1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tổ chuc hoạt động dạy học với các thí nghiệm vật lí tự làm

11 595 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 95,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VỚI CÁC THÍ NGHIỆMVẬT LÍ TỰ LÀM Ở TRƯỜNG THCS A- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI I - Cơ sở lí luận: - Trong dạy học vật lí các thiết bị dạy học như: Bảng biểu, tranh vẽ, mô h

Trang 1

ĐỀ TÀI: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VỚI CÁC THÍ NGHIỆM

VẬT LÍ TỰ LÀM Ở TRƯỜNG THCS

A- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

I - Cơ sở lí luận:

- Trong dạy học vật lí các thiết bị dạy học như: Bảng biểu, tranh vẽ, mô hình, thí nghiệm,… được sử dụng không chỉ minh họa kiến thức, lời giảng của giáo viên mà chủ yếu là nguồn tri thức, là phương tiện để học sinh khai thác tìm tòi, phát hiện, chiếm lĩnh tri thức

- Nhưng thí nghiệm vật lí đóng một vai trò và vị trí rất quan trọng trong việc dạy và học môn vật lí trong trường THCS

II - Cơ sở khoa học:

- Do tính trực quan, thí nghiệm vật lí có chức năng kích thích cho quá trình

tư duy của học sinh và là phương tiện hỗ trợ cho sự phát triển tư duy và nhận thức của học sinh

- Khi học sinh được tham gia trực tiếp vào thực hành thí nghiệm là đã tạo môi trường và điều kiện để học sinh được làm việc, rèn luyện, sáng tạo, tăng hiệu quả của quá trình học tập

- Hiện nay, việc khai thác lựa chọn và sử dụng các thí nghiệm vật lí trong dạy học đang được phát triển theo nhiều hướng khác nhau, trong đó ta có thể quy về

ba hướng chính: Khai thác và sử dụng thí nghiệm ngày càng hiện đại; Khai thác và

sử dụng thí nghiệm tự làm (vật liệu rẻ tiền, dể tìm); Phối hợp thí nghiệm hiện đại và thí nghiệm tự làm

- Việc cải cách thay SGK được tiến hành đại trà bắt đầu từ năm học

2002-2003 với mục đích là đổi mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học Song việc đổi mới nội dung phương pháp giảng dạy và quá trình tích cực hóa của học sinh trong học tập vật lí không thể tách rời với việc tổ chức thí nghiệm vật lí trong hoạt động học tập vật lí Tronng bối cảnh trên để

có các thiết bị dụng cụ thí nghiệm phù hợp, ngoài các thiết bị được trang bị trong nhà trường thì việc phát huy thiết kế các thí nghiệm tự làm (TNTL) là hết sức cần thiết

III – Cơ sở thực tiễn:

- Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh THCS là rất hiếu động, các em luôn luôn có sự tìm tòi sáng tạo trong học tập nhằm tìm ra những tri thức khoa học mới cho bản thân Bên cạnh đó việc học tập và nghiên cứu môn vật lí ở trường THCS đòi hởi phải có các dụng cụ thí nghiệm, mà hiện nay các thiết bị, dụng cụ thí nghiệm của bộ môn còn rất hạn chế không đủ đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh

- Mặt khác ở các trường vùng sâu, vùng xa thì trang thiết bị phục vụ cho dạy và học lại càng gặp nhiều khó khăn

- Chính vì ba cơ sở trên, nhất là tình hình thực tế ở địa phương nông thôn hiện nay việc thiếu dụng cụ thí nghiệm diễn ra rất thường xuyên, mà các nguyên vật

Trang 2

liệu ở địa phương lại rất nhiều và rất phong phú ta có thể dễ dàng tìm kiếm được và

có thể tạo ra một số thí nghiệm đơn giản, vừa giải quyết được tình trạng thiếu trang thiết bị như hiện nay ở vùng nông thôn, vừa giải quyết được các vấn đề sư phạm hiện nay Điều này đã làm tôi băng khoăn suy nghĩ và tôi đã mạnh dạng thực nghiệm một số phương pháp: “Tổ chức hoạt động với các thí nghiệm vật lí tự làm ở trường trung học cơ sở” và đã đem lại một số hiệu quả đáng kể

Đây chính là lí do tôi chọn đề tài nghiên cứu trên trong quá trình giảng dạy của mình

Trang 3

B – NỘI DUNG ĐỀ TÀI

I – ĐẶT VẤN ĐỀ:

