Nội dung cơ bản của Công nghiệp hóa Hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, báo cáo môn kinh tế chính trị, tài liệu cần thiết cho học viên, sinh viên nghiên cứu, học tập cũng như làm tiểu luận trong quá trình ôn luyện và học tập của mình.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Yù nghĩa đề tài nghiên cứu2.Đối tượng phạm vi nghiên cứu3.Mục đích nghiên cứu
4.Phương pháp sử dụng5.Bố cục
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 : Định nghĩa, bản chất ,vai trò ,đặc điểm Những yếu tố phát triển công nghiệp hoá ,hiện đại hoá
1.Định nghĩa,bản chất ,vai trò,đặc điểm:
1.1 Định nghĩa
1.2 Bản chất
1.3 Vai trò
1.4 Đặc điểm
2.Những yếu tố phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
2.1 Tại sao nước ta lại đặt vấn đề phát triển CNH,HĐH
2.2 Những yếu tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước
Chương 2:Nội dung của công nghiệp hoá- hiện đại hoá
ở Việt Nam
1.Điều kiện trong nước và quốc tế để Việt Nam phát triển và hội nhập với thế giớ2.Hệ thống các quan điểm phát triển bền vững
Trang 23.Mục tiêu của CNH
4.Nội dung cơ bản của CNH-HĐH ở nước ta hiện nay
4.1 Những nội dung cơ bản của CNH-HĐH trong thời kì quá độ lên CNXH
4.2 Những nội dung cụ thể của CNH-HĐH ở nước ta trong những name trước mắt4.3 Các giai đoạn phát triển của CNH-HĐH
5)Một số giải pháp chủ yếu thúc nay quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam trong giai đoạn mới
5.1 Hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là giải pháp đột phá quan trọng hàng đầu để nay mạnh CNH-HĐH rút ngắn theo hướng hiện đại
ở nước ta
5.2 Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH
5.3 Dổi mới phát triển khoa học và công nghệ
5.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước
KẾT LUẬN
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1) Ý Nghĩa Đề Tài Nghiên Cứu:
Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là giai đoạn phát triển tất yếu của mọiquốc gia, từ một nền kinh tế kém phát triển vươn lên trở thành một nền kinh tếtiên tiến, hiện đại
Đất nước ta đang trong quá trình nay mạnh CNH-HĐH theo định hướng XHCN.Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu của toàn Đảng ,toàn dân ta trên con đườngthực hiện mục tiêu : “Dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng ,văn minh” Tuynhiên thực hiện CNH là một việc hết sức khó khăn và nan giải Nội dung củaCNH lại rất rộng và thay đổi qua từng giai đoạn loch sử Hơn nữa , đất nước tabắt đầu thực hiện CNH từ điểm xuất phát ở trình độ tương thấp Chính vì vậy vấnđề đầu tiên được đặt ra cho tất cả chúng ta đặt biệt là thế hệ true là phải xâydoing nội dung cơ bản, những bước đi và những thách thức khi thực hiên CNH
2)Đối tượng phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu về quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ỡ Việt Nam
3)Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu về quá trình tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Tại saothực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa , thực hiện bằng cách nào và nhữngthành quả đạt được khi thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mục tiêu saunày của Việt Nam khi thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
4)Phương pháp sử dụng;
Sử dụng phép biện chứng duy vật, duy vật lịch sử và những phương pháp khoahọc chung như mô hình hóa các quá trình và hiện tượng nghiên cứu,xây dựngcác giả thuyết , tiến hành thử nghiệm , quan sát thống kê, trừu tượng hoá , phântích và tổng hợp , phương pháp hệ thống
5) Bố cục :
1 – Phần mở đầu
2 – Khái niệm , đặc điểm vai trò và bản chất
3 – Nội dung
Trang 4+ Phân tích và đánh giá tổng hợp các điều kiện Quốc tế và trong nước để Việt Nam phát triển và hội nhập thế giới.
+ Hệ thống các quan điểm phát triển bền vững+ Mục tiêu Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ( bao gồm mục tiêu tổng thể, hệ thống các mục tiêu của các phân hệ, của từng giai đoạn )
+ Xác định vấn đề trọng điểm và phân chia giai đoạn + Hệ thống các chính sách và biện pháp thực hiện công nghiệp hoá (huy động và đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực)
4 – Kết luận
Trang 5PHẦN NỘI DUNGChương 1 :ĐỊNH NGHĨA – BẢN CHẤT – VAI TRÒ –ĐẶC ĐIỂM
CỦA CNH-HĐH 1)Định nghĩa:
Công nghiệp hóa là một quá trình “được đánh dấu bằng sự chuyển từmột nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp sang một nền kinh tế được gọilà công nghiệp "
Công nghiệp hóa là một quá trình mà các xã hội chuyển từ một nềnkinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp với các đặc điểm năng suất thấpvà tăng trưởng cực kì thấp hay bằng không sang một nền kinh tế về cơbản dựa trên công nghiệp với các đặc điểm năng suất cao và tăngtrưởng tương đối cao”
Công nghiệp hóa: Hoạt động mở rộng tiến bộ kỹ thuật với sự lùi dầntính thủ công trong sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ”
Công nghiệp hóa: Đem tới một tính cách công nghiệp cho một hoạtđộng nào đó”
Hội nghị ban chấp hành trung uơng lần thứ 7 khóa VI và đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định : công nghiệp hóa làquá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh,dịch vụ và quản lí kinh tế- xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công làchínhsang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
Trang 6phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển củacông nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hộicao.
2)Bản Chất:
Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa có tính khách quan:
Là qui luật phổ biến của sự phát triển
Tạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại
Hiện đại hóa các ngành kinh tế khác
Phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động
Chuyển đổi văn minh xã hội
3)Vai trò và đặc điểm:
Thứ nhất, công nghiệp hóa được triển khai đồng thời với hiện đại hóavá luôn gắn bó với hiện đại hóa để tạo nên một quá trình thống nhấtthúc đẩy đất nước phát triển.Bởi vì, ngày nay cuộc cách mạng khoahọc-công nghệ đã và đang làm thay đổi về chất công nghệ sản xuất,quản lý… và trên thế giới đang diễn ra quá trình toàn cầu hóa kinh tế,khoa học, kĩ thuật,văn hóa ngày càng sâu rộng Trong điều kiện này,chúng ta không thể chờ thực hiện xong công nghiệp hóa, sau đó mớitriển khai hiện đại hóa, mà nhất thiết và cần phải triển khai đồng thời vàđồng bộ hai quá trình này Chỉ có cách làm như vậy mới có thể đẩy lùiđược nguy cơ tụt hậu và nhanh chóng đưa nước ta tiến kịp các nướctrong khu vực, dần hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và thếgiới
Thứ hai, công nghiệp hóa nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩaxã hội Công nghiệp hóa là cần thiết với tất cả các nước chậm pháttriển nhưng với mỗi nước, mục tiêu và tính chất của công nghiệp hóa có
Trang 7thể khác nhau Ở nước ta, công nghiệp hóa nhằm xây dựng cơ sở vậtchất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tăng cường sức mạnh để bảo vệ nềnđộc lập dân tộc
Thứ ba, công nghiệp hóa – hiện đại hóa là quá trình trang bị vàtrang bịlại những công cụ , thiết bị, phương tiện hiện đại và áp dụng công nghệtiên tiến cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân,đặc biệt là các ngành thenchốt để trước hết, làm tăng tỉ trong của sản xuấtcông nghiệp và dịch vụtrong nền kinh tế quốc dân
Thứ tư, công nghiệp hóa trong điều kiện cơ chế thị trường có sự điềutiết của nhà nước Trong cơ chế kinh tế hiện nay, Nhà nước giữ vai tròhết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa Nhưng côngnghiệp hóa không xuất phát từ chủ quan của nhà nuớc, nó đòi hỏi phảivận dụng các qui luật khách quan mà trước hết là các qui luật thị trường
Thứ năm, công nghiệp hóa – hiện đại hóa vừa là quá trình kinh tế- kỹthuật, vừa là quá trình kinh tế- xã hội,văn hóa, khoa học…Nó tác độngmột cách tổng hợp, đa diện, đa cấp độ đến mọi người, mọi gia đình vàmọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Thứ sáu, công nghiệp hóa- hiện đại hóa cũng chính là quá trình ngàycàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về các mặt kinh tế –xã hội,khoahọc- công nghệ,văn hóa…
