
-Nhân viên phục vụ, văn thư, bảo vệ: hệ số 1,0
Các khoản phụ cấp, bao gồm:
Phụ cấp trách nhiệm: 0,3 mức lương tối thiểu đối với giám đốc và các trưởng phòng;
Trang 290,2 mức lương tối thiểu đối với Phó giám đốc và các phó phòng
Tuy nhiên mức phụ cấp này không được tính trong lương mà chỉ được dùng để tính các khoản lương chế độ
Phụ cấp được tính trong lương nếu có chỉ là phụ cấp đi công tác hoặc phụ cấp Đảng (nếu có)
Tiền ăn ca (A ca )
Tiền ăn ca là một khoản thu nhập nên việc phân phối thu nhập cho CBCNV cũng phải gắn với hiệu quả công tác Do đó tiền ăn ca được quy định bằng 12% lương sản phẩm bình quân của công ty và theo ngày công thực tế
BQct
T x
26
% 12
Ví dụ Tiền lương tháng 8/2002 của cô Phạm Thị Thảo phó phòng TCLĐTL:
Số ngày công đi làm 26 ngày;
Lương bình quân công ty tháng 8/2002: 539.000đ;
Hệ số lương theo chức danh: 2,0;
Hệ số lương cấp bậc bản thân: 2,5;
Phép: Không;
Phụ cấp trách nhiệm: 0,2;