1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

BỆNH TIM DO THIẾU MÁU CỤC BỘ (ISCHEMIC HEART DISEASE) Phần 2 21 / BỆNH NHÂN VỚI pot

16 372 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 145,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỆNH TIM DO THIẾU MÁU CỤC BỘ ISCHEMIC HEART DISEASE Phần 2 21 / BỆNH NHÂN VỚI CƠN ĐAU THẮT NGỰC KHÔNG ỔN ĐỊNH NÀO CÓ NGUY CƠ CAO NHẤT BỊ NHỒI MÁU CƠ TIM VÀ CẦN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TÍCH CỰC H

Trang 1

BỆNH TIM DO THIẾU MÁU CỤC BỘ

(ISCHEMIC HEART DISEASE)

Phần 2

21 / BỆNH NHÂN VỚI CƠN ĐAU THẮT NGỰC KHÔNG ỔN ĐỊNH NÀO CÓ NGUY CƠ CAO NHẤT BỊ NHỒI MÁU CƠ TIM VÀ CẦN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TÍCH CỰC HƠN ?

- Các bệnh nhân có hạ đoạn ST ( ST segment depression) tạm thời hay

cố định hoặc đảo ngược sóng T ( T wave inversion) đặc biệt khi những thay

đổi này xuất hiện trên V1 đến V3, và những bệnh nhân có nồng độ troponin

cao, là những bệnh nhân có nguy cơ cao nhất phát triển thành nhồi máu cơ

tim

- Tuổi trên 65, có bệnh sử động mạch vành, có 3 hoặc nhiều hơn các

yếu tố nguy cơ ( hút thuốc, cao huyết áp, đái đường, cao cholesterol, bệnh sử

Trang 2

gia đình), và cơn đau thắt ngực nghiêm trọng trong vòng 24 giờ trước đó,

cũng là những yếu tố làm tăng nguy cơ

- Các bệnh nhân này được nghĩ là có lợi nếu được điều trị nội khoa

tích cực hơn và được thông tim (catheterization) sớm

22/ CƠN ĐAU THẮT NGỰC KHÔNG ỔN ĐỊNH ĐƯỢC XỬ LÝ

Ở PHÒNG CẤP CỨU NHƯ THỂ NÀO?

- luôn luôn cho aspirin Các nghiên cứu chứng tỏ rằng kết hợp

clopidogrel với aspirin có thể làm giảm nguy cơ tử vong và nhồi máu cơ tim

tốt hơn là dùng aspirin đơn độc

- tất cả các bệnh nhân với cơn đau thắt ngực không ổn định nên được

điều tri với beta-blockers Nên bắt đầu điều trị này ở phòng cấp cứu

- đối với các bệnh nhân có cơn đau đang tiếp diễn, luôn luôn điều trị

với nitroglycerin Khởi đầu cho thuốc bằng đường dưới lưỡi (sublingual) và

sau đó cho bằng đường tĩnh mạch nếu không có tác dụng.Nitroglycerin là

thuốc đuợc ưa thích hơn khi bệnh nhân có cao huyết áp xảy ra đồng thời

- nên bắt đầu cho héparine Đối với những bệnh nhân có nguy cơ thấp

hoặc trung bình ( low-risk hay intermediate risk patients), héparine có thể

Trang 3

dành cho những bệnh nhân không đáp ứng với aspirin, nitrates và

beta-blockers Hiện tại người ta không rõ heparine trọng lượng phân tử thấp

(LMW heparin) có làm giảm nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hoặc tử vong tốt

hơn unfractionated heparin hay không

- các bệnh nhân có nguy cơ cao ( high-risk patients ) có lợi khi sử

dụng các tác nhân chống tiểu cầu bằng đường tĩnh mạch tirofiban hoặc

eptifibatide (glycoprotein IIB/IIIA) Abciximab không có hiệu quả trong hội

chứng động mạch vành cấp tính, mặc dầu thuốc này là thuốc bổ sung có hiệu

quả trong trường hợp tiến hành thủ thuật PTCA

- thêm calcium channel blockers khi các triệu chứng tái phát mặc dầu

đã cho aspirin, nitrates và beta-blockers Không bao giờ được sử dụng

dihydropyridines có thời gian tác dụng ngắn , như nifedipine mà không có

beta-blockers.Trong trường hợp cơn đau thắt ngực không ổn định việc sử

dụng nifedipine không có beta-blockers kèm theo làm gia tăng nguy cơ nhồi

máu cơ tim

23 / ĐIỀU TRỊ CƠN ĐAU THẮT NGỰC KHÔNG ỔN ĐỊNH KHÁC VỚI CƠN ĐAU THẮT NGỰC ỔN ĐỊNH MÃN TÍNH NHƯ THỂ NÀO ?