- Những TNTL là những thí nghiệm đơn giản, có hình thức gọn nhẹ, dễ lắp ráp nên giáo viên và học sinh có thể tự chế tạo và lắp ráp mọi lúc mọi nơi

- Mặt khác các nguyên vật liệu của TNTL dễ kiếm, rẻ tiền nên có thể triển khai rộng rải cho học sinh tham gia vào việc tự làm thí nghiệm

- Do TNTL có những đặc điểm trên nên nó có một vai trò quan trọng và đã dáp ứng được các yêu cầu dạy – học vật lí ở trường THCS như sau:

+ Nhờ TNTL mà các khó khăn về cơ sở vật chất được giải quyết phần nào, vì vậy người dạy chủ động hơn trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với mục tiêu và nội dung của từng bài học Đặc biệt TNTL giúp cho giáo viên và học sinh có điều kiện nghiên cứu vật lí theo phương pháp thực nghiệm

và phương pháp mô hình hóa

+ TNTL giúp học sinh có điều kiện rèn luyện kỹ năng cơ bản, có thói quen của việc học tập vật lí mọi lúc mọi nơi

+ TNTL giúp hình thành sự hứng thú của học sinh

+ TNTL giúp học sinh có điều kiện thu thập và xử lí thông tin nhanh hơn

+ TNTL giúp học sinh chủ động nêu lên các thắc mắc, các câu hỏi và những suy nghỉ của mình khiến học sinh bowys rụt rè và mạnh dạn tự tin hơn trong học tập và nghiên cứu vật lí, mặt khác kích thích hoạt động sáng tạo của học sinh

+ TNTL giúp giáo viên tổ chức được các hoạt động học tập tập thể, rèn cho học sinh có ý thức hơn trong làm việc cộng đồng

+ TNTL kích thích học sinh hoạt động ngoài giờ học biến đổi cách học thụ động của học sinh thành quá trình học tích cực

+ TNTL giúp học sinh vận dụng được các kiến thức vật lí vào cuộc sống để giải quyết các vấn đề cơ bản, đơn giản

+ TNTL phụ vụ cho nhu cầu về vui chỏi, giải trí, học tập,… của học sinh

+ TNTL giúp có ý thức tiết kiệm, bảo vệ môi trường và ý thức vươn lên trong cuộc sống

- Các thí nghiệm vật lí tự làm ở trường THCS có thể chia thành các nhóm sau:

Thí nghiệm chế tạo dụng cụ đo: Chế tạo lực kế, chế tạo cân Rôbécvan, chế tạo nhiệt

kế khí, chế tạo cân đòn, …

Thí nghiệm nghiên cứu các hiện tượng vật lí: Thí nghiệm về hiện tượng đối lưu, thí nghiệm chứng minh lực đầy Acsimet trong lòng chất lỏng, thí nghiệm chứng tỏ sự tồn tại của áp suất khí quyển, thí nghiệm chứng tơ âm thanh không thể truyền qua môi trường chân không, …

Trang 4

II – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 – Một số thí nghiệm vật lí tự làm trong chương trình vật lí cấp trung học cơ sở:

a – Thí nghiệm chế tạo dụng cụ đo:

Mục đích của loại hình thí nghiệm này là chế tạo các dụng cụ đo phục

vụ cho học tập và nghiên cứu vật lí Các dụng cụ đo có thể là:

- Các dụng cụ mà trong chương trình có yêu cầu nhưng trong phòng thí nghiệm không có

- Các dụng cụ nhằm cải tiến, bổ sung các thiết bị của phòng thí nghiệm để thuận tiện hơn trong việc thao tác các thí nghiệm vật lí

- Các dụng cụ không nằm trong chương trình học, nhưng có thể giúp học sinh tự nghiên cứu, mở rộng thêm kiến thức

Để chế tạo các dụng cụ đo học sinh thực hiện theo hai bước sau:

- Tìm kiếm nguyên vật liệu, gia công chế tạo

- Xác định giới hạn đo và độ chia nhỏ nhất của dụng cụ đo Muốn vậy sau khi gia công chế tạo xong, giáo viên dùng các dụng cụ đo mẫu hướng dẫn học sinh vạch chia các vạch trên thang đo

Ví dụ: Chế tạo lực kế.

