Sự phát triển của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, báo cáo môn kinh tế chính trị, tài liệu cần thiết cho học viên, sinh viên nghiên cứu, học tập cũng như làm tiểu luận trong quá trình ôn luyện và học tập của mình.
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG
TP.HỒ CHÍ MINH -
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài:
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: LÊ HÙNG Sinh viên thực hiện: NGUYỄN LÊ MAI ANH Lớp: Cao đẳng 19E1
Trang 2Tp Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2005
LỜI GIỚI THIỆU
Hiện nay việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu,bao cấp sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ trung tâmcủa các nước xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh tế Đây là một vấn đề khôngđơn giản đòi hỏi phải nghiên cứu để giải quyết một cách sáng tạo hàng loạt vấnđề Tuy nhiên trong thời đại của thông tin hiện đại và khoa học_ kĩ thuật tiêntiến, mỗi nước có thể rút ngắn quá trình thực hiện việc chuyển đổi cơ chế kinhtế, giảm bớt đến mức thấp nhất cái giá phải trả trong quá trình chuyển đổi đầykhó khăn ấy bằng cách học tập cách làm của các nước khác để giải quyết từngbước vấn đề trong điều kiện cụ thể của nước mình, sáng tạo cách làm có hiệuquả nhất
Ở hầu hết các quốc gia này, những thiếu sót của của chính sách kinh tếmang một số đặc điểm của kinh tế kế họach hóa trong quá khứ ngày càng trởnên rõ ràng Việc kế họach hóa các qui trình kinh tế đã bị lung lay hòan tòan.Những ảnh hưởng nghiêm trọng bắt nguồn từ sự méo mó của giá cả dẫn tới việcphân bổ không hợp lý các nhân tố sản xuất đã được đưa ra ánh sáng Người takhông thể bỏ qua sự yếu kém , sa sút và thiếu năng lực quản lý Nhà Nước Từđó dẫn đến sự gia tăng khoảng cách giữa người giàu và người nghèo
Trang 3Không còn ai nghi ngờ về sự thất bại của hệ thống kinh tế kế họach hóatập trung Tất cả những điều trên đã buộc các quốc gia đang phát triển phải giatăng một cách đáng kể các nỗ lực tìm kiếm một khái niệm kinh tế mới không cónhững tác dụng phụ tiêu cực của cả hai hình thái trên Do vậy ngày càng cónhiều người quan tâm tới mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa Để có thể biết được
xu hướng phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, biết được những hạn chếvà phương hướng giải quyết nhằm phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam Em chọn đề tài “Sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam “
Hiểu thế nào là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là việc sử dụng kinh tếthị trường để thực hiện mục tiêu của chủ nghĩaã hội Đây là quá trình phải giảiquyết đồng thời hai vấn đề vừa phát triển kinh tế thị trường,vừa phải giải quyếtnhững mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Việc giải quyết hai vấn đề này phải gắnbó chặt chẽ với nhau ngay từ đầu và suốt trong quá trình phát triển của nó,chínhđiều này là điểm phân biệt giữa kinh tế thị trường dưới chủ nghĩa tư bản với kinhtế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,ở đây có hai vấn đề cần quán triệt :
Một là: Kinh tế thị trường sự phát triển của nền kinh tế này trong quá
trình hướng tới xã hội văn minh hơn,nhưng vẫn phải tuân thủ những nguyên tắctổ chức cơ bản của kiểu kinh tế thị trường nào,có nghĩa là :
Phải tôn trọng các quan hệ hàng hoá tiền tệ,quan hệ cung- cầu trongnền kinh tế
Phải được vận động trong môi trường tự do cạnh tranh
