Đối với ngân hàng trung ương Ngân hàng trung ương thông qua thị trường để điều tiết lượng tiền trong lưuthông, lãi suất thị trường và tỷ giá nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách ti
Trang 2Hà Nội – tháng 3/2011
Trang 3MỤC LỤC
1.1 Sự phát triển của thị trường tiền tệ Hàn Quốc 3
1.1.1 Phân loại thị trường tiền tệ Hàn Quốc 3
1.1.2 Giá cả của thị trường tiền tệ 3
1.1.3 Khối lượng giao dịch 3
1.2 Vai trò của thị trường tiền tệ Hàn Quốc 5
1.2.1 Đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho các chủ thể phi ngân hàng 5
1.2.2 Đối với các ngân hàng thương mại 5
1.2.3 Đối với ngân hàng trung ương 5
2 DỰ BÁO VỐN KHẢ DỤNG CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG HÀN QUỐC (BOK) 5
2.1 Một số nét về cơ quan dự báo vốn khả dụng của BOK 5
2.2.Phương pháp dự báo của BOK 6
2.2.1 Dự báo cầu vốn khả dụng 6
2.2.1.1 Dự báo dự trữ bắt buộc 6
2.2.1.1. Dự báo dự trữ vượt mức 7
2.2.2 Dự báo cung vốn khả dụng 9
2.2.2.1 BOK quản lý tài sản ngoại tệ để dự báo 10
2.2.2.1 BOK dự báo thu chi ngân sách 12
2.2.2.2 Dự báo tiền ngoài hệ thống ngân hàng 15
2.2.2.3 Dự báo các khoản khác ròng 16
2.3 Hiệu quả của việc dự báo vốn khả dụng của BOK 16
2.4 Biện pháp can thiệp sau dự báo 17
2.4.1 Nghiệp vụ thị trường mở 17
2.4.2 Chính sách tái cấp vốn 20
2.4.3 Chính sách dự trữ bắt buộc 21
2.4.4 Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ 22
2.4.5 Một số biện pháp can thiệp của BOK giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008-2009) và giai đoạn hiện nay (2010-2011) 22
2.4.5.1 Giai đoạn khủng hoảng 2008-2009 22
2.4.5.2 Xu hướng can thiệp giai đoạn hiện nay (2010-2011) 23
3. BÀI HỌC CHO DỰ BÁO VỐN KHẢ DỤNG Ở VIỆT NAM 25
Trang 41 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ CỦA HÀN QUỐC
1.1 Sự phát triển của thị trường tiền tệ Hàn Quốc
1.1.1 Phân loại thị trường tiền tệ Hàn Quốc
Thị trường tiền tệ Hàn Quốc bao gồm 6 thị trường bộ phận: thị trường liênngân hàng (the call market), thị trường trái phiếu ổn định tiền tệ (MSB), thị trườngchứng chỉ tiền gửi ngắn hạn (CD), thị trường các hợp đồng mua bán lại (RP),thị trường thương phiếu (CP), và thị trường trái phiếu công ty (CB) Khối lượnggiao dịch trên thị trường tiền tệ Hàn Quốc vẫn chỉ tập trung chủ yếu ở thị trườngliên ngân hàng, thị trường MSB và thị trường CD
1.1.2 Giá cả của thị trường tiền tệ
Nhìn chung giá cả của thị trường tiền tệ Hàn Quốc được hình thành theo quan
hệ cung – cầu, thể hiện ở các mức lãi suất của thị trường Tuy nhiên, để thực hiệnchính sách tiền tệ quốc gia, BOK đã sử dụng các nghiệp vụ thị trường mở, chínhsách tái cấp vốn và dự trữ bắt buộc… để tác động đến cung cầu vốn khả dụng, qua
đó tác động tới lãi suất thị trường
CÁC MỨC LÃI SUẤT THỊ TRƯỜNG
%
2008
Tháng 6
Tháng 12
Tháng 3
Tháng 6
Tháng 7
Tháng 8
Liên ngân hàng (qua đêm) 3.02 1.96 2.01 2.00 2.03 2.28 2.28
Chứng chỉ tiền gửi (91 ngày) 3.93 2.41 2.86 2.78 2.46 2.63 2.66
Thương phiếu (91 ngày) 6.49 2.80 3.09 2.92 2.73 2.83 2.84
Trái phiếu kho bạc 3.41 4.16 4.41 3.89 3.86 3.80 3.55
Trái phiếu công ty 7.72 5.43 5.53 4.58 4.83 4.72 4.41
Nguồn: Báo cáo chính sách tiền tệ - 9/2010 - BOK
1.1.3 Khối lượng giao dịch
Trang 5Khối lượng giao dịch trên thị trường tiền tệ Hàn Quốc hầu như chỉ tập trungchủ yếu ở thị trường liên ngân hàng, thị trường MSB và thị trường CP.