Mục đích: Trong chương trìng vật lí 6, lực kế dùng để đo lực, đo trọng lượng và khối

lượng của vật Vì vậy lực kế là một dụng cụ cơ bản để nghiên cứu phần co học Thí nghiệm này nhằm hướng dẫn học sinh tự chế tạo lực kế bằng các dụng cụ dễ tìm

Vật liệu: Dây may so (thường dùng làm dây điện trở của bếp điện), vỏ ống mực (loại

viết thường dùng viết bảng)

Tiến hành: - Dùng cưa sắt rạch một đường dài khoảng 8cm, rộng khoảng 0,5mm từ

phía đầu trên của ống bút đến cách đầu của bút khoảng 5cm

- Cắt dây may so một đoạn khoảng 5cm Đầu trên của dây may so gắn với nắp bút Đầu dưới gắn vào một sợi dây thép uốn hình chữ U để treo vật cần đo Gắn một mẫu thép nhỏ làm kim chỉ thị Gắn một móc treo vào nắp bút

- Luồn cả hệ thống vào trong ống viết, sao cho kim chỉ thị có thể trượt trên khe

- Dùng lực kế mẫu để khắc các độ chia trên thân viết

Ý nghĩa sư phạm của thí nghiệm chế tạo lực kế: Thí nghiệm giúp học sinh rèn luyện

kĩ năng cắt, dán, cưa… Học sinh biết xác định GHĐ và ĐCNN của lực kế Thông qua thí nghiệm giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh thế nào là mẫu đo chuẩn ở các cấp quốc tế, quốc gia Học sinh có cơ hội thảo luận, tìm kiếm các phương án cải tiến cấp độ chính xác của lực kế

b – Thí nghiệm nghiên cứu các hiện tượng vật lí:

Mục đích của loại thí nghiệm này nhằm: Quan sát các hiện tượng vật lí; Thu thập các thông tin từ quan sát, đo đạc; Phát hiện, khảo sát các quy luật, định luật vật lí ở mức độ đơn giản; Mô phỏng, xây dựng các mô hình vật chất

Do yêu cầu của chương trình THCS mà các thí nghiệm này thiên về nghiên cứu định tính các hiện tượng vật lí hơn là định lượng

Ví dụ: Thí nghiệm chứng minh lực đẩy Ác-si-met đối với chất lỏng:

Trang 5

Mục đích: Giúp HS thấy một cách trực quan khi thể tích của vật nhúng chìm trong

chất lỏng tăng thì lực đẩy Ác-si-met tăng theo, khiến vật càng bị đẩy lên mặt nước, tránh cho Hs thương nhằm tưởng lực đẩy Ác-si-met tỉ lệ với trọng lượng riêng của vật nhúng chìm trong chất lỏng

Vật liệu: Bong bóng, ống tiêm, van xe đạp, vật nặng, ống dây nhựa (có thể lấy ống

dây truyền nước biển trong y tế)

Tiến hành: - Buộc van xe đạp vòa bong bóng sao cho không khí chỉ có thể đi vào mà

không đi ra

- Buộc vật nặng vào van để giữ quả bóng chìm trong nước

- Nối van với kim tiêm bằng ống dây nhựa

- Từ từ bơm không khí vào quả bóng Khi quả bóng nở ra thì quả bóng lại

đi lên, chứng tỏ rằng lực đẩy Ác-si-met tỉ lệ với phần thể tích của quả bóng

- Có thể điều chỉnh một lượng không khí phù hợp thì quả bóng sẽ lơ lửng trong nước

Ý nghĩa sư phạm của thí nghiệm chế tạo lực kế: Từ thí nghiệm này, Gv có thể mở

rộng cho HS một số ứng dụng trong thực tế, mô phỏng cách trục vớt một con tàu bị chìm;HS dễ nhận biết lực đẩy Ác-si-met tăng lên khi thể tích cuae vật tăng

Ví dụ: Công biến đổi thành nhiệt:

Mục đích: Thí nghiệm dùng để minh họa sự chuyển hóa giữa công cơ học và nhiệt

trong chương trình vật lí 8

Vật liệu: Dây thép, cây nến.