Mục tiêu hoạt động của nó là lợi nhuận
Trang 4 Nó là công nghệ ưu việt nhất để phát triển kinh tế,nhưng cũng khôngthể tránh khỏi những khuyết tật vốn có, vì vậy phải có sự can thiệp của NhàNước
Hai là : về định hướng xã hội chủ nghĩa Định hướng tới xã hội chủ nhĩa
là một tất yếu khách quan của loài người và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội làhướng tới sự phồn thịnh , bình đẳng và văn minh , trong đó vấn đề bình đẳng làthen chốt nhất Vì vậy , phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa là quá trìng sử dụng kinh tế thị trường hưo81ng vào việc phục vụ một xãhội phồn thịnh , bình đẳng và văn minh , trong đó Nhà Nước xã hội chủ nghĩaViệt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định cho định hướng đó
Mục đích nghiên cứu nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa:Nghiên cứu nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa một cách rõ ràng đểcó thể áp dụng thực tiễn vào Việt Nam , giúp Việt Nam xóa bỏ nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung , quan liêu , bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường xãhội chủ nghĩa Ở Trung Quốc trước đây trong đại hội Đảng cộng sản TrungQuốc lần XIV đã nêu rõ mục tiêu cải cách cơ chế thị trường của Trung Quốc làxây dựng cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa Hiện nay Trung Quốc ở trong thớikỳ quan trọng là từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tếthị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự chuyển biến này mang ý nghĩabước ngoặt trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa xã hội
Trước đây nói đến chủ nghĩa xã hội về cơ chế kinh tế là nói đến thựchiện kinh tế kế hoạch hóa Chúng ta đã thực hiện mấy chục năm kinh tế kếhoạch hóa , đã đạt được không ít thành tích , nhưng cùng với tình hình biến đổi ,những khuyết điểm cũng ngày càng bộc lộ rõ rệt hơn Từ hội nghị toàn thể banchấp hàng trung ương Đảng lần thứ ba ( khóa XI ) đến nay trong thực tiễn cảicách làm sáng tỏ chân lý : khi từ bỏ cơ chế kinh tế kế họach hóa tập trung , quan
Trang 5liêu , bao cấp , phát huy thật sự tác dụng của cơ chế thị trường , trên cơ sở bố trítài nguyên nền kinh tế xã hội xã hội chủ nghĩa có thể bừng lên sức sống và sinhlực mới , có thể thúc đẩy phát huy mạnh mẽ hơn hẳn của chế độ xã hội chủnghĩa.
Do còn nhiều hạn chế về mặt kiến thức nên tiểu luận còn nhiều hạn chếvà thiếu sót Mong thầy cô chấp nhận và bổ sung những thiếu sót cho tiểu luậnnày Em thành thật cảm ơn
Sinh viên Nguyễn Lê Mai Anh Trường Đại Học Ngân Hàng TPHCM
CHƯƠNG I NHIỆM VỤ CƠ BẢN CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ KINH TẾ NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Trang 6I/ NHIỆM VỤ CƠ BẢN CẦN PHẢI NGHIÊN CỨU ĐỂ CHUYỂN ĐỔI CƠ CHẾ KINH TẾ:
Có rất nhiều công việc cần phải nghiên cứu giải quyết trong quá trìnhchuyển đổi cơ chế kinh tế Một trong những nhiệm vụ bức bách nhất hiện nay làcần phổ biến rộng rãi và nhanh chóng trong đông đảo cán bộ kiến thức cơ bảnvề kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Nếu không coi trọng đầy đủ vấn đề nàythì quá trình thực hiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa của chúng ta sẽ có thể