KHỐI LƯỢNG GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
(tính đến cuối kỳ)
(đơn vị:nghìn tỷ won)
Call1) 3.7 16.0 12.9 34.6 28.6 27.9 22.2 27.6 30.8MSB2) 15.2 45.7 66.4 155.2 158.4 150.3 126.9 149.2 163.5
CD 6.8 15.7 14.2 63.9 79.8 112.8 116.6 113.3 44.5
RP 3.4 17.5 26.3 42.9 58.4 68.3 67.3 67.7 69.6
CP 12.7 62.3 44.7 31.8 45.7 78.4 89.6 74.2 73.43)
CB 0.3 4.1 11.2 4.0 3.7 4.4 3.5 2.6 1.6
1) Khối lượng giao dịch bình quân hàng ngày tháng cuối cùng của kỳ
2) Khối lượng trái phiếu ổn định tiền tệ BOK phát hành
3) Tính đến cuối tháng 9 năm 2010
Nguồn: Money and Banking Statistics, Flow of Funds, Bank of Korea
Với hệ thống thanh toán BOK-Wire, khối lượng và giá trị giao dịch liên ngânhàng tăng lên rất nhanh, trung bình một ngày tổng giá trị thanh toán năm 2009
là 181 nghìn tỷ Won, trong khi nửa đầu 2010 đã đạt 179 nghìn tỷ đồng Trongkhi khối lượng giao dịch 2009 đạt 10.835 giao dịch còn nửa đầu 2010 là 12.707 giaodịch
Trang 61.2 Vai trò của thị trường tiền tệ Hàn Quốc
1.2.1 Đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho các chủ thể phi ngân hàng
Thị trường tiền tệ là nơi tạo ra môi trường thuận lợi để dung hòa các loại lợiích kinh tế khác nhau, của các thành viên là chủ thể kinh tế phi ngân hàng
Điều hòa các nguồn vốn nhàn rỗi từ nơi tạm thừa đến nơi tạm thiếu vốn trongnền kinh tế
Đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, góp phần tăng trưởng kinh tế, khai tháctriệt để nguồn vốn có sẵn trong nền kinh tế
1.2.2 Đối với các ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại sử dụng thị trường tền tệ để bù đắp chênh lệchgiữa cung và cầu vốn khả dụng, và kinh doanh kiếm lời
1.2.3 Đối với ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương thông qua thị trường để điều tiết lượng tiền trong lưuthông, lãi suất thị trường và tỷ giá nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách tiềntệ
HÀN QUỐC (BOK)
Trang 72.1 Một số nét về cơ quan dự báo vốn khả dụng của BOK
Tại Hàn Quốc, cơ quan dự báo vốn khả dụng là một bộ phận thuộc Ngânhàng Trung ương Hàn Quốc Chịu trách nhiệm về việc tự báo vốn khả dụng là tổNghiên cứu tổng thể và dự báo Việc dự báo này dựa trên các số liệu nghiên cứuđược của các tổ thống kê về thị trường tiền tệ, tài chính, dòng chảy của các quỹ, cáncân thanh toán.v.v… Hàng quý, nhóm này chịu trách nhiệm công bố báo cáo về tìnhhình tài chính, tiền tệ, dự báo vốn khả dụng, lưu lượng của các quỹ… bằng cả tiếngHàn và tiếng Anh
Dựa trên cơ sở dự báo của tổ Nghiên cứu tổng thể và dự báo, tổ Kế hoạch vàđiều phối chính sách tiền tệ đưa ra các quyết định về chính sách tiền tệ để kịp thờiđiều chỉnh thị trường tiền tệ, qua đó đạt được mục tiêu chính sách tiền tệ đã đề ra
2.2 Phương pháp dự báo của BOK
2.2.1 Dự báo cầu vốn khả dụng
2.2.1.1 Dự báo dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà ngân hàng thương mại buộc phải duy trì trênmột tài khoản tiền gửi tại ngân hàng trung ương
Mức dự trữ bắt buộc = tỷ lệ dự trữ bắt buộc * Số dư tiền gửi huy động
Như vậy vào cuối mỗi kì dự trữ, BOK tính dự trữ của các ngân hàng trong kì
