Để khuyến khích đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, bản điều lệ cũng đã đưa ra nhiều hình thức ưu đãi đối với đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam và đây như là một tín hiệu tích cuực rất đá
Trang 1FDI thực sự đã có vai trò to lớn với sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế thông qua việc đầu tư nhiều hơn vào ngành công nghiệp Vì ngành công nghiệp có năng suất lao động cao nhất
và tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, nên FDI đã góp phần to lớn vào tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế quốc dân
Để trở thành một quốc gia công nghiệp hoá vào năm 2020
và để nền kinh tế Việt Nam có thể hội nhập với khu vực và thế giới, một đòi hỏi bức xúc là phải đẩy nhanh hơn nữa quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế
Thúc đẩy quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới
Hoạt động của đầu tư đã giúp Việt Nam mở rộng hơn thị phần nước ngoài Góp phần làm chuyển biến nền kinh tế Việt Nam theo hướng của một nền kinh tế hàng hoá Đối với Việt Nam, vốn FDI đóng vai trò như lực khởi động, như một trong những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của công nghiệp hoá - hiện đại hoá Một số dự án FDI góp phần làm vực dậy một số doanh nghiệp Việt Nam đang trong điều kiện khó khăn, sản xuất đình đốn nguy cơ phá sản
Trang 2Chương hai
Vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI)
ở Việt Nam
I Thực trạng của đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
1 Trước khi mở cửa
Chỉ sau hai năm sau ngày thống nhất đất nước Ngày 18-7-1977 chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã ban hành điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở CHXHCN Việt Nam trong đó: "Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam hoan nghênh việc đầu tư của nước ngoài ở trên nguyên tắc tôn trọng
độc lập, chủ quyền của Việt Nam và hai bên cùng có lợi" Để khuyến khích đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, bản điều lệ cũng đã đưa ra nhiều hình thức ưu đãi đối với đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam và đây như là một tín hiệu tích cuực rất đáng quan tâm Tuy nhiên sau khi bản điều lệ ra đời thì không có
đối tác nào bỏ tiền vào nơi đang nằm trong tình trạng chiến
Trang 3tranh, tình hình an ninh không ổn định Hơn nữa tình hình kinh
tế Việt Nam lúc đó rất nhiều khó khăn, sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, các dịch vụ không phát triển, hệ thống pháp luật vừa thiếu vừa không phù hợp về các thông lệ quốc tế, vừa quan điểm không rõ ràng về đường lối tổng thể phát triển kinh
tế
2 Sau khi mở cửa
Sau khi ban hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 12/1987, năm đầu tiên thực hiện (1988) đã có 37 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam với tổng số vốn đầu tư là
366 triệu USD Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời phù hợp với xu hướng của sự hợp tác nhiều mặt, nhiều chiều, tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, trên cơ sở bình đẳng và cùng
có lợi Tuy nhiên sau hai năm thực hiện đầu tư nước ngoài cũng đã bộc lộ một số quan điểm chưa phù hợp với điều kiện thực tế và thông lệ quốc tế Vì vậy chúng ta đã thực hiện hai lần sửa đổi Luật bổ sung thứ nhất được quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30-6-1990 và luật sửa đổi thứ hai là vào 23-12-1992 Trên cơ sở nhận thức ngày càng đúng đắn về hoạt động đầu tư nước ngoài, chúng ta
đã có quan điểm rõ ràng về thu hút và sử dụng nguồn lực bên ngoài để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại
Trang 4hoá nền kinh tế Chúng ta coi trọng nguồn lực trong nước là quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của nền kinh tế
a) Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài thời gian qua
Giai đoạn trước 1996: FDI liên tục gia tăng cả về số dự án
và vốn đầu tư, đạt mức kỷ lục là 8,6 tỷ USD về tổng số vốn
đăng ký vào năm 1996 Trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khoảng 50% một năm Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng
đáng kể từ mức 37 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký 342 triệu USD năm 1988 lên 326 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng
ký 8640 triệu USD năm 1996
Giai đoạn sau 1996: FDI vào Việt Nam liên tục giảm Trong giai đoạn 1997-2000 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm trung bình khoảng 24% một năm Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giảm đáng kể từ mức vốn đầu tư đăng ký khoảng 8,6
tỷ USD năm 1996 xuống còn 1,9 tỷ USD năm 2000 Ngoài ra, trong giai đoạn này, còn có một xu hướng khác rất đáng lo ngại và vốn đầu tư giải thể tăng cao hơn nhiều so với giai đoạn trước Tổng số vốn đầu tư giải thể giai đoạn 1997-2000 khoảng 2,56% tỷ USD so với 2,69 tỷ USD của năm trước đó cộng lại
Trang 5Tính đến cuối năm 2002 đã có hơn 4500 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN) được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đăng ký và tăng vốn đạt trên 80 tỷ USD Trừ các dự án giải thể trước thời hạn hoặc đã hết hạn hoạt động, hiện có trên 3670