Trang 4

Bởi vì cơn đau thắt ngực ổn định mãn tính (chronic stable angina) là

do một sự bất quân bình giữa cung và cầu oxy của cơ tim nên điều trị nội

khoa trong cơn đau ngực cấp tính nhằm cố gắng làm giảm nhu cầu oxy của

cơ tim và làm gia tăng sự đẩy máu động mạch vành (coronary perfusion)

Điều trị bao gồm nitroglycerin, beta-blockers, và anticalcique

Cơn đau thắt ngực không ổn định (unstable angina) liên kết với một

quá trình tạo huyết khối hoạt động do vỡ một mảng xơ mỡ và với một tỷ lệ

bị nhồi máu cơ tim và tử vong cao hơn Do cần điều trị tăng cường chống

huyết khối cùng với điều trị chống thiếu máu cục bộ và theo dõi sát với

telemetry Nghỉ ngơi tại giường, oxy, dẫn xuất nitrés và beta-blockers làm

giảm các đợt thiếu máu cục bộ tái phát và sự phát sinh nhồi máu cơ tim

Anticalcique có hiệu quả trong việc làm giảm các triệu chứng nhưng không

ngăn ngừa nhồi máu cơ tim hoặc làm giảm tử vong trong hợp chứng này

Nifedipine có thời gian tác dụng ngắn được cho với liều cao có thể liên kết

với nguy cơ gia tăng bị nhồi máu cơ tim Aspirin, 160-325mg nên được cho

càng sớm càng tốt và sau đó được tiếp tục cho vô hạn định Nhiều thử

nghiệm đã chứng tỏ rằng aspirin làm giảm tỷ lệ mắc bệnh nhồi máu cơ tim

và tử vong khoảng 50% Clopidogrel, với liều tấn công 300mg rồi sau đó

liều duy trì 75mg mỗi ngày (được cho cùng với aspirin ) đã được chứng tỏ

làm giảm tỷ lệ mắc phải nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não và tử vong

Trang 5

Héparine tiêm tĩnh mạch, 70 đơn vị /kg rồi truyền tĩnh mạch liên tục 15 đơn

vị/kg/giờ nên được cho cùng với aspirin bởi vì kết hợp này có hiệu quả hơn

so với dùng riêng lẻ mỗi thứ thuốc

24/ ASPIRIN CÓ HIỆU QUẢ TRONG ĐIỀU TRỊ CƠN ĐAU THẮT NGỰC KHÔNG ỔN ĐỊNH KHÔNG?

Bằng cớ rõ rệt từ hai thử nghiệm lâm sàng, VA và Canadian

Cooperative , chỉ rõ rằng aspirin làm giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim xảy ra sau

đó và tỷ lệ tử vong nơi các bệnh nhân với cơn đau thắt ngực không ổn định

Cả tỷ lệ tử vong và nhồi máu cơ tim được giảm 50% nơi các bệnh nhân được

điều trị với aspirin.Mặt khác có ít bằng cớ hơn gợi ý một tác dụng có lợi của

aspirin trong cơn đau thắt ngực ổn định mãn tính

Điều trị chống kết tụ tiểu cầu (traitement antiagrégant plaquettaire) đã

chứng tỏ có hiệu quả trong điều trị nhồi máu cơ tim và cơn đau thắt ngực

không ổn định lên tỷ lệ tử vong lâu dài Aspirine phải được cho càng sớm

càng tốt Aspirine cản cyclooxygénase tiểu cầu trong vòng 30 phút

25/ CLOPIDOGREL CÓ NÊN KHUYÊN DÙNG NƠI CÁC BỆNH NHÂN VỚI CƠN ĐAU THẮT NGỰC KHÔNG ỔN ĐỊNH

Trang 6

HOẶC HỢP CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH CẤP TÍNH KHÔNG CÓ NÂNG CAO ĐOẠN ST ĐÃ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ VỚI ASPIRIN ?