đi đường vòng , tốn nhiều công sức và hiệu quả kém Học tập kiến thức về kinhtế thị trường xã hội chủ nghĩa,trước hết cần đi sâu học tập lý luận của đồng chíĐặng Tiểu Bình về xây dựng chủ nghĩa xã hội có màu sắc Trung Quốc và vănkiện đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thou XIV,hiểu sâu sắc và nắm toànđường lối cơ bản của Đảng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội.Trên cơ sởđó,hiểu đúng khái niệm cơ bản và kiến thức lý luận cơ bản về kinh tế thị trườngxã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường,các nước tư bản công nghiệpcó nhiều kinh nghiệm thành công và cách làm hợp lý Những kinh nghiệm vàcách làm ấy đã phản ánh quy luật chung của kinh tế thị trường, phản ánh yêucầu bên trong của nền sản xuất lớn, hiện đại xã hội hoá Nó là tài sản chung củaxã hội loài người, do đó có nhiều mặt chúng ta có thể và nên cố gắng học tậpnoi theo Cán bộ các cấp của chúng ta, đặt biệt là cán bộ lãng đạo từ cấp huyệntrở lên chỉ có học tập that sự lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội có màu sắcTrung Quốc, nắm được qui luật phát triển kinh tế thị trường thì mới có thể chủđộng làm tốt công tác kinh tế trong thời kỳ mới Mặt khác không sao chép rậpkhuôn nước ngoài, kết hợp những sáng kiến “ phá rào ” của nhân dân, của cơ sởvới những bước tiến trong chính sách, trong chỉ đạo của các cơ quan có tráchnhiệm của Đảng và Nhà Nước Kết quảngày càng rõ hơn, sáng kiến có giá trịhơn, từ chỗ chỉ cải tiến trong cái cũ, mở ra cái mới
Trang 7II/ KINH TẾ VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU THỜI KỲ ĐỔI MỚI NĂM 1986:
1/ Trước thời kỳ đổi mới:
Tình hình những năm 80 khi chưa có đường lối đổi mới, đất nước chìmtrong suy thoái, xã hội lâm vào khủng hoảng tưởng chừng không có lối ra Tiếpđó, các nướcxã hội chủ nghĩa Đông Aâu, Liên Xô lần lượt tan rã kéo theo không
ít những tác động bất lợi đối với nước ta, khiến cho nguồn viện trợ quốc tế bịchấm dứt đột ngột, nợ nước ngoài chồng chất, sản xuất kinh doanh đình đốn, lạmphát tăng đến ba con số, vật giáleo thang, đời sống người dân ngày một sa sútv.v…Cộng vào đó Mỹ siết chặt bao vây cấm vận làm cho khó khăn vốn đã gaygắt càng được tích tụ đến đỉnh cao
Trước tình thế hiểm nghèo đó, không ít người đã hoang mang dao động,giảm long tin vào đường lối đổi mới của chúng ta Bè bạn và những người cólong tri ở bên ngoài tuy thông cảm nhưng lại rất lo cho ta, ít ai tin ta có thể đứngvững được trước những khó khăn chồng chất
2/ Sau thời kỳ đổi mới:
Giữa những năm 80 nền kinh tế Việt Nam phát triển rất kém, mặc dù cómột khối lượng viện trợ rất lớn của Liên Xô Đặc chưng của nền kinh tếvĩ môlúc này là tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người đình trệ, lạm phát tăngcao, những vấn đề cán cân thanh toán thường xuyên lắp đi lắp lại Đứng trướctình hình đó ban lãnh đạo đã bắt đầuthực hiện một số thay đổi rất mạnh mẽ cảtrong chính sách đối ngoại lẫn trong việc quản lý kinh tế ở trong nước.Chươngtrình đổi mới đầy khát vọng của Việt Nam bắt đầu năm 1986và được đẩy mạnhvào năm 1989 Những nét chính của nỗ lực này nhằm định hướng lại hệ thốngkinh tế là
Trang 8Những cuộc cải cách ở nông thôn: chế độ tập thểbị bỏ đi rất nhiều và
nông nghiệp quay trở lại canh tác theo hộ gia đình trên cơ sở giao đất dài hạn
Tự do hoá giá cả: việc tự do hoá toàn bộ giá cả đã that sự xoá bỏ tất cả
những sự kiểm soát
Giảm tỷ giá đồng tiền: tỷ suất hối đoái được thống nhất lại và giảm giá
nhiều
Cải cách lãi suất: là một bộ phận của cuộc đấu tranh chống lạm phát,
lãi suất đã được nâng caolên tới mức lãi suất thực ở mức dương
Cải cách tài chính: để củng cố chương trình ổn định hoá, những cuộc cải
