1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BỆNH GAN VÀ ĐƯỜNG MẬT ( LIVER AND BILIARY TRACT DISEASE ) - Phần 1 docx

12 465 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 130,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sỏi ống mật chủ choledocholithiasis xảy ra khi sỏi mật vào trong ống mật chủ common bile duct và có thể gây nên viêm túi mật và viêm tụy nếu bóng Vater bị tắc nghẽn.. Viêm mật quản chola

Trang 1

BỆNH GAN VÀ ĐƯỜNG MẬT

( LIVER AND BILIARY TRACT DISEASE )

Phần 1

1/ CÁC BIỂU HIỆN THÔNG THƯỜNG CỦA BỆNH ĐƯỜNG MẬT?

Bệnh sỏi mật (cholelithiasis) là sự hiện diện của sỏi (gallstones) trong

túi mật nhưng không có chứng cớ nhiễm trùng Trong số những người

trưởng thành, 8% đàn ông và 17% phụ nữ có sỏi mật, nhưng tỷ lệ gia tăng

với tuổi tác

Cơn đau quặn gan (biliary colic) là cơn đau ở hạ sườn phải hay

thượng vị, đôi khi lan lên vai hay xuống bả vai phải Cơn dau thường kéo dài

dưới 6 giờ, xảy ra sau một bữa ăn nhiều chất mỡ, và được nghĩ là do sự tắc

tạm thời của ống túi mật (cystic duct) bởi một sỏi mật Trong số những bệnh

nhân với cơn đau quặn gan, 30% tiến triển thành viêm túi mật

Trang 2

(cholecystitis), một sự tăng trưởng vi khuẩn và nhiễm trùng của túi mật gây

nên bởi tắc ống túi mật

Sỏi ống mật chủ (choledocholithiasis) xảy ra khi sỏi mật vào trong

ống mật chủ (common bile duct) và có thể gây nên viêm túi mật và viêm tụy

(nếu bóng Vater bị tắc nghẽn)

Viêm mật quản (cholangitis) là nhiễm trùng nặng của đường mật với

các triệu chứng đau hạ sườn phải, sốt và run, và vàng da (tam chứng

Charcot) và có thể gồm có choáng và những thay đổi trạng thái tâm thần

(ngũ chứng Reynold)

Viêm túi mật khí thủng (emphysematous cholecystitis) gây nên bởi

các vi khuẩn sinh khí và được thấy trong trường hợp bất túc huyết quản

Thường xảy ra hơn nơi đàn ông và các bệnh nhân bị đái đường và thường

kèm theo nhiễm khuẩn huyết (sepsis)

2/ CÓ PHẢI TẤT CẢ CÁC SỎI MẬT ĐỀU GÂY ĐAU? CÓ PHẢI VIỆC KHÔNG CÓ SỎI CÓ THỂ LOẠI BỎ CHẨN ĐOÁN VIÊM TÚI MẬT?

Trong số các bệnh nhân với sỏi mật, 80% không có triệu chứng 15%

đến 30% các bệnh nhân không có triệu chứng phát triển các triệu chứng

Trang 3

trong vòng 15 năm.Trong số các viêm túi mật, 10% không thứ phát sỏi mật

và được gọi là viêm túi mật không do sỏi (acalculus cholecystitis) Đây có

thể là một chẩn đoán khó bởi vì những bệnh nhân này thường có những bệnh

nội khoa xảy ra đồng thời, như bệnh đái đường, bỏng, đa chấn thương,

AIDS, hay nhiễm khuẩn huyết (sepsis)

3/ TỶ LỆ MẮC BỆNH SỎI MẬT Ở CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY?

Trong những công trình nghiên cứu được thực hiện ở Hoa Kỳ và Ý,

khoảng 10-20% những người trưởng thành có sỏi mật Chỉ khoảng 20-30%

những người với sỏi mật phát triển triệu chứng; nguy cơ phát triển triệu

chứng hay biến chứng là khoảng 2-4% mỗi năm

4/ TỶ LỆ SỎI MẬT Ở CÁC NƯỚC TÂY PHƯƠNG ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ ĐÀN ÔNG 60 TUỔI?

- Phụ nữ : 50% Đàn ông : 15%

5/ NHỮNG NGƯỜI NÀO CÓ NGUY CƠ CAO NHẤT BỊ SỎI MẬT?