- Đường lối chỉ đạo của AHA/ACC khuyên cho clopidogrel (Plavix)

nơi những bệnh nhân nhập viện vì hợp chứng động mach vành cấp tính

không có nâng cao đoạn ST, ngoài điều trị bằng aspirin.Thử nghiệm CURE

đã chứng tỏ các biến cố tim tái phát giảm đáng kể khi thêm clopidogrel vào

điều trị chuẩn bao gồm aspirin, beta blockers và statins

- Clopidogrel +Aspirin hiệu quả hơn là Aspirin đơn độc trong việc

giảm tử vong, nhồi máu cơ tim và đột quy nơi những bệnh nhân với cơn đau

thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim không nâng cao đoạn T

- Clopidogrel nên được thêm vào aspirin nơi tất cả các bệnh nhân với

cơn đau thắt ngực không ổn định hoặc NSTEMI

- Clopidogrel được khuyên sử dụng nơi các bệnh nhân bị dị ứng

aspirin và nơi các bệnh nhân với cơn đau thắt ngực không ổn định hoặc

NSTEMI được dự kiến làm PTCA

26/ PHÁC THẢO NHỮNG NÉT CHÍNH TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN VỚI NHỒI MÁU CƠ TIM VỚI NÂNG CAO ĐOẠN ST

Trang 7

Tiêu chuẩn điều trị hiện nay đối với bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim với

nâng cao đoạn ST ( hay xuyên thành ) gồm có điều trị với thuốc làm tan

huyết khối bằng đường tĩnh mạch ( iv thrombolytic therapy ) nơi tất cả các

bệnh nhân được nhập viện trong vòng 12 giờ kể từ khi khởi đầu triệu chứng

( nếu không có chống chỉ định ) Những chống chỉ định gồm có các rối loạn

xuất huyết, cao huyết áp nghiêm trọng không kiểm soát được (huyết áp

>180/120 mm Hg), bất cứ bệnh sử nào trước đây về một tai biến mạch máu

não, hồi sức tim phổi kéo dài (trên 10 phút) hoặc xuất huyết hoạt động do

loét dạ dày tá tràng hoặc từ những nguồn xuất huyết khác không thể đè ép,

hoặc di căn não được biết hoặc AVM hoặc phình mạch não

27/ NÓI RÕ CÁC CHỈ ĐỊNH CỦA LIỆU PHÁP TÁI TƯỚI MÁU (REPERFUSION THERAPY) TRONG NHỒI MÁU CƠ TIM

- Đoạn ST nâng cao hơn 1mm trong hai dérivation

- Cơn đau không đáp ứng ngay với nitroglycerin

- Cơn đau kéo dài dưới giờ Nơi nhiều bệnh nhân liệu pháp vẫn còn

có thể hữu ích 12 giờ sau khi khởi đầu con đau

28/ PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ TÁI TƯỚI MÁU NÀO ĐƯỢC

ƯA THÍCH TRONG NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP TÍNH ?

Trang 8

Điều trị tan huyết khối ( thrombolytic therapy ) so với phẫu thuật tạo

mạch nguyên khởi ( primary angioplasty ) : Phẫu thuật tạo mạch được thực

hiện tối ưu trong nhồi máu cơ tim cấp tính có lẽ làm giảm tỷ lệ tử vong với

mức độ lớn hơn so với điều trị tan huyết khối Phẫu thuật tạo mạch nguyên

khởi có thêm ưu thế là tỷ lệ tái tắc nghẽn thấp hơn trong vài ngày sau đó và

có lẽ nguy cơ xuất huyết não thấp hơn.Vấn đề là ở chỗ những nghiên cứu

trong bối cảnh cộng đồng cho thấy rằng phẫu thuật tạo mạch thường không

được thực hiện một cách tối ưu.Trừ phi có một toán lành nghề trong phòng

thông tim có thể thực hiện phẫu thuật tạo mạch trong vòng dưới 2 giờ từ khi

bắt đầu các triệu chứng, bằng không thì điều trị tan huyết khối có lẽ được ưa

thích hơn

Chọn điều trị tan huyết khối : công trình nghiên cứu GUSTO đã so

sánh streptokinase và t-PA (tissue plasminogen activator) trong điều trị nhồi

máu cơ tim cấp tính và đã nhận thấy tỷ lệ tử vong với t-PA thấp hơn ( 7,3%

so với 6,3% ).Tuy nhiên nhiều người đã lý luận rằng sự giảm bé nhỏ tỷ lệ tử

vong này không đáng phải dùng thuốc t-PA phí tổn cao hơn nhiều Ở Hoa

Kỳ, t-PA đã trở nên thuốc được ưa chuộng nhất, nhưng sự sử dụng thuốc này

không phải phổ biến

Trang 9

29 / ĐIỀU TRỊ ĐƯỢC ƯA THÍCH TRONG TRƯỜNG HỢP SỐC

DO TIM ?