Thứ bảy, công nghiệp hóa- hiện đại hóa không phải là mục đích tựthân,mà là phương thức để đưa nền kinh tế tiểu nông lên nền sản xuấtcông nghiệp hiện đại
Phương thức này được thực hiện một cách linh hoạt bằng bằng bước đituần tự từ thấp đén cao(thủ công-cơ giới-tự động hóa) kết hợp với việctranh thủ những điều kiện, thời cơ thuận lợi, “đi tắt, đón đầu” để nhanhchóng tạo ra những ngành kinh tế mũi nhọn
Trang 8 Thừ tám, công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, về thựcchất, là quá trình sử dụng những công cụ, phương tiện hiện đại cùngnhững thành tựu khoa học- công nghệ tiên tiến và những kinh nghiệmlịch sử để đổi mới toàn diện, triệt để mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,đưa đất nước ta lên trình độ”dân giàu ,nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ và văn minh” Nói một cách ngắn gọn,công nghiệp hóa – hiệnđại hóa là quá trình cải biến xã hội Việt Nam “truyền thống” thành xãhội hiện đại, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ chín, công nghiệp hóa – hiện đại hóa diễn ra quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội, trước hết là từ cơ cấu kinh tế “nôngnghiệp- công nghiệp- dịch vụ”sang cơ cấu kinh tế”công nghiệp-nôngnghiệp – dịch vụ”
2)Tại sao nước ta phải phát triển công nghiệp hóa- hiện đại hóa và những
yếu tố trong sự nghiệp phát triển đất nước
2.1)Nước ta phải đặt vấn đề phát triển công nghiệp hóa- hiện đại hóa:
Việt Nam rất cần và có khả năng phát triển nhanh Phát triển nhanh màkhông nghĩ đến yếu tố lâu dài, bền vững, thì đó là cách suy nghĩ phưulưu, và lịch sử tất yếu sẽ phán xét lại
Phát triển như hiện nay là có tiến bộ so với giai đoạn 1975-1990, nhưngrõ ràng còn mang tính dò dẫm thiếu một chiến lược có cơ sở khoa học,nhất quán
Việt Nam có tìm được con đường náo phát triển nhanh hơn nữa mà vẫnđảm bảo được sự ổn định tương đối và bền vững hay không ? Câu trảlời có hay không tuỳ thuộc ở các nhà lãnh đạo quốc gia có đủ tri thứcvà lòng quả cảm, thực sự đặt quyền dân tộc lên trên hết để tìm ra vàchấp thuận thực hiện con đường đó hay không
2.2) Những yếu tố quan trọng nhất trong sự nghiệp phát triển đất nước:
Trang 9Trong thời đại ngày nay, những thành tựu to lớn của khoa học và côngnghệ đã và đang tác động sâu sắc đến sự phát triển của tất cả các quốc giatrên thế giới Sự phát triển này không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà cảtrong lĩnh vực văn hóa xã hội Thế giới với các nền văn hóa và truyền thốngsản xuất đa dạng đang phát triển với những tốc độ khác nhau và đạt nhữngthành quả ở những trình độ khác nhau.
Ở đầu thế kỉ trước bình quân đầu người của nước giàu nhất nhiều hơn
so với nước nghèo nhất là khoảng 10 lần Tỉ lệ này ngày nay đã lên tới
300-400 lần Một xu thế rõ ràng: tốc độ phát triển của các quốc gia là không đồngđều.Vậy, những yếu tố nào có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ phát triển?
Ba yếu tố quan trọng nhất là:
Thứ nhất: Văn hóa vì sự phát triển là NỀN cho phát triển, đó là:
Bản sắc dân tộc
Lịch sử dựng nước và phát triển
Hệ thống các phong tục tập quán xã hội
Truyền thống của hoạt động sản xuất và kinh doanh
Mỗi quốc gia phát triển đều có sẵn một tiền đề của một nền văn hóa( hoặccao hơn nữa có thể là một nền văn minh) Nền văn hóa của một dân tộc lànền cơ bản cho sự phát triển lâu dài Tùy thuộc vào trình độ của nền văn hóa,người ta có thể dự báo trước hay khẳng định khả năng thành bại của côngcuộc đổi mới, của sự phát triển Một điều rõ ràng:yếu tố văn hóa vì sự pháttriển được hình thành qua suốt quá trình lịch sử của cả dân tộc, của cả quốcgia, chứ tuyệt nhiên không phụ thuộc vào tầng lớp nào, một số cá nhân nào.Đó là vấn đề của cả dân tộc Một cá nhân hoặc một tầng lớp nào đó trongmột giai đoạn lịch sử nhất định, có thể có để lại dấu ấn trong nền văn hóadân tộc Song,những nét cơ bản nhất, bền vững nhất tồn tại và phát triểncùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của cả dân tộc
Thứ hai: Môi trường cho sự phát triển là yếu tố quyết định gồm các vấn đề:
Trang 10 Niềm tin của nhân dân
Trình độ dân trí
Hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế
Môi trường cho sự phát triển là vấn đề của các nhà lãnh đạo Một môi trườngcó thực sự tạo điều kiện hay kìm hãm sự phát triển điều đó phụ thuộc cơ bảnvào nhận thức và tài trí của chính các nhà lãnh đạo quốc gia Có nhận thứcđúng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là sẽ có một môi trường phát triển.Đạo đức tri thức ,tài năng và đôi khi cả lòng quả cảm của các nhà lãnh đạoquốc gia là nhân tố quyết định để có thể có môi trường thực sự phát triển Cóthể nói ngắn gọn:nhìn vào môi trường phát triển, trình độ khoa học và côngnghiệp của bất kì quốc gia nào, người ta có thể có những kết luận khá chínhxác về khả năng và tầm nhìn chiến lược của các nhà lãnh đạo
Một xã hội trong đó hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được môi trườngphát triển và đặt đúng chỗ,được đánh giá chuẩn xác, đó là một xã hội có môitrường phát triển tích cực,lành mạnh Ngược lại, thì đó là một môi trườngkhông chuẩn, có vấn đề phải xét lại ngay, nếu muốn tránh một tai họa là kìmhãm sự phát triển, dẫn tới khủng hoảng, hỗn loạn và an ninh quốc gia sẽ tấtyếu bị đe dọa Như vậy, môi trường phát triển là yếu tố quyết định trong sựnghiệp phát triển
Thứ ba : Tri thức-Động lực cho phát triển, thể hiện qua:
Đội ngũ những người lao động trí óc, sáng tạo trong mọi lĩnh vực củakinh tế và xã hội
Cơ sở vật chất về kho tàng tri thức và thông tin khoa học và công nghệ
Hiệu quả lao động sáng tạo( trong đó có khoa học và công nghệ) đốivới phát triển kinh tế-xã hội Nói cách khác, đó là hàm lượng tri tri thức,hàm lượng khoa học – công nghệ trong từng sản phẩm xã hội
Trang 11Động lực của sự phát triển đó chính là lao động sáng tạo Lao động sáng tạolà lao động trí óc , mang tính chất sáng tạo của đội ngũ những người làmcông tác quản lí kinh tế-xã hội, quả lí doanh nghiệp, các nhà văn nghệ sĩ, cánbộ làm công tác giáo dục, khoa học và công nghệ Đây chính là tài nguyênđặc biệt của mỗi quốc gia Tính đặc biệt của tài nguyên “chất xám” được thểhiện ở chỗ nếu biết khai thác thì hiệu quả kinh tế-xã hội sẽ vô cùng to lớn vàkhông bao giờ cạn kiệt, song nếu không biết cách phát huy thì tài nguyên nàysẽ tự hao mòn dần và tự teo mất đi Khi đã mất thì khó và rất lâu mới có thểkhôi phục lại được
Vai trò là động lực cho phát triển của tri thức đã quá rõ ràng và các nhà lãnhđạo của bất kì quốc gia nào cũng đều nhận thức sâu sắc về điều này Songtừ nhận thức đúng đến việc thực thi chính sách thì quả là một vấn đề to lớn,mà không dễ gì làm được,đôi khi lại là nghiêm trọng Những nước phát triểnhoặc những nước có những nhà lãnh đạo giỏi , thì dù trong điều kiện tài chínhhạn hẹp họ đều thể hiện sự nhận thức về vai trò của tri thức bằng các chínhsách cụ thể, các chính sách đó được thể chế hóa, tài chính hóa và rất mựcnhất quán.Trong lịch sử không ít dẫn chứng như Pierre Đại Đế, Nhật hoàngMinh Trị, Vladimir Ilich LÊNIN, Chủ tịch Hồ Chí Minh…là những nhà lãnh đạoquốc gia có tầm chiến lược, biết sử dụng những người giỏi hơn mình, những tríthức, những nhân tài của đất nước, biết đầu tư đủ và thích đáng cho đào tạovà sử dụng tri thức, trong đó có khoa học và công nghệ, ngay trong nhữngđiều kiện eo hẹp về vốn Bởi vì họ biết rằng yếu tố tri thức là công cụ để mỗiquốc gia tồn tại ,phát triểnvà hùng mạnh Nghị quyết Đại hội VIII của ĐảngCộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:”Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục vàđào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài”
Trang 12Chương 2NỘI DUNG CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ _HIỆN HẠI HOÁ VIỆT NAM
Trước hết,phải nói rằng cho tới nay vấn đề công nghiệp hoá ở Việt Nam chưađược nghiên cứu một cách đầy đủ như là quá trình phát triển kinh tế-xã hộiphức tạp,mang tính hệ thống rất cao.Tuy nhiên,nội dung của chiến lược côngnghiệp hoá ở Việt Nam ít nhất cũng phải được thể hiện trong các vấn đề thenchốt sau đây:
1.Điều kiện trong nước và quốc tế để Việt Nam phát triển và hội nhập với thế giới.
Sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở nước ta bắt đầu từ cuốinăm 1960.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III(9-1960) của Đảng lao độngViệt Nam đã quyết địnhnhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở miền Bắcnước ta là Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa,mà mấu chốt là ưu tiên pháttriển công nghiệp nặng”.Sự nghiệp đó đến vẫn còn tiếp tục
Trong suốt thời gian tiến hành công nghiệp hoá,tình hình trong nước vàquốc tế luôn diễn biến rất sôi động,phức tạp và không thuận chiều.Bắt đầuCNH được bốn năm thì đế quốc Mỹ mở rộng chiến tramh phá hoại miềnBắc.Đất nước phải thực hiên đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược :Miền Bắc vừachiến đấu chống chiến tranh phá hoại ,vừa xây dựng;Miền Nam thục hiệncách mạng giải phóng dân tộc.Đát nước thống nhất,cả nước đi lên chủ nghĩaxã hội được vài năm thì kẻ thù gây ra chiến tranh biên giới.Chiến tranh biêngiới kết thúc lại kéo theo cấm vận của Mỹ
Nếu những năm 60,hệ thống xã hội chủ nghĩa lớn mạnh,phát triển nhanhkhông thua kém nhiều so với các nước tư bản chủ nghiã phát triển,có uy tín
Trang 13trên thế giới đã tạo ra hoàn cảnh quốc tế thuận lợi cho CNH ở nước ta thìsang những năm 70,80 hoàn cảnh quốc tế lại gây bất lợi cho quá trình CNHnước ta.Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa thế giới năm 1973 các nước XHCN dochuyển dịch cơ cấu và đổi mới công nghệ chậm hơn so với các nước TBCNnền kinh tế phát triển chậm ,hiệu quả thấp,uy tín trên thị trường quốc tếgiảm,công với nhửn sai lầm khác đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và cácnước Đông Aâu,làm mất đi thị trường lón và sự sụp đổkhông nhỏ từ các nướcnày(ứơc tính mỗi năm 1tỷ USD,chiếm 7%GPD)
Công nghiệp hoá ở nước ta xuất phát điểm rất thấp về phát triển kinh xã hội,về phát triển lực lượng sản xuất và từ trạng thái không phù hợp giữaquan hệ sản xuất với trình độ và tính chất phát triển của lực lượng sản xuất
Năm 1960 sản lượng công nghiệp chiếm 18,2% thu nhập quốc dân,7%laođộng xã hội trong các nghành kinh tế quốc dân;nông nghiệp chiếm tỷ lệtương ứng là 42,2% và 83%;sản lượng lương thực bình quân đầu người dứơi300kg quy thóc;GPD bình quân đầu người khoảng dưới 100USD.Trong khiphân công lao động xã hội chưa phát triển,lực lượng sản xuất còn ở trình độthấp thì quan hệ sản xuất đã được d8ẩy lên trình độ tập thể hoá và quốcdoanh hoá là chủ yếu.Đầu năm 1960:85,8% tổng số hộ nông dân vào hợp tácxã;100% hộ tư sản được cải tạo trong tổng số â tư sản công thương nghiệpthuộc diện cải tạo,gần 80% thợ thủ công cá thể vào hợp tác xã tiểu thủ côngnghiệp
Có thể chia quá trình CNH ở nước ta trong hơn 40 năm qua thành 2 giaiđoạn chính:
- Giai đoạn 1960-1986
- Giai đọan 1986 cho đến nay
Trang 142.Hệ thống các quan điểm phát triển bền vững
-Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phươnghóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế đối ngoại Dựa vào nguồn lực trongnước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài trên cơ sở xây dựngmột nền kinh tế mở , hội nhập với khu vự và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩuđồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước có hiệu quả -Công nghiệp hóa là sự nghiệp của toàn dân , của mọi thành phần kinhtế,trong đó thành phần kinh tế nhà nước là chủ đạo
-Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự pháttriển nhanh và bền vững Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đấtnước,không ngừng tăng tích lũy cho đầu tư phát triển Tăng trưởng kinh tế gắnvới đời sống nhân dân,phát triển văn hóa giáo dục, thựïc hiện tiến bộ công bằngxã hội
-Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa,kết hợp côngnghệ truyền thống với công nghệ hiện đại.Tranh thủ đi nhanh vào công nghệhiện đại ở những khâu quyết định
-Lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương ánphát triển , lựa chọn dự án đầu tư váo công nghệ Đầu tư chiều sâu để khai tháctối đa năng lực sản xuất hiện có.Trong phát triển mới, ưu tiên quy mô vừa vànhỏ, công nghệ tiên tiến,tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh Đồng thời xâydựng một số công trình quy mô lớn thật cần thiết và có hiệu quả
-Kết hợp chặt chẽ và toàn diện phát triển kinh tế với củng cố, tăng cườngnền quốc phòng an ninh của đất nước Về quan điểm này, Đảng cộng sản ViệtNam nhấn mạnh: Phải quan tâm đúng mức đến công nghiệp quốc phòng , xâydựng phương án và cơ chế để huy động các ngành công nghiệp phục vụ nhữngnhu cầu quốc phòng một cách có hiệu quả Đồng thời,tận dụng những năng lực
Trang 15công nghiệp của quốc phòng để sản xuất hàng dân dụng, góp phần đáp ứngnhu cầu của sản xuất và đời sống
Một trong những đặc điểm lớn của thời đại ngày nay là sự phát triển mạnhmẽ của cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật và công nghệ và cùng với nó là quátrình toàn cầu hóa kinh tế… Trong điều kiện ngày nay, công nghiệp hóa, hiện đạihóa ở nước ta như trên được Đảng ta xác định là “quá trình chuyển đổi căn bản,toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hộitừ sử dụng lao động thủ công là chính,sang sử dụng một cách phổ biến sức laođộng cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựatrên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ của khoa học-công nghệ, tạo ranăng suất lao động xã hội cao”.Quan niệm về công nghiệp hóa ,hiện đại hóa,như vậy đã thể hiện được vấn đề then chốt của quá trình này ở một nước tiểunông là cải biến lao động thủ công thành lao động sử dụng kĩ thuật tiên tiếntrong toàn bộ nền kinh tế để đạt được năng suất lao động xã hội cao, đồng thờiphản ánh được vai trò của bản thân nền công nghiệp và khoa học-công nghệtrong quá trình công nghiệp hóa ,hiện đại hóa
Ở đây cần nhấn mạnh rằng ,công nghiệp hóa không cần sự tăng thêm mộtcách giản đơn tốc độ và tỉ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, màlà cả một quá trình chuyển dịch cơ cấu, gắn liền với đổi mới công nghệ, tạo nềntảng cho sự tăng trưởng bền vững và có hiệu quả cao của toàn bộ nền kinh tếquốc dân Công nghiệp hóa phải đi đôi với hiện đại hóa, kết hợp với những bướctiến tuần tự về công nghệ, tận dụng phát triển chiều rộng, tạo nhiều công ănviệc làm cho đội ngũ đông đảo lan rộng hiện nay, với việc tranh thủ những cơhội đi tắt,đón đầu,phát triển chiều sâu,tạo nên những mũi nhọn theo trình độ tiếntriển của khoa học công nghệ thế giới”
Như vậy công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay là quá trình rộng lớn và phứctạp, nó được triển khai đồng thời với quá trình hiện đại hóa và luôn gắn bó vớiquá trình này Hiện đại hóa là làm cho cái gì đó mang tính chất của thời đại ngày
Trang 16nay-đó là tính hiện đại,tính tiên tiến.Do vậy, không thể đồng ý với ý kiến rằng,”vềthực chất quá trình hiện đại hóa đất nước tronh thời đại ngày nay là quá trìnhphát triển công nghệ nhằm làm thay đổi cơ cấu các ngành sản xuất, cơ cấu laođông và cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu,không ngu62ng nâng cao hiệu quảcũng như khả năng cạnh tranh của nền kinh tế”.Quan niệm này,ở một mức độnhất định,đã đồng nhất hiện đại hóa với công nghiệp hóa, đồng thời hạn chếquá trình hiện đại hoá chỉ trong phạm vi kinh tế.