Trang 4

- Sỏi mật thường xảy ra hơn với người có tuổi tác và có chỉ số khối

lượng cơ thể (body mass index) gia tăng

- Phụ nữ bị sỏi mật hai lần nhiều hơn so với đàn ông

- Dân da đỏ và người Mỹ gốc Tây ban Nha ở Hoa Kỳ có nguy cơ bị

sỏi mật cao hơn

- Các phụ nữ Bắc Âu cũng có tổ bẩm cao bị sỏi mật (50% vào lúc 50

tuổi)

6/ TẠI SAO SỎI MẬT THƯỜNG XẢY RA HƠN NƠI NGƯỜI BỊ CHỨNG BÉO PHÌ?

- Tỷ lệ bị sỏi mật nơi các phụ nữ béo phì (obese woman) được ước

tính là 2-3% mỗi năm, với khoảng 2/3 những sỏi này không có triệu chứng

Nguy cơ bị sỏi mật đối với các phụ nữ không bị chứng béo phì, gia tăng hai

lần nơi các phụ nữ với chỉ số khối lượng cơ thể (body mass index)

<30kg/m2 và 7 lần nơi các phụ nữ với chỉ số khối lượng cơ thể >45kg/m2

Nơi những người béo phì, có sự siêu bảo hòa rõ rệt cholesterol trong mật

Chứng béo phì cũng được liên kết với sự giảm tính di động của túi mật Cả

hai yếu tố này có thể làm dễ sự tạo thành sỏi túi mật

Trang 5

7/ LIỆT KÊ CÁC LOẠI SỎI MẬT?

- Cholesterol: 70-80% của tất cả các sỏi mật ở các nước Phương Tây;

các yếu tố nguy cơ là nữ giới, béo phì, tuổi trên 40, và sinh nhiều con

- Sắc tố (pigmented): 20-30%

- bilirubinate calcium đen: các yếu tố nguy cơ là xơ gan, các hội

chứng tan huyết mãn tính

- các muối calcium nâu: có thể được tạo nên trong các ống mật ; liên

kết với nhiễm trùng hệ đường mật

8/ CÓ PHẢI TẤT CẢ CÁC SỎI MẬT ĐỀU ĐƯỢC TẠO RA NHƯ NHAU?

Không Sỏi cholesterol thường được tìm thấy nơi các bệnh nhân phụ

nữ, béo mập, 40 tuổi, trong thời kỳ sinh sản Những bệnh nhân châu Á và

những bệnh nhân với nhiễm ký sinh trùng, bệnh gan mật mãn tính, hay tình

trạng dung huyết mãn tính (ví dụ thiếu máu hồng cầu liềm (sickle cell

anemia), chứng hồng cầu hình cầu (spherocytosis) có khả năng bị sỏi sắc tố

(pigment stones) hơn

9/ BÙN MẬT (BILIARY SLUDGE) LÀ GÌ?

Trang 6

Bùn mật (biliary sludge) được cấu tạo bởi các chất kết tủa vi thể

cholesterol hay calcium bicarbonate Lúc chiếu siêu âm, bùn mật xuất hiện

dưới dạng các echo có biên độ thấp, không có bóng cản (postacoustic

shadow) Bùn mật cũng có thể được chẩn đoán bằng cách khám dưới kính

hiển vi một mẫu nghiệm mật tươi Trong vài tình huống lâm sàng, bùn mật

có thể tiến triển thành sỏi mật Bùn mật cũng có thể biến mất một cách ngẫu

nhiên Người ta cho rằng bùn mật biểu hiện cho những giai đoạn sớm nhất

của sự tạo thành sỏi mật

10/ BÙN TÚI MẬT (GALLBLADDER SLUDGE) CÓ THỂ GÂY NÊN TRIỆU CHỨNG HAY BIẾN CHỨNG KHÔNG?

Có Khi bùn mật đi ra khỏi túi mật vào ống túi mật (cystic duct) hay

ống mật chủ (common bile duct), nó có thể gây nên những triệu chứng y hệt

các triệu chứng gây nên bởi sỏi túi mật Bùn mật (sludge) được liên kết với

cơn đau quặn gan (biliary colic), viêm tụy tạng, viêm mật quản (cholangitis),

và viêm túi mật (cholecystitis) Bùn mật có thể được tìm thấy nơi nhiều bệnh

nhân với viêm tụy tạng “ không rõ nguyên nhân ” (idiopathic pancreatitis)

11/ TỶ LỆ SỎI MẬT KHÔNG CÓ TRIỆU CHỨNG BIẾN THÀNH SỎI MẬT CÓ TRIỆU CHỨNG?

Trang 7

10% sau 5 năm, 15% sau 10 năm và 18% sau 15 năm

12/ CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA CƠN ĐAU QUẶN GAN?