Tiến hành: - Lúc đầu ấn sợi dây thép vào thân nến để cắt cây nến thành đôi

- Uốn sợi thép nhiều lần sau đó lại ấn dây thép vào cây nến, lần này ta thấy cây nến dễ bị cắt hơn vì lúc này thép có nhiệt độ cao làm chảy nến

Ý nghĩa sư phạm của thí nghiệm chế tạo lực kế: Thí nghiệm này rất đơn giản, dễ

làm, tốn ít thời gian nên mọi HS có thể tiến hành ngay tại lớp; Thông qua thí nghiệm

HS sẽ nhận thấy rỏ hơn sự chuyển hóa năng lượng trong quá trình Cơ – Nhiệt

c- Thí nghiệm để giải trí thư giãn:

Ngoài việc phụ vụ cho học tập thì các TNTLa có thể còn đáp ứng cho nhu cầu vui chơi giải trí trong đời sống như: Ảo thuật, âm nhạc, nghệ thuật…

Ví dụ: Thí nghiệm tạo bóng trên tường:

Mục đích: Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng để tạo ra bóng ở trên

tường Đó có thể là các hình tĩnh hoặc hình động

Tiến hành: Thắp ngọn đèn trong phòng tối dùng hai bàn taytạo thành các kiểu dáng

khác nhau để hiện ra trên tường như bóng các con vật, các bong hoa, hay các hình dạng khác…

Ý nghĩa sư phạm của thí nghiệm chế tạo lực kế: Giúp HS hiểu rỏ hơn định luật

truyền thẳng của ánh sáng từ đó các em có thể vận dụng để giải thích các hiện tượng đơn giản khác

Ví dụ: Thí nghiệm chế tạo nhạc cụ:

Mục đích: Vận dụng baig “Độ cao của âm” trong chương trình vật lí 7 để chế tạo

nhạc cụ

Vật liệu: 16 chai như nhau, dây treo, 2 thanh dài 1,5m.

Trang 6

Tiến hành: Đổ nước vào các chai sao cho mực nước trong các chai khác nhau Dùng

thước gõ nhẹ vào các chai ta sẽ nghe thấy âm phát ra khác nhau Dùng đàn ghi-ta phát ra các âm chuẩn, thêm hoặc bớt nước trong chai để có âm giống với tiếng đàn Như vậy ta đã tạo ra một nhạc cụ có khả năng chơi các bản nhạc đơn giản

Tóm lại: Qua các thí nghiệm trên đây có thể khẳng định rằng với các vật liệu

đơn giản, dễ tìm kiếm trong cuộc sống hằng ngày, các TNTL có thể đáp ứng nhiều yêu cầu khác nhau trong giảng dạy vật lí

2 – Một số phương án tổ chức hoạt động dạy học vật lí với TNTL:

a – Phương án 1: Cá nhân tiến hành tại chỗ, trong giờ học.

Các thí nghiệm được thực hiện tại chỗ ngồi trong lớp học mà không cần tổ chức lại lớp học, mọi học sinh đều có thể thực hiện thí nghiệm Các thí nghiệm này thường rất đơn giản, dụng cụ dễ tìm, có thể lấy ngay các dụng cụ học tập của học sinh như bút, giấy, thước,… Thời gian để tiến hành thí nghiệm không lâu, chỉ kéo dài vài phút, do đó giáo viên có thể tiến hành xen kẽ trong giơ học.Thao tác thí nghiệm đơn giản, không nguy hiểm, không mất nhiều thời gian Học sinh dễ dàng lấy dụng cụ thí nghiệm ra và sau khi tiến hành thí nghiệm xong thì cũng dễ dàng cất đi để tiến hành thí nghiệm nhiều lần trong giờ học Do tính linh động của thí nghiệm nên tác dụng chính của thí nghiệm là đặt vấn đề gợi mở, kích thích hứng thú của học sinh ngay đầu giờ học, kiểm tra nhanh định tính của vấn đề, một giả thuyết hay một định luật vật lí nào đó, dùng để củng cố hoặc vận dụng kiến thức ngay trong tiết học Vi dụ: Thí nghiệm về sự nhiễm điện do cọ xát (vật lí 7); Thí nghiệm do độ dài (Vật lí 6); Thí nghiệm về sự chuyển hóa từ cơ năng sang nhiệt năng (cọ sát hai bàn tay vào nhau – Bài 21 vật lí 8);…

b – Phương án 2: Tổ chức thí nghiệm theo từng cặp học sinh.