dự án đang có hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt trên 39 tỷ USD Trong đó có gần 2000 dự án đang triển khai hoạt động kinh doanh 980 dự án đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản và làm các thủ tục hành chính, gần 700 dự án chưa triển khai do nhiều nguyên nhân Tổng số vốn đầu tư thực hiện của các dự
án đã cấp giấy phép khoảng 24 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện của các dự án còn hiệu lực là trên 21 tỷ USD Đầu tư nước ngoài chủ yếu dựa vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với 66% số dự án và 64,5% vốn thực hiện Lĩnh vực này cũng thu hút tới trên 70% số lao động và tạo ra trên 90% giá trị xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài Lĩnh vực dịch vụ chiếm 21% số dự án và 22,5% vốn thực hiện, lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 13% số dự án và 6% vốn thực hiện
Về địa bàn đầu tư thì đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu vào vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và vùng kinh tế trọng điẻem ở phía Nam Trong số các địa phương thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài, thành phố Hồ Chí Minh giữ vị trí hàng đầu với 1224 dự án và 10394 triệu USD vốn đăng ký còn hiệu lực, tiếp theo là Hà Nội, Đồng Nai và Bình Dương Khu
Trang 6vực phía Bắc thu hút được ít hơn, trong đó đáng kể là Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh với tổng số 634 dự án, 9.625 triệu USD vốn đăng ký còn hiệu lực
b) Những hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định có ba hình thức chủ yếu là: Xí nghiệp liên doanh , xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng và hình thức ký hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao(BOT) Với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam
+ Hình thức xí nghiệp liên doanh
Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài
sử dụng nhiều nhất trong thời gian qua, bởi vì:
Một là, họ tranh thủ được sự hỗ trợ và những kinh nghiệm của các đối tác Việt Nam trên thị trường mà họ chưa quen biết
Hai là, các nhà đầu tư nước ngoài muốn san sẻ rủi ro với các đối tác Việt Nam do môi trường đầu tư Việt Nam còn nhiều bất trắc
Trang 7Ba là, hình thức này có khả năng thuận lợi hơn để các nhà
đầu tư nước ngoài mở rộng phạm vi và lãnh thổ hoạt động kinh doanh so với hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài
Mặt khác, nhà nước cũng tạo điều kiện và giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước liên doanh với nước ngoài nhằm sử dụng có hiệu quả mặt bằng và nhà xưởng, máy móc thiết bị hiện có
Hiện nay, hình thức này chiếm 66,4% trong tổng số 815
xí nghiệp liên doanh đã được cấp giấy phép, 51% số vốn đăng
ký và 30% số dự án
+ Xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Hình thức này ngày càng phát triển trong những năm gần
đây, từ 5% năm 1989 đến 27% năm 1995 trong tổng số các dự
án đã được cấp giấy phép
Hình thức 100% vốn nước ngoài được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lựa chọn ngày càng nhiều vì nó có phần dễ thực hiện và thuận lợi hơn cho họ nhưng bằng hình thức đầu tư này, về phía nước nhận đầu tư thường chỉ nhận được các lợi ích trước mắt, về lâu dài, hình thức đầu tư này không hứa hẹn những lợi ích tốt đẹp, mà thậm chí nước nhận đầu tư còn phải gánh chịu nhiều hậu quả khó lường
Trang 8Khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế, hoặc áp dụng các hoạt động xây dựng- vận hành- chuyển giao(BOT) hay xây dựng chuyển giao vận hành (BTO)
Hiện nay hình thức này chiếm 36% vốn đăng ký và 66%
số dự án
+ Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Là hình thức mà theo đó bên nước ngoài và bên Việt Nam cùng nhau thực hiện một hợp đồng đã được ký giữa hai bên, quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh mà không thành lập một pháp nhân mới
Hình thức này đã xuất hiện sớm ở Việt Nam nhưng đáng tiếc cho đến nay vẫn chưa hoàn thiện được các qui định pháp
lý cho nó Điều đó đã gây không ít khó khăn cho việc giải thích hướng dẫn và vận dụng vào thực tế
Lợi dụng sơ hở này, một số nhà đầu tư nước ngoài đã trốn tránh sự quản lý của nhà nước, đầu tư chui vào Việt Nam Hoặc khi thực hiện các dự án lớn, các bên hợp doanh thường gặp khó khăn trong việc điều hành dự án
Trang 9Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức dễ thực hiện và
có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản xuất các sản phẩm kỹ thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty ở nhiều quốc gia Đây cũng sẽ là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần, xu hướng của sự phân công lao
động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế
Và hình thức này chiếm 13% vốn đăng ký và 4% số dự
án
c) Các đối tác đầu tư
Đối tác Việt Nam
Theo qui định của Luật đầu tư nước ngoài (LĐTNN) đã sửa đổi bổ sung 12/1992 thì mọi tổ chức kinh tế Việt Nam, kể cả doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp tư nhân (DNTN) được hợp tác trực tiếp với nước ngoài
Nhưng thực tế thời gian qua, hầu như chỉ có các DNNN tham gia hợp tác kinh doanh với nước ngoài (chiếm 96% số dự
án và 99% tổng số vốn đầu tư) Tình hình này phản ánh tình trạng thực tế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn nhỏ
bé, trình độ sản xuất và năng lực quản lý còn yếu kém