Con đau quặn gan (biliary colic) được đặc trưng bởi cơn đau đột ngột

có cường độ mạnh ở vùng thượng vị hay hạ sườn phải Cơn đau đôi khi xảy

ra sau bữa ăn thịnh soạn nhưng cũng có thể xảy ra mà không có yếu tố thúc

đẩy nào Khoảng thời gian giữa các cơn đau quặn gan không thể tiên đoán

được Các triệu chứng chậm tiêu không đặc hiệu (nonspecific symptoms),

như đau bụng không được định vị rõ rệt, nôn, mửa, hay tình trang không

chịu được chất béo, không phải là đặc trưng của bệnh đường mật Cắt bỏ túi

mật được thực hiện vì các triệu chứng chậm tiêu không đặc hiệu thường

không làm giảm các triệu chứng này

13/ ĐIỀU GÌ GÂY NÊN VIÊM TÚI MẬT CẤP TÍNH NƠI NHỮNG BỆNH NHÂN BỊ SỎI MẬT?

Sỏi có thể bị kẹt ở cổ của túi mật hay ống túi mật (cystic duct), đưa

đến căng và viêm thành túi mật (viêm túi mật : cholecystitis) Cấy mật trong

giai đoạn đầu của bệnh thường vô trùng Nhiễm vi khuẩn thứ phát, và ngay

cả hoại tử, có thể xảy ra sau khi bị viêm túi mật kéo dài

14/ TỶ LỆ MẮC PHẢI VIÊM TÚI MẬT KHÔNG DO SỎI?

Trang 8

Tỷ lệ viêm túi mật không do sỏi (acalculus cholecystitis) chiếm 10 %

tất cả các trường hợp viêm túi mật

15/ MÔ TẢ NHỮNG TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ CỦA VIÊM TÚI MẬT KHÔNG DO SỎI?

Viêm túi mật không do sỏi (acalculous cholecystitis) thường xảy ra

nơi các bệnh nhân già và bị bệnh nặng Những triệu chứng thường liên kết

với viêm túi mật do sỏi, thường không có trong viêm túi mật không do sỏi,

và bệnh nhân có thể chỉ có sốt không thôi Các biến chứng có thể phát triển

nhanh, và 50-70% các bệnh nhân có thể phát triển hoại thư, tích mủ

(empyema), hay thủng túi mật Xét nghiệm chẩn đoán hữu ích nhất là siêu

âm xuyên bụng (transabdominal ultrasound) Chụp nhấp nháy phóng xạ gan

mật (hepatobiliary scintigraphy) bị hạn chế do thường có những kết quả

dương tính giả Xử trí gồm có điều trị hổ trợ với kháng sinh có tác dụng lên

các vi khuẩn kỵ khí và gram âm Làm giảm áp túi mật bằng cách đặt ống

thông qua da vào túi mật (percutaneous cholecystostomy tube), thường có

hiệu quả

16/ TỶ LỆ THỦNG TÚI MẬT NƠI NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI VIÊM TÚI MẬT CẤP TÍNH?

Trang 9

5%

17/ CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA VIÊM TÚI MẬT CẤP TÍNH ? NHỮNG BỆNH NHÂN VỚI VIÊM TÚI MẬT CẤP TÍNH ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO?

Các bệnh nhân với viêm túi mật cấp tính điển hình có cơn đau bụng ở

vùng thượng vị hay hạ sườn phải, kéo dài hơn 3 giờ Sốt nhẹ và mửa thường

xảy ra Có thể có dấu hiệu Murphy, ngừng thở vào (inspiratory pause) trong

lúc ấn chẩn vùng hạ sườn phải Lúc khám siêu âm, các bệnh nhân sẽ có

thành túi mật dày lên với dịch quanh túi mật (pericholecystic fluid) Các

bệnh nhân với viêm túi mật cấp tính nên được nhập viện và cho truyền dịch

và các kháng sinh bằng đường tĩnh mạch Thời điểm cắt bỏ túi mật

(cholecystectomy) nơi các bệnh nhân này còn gây tranh cãi Tuy nhiên, giải

phẫu sớm (3 ngày) có thể được liên kết với một sự hồi phục nhanh hơn và

thời gian lưu lại bệnh viện ngắn hơn, có tỷ lệ bệnh tật (morbidity rate) tương

tự với tỷ lệ trong trường hợp mổ trì hoãn ( 4-6 tuần)

18/ DẤU HIỆU MURPHY LÀ GÌ?