- Đây là tình hướng hai học sinh ngồi gần nhau tiến hành thí nghiệm

để giải quyết vấn đề do giáo viên nêu ra Phương án này thường được sử dụng trong các trường hợp sau:

- Các thí nghiệm đòi hỏi phải có hai học sinh mới thực hiện được Ví dụ: Khi đo lực, một em giữ lực kế, em kia đọc và ghi nhận thông tin,…

- Trao đổi thông tin để có một hệ thống thông tin đầy đủ, chẳng hạn học sinh A nắm một số thông tin này, học sinh B nắm một số thông tin khác Sau đó, hai học sinh cùng tiến hành thí nghiệm, hợp tác nhau, chia sẻ các thông tin có được thì mới thu được thông tin đầy đủ Ví dụ: Để xác định trọng lượng riêng của một vật Nếu HS A đã xác định được khối lượng của vật thì HS B phải xác định được thể tích của vật Nếu HS A đã xác định được khối lượng riêng của vật thì HS B phải biết cách tính toán, xử lí để có trọng lượng riêng của vật…

- Các thí nghiệm này không đòi hỏi phải tổ chức lại lớp học, chỉ ghép hai học sinh ngồi gần nhau, việc thành lập nhóm đôi không mất nhiều thời gian, phù hợp với cơ sở vật chất của trường lớp hiện nay

c- Phương án 3: Tổ chức thí nghiệm theo nhóm

 Lớp học được chia thành các nhóm, mỗi nhóm khoảng bốn đến sáu em:

Trang 7

- Phân công theo vị trí chỗ ngồi trong lớp học: Một số HS ngồi ở vị trí gần nhau hình thành nhóm ngay trong giờ học, có thể học sinh ngồi cùng bàn hoặc hai bàn đối diện quay mặt vào nhau Phương án này có thuận lợi là linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu tức thời đòi hỏi học tập theo nhóm nảy sinh theo yêu cầu của các tình huống sư phạm

- Phân theo địa bàn địa lí: Các Hs có nhà gần nhau tạo thành một nhóm học tập với cách phân công này, sẽ có thuận lợi khi tiến hành thí nghiệm ở nhà, học sinh dễ thường xuyên gặp nhau và trao đổi với nhau hơn

- Phân theo năng lực của học sinh: Mục ích là tạo sự hài hòa giữa các thành viên trong nhóm như tỉ lệ nam, nữ; tỉ lệ học sinh khá, giỏi, yếu; tỉ lệ học sinh coa năng lực tổng hợp… cách phân công này phù hợp nếu các nhóm tiến hành cùng nội dung sau đó dùng kết quả thí nghiệm của các nhoma để phân tích, tổng hợp, so sánh…

 Về thời điểm và tổ chức các thí nghiệm theo nhóm:

- Hình thành nhóm ngay trong quá tringf học tập Mỗi học sinh phải chuẩn bị tốt và đầy đủ các thiết bị thí nghiệm, khi đến lớp tùy theo yêu cầu của giáo viên để mà hình thành các nhóm khác để thích ứng với những tình huống học tập khác nhau của lớp học

- Học sinh chuẩn bị dụng cụ ở nhà sau đó đến lớp học sinh sẽ lắp ráp dụng cụ dưới sự hướng dẫn của giáo viên để tạo thành một bài thí nghiệm hoàn chỉnh Như thế trong mỗi nhóm phải có sự phân công cụ thể và rỏ ràng để tránh sự thụ động

 Một số khó khăn khi tổ chức tiến hành theo nhóm

- Bàn ghế hiện nay không phù hợp với việc học nhóm, khó di chuyển, mặt bàn bị nghiên… do vậy khi chuyển đổi sang thí nghiệm theo nhóm mất khá nhiều thời gian

- Sĩ số học sinh hiện nay quá cao có lớp lên đến 40 em, nếu ta chia mỗi nhóm 5 HS thì có đến 8 nhóm do đó giáo viên không bao quát kiểm soát được lớp học Mặt khác do mật độ học sinh nhiều, không gian của phòng học khá chật hẹp, vì vậy HS khó xoay sở, dễ đụng chạm khiến thí nghiệm khó thành công, thậm chí còn gây nguy hiểm, dễ đổ vỡ

- Hầu hết các trường chưa có phòng bộ môn, do đó thiếu các điều kiện đáp ứng ngay tại chỗ một số nhu cầu phát sinh trong quá trình làm thí nghiệm: nước, nguồn điện,…

 Một số biện pháp khắc phục khó khăn khi tổ chức tiến hành theo nhóm

- Chọn lọc các thí nghiệm khả thi, đơn giản, không đòi hỏi phải tiến hành nhiều thao tác

- Cần có sự chuẩn bị chu đáo trước ở nhà

- Có thể phân công các thành viên tiến hành thí nghiệm xoay vòng, không nhất thiết mọi học sinh đều tiến hành cùng một nội dung như nhau

d – Phương án 4: Ghép nhóm để thực hiện các thí nghiệm.