dự trữ tiếp theo bằng cách nhân giá trị tài sản nợ (thuộc đối tượng tính tỷ lệ dự trữbắt buộc) với tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Hệ thống dự trữ bắt buộc được áp dụng theo luật ngân hàng thông qua vàonăm 1950 Cho tới giữa những năm 1960, chính sách dự trữ bắt buộc chỉ đơn thuần
là để hỗ trợ cho phương thức kiểm soát trực tiếp hơn là một công cụ chính sách tiền
tệ gián tiếp
Tuy nhiên với mức điều chỉnh lãi suất theo mức thực vào tháng 9/1965, thìcông cụ dự trữ bắt buộc mới được sử dựng như một công cụ của việc điều tiết vốnkhả dụng Vào thời gian này ở Hàn Quốc, khi áp lực mở rộng tiền dự trữ gia tăng do
có nhiều nguồn vốn ngoại chảy vào và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tăng lên nhanhchóng, BOK quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ khoản 10-15% lên 18-35%trong suốt thời kì 1966-1967, và sau đó giảm xuống 12-185 vào cuối năm 1971
Sau đó, vì việc điều tiết vốn khả dụng được thực hiện phần lớn thông quaphát hành trái phiếu ổn định tiền tệ với việc sử dụng tài khoản ổn định tiền tệ, nên tỷ
Trang 8lệ dự trữ bắt buộc được điều chỉnh giảm 15- 255 Vào những năm 1980, khi mà cónhiều quan điểm cho rằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một trong những nhân tố làm giảmlợi nhuận của các ngân hàng Hàn Quốc, BOK quyết định cắt giảm dự trữ bắt buộcxuống còn 4.5% năm 1984.
Tuy nhiên, sau đó vào cuối những năm 80, Hàn Quốc đối đầu với “3 thấp”:
giá dầu thô thấp, lãi suất thấp, đồng đôla thấp, nhằm hỗ trợ cho việc mở rộng tiền tệthông qua thị trường ngoại hối, BOK đã tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 10% vào năm1988
Từ tháng 5/1989 hệ thống dự trữ bắt buộc biên được đưa vào hoạt động, theo
đó BOK áp đặt mức dự trữ bắt buộc bằng 30% trong sự tăng thêm của tiền gửi.Nhưng tới tháng 2/1990, BOK đã bãi bỏ hệ thống dự trữ bắt buộc biên này, thay vào
đó BOK tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 11,5% và duy trì trong một thời gian dài.Cũng bắt đầu trong thời gian này ở Hàn Quốc, khi quá trình tự do hóa lãi suất diễn
ra mạnh cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính, nghiệp vụ thịtrường mở trở thành công cụ của chính sách tiền tệ chính thì vai trò của công cụ dựtrữ bắt buộc trong việc điều tiết vốn khả dụng giảm dần Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bìnhquân ở Hàn Quốc hiện nay khoảng 3%
YÊU CẦU DỰ TRỮ BẮT BUỘC ĐỐI VỚI CÁC LOẠI TIỀN GỬI
(Tính đến cuối tháng 11.2010)n cu i tháng 11.2010)ối tháng 11.2010)
Tiền gửi
nội tệ
Tiền gửi không kỳ hạn 7.0%
Tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và
Tiền gửi không kỳ hạn 7.0%
Tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và Chứng chỉ tiền
gửi
2.0%
Tiền gửi của người không cư trú 1.0%
Nguồn: Bank of Korea
Phương pháp quản lý dự trữ bắt buộc của Hàn Quốc
Trang 9Ngày mồng 1 ngày 15 ngày 30/31
a Dự báo dựa trên các quy định về dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc, dự trữ vượt của hệ thống ngân hàng Hàn Quốc
(từ 12/2006 đến 3/2008)
Nguồn: http://ecos.bok.or.kr/reserve of comercial and specialized bank