Điều trị duy nhất được chứng tỏ làm giảm tỷ lệ tử vong cao do hợp

chứng này là phẫu thuật tạo mạch nguyên khởi ( primary angioplasty ).Thủ

thuật này nên được tiến hành không trì hoãn.Trường hợp ngoại lệ là sốc do

tim ( cardiogenic shock ) gây nên bởi nhồi máu tâm thất phải (right

ventricular infarction).Trường hợp này nên được nghi ngờ khi sốc đi kèm

với nhồi máu cơ tim thành dưới cấp tính ( acute inferior infarction ) Sự hiện

diện của căng tĩnh mạch cổ ( jugular venous distention ) là chìa khóa quan

trọng của chẩn đoán hợp chứng sốc do tim và truyền dịch làm gia tăng thể

tích ( volume expansion ) thường hủy bỏ hạ huyết áp

30 / ĐIỀU TRỊ SỚM SAU NHỒI MÁU CƠ TIM BẰNG THUỐC LÀM TAN HUYẾT KHỐI CÓ LÀM GIẢM NGUY CƠ TỬ VONG KHÔNG ?

Hiệu quả của điều trị tan huyết khối bằng đường tĩnh mạch ( iv

thrombolytic therapy ) đã được xác lập rõ.Trong thử nghiệm GSSI được

công bố năm 1986, 11.806 bệnh nhân với nhồi máu cơ tim cấp tính đến

trong vòng 12 giờ kể từ lúc bắt đầu triệu chứng được điều trị với

streptokinase bằng đường tĩnh mạch và bằng placebo Tỷ lệ tử vong giảm

Trang 10

đáng kể nơi những bệnh nhân được điều trị bằng streptokinase trong vòng 6

giờ đầu Quan trọng nhất là có một sự giảm đáng chú ý 50% tỷ lệ tử vong

bệnh viện nơi những bệnh nhận được điều trị trong vòng 1 giờ từ lúc bắt đầu

triệu chứng Những thử nghiệm lâm sàng tiếp theo sau đó với những thuốc

làm tan huyết khối gồm có streptokinase (SK), t-PA (activase), r-PA

(retavase) và thuốc mới nhất TNK-t PA (tenectaplase) xác nhận sự cải thiện

tỷ lệ sống sót với điều trị tan huyết khối nơi các bệnh nhân với nhồi máu cơ

tim cấp tính với nâng cao đoạn ST

31 / TÓM TẮT NHỮNG LỢI ÍCH CỦA ĐIỀU TRỊ TAN HUYẾT KHỐI

Điều trị tan huyết khối ( thrombolysis ) là phép trị liệu dược học cứu

mạng có hiệu quả nhất trong bệnh nhồi máu cơ tim Cách điều trị này cứu

được 40 mạng người cho mỗi 1000 bệnh nhân được điều trị và làm giảm

khoảng 25% tỷ lệ tử vong trong 30 ngày và 1 năm Những bệnh nhân đến

trước 12 giờ kể từ khi bắt đầu triệu chứng có thể thu được lợi ích từ phép trị

liệu tan huyết khối này

32 / LIỆT KÊ NHỮNG CHỐNG CHỈ ĐỊNH CỦA ĐIỀU TRỊ TAN HUYẾT KHỐI (THROMBOLYTIC THERAPY)

Trang 11

CÁC CHỐNG CHỈ ĐỊNH :

- xuất huyết tích cực

- phẫu thuật hoặc chấn thương quan trọng 3 tuần trước đó

- phẫu thuật ngoại thần kinh hoặc đột quy 3 tháng trước đó

- hồi sức tim phổi (CPR) kéo dài ( > 10 phút ) hoặc gây chấn thương

- cao huyết áp ( thu tâm >180 mmHg; trương tâm >110 mmHg )

CÁC CHÔNG CHỈ ĐỊNH TƯƠNG ĐỐI :

- chấn thương và phẫu thuật quan trọng cách nay hơn 3 tuần

- phẫu thuật ngoại thần kinh hoặc đột quy cách nay hơn 3 tháng

- loét dạ dày tá tràng hoạt động

- bệnh nhãn khoa xuất huyết, đặc biệt là bệnh võng mạc do đái đường

(diabetic retinopathy)

Những bệnh nhân được biết có dị ứng với streptokinase hay

anisoylated plasminogen streptokinase activator complex (APSAC) nên

được điều trị với một thứ thuốc khác Việc tiếp xúc với streptokinase hay

Trang 12

APSAC trong 6 tháng trước hoặc nhiễm trùng streptococcus trong 6 tháng

trước là những lý do để sử dụng một thứ thuốc khác

33 / NHỮNG CHẨN ĐOÁN KHÁC NÀO NÊN ĐƯỢC XÉT ĐẾN TRƯỚC KHI ĐIỀU TRỊ TAN HUYẾT KHỐI ?