Trang 8

- Trong phương án này, tổ chức các nhĩm cĩ tính luân chuyển, khơng cố định Các nhĩm sẽ thay đổi cơ cấu số lượng để phù hợp với yêu cầu học tập mới

Ví dụ: GV chia lớp thành nhiều nhĩm tùy theo nội dung bài, mỗi nhĩm gồm ba thành viên Nhĩm 1 gồm ba thành viên mang số 111 tiến hành thí nghiệm để giải quyết vấn đề 1; Nhĩm 2 gồm ba thành viên mang số 222 tiến hành thí nghiệm để giải quyết vấn đề 2; Nhĩm 3 gồm ba thành viên mang số 333 tiến hành thí nghiệm để giải quyết vấn đề 3;… Sau đĩ một thành viên của nhĩm 1 ghép với một thành viên của nhĩm 2 và một thành viên của nhĩm 3 để tạo thành một nhĩm 123 cĩ đủ thơng tin để giải quyết vấn đề

Ví dụ: Nhĩm 1 nghiên cứu thí nghiệm sự nở vì nhiệt của chất răn Nhĩm 2 nghiên cứu thí nghiệm sự nở vì nhiệt của chất lỏng Nhĩm 3 nghiên cứu thí nghiệm sự nở vì nhiệt của chất khí

- Sau đĩ mỗi thành viên của các nhĩm sẽ hợp lại để cùng phân tích, so sánh tìm các ứng dụng của sự nở vì nhiệt của các chất

- Phương án này phù hợp cho việc tổ chức giờ thực hành, ơn tập, củng cố kiến thức, đặc biệt là khắc phục được tình hình thiếu trang thiết bị như hiện nay

Trên đây là một số phương án tổ chức dạy học vật lí với các TNTL mà ta cĩ thể áp dung được trong tình hình thực tế ở địa phương hiện nay Tuy nhiên các phương án trên vẫn cịn nhiều hạn chế như lớp học khơng đủ rộng, số lượng học sinh trong một lớp khá đơng, học sinh cịn xa lạ với các thí nghiệm, tính chủ động sáng tạo chưa cao,…

Sau đây tơi xin giới thiệu một giáo án tham khảo khi tổ chức hoạt động dạy học với các thí nghiệm vật lí tự làm

SỰ NHIỄM ĐIỆN DO CỌ XÁT – HAI LOẠI ĐIỆN TÍCH – SGK Vật lí 7

Mục tiêu:

HS nhận biết rỏ được khi các vật cọ xát lẫn nhau thì gây nên hiện tượng nhiễm điện Nhận biết được hiện tượng nhiễm điện

Chuẩn bị:

Mỗi HS chuẩn bị thước, bút nhựa, mảnh nhựa pơliêtilen lấy từ các bao bì hoặc bìa bao vở, giấy vụn nhỏ, khăn mùi soa, mảnh vải khơ

Hoạt động dạy – học:

Hoạt động 1:

Đặt vấn đề và kiểm tra mức hiểu biết của học sinh trước khi tiếp nhận tri thức mới:

GV: Yêu cầu HS bằng kinh nghiệm sống của mình hãy nêu lên một số hiện tượng liên quan đến hiện tượng nhiễm điện mà Hs đã tường biết hoặc nghe nĩi

HS: Cĩ thể nêu lên các hiện tượng tự nhiên cĩ liên quan đến sự nhiễm điện như: sấm, sét,…

GV: Từ các câu trả lời của HS đặt vấn đề cho bài học hơm nay là Chúng ta cĩ thể tạo ra sự nhiễm điện ngay trong lớp học bằng các dụng cụ hết sức đơn giản mà ta cĩ.

Trang 9

Hoạt động 2:

Cá nhân tiến hành thios nghiệm để tạo ra hiện tượng nhiễm điện do cọ xát (thực hiện theo phương án 1)

HS:Mỗi HS dùng khăn chà xát vào thước nhựa sau đó cho thước nhựa hút các mảnh giấy vụn

GV: Khi cụ xát, thì thước nhựa có tính chất gì?