Khó khăn chủ yếu trong nghiệp vụ này là số ngày trùng nhau của kỳ xác định
và kỳ duy trì dự trữ bắt buộc Điều này làm cho công tác dự báo dự trữ bắt buộccũng như dự báo dự trữ vượt trở nên thiếu chính xác Ở Hàn Quốc, thời gian này là 7
Trang 10ngày Tuy nhiên so với một số quốc gia khác thì đây chưa phải là quãng thời giandài nhất.
Yêu cầu dự trữ bắt buộc của Hàn Quốc và một số nước OECD*
Quốc gia Tỷ lệ dự trữ
bắt buộc Kỳ xác định Kỳ duy trì Trùng
Lãi suất Phạt
CH Séc 0% & 2% 1 ngày 4-5 tuần 4-5 tuần 0 200%Hungari 0% & 5% 1 ngày 1tháng 1 tháng 0 300%Nhật Bản 0.05-1.3% 1 tháng 1tháng ½ tháng 0 3.75%
Nhận xét : Hàn Quốc so với các quốc gia khác có kỳ duy trì ngắn hơn, lãi suất phạt
thấp, không trả lãi cho dự trữ bắt buộc, vì vậy cầu dự trữ vượt mức nhỏ hơn
Hệ thống chuyển tiền liên ngân hàng (IFT)
Liên ngân hàng CD/Hệ thống ATM
Chuyển tiền điện tử tại các điểm của hệ thống bán hàng (EFTPOS)
Hệ thống ngân hàng điện tử (EBS)
Trang 11Dựa trên cơ sở một hệ thống thanh toán có tổ chức, hoạt động thống nhất nhưvậy nên công tác dự báo nhu cầu dự trữ vượt mức của Ngân hàng trung ương HànQuốc cũng được hỗ trợ rất lớn
Tóm lại: Với nền tảng các quy định hợp lý về dự trữ bắt buộc, hệ thống thanh toán
hoạt động có hiệu quả nên Ngân hàng trung ương Hàn Quốc có đầy đủ các điều kiện
cơ bản để tiến hành công tác dự báo dự trữ vượt mức đạt mức chính xác cao
2.2.2 Dự báo cung vốn khả dụng
Trên thực tế hiện tại đang có hai phương pháp được Ngân hàng trung ươngcác nước sử dụng để dự báo cung vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại và tổchức tín dụng khác Đó là phương pháp dựa trên Bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàngtrung ương và phương pháp dựa trên cơ sở tiếp cận bảng cân đối của các tổ chức tíndụng Tuy vậy, hầu hết các Ngân hàng trung ương đều đang sử dụng phương pháp
số một, dựa trên cơ sở Bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng trung ương, phương phápnày làm tăng tính chủ động trong việc thu thập cũng như phân tích, đánh giá nhữngthông tin cần thiết phục vụ cho việc dự báo Mặt khác về mặt dài hạn, do những thayđổi vốn khả dụng được tính toán trên cơ sở cân bằng của những thay đổi các yếu tố
về cung và cầu vốn khả dụng nên sai số là không đáng kể Tận dụng những ưu điểmnày, Ngân hàng trung ương Hàn Quốc (BOK) cũng đang sử dụng phương pháp này
Khi cầu dự trữ của các ngân hàng đã được xác định, BOK dự báo cung dự trữcủa các ngân hàng, chú trọng đến các yếu tố tự sinh tạo ra cung dự trữ Trong quátrình dự báo cung dự trữ, BOK tính đến thời hạn phát hành và thanh toán trái phiếuchính phủ, các khoản cho vay tái chiết khấu và thanh toán của BOK, sự can thiệptrên thị trường ngoại hối của BOK và các luồng tiền vào, ra từ các ngân hàng Trong
kỳ duy trì dự trữ, BOK ước lượng các yếu tố tự sinh dự trữ này và hàng ngày xemxét lại con số dự báo dựa trên những thông tin mới nhận được
2.2.2.1 BOK quản lý tài sản ngoại tệ để dự báo
Tháng 6.2010, chính phủ Hàn Quốc đưa ra những luật lệ thắt chặt hơn đối vớinhững công cụ tiền tệ phái sinh nhằm ổn định thị trường tiền tệ nội địa bằng cáchgiảm nguồn ngoại tệ bất ngờ chảy vào nước này