3)Mục tiêu của công nghiệp hóa:
Mục tiêu tổng quát của sự nghiệp công nghiệp hóa của nước ta được Đảngcộng sản Việt Nam tại đại hội lần thứ VIII và tiếp tục được khẳng định tại Đại hộilần thứ IX là:”Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đờisống vật chất tinh thần của nhân dân , tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
Theo tinh thần của Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộngsản Việt Nam, chúng ta phải ra sức phấn đấu để đến năm 2020,về cơ bản, nước
ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Ở đây nước công nghiệp cần được hiểu là một nước có nền kinh tế mà trong đólao động công nghiệp trở thành phổ biến trong các ngành và các lĩnh vực củanền kinh tế.Tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế cả về GDP cả về lực lượnglao động đều vượt trội hơn so với nông nghiệp
Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên,trong mỗi giai đoạn phát triển của nền kinhtế, công nghiệp hóa cần phải thực hiện những mục tiêu cụ thể nhất định, đó là:
-Thứ nhất, phấn đấu đến năm 2020,xây dựng nước ta trở thành một nước
công nghiệp, kinh tế mạnh, tăng trưởng nhanh và bền vững, tăng nhanh tỉ trọngcông nghiệp và dịch vụ sao cho chiếm 90 GDP- một cơ cấu kinh tế mà cácnước phát triển đã đạt được
Trang 17-Thứ hai, xây dựng đội ngũ những người lao động có kỹ thuật, kỷ luật, có
kỹ năng lao động nhuần nhuyễn, trong đó lực lượng tri hức Đông Á số lượng,mạng về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đủ sức giải quyết những vấn đề đặt racủa sự phát triển kinh tế- xã hội Không ngừng nâng cao năng suất lao động,tăng hàm lượng “chất xám” trong một đơn vị sản phẩm Tăng sức cạng tranh củanền kinh tế thông qua quan hệ đối ngoại và xuất khẩu, trên cơ sở xây dựng quanhệ sản xuất tiến bộ, phấn đấu xây dựng nền dân chủ xãhội chủ nghĩa, tạo điềukiện cho mỗi công dân, mỗi tập thể đều được bình đẳng đóng góp tài năng vàoviệc phát triển đất nước và hưởng thụ những giá trị tương ứng với công sức củahọ Trên cơ sở phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất và nâng cao dịch vụ, chúng
ta phải xây dựng một xã hội hiện đại với những đặc trưng cơ bản của nó là năngđộng, luôn mang tính “tự đề kháng”,” tự điều tiết” và “tự phát triển”,”tự thíchnghi”để rồi vượt qua thử thách trong một thé giới hội nhập và cạnh tranh; xâydựng một xã hội hiện đại với một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc-một nền văn minh cao thể hiện trên tất cả các lĩnh vực; nâng cao dân trí,trình độ khoa học-công nghệ cho tất cả mọi tầng lớp nhân dân để mọi người đềucó lối sống, mức sống, hoạt động văn hoá, văn minh của thời đại với mục tiêu,nhiệm vụ và nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà nghị quyết Đại hộiVIII và Đại hội IX đã xác định, chúng tỏ Đảng ta đã có nhận thức mới, đúng đắnvà phù hợp với tình hình đất nước và thế giới.Chúng ta không thể xây dựngthàng công chủ nghĩa xã hội trên một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu và sẽkhông thể có một chế độ xã hội tốt đẹp nếu nhân dân chưa có được cuộc sốngấm no, hạng phúc, có trình độ văn hoá cao, tay nghề vững Vậy bằng cách nàođể tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để đếnnăm 2020 đua đất nước ta”cơ bản trở thành một nước công nghiệp”? Điều đóhoàn toàn không đơn giản, vì nếu chỉ thấy tính tất yếu của công nghệp hoá, hiệnđại hoá, muốn nhanh chóng trở thành nước công nghiệp hiện đại mà có thể chomọi thành phần kinh tế tự do phát triển, mở cửa cho bất kì tập đoàn tư bản nào,
Trang 18ở bất kì ngành công nghiệp nào, mở cửa tiếp nhận tất cảmọi sự đầu tư nướcngoài, vay vốn đầu tư tràn lan để nhập những thiết bị tiên tiến nhất…thì liệuchúng ta có giữ vững được mục tiêu của chủ nghĩa xã hội nữa hay không?Côngnghiệp hoá, hiện đại hoá định hướng xã hội chủ nghĩa khác với công nghiệphoá, hiện đại hoá tư bản chủ nghĩa là nó phải mang tính nhân văn sâu sắc.Nghĩa là công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải tạo điều kiện cho mọi người pháthuy hết tài năng trí tuệ của mình trong đời sống công nghiệp, tất cả đều xuấtphát từ con người và vì con người, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dânlao động.Mọi sự phát triển của xã hội trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhoá, đều do con người quyết định và đều hướng về con người, về cuộc sốngngày một tốt đẹp hơn của mỗi người, mỗi gia đình trong cộng đồng các dân tộcViệt Nam.Công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu con người đó phải lấy sựphát triển con người Việt Nam làm thước đo chung.Điều đó đòi hỏi Đảng ta thựcsự sáng suốt để lãnh đạo nhân dân đi đúng con đường mà Đảng và Chủ tịch HồChí Minh đã lựa chọn Để có được mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thíchhợp,về mặt phương pháp luận, chúng ta phải dựa trên cơ sở lý luận là học thuyếthình thái kinh tế- xã hôi và phải có được sự nhận thúc đúng đắn về cá nhân tốphát triển(các nguồn lực) Nếu mô hình công ngiệp hoá, hiện đại hoá được xâydựng chỉ dụa trên cơ sở các lý thuyết kinh tế mà không lấy việc phân tích đầy đủcác nhân tố phát triển làm căn cứ, thì ngay từ đầu nó đã không có tính khả thi Vìthế, gần đây khi hoạch địng các chính sách phát triển, các nhà hoạch định chínhsách đều phải quan tâm nghiên cứu, phân tính kĩ lưỡng vấn đề nguồn lực, đặcbiệt là nguồn nhân lực Đúng như nghị quyết hội nghị Trung ương 2 khóa VIII,Đảng ta đã xác định: “muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợiphải phát triển mạnh giáo dục-đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơbản của sự phát triển nhanh và bền vững”
4)Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
Trang 194.1)Những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
4.1.1)Phát triển lực lượng sản xuất – cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩaxã hội – trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng nhữngthành tựu khoa học – công nghệ hiện đại
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết là quá trình cải biến laođộng thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, tức là phải cơ khi1hoá nền kinh tế quốc dân Đó là bước chuyển đổi rất căn bản từ nền kinh tếnông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp
Đi liền với cơ khí hoa 1và tụ động hoá sản xuất từng bước và trong toàn bộ nềnkinh tế quốc dân Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải xâydưng và phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, trong đó là ngành chế tạo
tư liệu sản xuất Sở dĩ như vậy là vì, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác –Le6nin, tái sản xuất mở rộng của khu vực sản xuất tư liệu sản xuất, đặc biệt làcủa ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệu sản xuất, quyết định quymô tái sản xuất mở rộng (hay tốc độ tăng trưởng) của toàn bộ nền kinh tế Sựphát triển của cacù ngành chế tạo tư liệu sản xuất là cơ sở, là “ đòn xeo” để cảitạo, phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển khu vực nông – lâm – ngưnghiệp Sự phân tích trên cho ta thấy đối tượng công nghiệp hoá, hiện đại hoá làtất cả các ngành kinh tế quốc dân nhưng trước hết và quan trọng nhất là ngànhcông nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất
Đồng thời, mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn là sử dụng kỹthuật, công nghệ ngày càng tiên tiến hiện đại nhằm đạt năng suất lao động xãhội cao.Tất cả những điều đó chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở một nền khoahọc- công nghệ phát triển đến một trình độ nhất định
Khi nền khoa học thế giới đang có sự phát triển như vũ bão, khoa học đang trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp; khi mà công nghệ đang trở thành nhân tốquyết định chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất… tức là đến khả năng cạnh
Trang 20tranh của hàng hóa, hiệu quả của sản xuất, kinh doanh thì khoa học – côngnghệ phải là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bởi vậy phát triểnkhoa học – công nghệ có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá.