HS: Hút được các mảnh giấy vụn

GV: Hiện tượng thước nhựa hút được các mảnh giấy vụn như trên người ta nói thước nhựa đã bị nhiễm điện

(Có thể xảy ra trường hợp như sau: Có loại thước nhựa tuy đã được cọ xát rất mạnh, nhưng vẫn không hút được các mảnh giấy vụn Lúc này GV không nên trả lời tình huống trên mà hướng dẫn HS tự làm thí nghiệm để giải quyết vấn đề trên)

GV: Cho HS thực hiện lại thí nghiệm với tấm pôliêtilen rồi nhận xét

HS: Mảnh pôliêtilen hút các mẩu giấy vụn rất mạnh Vậy mảnh pôliêtilen nhiễm điện mạnh hơn thước nhựa

GV: Hướng dẫn để HS nêu ra hai kết luận:

- Cọ xát có thể làm vật bị nhiễm điện

- Dấu hiệu của một vật bị nhiễm điện là hút được các vật khác

- Các vật khác nhau nhiễm điện khác nhau

Hoạt động 3:

Dùng các thí nghiệm kiểm tra dự đoán hai vật nhiễm điện cùng dấu thì đẩy nhau,hai vật nhiễm điện trái dấu thì hút nhau Hai HS tiến hành thí nghiệm, các HS khác quan sát rồi rút ra kết luận (thực hiện theo phương án 2)

GV: Cắt hai mảnh pôliêtilen rộng 2cm, dài 15cm Cọ xát chúng với nhau rồi cho chúng lại gần nhau

GV: Nhận xét xem có hiện tượng gì xảy ra?

HS: Hai mảnh pôliêtilen đẩy nhau

GV: Do đâu mà chúng đẩy nhau?

HS: Vì chúng được cọ xát với cùng mảnh vải và với số lần như nhau, dẫn đến chúng

bị nhiễm điện cùng loại nên chúng đẩy nhau

GV: Vậy hai vật nhiễm điện cùng loại thì đẩy nhau Vậy: liệu hai vật nhiễm điện khác loại thì có hút nhau không?

HS: Dư đoán hiện tượng xảy ra

GV: Cho các tiến hành thí nghiệm kiểm tra dự đoán

HS: Cọ xát thanh thước nhựa và thanh thủy tinh với số lần khác nhau, rồi cho chúng lại gần nhau

GV: Nhận xét xem có hiện tượng gì xảy ra?

HS: Hai thanh hút nhau

GV: Do đâu mà chúng hút nhau?

Trang 10

HS: Vì chúng được cọ xát vào mảnh vải và mảnh len với số lần như nhau, dẫn đến chúng bị nhiễm điện khác loại nên chúng hút nhau

GV: Vậy hai vật nhiễm điện cùng loại thì đẩy nhau

Hoạt động 4:

HS tiến hành và trao đổi lẫn nhau để kiểm tra các vật nhiễm diện cùng dấu và khác dấu

Rút ra kết luận về hai loại điện tích (điện tích dương và điện tích âm)

Hoạt động 5:

Vận dụng các kiến thức đẫ học ứng dụng vào thực tế.

Thông qua các thí nghiệm giáo viên ứng dụng cho học sinh giải thích các hiện tượng SGK và các ứng dụng khác trong đời sống

Thông qua các TNTL trong bài giáo viên giáo dục về tính bảo vệ môi trường, tyinhs tiết kiệm, thái độ làm việc trung thực cẩn thận, tỉ mỉ

 Trên đây tôi xin giới thiệu một số phương án tổ chức hoạt động dạy học vật lí với TNTL và một giáo án cụ thể mà tôi đã áp dụng vào việc giảng dạy của mình Nhờ các TNTL mà đã giúp tôi giải quyết một số vấn đề khó khăn trong công tác như sau:

- Giúp tôi chủ động tìm và lựa chọn ra các phương pháp dạy học phù hợp với từng nội dung, từng bài nhất định

- TNTL góp phần đa dạng hóa việc tổ chức học tập vật lí bằng các phương pháp khác nhau

- Giúp HS tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau

- Rèn luyện kĩ năng, khả năng và thói quen của HS trong học tập vật lí

- Góp phần củng cố tăng cường tính bền vững và độ sâu kiến thức, luyện tập năng lực tư duy cho học sinh

- Góp phần giải quyết các khó khăn về dụng cụ, thiết bị dạy học của nhà trường

Ngày đăng: 13/07/2014, 18:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w