Hiện nay, việc trao đổi kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng trong nướcnằm trong sự giám sát của Bộ Chiến lược và Tài chính, Ngân hàng Hàn Quốc vàDịch vụ Giám sát tài chính trên cơ sở của Đạo luật Giao dịch ngoại hối, quy định về
Trang 12giao dịch ngoại hối, cụ thể đó là Luật Báo cáo Giao dịch tài chính, Ngân hàng củaĐạo luật Hàn Quốc và Quy chế giám sát doanh nghiệp
Bộ Chiến lược và Tài chính có trách nhiệm là tổ chức xử lý các loại tiền tệnước ngoài và quy định phạm vi trao đổi của họ Tập trung chính của nó là về quản
lý tỷ giá hối đoái, tính hợp pháp trong trao đổi ngoại hối của các ngân hàng trongnước
Ủy ban Giám sát tài chính thường xuyên giám sát các ngân hàng trong nước
về ngoại tệ, tập trung vào điều chỉnh các tỷ lệ khác nhau, như tỷ lệ thanh khoảnngoại hối, kỳ hạn cho vay bằng ngoại tệ
Ngân hàng Hàn Quốc thì chủ yếu giao dịch với các chính sách liên quan đếncác khoản vay ngoại tệ và tiền gửi của ngân hàng trong nước
Vai trò của BOK trong thị trường ngoại hối
Vốn lưu lượng vào
Các nhà đầu tư nước ngoài có thể đưa tất cả tiền vào thị trường các công cụvốn chủ sở hữu không có giới hạn quyền sở hữu Nhưng các nhà đầu tư nước ngoàiphải đăng ký đầu tư Tuy nhiên, có những ngoại lệ nếu nhà đầu tư nước ngoài cư trúhoặc làm việc tại Hàn Quốc trong hơn sáu tháng Thủ tục đăng ký như sau:
Đăng ký với dịch vụ kiểm soát tài chính (FSS);
Chỉ định một ngân hàng ngoại hối và mở một tài khoản không phải cư dân
Có được một tài khoản đầu tư trái phiếu với một ngôi nhà chứng khoán
Vốn chảy ra
Trang 13Cá nhân cư trú được đầu tư ở nước ngoài mà không hạn chế Tuy nhiên, họphải giao dịch thông qua một ngân hàng ngoại hối, hoặc thông báo cho Ngân hàngHàn Quốc (BOK) trước mỗi giao dịch
Xuất nhập khẩu tiền tệ
Người cư trú và Người không cư trú có thể xuất khẩu, nhập khẩu các loại tiền
tệ trong nước và nước ngoài có giá trị dưới 10,000 USD không hạn chế Bất kỳngười nào xuất khẩu và nhập khẩu Won với một giá trị của hơn 10.000 USD yêu cầukhai báo với cơ quan hải quan BOK phê duyệt là cần thiết đối với số tiền vượt quá 1triệu USD
Như vậy với những chính sách và quy định chặt chẽ như vậy, ngân hàngtrung ương Hàn Quốc có thể quản lý được tương đối chính xác khoản tài khoảnngoại tệ ròng của quốc gia mình Qua đó tạo ra một lợi thế cho việc quản lý vốn khảdụng
Thống kê dự trữ ngoại hối của Hàn Quốc
Nguồn: Bank of Korea
2.2.2.2 BOK dự báo thu chi ngân sách
Năm ngân sách là một nguyên tắc lớn trong quản lý ngân sách kiểu truyềnthống Hết năm ngân sách, hạn mức kinh phí chưa sử dụng đều hết giá trị Tuy
Trang 14nhiên, nguyên tắc này sẽ không còn nguyên vẹn ý nghĩa khi thực hiện quản lý ngânsách theo mô hình mới – dựa theo kết quả đầu ra gắn với tầm nhìn trung hạn Trongtrạng thái bình thường, cơ quan lập pháp hàn Quốc phê chuẩn dự toán ngân sáchtrước ngày cuối cùng của năm ngân sách hiện hành, đảm bảo dự toán lập cho nămngân sách sắp tới được phê chuẩn và có hiệu lực thi hành trước khi năm ngân sáchmới bắt đầu.