Phát triển khoa học – công nghệ trong điều kiện Việt Nam hiện nay cần chú ý tớinhững vấn đề sau đây:
Thứ nhất, phải xác định được những phương hướng đúng đắn cho sự phát
triển khoa học – công nghệ Sở dĩ như vậy là vì, khoa học – công nghệ là lĩnhvực hết sức rộng lớn; trong khi đó đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ nước tacòn nhỏ bé, chất lượng thấp; khả năng của đất nước ta về vốn liếng, phương tiệnnghiên cứu…rất hạn hẹp Do đó, chúng ta không thể cùng một lúc đầu tư để pháttriển tất cả các lĩnh vực khoa học – công nghệ, mà phải lựa chọn những lĩnh vựcnhất định để đầu tư Nếu việc lựa chọn đúng sẽ tạo điều kiện cho khoa học –công nghệ phát triển và ngược lại, nếu việc lựa chọn không đúng thì khôngnhững ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của khoa học – công nghệ mà còn ảnhhưởng không tốt đến công nghiệp hoá, hiện đại hóa, Phương hướng chung chosự phát triển khoa học – công nghệ ở nước ta là: phát huy những lợi thế của đấtnước , tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, đặc biệt là công nghệthông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ởmức độ cao hơn và phổ biến nhiều hơn những thành tựu mới về khoa học vàcông nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức
Thứ hai, phải tạo được những điều kiện cần thiết cho sự phát triển khoa học
– công nghệ Việc xác định những phương hướng đúng cho sự phát triển khoahọc – công nghệ là cần thiết nhưng chưa đủ, mà khoa học – công nghệ chỉ pháttriển khi được bảo đảm những điều kiện kinh tế- xã hội cần thiết Những điềukiện đó là : đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ có số lượng đủ lớn, chất lươngcao ; đầu tư ở mức cần thiết; các cính sách kinh tế – xã hội phù hợp…
Trang 21Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, người lao động – lực lượngsản xuất thứ nhất – không những phải được nâng cao trình độ văn hoá và khoahọc – công nghệ mà còn phải được trang bị cả cơ sở vật chất - -kỹ thuật tiên tiến Họ vừa là kết quả sự phát triển lực lượng sản xuất , vừa là người tạo ra sự pháttriển đó.
4.1.1.1)Trong lĩnh vực kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá có nội dung
rất phong phú, trước hết chúng ta phải kịp thời nắm bắt những thàng tựu khoahọc – công nghệ vừa hiện đại, vừa đáp ứng được yêu cầu phát triển cụ thể củađất nước ta để áp dụng vào nền kinh tế quốc dân (sản xuất, tổ chúc quản lý, lưuthông, phân phối, tiêu dùng…) Đồng thời, tiến hành đồi mới công nghệ truyềnthống để tạo ra một hệ thống công nghệ nhiều tầng, nhiều lớp với các hình thứcvà trình độ khác nhau( từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp), trong đó, đặcbiệt ưu tiên cho những công nghệ sạch, công ghệ tiết kiệm được nguyên nhiênvật liệu và những công nghệ mũi nhọn
Chúng ta cần dựa vào những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại và thíchhợp cùng với kinh nghiệm lịch sử để thực hiện những bước chuyể dịch cơ cấukinh tế theo vùng và theo ngành trên cơ sở lợi thế của mỗi vùng, mỗi ngành;đổng thời kết hợp với việc ứng dụng những công nghệ mới và tham gia vào quátrình hợp tác trong nước và quốc tế
Trên cơ sở vận dụng những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại và thựchiện những bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cần đẩy nhanh việc phân công mớivà phân công lại lao động xã hội để tạo ra nhiều ngành chuyên môn, nhiềungành nghề… đáp ứng nhu cầu việc làm của người lao động mà đối với nước tanhu cầu đó đã ở mức báo động
Cùng với đó, chúng ta cần phải xây dựng một hệ thống các doanh nghiệpvới những quy mô và trình độ khác nhau(lớn , vừa , nhỏ), trong đó dặc biệt chú ýxây dựng các doanh nghiệp vừa và nhỏ Bởi vì, các doanh nghiệp vừa và nhỏđáp ứng được tình hình cụ thể của nước ta hiện nay là cơ sở vật chất - -kỹ thuật
Trang 22còn nghèo, trình độ tổ chức, quản lý của cán bộ còn tháp, trình độ kỹ thuật vàtay nghè của người lao động chưa cao, trong khi sức ép về dân số và việc làmngày càng tăng…
Mặt khác, kinh nghiệm của các nước phát triển và các nước công nghiệp mới
ở châu Á cho thấy, những doanh nghiệp vừa và nhûỏ có những ưu thế nổi trộitrong điều kiện thị trừơng và cạnh tranh do tính năng động và thích ứng cao củanó,đầu tư vốn không lớn,áp dụng công nghệ mới nhanh,tổ chức quản lý gọn nhẹvà mang lại hiệu quả cao,trong những trường hợp cần thiết có thể nhanh chóngchuyển đổi cơ cấu,thay đổi công nghệ và các mặt hàng sản xuất kinh doanh …
Như vậy, có thể nói công nghiệp hoá,hiện đại hoá trong lĩnh vực kinh tế làquá trình sử dụng nhữõng công cụ,phương tiện cùng những thành tựu khoa học-công nghệ hiện đại,thích hợp với nước ta và những kinh nghiệm mà chúng ta đãtích lũy được để cải biến toàn bộ nền kinh tế nhằm không chỉ tạo ra nền tảngcho sự tăng trưởng ,phát triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế,mà còn tạo ranhững điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần,để thực hiện công nghiệphoá,hiện đại hoá trong các lĩnh vực chính trị,văn hoá,khoa học-công nghệ…xã hộiViệt Nam hiện đại là một xã hội không chỉ có nền kinh tế tăng trưởng,phát triểnbền vững,mà còn phải có chế độ chính trị tiên tiến,dựa trên một nền dânchủthực sự-dân chủ xã hội chủ nghĩa Trong d0ó, có đủ những điều kiện cầnthiết để thực hiện “dân giàu ,nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ và vănminh”
4.112)Trong lĩnh vực chính trị – xã hội,công nghiệp hoá,hiện đại hoá là
quá trình sử dụng những thành tựu khoa học,tư tửơng lý luận và công nghệquản xã hội hiện đại cùng những kinh nghiệm thực tiễn chính trị để đổi mới toàndiện, triệt để, đúng hướng hệ thống chính trị của xã hội, tạo ra thiết chế dân chủthực sự Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong lĩnh vực chính trị - xã
Trang 23hội, trước hết cần phải làm trong sạch và lành mạnh hoá các tổ chúc,thiết kếtrong hệ thống trính trị.Xây dững vàthực hiện một cơ chế vận hành đồng bộ,thíchhợp của hệ thống chính trị theo nguyên tắc:Đảng lãnh đạo bằng đường lối vàcác chính sách,Nhà nước tổ chức quản lý bằng pháp luật và tuân theo phápluật,các tổ chức chính trị-xã hội động viên nhân dân phát huy quyền làm chủcủa mình,thực hiện tốt đường lối ,chính sánh và pháp luật của Đảng và Nhànước,tham gia tích cực vào công việc quản lý Nhà nước.