Phẫu tích động mạch chủ ( aortic dissection) và viêm màng ngoài tim

(pericarditis) có thể có triệu chứng giống với nhồi máu cơ tim Cả hai bệnh

này đã có những tiên lượng chết người khi thuốc làm tan huyết khối (

thrombolytics ) được cho

Phẫu tích động mạch chủ có thể được loại trừ với một bệnh sử kỹ

càng, khám mạch ngoại biên và chụp hình phổi.Viêm màng ngoài tim có thể

loại bỏ bằng cách thính chẩn kỹ để tìm một tiếng cọ ( rub, frottement ) và

thực hiện điện tâm đồ tìm sự nâng cao của đoạn ST với đặc điểm mặt lõm

hướng lên trên ( concave-upward ) và xuất hiện trên tất cả dérivations

34 / NGUY CƠ BIẾN CHỨNG TỬ VONG NÀO TRONG ĐIỀU TRỊ TAN HUYẾT KHỐI CỦA NHỒI MÁU CƠ TIM

Tỷ lệ tử vong, luôn luôn do xuất huyết não, xảy ra nơi 0,5% các bệnh

nhân được điều trị

Trang 13

35 / LOẠN NHỊP TIM DO TÁI ĐẨY MÁU (REPERFUSION ARRHYTHMIAS) LÀ GÌ ?

Khoảng 45 phút sau khi bắt đầu cho thuốc làm tan huyết khối, lưu

lượng máu được khôi phục nơi hầu hết các bệnh nhân Biến cố này có thể

được kèm theo bởi loạn nhịp (arrhythmia), đặc biệt là nhịp tim nhanh thất

(ventricular tachycardia) hoặc nhịp tâm thất tự phát gia tốc (accelerated

idioventricular rhythm) Ở những bệnh nhân với nhồi máu cơ tim thành dưới

(inferior MI), nhịp xoang tim chậm (sinus bradycardia ) hoặc bloc tim có thể

xảy ra Những rối loạn nhịp này là tạm thời (thường kéo dài < 30 giây) Sự

tái đẩy máu (reperfusion) có thể được kèm theo một sự gia tăng cơn đau

trong một thời gian ngắn ngủi

36 / NHỮNG THUỐC HỔ TRỢ HỮU ÍCH KHÁC CHO ĐIỀU TRỊ TAN HUYẾT KHỐI ?

MORPHINE : Nhồi máu cơ tim có thể gây đau đớn và rất lo sợ và lo

âu Morphine tiêm tĩnh mạch nên cho với những liều lượng nhỏ 2 đến 4mg

để làm giảm những triệu chứng này

ASPIRIN : Aspirin nên cho ngay tức khắc bởi vì thuốc làm giảm tỷ lệ

tử vong độc lập với điều trị tan huyết khối

Trang 14

BETA-BLOCKERS : được cho bằng đường tĩnh mạch trong khi điều

trị tan huyết khối, metoprolol, atenolol, hoặc esmolol làm giảm tỷ lệ tử vong

và kích thước của nhồi máu hơn nữa Beta-blockers được dung nạp tốt hơn

là người ta tưởng và ít được sử dụng

HEPARIN : Với rtPA, việc cho heparin là bắt buộc ít nhất 1 giờ trước

khi truyền xong thuốc làm tan huyết khối Với streptokinase hoặc APSAC,

việc cho heparin nên hoãn lại 4 đến 6 giờ sau khi truyền xong thuốc Hiện tại

có tranh cãi về việc cho heparin với trọng lượng phân tử thấp có ưu thế hơn

heparin chuẩn (unfractionated) để làm giảm tái phát

NITROGLYCERIN : nếu cần hạ huyết áp, nitroglycerin là thuốc

được lựa chọn

37 / CÁC LOẠN NHỊP TIM XẢY RA TRONG NHỒI MÁU CƠ TIM ?

Tính dễ bị kích thích của tâm thất (ventricular irritability), với co bóp

tâm thất sớm và thường xuyên, nhip nhanh tâm thất không duy trì

(nonsustained ventricular tachycardia) và rung thất (ventricular fibrillation)

có thể xảy ra và nên được điều trị với lidocaine Nhip nhanh tâm thất duy trì

(sustained ventricular tachycardia) (kéo dài trên 30 giây) là ít xảy ra trong

Ngày đăng: 13/07/2014, 20:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w