Lập dự toán ngân sách
Hàn Quốc ban hành Hướng dẫn lập dự toán ngân sách từ tháng thứ 3 hàngnăm Hàn Quốc quy định một cơ quan cấp bộ chủ trì việc chuẩn bị và soạn lập dựtoán ngân sách đó là Bộ Kế hoạch và Ngân sách chủ trì soạn thảo dự toán và cácphương án phân bổ ngân sách
Việc tập trung một đầu mối có ưu điểm lớn trong việc quản lý thống nhất,cung cấp cái nhìn toàn diện về ngân sách trên cơ sở nắm chắc nguồn thu, tạo cơ sởtốt cho việc bố trí sử dụng (chi) ngân sách Mức độ tập trung và sự phối hợp giữanguồn và sử dụng nguồn được đẩy mạnh hơn, hiệu quả hơn
Hướng dẫn lập dự toán ngân sách mở ra định hướng, chỉ rõ các quyết sáchhướng về kinh tế, tài chính, các giới hạn trần thu, chi, bội chi ngân sách sẽ triển khaitrong năm tới Trong hướng dẫn lập dự toán cũng có những phân tích, đánh giá tìnhhình, bối cảnh, xu hướng kinh tế, tài chính, ngân sách… trong nước, ngoài nước…
Dự báo chi NSNN: căn cứ vào số liệu lịch sử, qua đó xác định mức độ, thớiđiểm chi tiêu, chú ý đến các hoạt động ngân sách để có thể áp dụng nguyên tắc chia
kế hoach ngân sách phân bổ cho 12 tháng sau đó phân bổ cho từng tuần và sau đó làphân bổ cho từng ngày BOK cũng phân bổ quản lý theo các lọai chi khác nhau như:chi thường xuyên, chi xây dựng co bản,…
Dự báo thu và tài trợ NNNS: BOK cũng chia thành từng khoản mục thu khácnhau như: thu từ thuế, đi vay, bán trái phiếu chính phủ và các khoán thu khác
Để ban hành được Hướng dẫn lập dự toán, cơ quan chủ trì dự toán ngân sáchphải tổ chức nhiều cuộc thảo luận với các bộ và các đơn vị liên quan
Thẩm tra, thảo luận, phê chuẩn ở Quốc hội
Tổng thống đệ trình dự toán ngân sách vào đầu tháng 10 Quốc hội thẩm tra,thảo luận đi đến quyết định trong 2 tháng (từ 2/10 đến 2/12) theo trình tự: (i) Từ2/10 đến 2/11, các Uỷ ban của Quốc hội thẩm tra, chủ trì tổ chức các buổi thảo luận
dự toán ngân sách và những vấn đề còn tranh luận với các đảng trong Quốc hội; (ii)
Từ 2/11 đến 2/12, dự toán ngân sách được thảo luận tại Uỷ ban Đặc biệt về Ngân