Để có được một nhà nước hiện đại,tiên tiến,đủ sức quản lý đất nước trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá ,hiện đại hoá,chúnh ta cần phải ra sức xâydựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam trên cơ sỏ xã hội công dân.Đố là Nhànước thực sự của dân,do dân và vì dân.Ở đây,”không phải Nhà nước chế ứơc vàquyết định xã hội công dân,mà xã hội công dân chế ứơc và quyết định Nhànước”(C.Mác).Xã hội công dân đó,một mặt yêu cầu Nhà nước phải tổ chức ,quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật; mặt khác, đòi hỏi mỗi thànhviên của xã hội phải có ý thức pháp luật sống, học tập, làm việc, sinh hoạt theohiến pháp và pháp luật
Cùng với đó, để có được Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và
vì dân, chúng ta phải xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật Ơûđây, pháp luật không những phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan củaxã hội, mà còn thể hiện quyền lợi và nghĩa vụ, tự do và trách nhiệm của côngdân và các tổ chức chính trị - xã hội
4.113)Trong lĩnh vực văn hoá, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
quá trình sử dụng những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại và những gíatrị vật chất và tinh thần được nhân loại làm ra trong lịch sử để xây dựng nền vănhoá tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, với những đặc trưng cơ bản là dân tộc,
Trang 24hiện đại, nhân văn Chỉ có như vậy, văn hoá mới trở thành nền tảng tinh thầncuả xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển cuảdân tộc và làđộng lực phát triển kinh tế xà hội…Nộ dung của quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá có thể nói là khá phong phú Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoátrong lĩnh vực văn hoá, trước hết chúng ta cần phải tạo ra những điều kiện hiệnthực về vật chất, tinh thần, cơ chế…để phát triển cơ chế trí tuệ văn hoá, nghệthuật, kích thích tự do sáng tạo của mọi người, mỗ tập thể, của cả cộng đồng.Đồng thời, cần tận dụng mọi thành quả văn hoá, nghệ thuật để xây dựng đấtnước Nhanh chóng tạo ra môi trường văn hoá mới để hình thành, phát triểnnhân cách của con người việt Nam hiện đại.Đồng thời mở rộng giao lưu văn hoávới nước ngoài,nhằm tiếp thu những thành tựu văn hoá nhân loại phục vụ choviệc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc.Cùng vớinó,chúng ta cũng cần phải tiến hành một cách thường xuyên và kiên quyết cuộcđấu tranh chống các loại phản văn hoá,tránh khuynh hứng thương mại hoá vănhoá và kịp thời ngăn chặn các quan hệ văn hoá-xã hội.
Như vậy,trong lĩnh vực văn hoá,thực hiện công nghiệp hoá ,hiện đại hóa làquá trình không chỉ xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến ,đậm đà bản sắc dântộc,mà còn góp phần xây dựng con người Việt Nam hiện đại với những phẩmchất tích cực mang tính nhân bản và nhân văn cao cả
4.114)Trong lĩnh vực giáo dục –đào tạo ,đó là quá trình sử dụng chính
những thành tựu của giáo dục-đáo tạo và khoa học công nghệ để tiếp tục đổimới triệt để và toàn diện hệ thống giáo dục đào tạo rheo định hướng xã hội chủnghĩa.Bởi lẽ,sự nghiệp công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đòi hỏi trước hết phải cóconngừơi rất mực trung thành ,giàu lòng ỵêu nước ,có trình độ văn hoá cao,kiếnthức khoa học hiên đại và kỹ năng thành thạo,có khả năng lảm ra những sảnphẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.Nói một cách khácđó là những con người “vừa hồng,vừa chuyên”,vừa giữ gìn và phát huy truyền
Trang 25thống”nhân ,trí ,dũng”của dân tộc ,lại vừa có khả năng tiếp thu được nhữngthành tựu của nền văn minh hiện đại góp phần làm cho “ dân giàu, nước mạnh,xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”
Để có được những con người với những phẩm chất tốt đẹp như trên, côngnghiệp hoá, hiện đại hoá giáo dục – đào tạo đòi hỏi phải thực hiện những nộidung chủ yếu dưới đây:
Trước hết, quan điểm coi “ giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu” phảiđược quán triệt và thể hiện không chỉ trong các Nghị quyết, chính sách, mà còntrong phạm vi toàn xã hội Với tư cách là “ quốc sách hàng đầu”, giáo dục – đàotạo phải thực sự trở thành phong trào cách mạng của quần chúng, trong đó lựclượng nòng cốt là đội ngũ cán bộ ngành giáo dục đào tạo
Cùng với đó, cần thúc đẩy quá trình đa dạng hoá, kế hoạch hoá và xã hộihoá giáo dục – đào tạo trên cơ sở “ thấm nhuầ sâu sắc tính nhân dân, tính dântộc và tình hiện đại”, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hiện nay giáo dục – đàotạo phải theo hướng cân đối giữa “ dạy người, dạy chữ, dạy nghề, trong đó dạyngười là mục đích cao nhất…” Cần lưu ý rằng, quá trình đa dạng hoá, kế hoạchhoá, xã hội hoá giáo dục – đào tạo phải giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩatrong nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo, trong các chính sách, nhất làchính sách công bằng xã hội, phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởngtiêu cực của cơ chế thị trường đối với giáo dục – đào tạo Chống khuynh hướng “thương mại hoá”, đề phòng khuynh hướng phi chính trị hoá giáo dục – đào tạo.Cần xây dựng một chương trình, nội dung chuẩn quốc gia cho từng môn học ởtừng cấp học và lớp học, trong đó bao gồm:khối kiến thức cơ bản, bắt buộc (ítbiến đổi và biến đổi chậm); khối kiến thức mở rộng và nâng cao để người học tựchọn ( biến đổ tương đối linh hoạt tuỳ thuộc vào đối tượng và mục tiêu đào tạo);khối kiến thức bổ sung( do có những phát minh, tri thức mới, hoặc do yêu cầumới của giáo dục – đào tạo cần bổ sung thêm…)
Trang 26Để nhanh chóng có được nguồn lực chất lượng cao, trước hết phải có độingũ giáo viên và cán bộ lãnh đạo, quản lý giáo dục – đào tạo đủ về số lượng,đồng bộ về cơ cấu, mạnh về chất lượng Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Hộinghị lần thứ hai ban chấp hành Trung uơng khoá VIII nhấn mạnh: “ Phải đặc biệtchăm lo đào tạo bồi dưỡng và tiêu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cũng như cán bộquản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đào đức và năng lực chuyên mônnghiệp vụ” Cần đưa ra và thực hiện một cách nghiêm túc bộ luật giáo dục – đàotạo, luật giáo dục – đào tạo phải thể hiện được những nội dung chủ yếu : mụctiêu, đối tượng và những điều kiện của giáo dục – đào tạo ; chương trình, nộidung và phương pháp giáo dục – đào tạo ở từng cấp học; những chuẩn mựcmang tính mô phạm của người thầy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý và của họcsinh , sinh viên , đồng thời quy định quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm công dâncủa họ trong hệ thống giáo dục – đào tạo , trật tự, kỷ cương, nền nếp và chế độthưởng phạt trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo.