Dấu hiệu được gọi tên theo một nhà phẫu thuật nổi tiếng, John B

Murphy (1857-1916) Bệnh nhân được yêu cầu thở vào thật sâu trong khi

Trang 10

người khám đè trên vùng túi mật Nếu túi mật bị viêm, cơ hoành hạ xuống

đẩy túi mật vào các đầu ngón tay người khám, gây đau và ngừng hít vào đột

ngột

19/ MỘT PHIM CHỤP BỤNG KHÔNG CHUẨN BỊ CÓ THẾ GIÚP CHẨN ĐOÁN KHÔNG?

Có thể Chỉ 10% đến 15% các sỏi mật chứa đủ calcium để cản quang

(radiopaque) Khí có thể được thấy trong đường mật hay thành túi mật khi

nhiễm trùng do vi khuẩn tạo khí hoặc khi có rò đường mật-ruột

(biliary-intestinal fistula).Trong những trường hợp mà nguyên nhân đau bụng trên

không rõ ràng, chụp bụng không chuẩn bị có thể hữu ích vì cho thấy khí tự

do (free air), các vôi hóa tụy tạng (pancreatic calcifications), ileus, tắc ruột,

trướng khí (pneumatosis), hay sự đông đặc thùy phổi dưới

20/ SIÊU ÂM CHÍNH XÁC NHƯ THỂ NÀO TRONG VIỆC PHÁT HIỆN SỎI TÚI MẬT ? SỎI ỐNG MẬT CHỦ?

Các sỏi túi mật có thể được chẩn đoán bằng siêu âm với mức độ nhạy

cảm và đặc hiệu trên 90% Các sỏi mật xuất hiện như các siêu âm (echo) với

biên độ cao, với bóng cản (postacoustic shadowing) Bùn mật (sludge)

thường có thể được thấy như chất sinh siêu âm (echogenic) di động mà

Trang 11

không có bóng cản (shadowing) Siêu âm xuyên bụng (transabdominal

sonography) là phương pháp quang tuyến chọn lựa để chẩn đoán bệnh túi

mật Tiếc thay, tính nhạy cảm của siêu âm xuyên bụng giảm xuống còn

30-40% trong việc phát hiện các sỏi trong ống mật chủ Sỏi ống mật chủ có thể

được nghi ngờ trong những tình huống lâm sàng thích hợp, nếu nhìn thấy

các ống mật chủ và trong gan bị giãn Siêu âm qua nội soi (endoscopic

ultrasonography) có thể phát hiện trên 90% các sỏi ống mật chủ

21/ TIÊU CHUẨN VÀNG ĐỂ CHẨN ĐOÁN VIÊM TÚI MẬT?

Mặc dầu siêu âm là xét nghiệm được chọn lựa ở phòng cấp cứu, chụp

nhấp nháy phóng xạ đường mật với HIDA (HIDA scan) chính xác 95% nếu

túi mật không được làm đầy với chất đồng vị phóng xạ (radioisotope) 4 giờ

sau khi tiêm

22/ MÔ TẢ NHỮNG DẤU HIỆU SIÊU ÂM TRONG VIÊM TÚI MẬT CẤP TÍNH?

Sỏi túi mật có thể được phát hiện trực tiếp hoặc đôi khi sự hiện diện

của chúng có thể được phỏng đoán do sự dẫn truyền các sóng siêu âm bị cản

(bóng cản: acoustic shadowing) Những dấu hiệu hữu ích khác gồm có một

Trang 12

túi mật lớn ra (> 5cm), một thành túi mật dày lên (> 4mm), tụ dịch quanh túi

mật (pericholecystic fluid), và giãn ống mật chủ hay ống mật trong gan

23/ VAI TRÒ CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH (CT SCAN) VÀ CHỤP NHẤP NHÁY ĐƯỜNG MẬT VỚI HIDA (HIDA SCAN) TRONG ĐÁNH GIÁ ĐƯỜNG MẬT?

Chụp cắt lớp vi tính (CT Scan): Đây là thăm dò X quang nhạy cảm

nhất đối với cơn đau bụng bất thường nhưng có thể bỏ sót 20-25% sỏi mật

Chụp cắt lớp vi tính cho hình ảnh ống mật chủ và bóng Vater tốt hơn và hữu

ích khi nghi viêm tụy tạng do sỏi mật (gallstone pancreatitis) Chụp cắt lớp

vi tính có mức độ nhạy cảm chỉ 50% đối với viêm túi mật

Chụp nhấp nháy đường mật với HIDA (HIDA Scan): thăm dò này

được sử dụng để đánh giá tắc túi mật sau khi khám siêu âm không xác định

được HIDA (hepato-iminodiacetic acid) sau khi được tiêm bằng đường tĩnh

mạch, được bắt giữ bởi các tế bào gan và được thải ra trong túi mật

Ngày đăng: 13/07/2014, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w