4.1.2)Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá, hợp lý và hiệu quả cao
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng là quá trình chuyển đổi cơcấu kinh tế Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là cấu tạo hay cấu trúc của nềnkinh tế bao gồm các ngàng kinh tế ,các vùng kinh tế , các thành phần kinh tế…và mối quan hệ hữu cơ giữa chúng Trong cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu cácngành kinh tế là quan trọng nhất, quyết định các hình thức cơ cấu kinh tế khác
Cơ cấu kinh tế hợp lý là điều kiện để nền kinh tế tăng trưởng, phát triển Ví vậy,công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệnđại
Cơ cấu kinh tế không ngừng vận động, biến đổi (hay còn gọi là chuyểndịch) do sự vận động, biến đổi của lực lượng sản xuất và của quan hệ sản xuất
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý, tiến bộ là tỷ trọng khu
Trang 27vực công nghiệp và xây dựng, đặc biệt là tỷ trọng khu vực dịch vụ ngày càngtăng; tỷ trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp và khai khoáng ngày càng giảmtrong tổng giá trị sản phẩm xã hội
Quá trình hình thành và phát triển các ngành kinh tế, nhất là những ngànhcó hảm lượng khoa học cao; sự xuất hiện các vùng sản xuất chuyên canh tậptrung… không chỉ là biểu hiện của sự phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển
cơ sở vật chất kỹ thuật trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà cònlàm cho cơ cấu kinh tế thay đổi tiến bộ
Cơ cấu kinh tế hợp lý trong một nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi công– nông nghiệp – dịch vụ phát triển mạnh mẽ, hợp lý và đồng bộ Mạng lưới dịchvụ với tư cách là một ngành kinh tế phát triển mới có thể phục vụ tốt cho sự pháttriển mạnh mẽ các ngành công nghiệp và nông nghiệp
Xây dựng cơ cấu kinh tế cần thiết là yêu cầu khách quan của mỗi nướctrong thời kì công nghiệp hoá Vấn đề quan trọng là tạo ra một cơ cấu kinh tếhợp lý MộÄt cơ cấu kinh tế hợp lý khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
-Nông nghiệp phải giảm dần về tỷ trọng;công nghiệp, xây dựng và dịch vụphải tăng dần về tỷ trọng
-Trình độ kỹ thuật của nền kinh tế không ngừng tiến bộ,phù hợp với xu hướngcủa sự tiến bộ khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão trên thếgiới
-Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước,của các ngành,cácđịa phương,các thành phần kinh tế
-Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu hướng toàn cầu hoákinh tế,do vậy cơ cấu kinh tế được tạo dựng phải là “cơ cấu mở”
Ở nước ta, kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay,dưới ánh sángcủa đường lối đổi mới ,việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đạt được những thànhtựu quan trọng
Trang 28Thông qua cánh mạng khoa học –công nghệ và phân công lại lao động vớinhững tính quy luật vốn có của nó,thích ứng với điều kiện nước ta,Đảng ta đãxác định một cơ cấu hợp lý mà “bộ xương” của nó là cơ cấu kinh tế công-nôngnghiệp-dịch vụ gắn với phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng.Mục tiêu phấnđấu của nước ta đến năm 2010 là tỷ trọng GPD của nông nghiệp là 16-17%;công nghiệp 40-41%,dịch vụ 42-43%.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội được thực hiện theo phương châm:kết hợp công nghệ với nhiều trìnhđộ ,tranh thủ công nghệ mũi nhọn-tiên tiến vừa tận dụng được nguồn lao độngdồi dào ,vừa cho phép rút ngắn khoảng cách lạc hậu,vừa phù hợp với nguồn vốncó hạn ở trong nước ;lấy quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu ,có tính đến quy mô lớnnhưng phải là quy mô hợp lý và có điều kiện; giữ được tốc độ tăng trưởng hợp lý,tạo ra sự can đối giữa các ngành,các lĩnh vực kinh tế và các vùng trong ngànhkinh tế… chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong những năm trước mắt cầnthực hiện theo định hướng sau nay:Chuyển dịch cơ cấu kinh tế,cơ cấu đầu tưdựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và các lợi thế so sánh của đất nước, tăngsức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trường trong nước và ngoài nước, nhu cầuđời sống nhân dân và quốc phòng,an ninh Tạo thêm sức mua của thị trườngtrong nước và mở rộng thị trường ngoài nước,nay mạnh xuất khẩu
4.1.3)Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Công nghiệp hóa ở nước ta nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội Dođó , công nghiệp hóa không chỉ là phát triển lực lượng sản xuất, mà còn là quátrình thiết lập,củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướngxã hội chủ nghĩa
Theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất, bất cứ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất,nhất là quan hệ sở
Trang 29hữu về tư liệu sản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượngsản xuất Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ phát triển mạnh mẽ lựclượng sản xuất, khơi day và khai thác mọi tiềm năng kinh tế, mọi nguồn lực đểthúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tùy theo trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất mà quan hệ sản xuất sẽ từng bước được cải biến cho phù hợp
Trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất hiện đại tất yếu đòi hỏi phảixác lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất tất yếu Vì vậy, khi cơ sở vậtchất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội được xây doing xong về cơ bản thì chế độcông hữu sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối Nhưng để đạt tới trình độ đó phải trải quaquá trình phát triển kinh tế-xã hội lâu dài, trong đó quan hệ sản xuất được cảibiến dần từ thấp đến cao theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tiêuchuan để xét moat quan hệ sản xuất nhất định có phù hợp với tính chất và trìnhđộ lực lượng sản xuất hay không, có đúng định hướng xã hội chủ nghĩa haykhông, là ở chỗ nó có thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và cải thiện đờisống nhân dân, tạo điều kiện thực hiện công bằng xã hội tốt hơn hay không?
4.2)Những nội dung cụ thể của công nghiệp hóa ,hiện đại hóa ở nước ta trong những năm trước mắt
4.2.1)Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
Nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể phát triển nhanh khi chúng ta thúc đẩynông thôn cùng phát triển với thành thị Đây là moat mục tiêu lớn và lâu dài vànay cũng là mục tiêu mà chúng ta dứt khoát phải thực hiện bởi chỉ có như vậychúng ta mới tạo ra được moat đời sống giàu có cho mỗi người dân
Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gần với công nghiệp chế biếnnông ,lâm, thủy sản nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng củanông ,lâm ,ngư nghiệp,bảo đảm vững chắc yêu cầu an toàn cho xã hội; tạonguồn nguyên liệu có khối lượng lớn, chất lượng cao, giá thành hạ, đủ yêu cầu
Trang 30đáp ứng của công nghiệp chế biến; tăng giá trị và khối lượng hàng xuất khẩu;tăng thêm việc làm và thu nhập cho ngừơi lao động; phân công lại lao động xãhội, hình thành các điểm công nghiệp gắn liền với đô thị hóa tại chỗ mở mang thịtrường sản phẩm và dịch vụ cho công nghiệp
Để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôncan phải chú trọng đến các vấn đè thủy lợi hóa, áp dụng công nghệ tiến bộ,nhất là công nghệ sinh học, cơ giới hóa, điện khí hóa; phát triển mạnh côngthong nghiệp, dịch vụ, du loch…; tăng cường xây doing kết cấu hạ tầng…
Biện pháp: -Thực hiện nhất thể hóa nông –công-thương, mở rộng công nghiệp
-Ra sức phát triển công nghiệp ở các tuyến đường sắt, quốc lộnhằm gắn thành phố với nông thôn thành moat khối Điều đó sẽ phát triểnnhanh các vùng nông thôn
-Dùng tiền lãi trong các lĩnh vực công nghiệp giúp đỡ lĩnh vựcnông nghiệp
-Đầu tư phát triển công nghiệp nông thôn như ở Mỹ, Nhật Bản,Trung Quốc…
4.2.2)Phát triển công nghiệp chế biến
Hướng ưu tiên phát triển công nghiệp là các ngành chế biến long thực- thựcphẩm, sản xuất hàng tiêu dùng,hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tủ và côngnghiệp thông tin Xây doing có chọn lọc moat số cơ sở công nghiệp nặng trongnhững ngành trọng yếu mà nhu cầu đòi hỏi bức bách và có điều kiện về vốn,công nghệ, thị trường để phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả ( năng lượng-nhiên liệu,vật liệu xây du65ng, cơ khí chế tạo,đóng và sửa chữa tàu thủy, luyệnkim, hóa chất)
4.2.3) Cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng vật chất của nền kinh tế
Trong cơ chế thị trường, kết cấu hạ tầng có vai trò heat sức quan trọng đốivới sự phát triển của sản xuất, kinh doanh và đời sống dân cư Từ moat nền kinh
Trang 31tế nghèo nàn, laic hậu đi lean chủ nghĩa xã hội, kết cấu của hạ tầng nền kinh tếnước ta heat sức thấp kém, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất kinhdoanh và của đời sống dân cư.Do vậy, trong những name trước mắt, việc xâydựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế được coi là moat nội dung của côngnghiệp hóa, hiện đại hóa
Do khả năng tài chính có hạn, trong những name trước mắt, việc xây dựngkết cấu hạ tầng phải tập trung vào khâu cải tạo, mở rộng, nâng cấp Việc xâydựng mới chỉ có mức độ và phải tập trung vào những khâu trọng điểm, có ýnghĩa quan trọng đối với nền kinh tế hoặc vùng kinh tế.Có như vậy mới tạo điềukiện cho mở rộng đầu tư phát triển, nhất là việc thu hút vốn đầu tư từ bean ngoài
4.2.4)Phát triển nhanh dịch vụ các ngành dịch vụ
chính- viễn thông, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, pháp lý, thong mại…trướcheat nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ của nhân dân Mức thu nhập, mức sống càngcao, nhu cầu về các loại dịch vụ của dân cư càng lớn Phát triển dịch vụ còn nhằmnâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh Trong cơ chế thị trường, hiệu quả của cácdoanh nghiệp tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố: doanh nghiệp có đủ vốn kinh doanh haykhông? Thông tin cho doanh nghiệp có kịp thời, nay đủ và chính xác hay không? Hànghóa sản xuất có bán được không? Nhanh hay chậm?…Do đó , sự phát triển các ngànhngân hàng, thông tin bưu điện, thong mại, giao thông vận tải… trực tiếp quyết định hiệuquả của các ngành sản xuất vật liệu, kinh doanh
Sự phát triển của ngành du lịch, một mặt cho phép các tiềm năng du lịch tăng thunhập, tạo việc làm cho dân cư… Mặt khác, sự phát triển của ngành du loch còn gópphần mở rộng giao lưu, phát triển kinh tế đối ngoại, mở cửa nền kinh tế Bởi vậy, pháttriển nhanh ngành du lịch, dịch vụ được coi là moat nội dung của công nghiệp hóa, hiệnđại hóa ở nước ta trong những name trước mắt
4.2.5) Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế,tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau, làm cho tất cả các vùng cùng nhau phát
Trang 32triển Trong những name trước mắt phải tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnhvực, các địa bàn trọng điểm có điều kiện sớm đưa lại hiệu quả cao, đồng thời phải hỗtrợ cho những nơi khó khăn, đẩy mạnh hợp tác phát triển, bảo đảm cho các vùng, cáclãnh thổ và các thành phần dân cư đều có lợi và đều được hưởng thành quả của sựtăng trưởng kinh tế Kết hợp phát triển và quản lý theo ngành với phát triển và quản lýtheo lãnh thổ Về phương hướng phát triển vùng lãnh thổ ở nước ta trong thời gian tới,Đảng Cộng Sản Việt Nam xác địng, phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểmcó mức tăng trưởng cao, tích luỹ lớn; đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng kháctrên cơ sở phát huy thế mạnh của từng vùng, liên kết với trọng điểm tạo mức tăngtrưởng khá Quan tâm phát triển kinh tế – xã hội gắn với tăng cường quốc phòng – anninh ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, chú trọngcác vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Có chính sách hỗ trợ nhiều hơn cho cácvùng khó khăn để phát triển kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, nâng cao dân trí , xoáđói giảm nghèo, đưa các vùng này vượt qua tình trạng kém phát triển.
4.2.6) Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, mở cứa nền kinh tế là cần thiết với tất cả các nước
Do đó công nghiệp hoá , hiện đại hoá không thể thành công nếu không mở cửa nềnkinh tế Sau thời kì khá dài đóng cửa, hiện nay mở cửa nền kinh tế là nhu cầu cấp báchđối với nền kinh tế nước ta , là một nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta trong những năm trước mắt Tuy nhiên, mở cửa hội nhập như thế nào cũng can đượccân nhắc kỹ càng nhằm tranh thủ những tác động tích cực, hạn chế những tác độngtiêu cực của quá trình này với tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế
Trong việc mở cửa, hội nhập, phải đẩy mạnh xuất khảu, coi xuất khẩu là hướng ưutiên và là trọng điểm Chuyể hướng chiến lược, xây dựng nền kinh tế mở đòi hỏi phảiđiều chỉnh cơ cấu kinh tế để vừa hội nhập toàn cầu
4.3) Các giai đoạn phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá
4.3.1)Giai đoạn 1960 – 1986:
Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là thực hiện một chiến lược nhất quán được xácđịnh từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III ( 9/1960) và có điều chỉnh, bổ sung
Trang 33chút ít trong các kì Đại hội IV (12/1976), V(1981) và các hội nghị trung uơng Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ III đã ghi rõ: “ Muốn cải tiến tình trạng nông nghiệp laic hậu hiệnnay của nước ta , đưa nước ta từ chế độ sản xuất nhỏ là chủ yếu lê sản xuất lớn xã hộichủ nghĩa, chúng ta không còn con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hoáxã hội chủ nghĩa( CNHCNXH) Vì vậy CNHXHCN là nhiệm vụ trung tâm của thời kì quáđộ của nước ta và chủ trương của Đảng ta về công nghie6p hoá XHCN ở miền Bắc là :
“xây dựng một nền kinh tế XHCN cân đố và hiện đại, kết hợp với nông nghiệp và lấycông nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và côngnghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước cócông nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại”
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi (1961 – 1964) CNH ở miền Bắc đã được tiếnhành với nhịp điệu khan trương trong điều kiện hoà bình và thu được kết quả đáng ghinhận Năm 1965 so với năm 1955 vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong công nghiệp tăng
6 lần, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 9,2 lần, trong khi dó đầu tư cơ bản trongnông nghiệp chỉ tăng 1,96 lần và giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng 1,6 lần
Trong thời kì 1961-1965 Tốc độ tăng bình quân giá trị tổng sản lượng công nghiệplà 13,7, của công nghiệp 4,1 Do vậy tỉ trọng công nghiệp trong thu nhập quốc dântăng từ:16(1957) lean 18,2 (1960) và 22,2 (1965) còn tỉ trọng nông nghiệp giảm từ
44 (1957) xuống 42,3 (1960) và 41,7 (1965) D9ến năm 1964 miền bắc nước ta vềcăn bản d9a4gia3i quyết được vấn đề long thực và đáp ứng 90 nhu cầu hàng tiêudùng đồng thời bắt đầu tạo nguồn tích lũy từ trong nước
Đầu năm 1965, đế quốc Mĩ đã mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân ramiền bắc Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương chuyển hướng xâydựng và phát triển kinh tế cho phù hợp với thời chiến, đồng thời vẫn đảm bảo phươnghướng lâu dài của sự nghiệp công nghiệp hóa Đảng ta chủ trương vừa” chú trọng đúngmức xây dựng kinh tế Trung uơng vừa lấy xây dựng kinh tế địa phương làm trọng tâm,vừa sản xuất vừa chiến đấu”
Ngay trong những năm đầu chiến tranh phá hoại do Mĩ gay ra, vốn cho phát triểnkinh tế vẫn tăng lean So với thời kì 1955-1957 vốn cho phát triển kinh tế trong thời kì1965-1968 tăng 5,7 lần Mặc dù năm 1972 là năm Đế quốc Mĩ đánh phá ác liệt nhất,
Trang 34vốn chi cho phát triển kinh tế vẫn gấp 2,4 lần so với 1960 và gấp 1,8 lần so với năm1964
Vốn đầu tư vào công nghiệp luôn chiếm tỉ trong lớn trong tổng số vốn đầu tư chokhu vực sản xuất vật chất nói riêng và trong kinh tế quốc dân nói chung: 37,4 (1958-1960); 44 (1961-1965);32,4 (1966-1971); 32,9 (1972-1975) Trong đó phần đầu tưcủa Nhà nước trong công nghiệp do địa phương quản lý tăng nhanh về tốc độ và nânglean về tỉ trọng
Dù trong hoàn cảnh phải đánh trả 2 lần chiến tranh phá hoại ác liệt, phải tập trungsức người , sức của cho giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, miền bắc vẫn tiếptục phát triển kinh tế-xã hội liên tục công nghiệp hóa và đã đạt được những thành tựu:”
cơ sở vật chất- kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội được xây dựng một bước Đã có những cơsở đầu tiên của công nghiệp nặng Năng lực các ngành công nghiệp, giao thông, xâydựng đều tăng so với trước chiến tranh”
Nếu trong thời kì 1961-1965 tốc độ tăng bình quân hàng năm của tài sản cố định là15,5 thì trong suốt thời kì chiến tranh phá hoại (1966-1970) tốc độ tăng vẫn là 12,2.Tài sản cố định 1975 so với năm 1960: trong công nghiệp tăng 4,5 lần, trong nôngnghiệp tăng 6,0
Đến năm 1975 cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch quan trọng, tỷ trọng công nghiệptrong thu nhập quốc dân được nâng lean 16 (1957); 18,2 (1960); 22,2 (1965);26,6 (1971); 24,2 (1974); 28,7(1975)
Cơ cấu công nghiệp đã có sự phát triển và chuyển dịch Những cơ sở đầu tiên củacác ngành công nghiệp nặng quan trọng đã được xây dựng và phát triển, như: điện,than, cơ khí, luyện kim,hóa chất, vật liệu xây dựng… Tốc độ phát triển các ngành thuộccông nghiệp nhóm A nhanh hơn tốc độ phát triển chung của toàn ngành công nghiệp.Năm 1975 so với năm 1955 giá trị sản lượng ngành điện lực gấp 22,3 lần, của ngánh
cơ khí gấp 59,8 lần, trong lúc toàn ngành công nghiệp chỉ tăng 16,2 lần Trên miền Bắcđã hình thành nhiều khu công nghiệp tập trung:Hà Nội, Hải phòng, Quảng Ninh, HàBắc, Việt Trì, Thái Nguyên, Nam Định, Thanh Hóa,Vinh…
Đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và công nhân kỹ thuật tăng khá nhanh, là vốnquý, là yếu tố quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa ở thời kì này và các thời kì kế