cách tài chính đầy khát vọng đã được tiến hành Hơn 500.000 binh sĩ đã đượcgiải ngũ Thêm vào đó, trợ cấp từ ngân sách cho các doanh nghiệp nhà nước đã
bị cắt giảm, dẫn đến kết quả trong vòng ba năm đã có gần 80.000 vụ cho nghỉviệc tạm thời Việc sắp xếp lại khu vực công cộng ở Việt Nam là đáng chú ý
Đồng thời cuộc cải cách thuế khoá ( và một vài tặng phẩm bất ngờ củatự nhiên do các hoạt động khai thác dầu vừa đi vào nề nếp đem lại )đã làm chochính phủ có thể tăng số thu của mình
Đẩy mạnh khu vực tư nhân : sau nhiều năm phân biệt đối xử với khu vực
tư nhân, chính phủ đã hoàn toàn thay đổi cách đối xử và giờ đây nó khuyếnkhích khu vực tư nhân Những đạo luật về các công ty và doanh nghiệp tư nhânđã chính thức thừa nhận khu vực đã có một thời kỳ là khu vực không chính thứcnày
Mở cửa cho đầu tư trực tiếp của nước ngoài : những thay đổi to lớn pháchọa trên kia không có sự giúp đỡ đáng kể nào của nước ngoài từ bất cứ nguồnnào Tuy nhiên, Việt Nam đã khá thành công trong việc thu hút vốn đầu tư trựctiếp của nước ngoài trong những năm qua Đạo luật mới về đầu tư và những lần
Trang 9sửa lại sau đó chứng tỏ rằng chính phủ mở cửa cho khu vực tư nhân của nướcngoài tham gia
Cải cách ngoại thương : Việt Nam đã cải cách một phần chế độ thương
mại rất hạn chế của họ để cho các công ty cả của Nhà Nước và tư nhân , giờ đâyđược dễ dàng hơn trong việc nhập khẩu và được khuyến khích nhiều hơn trongviệc xuất khẩu
Chi phí xã hội cho điều chỉnh : Chính Phủ đã bắt đầu thực hiện một số
chương trình tiến bộ nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp trong thời kỳ chuyểntiếp do chương trình cải cách gây nên, bao gồm các kế hoạch đào tạo lại và chovay với lãi suất thấp cho khu vực tư nhân quy mô nhỏ
3/ Những thành tựu kinh tế sau thời kỳ đổi mới
Các cuộc cải cách trong năm 1989 đã đem lại sự tăng trưởng ban đầucủa tổng sản phẩm, đặc biệt là trong nông nghiệp và dịch vụ, tổng sản phẩmtrong nước đã tăng 8% trong năm 1989 Tuy nhiên lúc bấy giờ Việt Nam vẫn cònđang nhận được sự giúp đỡ quan trọng của Liên Xô Tiền dành dụm từ nguồncủa nước ngoài đưa vào Việt Nam chấm dứt hẳn trong khoảng thời gian từ 1989đến 1991 và điều này không tránh khỏi có ảnh hưởng đến sự phát triển Tuynhiên điều bất ngờ là sự phát triển chỉ giảm sút rất nhẹ, với mức tăng tổng sảnphẩm trong nước giảm xuống 5,1% năm 1990 và 6% năm 1991 Năm 1992 làmột năm rất tốt đẹp đối với Việt Nam Lúc ấy nền kinh tế đã được phục hồihoàn toàn sau cú sốc do sự sụp đổ của Liên Xôgây nên và mức tăng trưởng đãlên tới 8,3% Trong lúc thành tựu phát triển gần đây là tốt đẹp, vẫn có những lý
do cần được quan tâm về triển vọng của sự phát triển sau này Phần lớn trong sốgia tăng của tổng sản phẩm là do hai phân ngành đem lại dầu lửa và lúa gạo Đểgiữ vững được sự phát triển, Việt Nam cần cuốn hút thêm nhiều ngành nữa vàosự phát triển của nó
Trang 10Về đầu tư: có hai điều rất đáng ngạc nhiên trong tình hình đầu tư của
Việt Nam Thứ nhất, nhịp độ đầu tư phổ biến không giảm sút trong thời kỳ 1989–1992, mặc dù viện trợ của của bên ngoài giảm rất mạnh Thứ hai, tổng đầu tưvẫn rất thấp đối với nhịp độ trung bình 6,9% trong thời thời kỳ đó Việt Nam đãlàm được việc to lớn là thay thế tiết kiệm từ nguồn của nước ngoài bằng tiếtkiệm ở trong nước và đã đã tỏ ra đầu tư có hiệu quả rất cao trong những nămgần đây Trong thời gian từ 1989 đến 1992, tổng đầu tư tăng đang lên tới 12%tổng sản phẩm trong nước Tuy nhiên trong thời kỳ này, cơ cấu đầu tư đã thayđổi Chương trình đầu tư của chính phủ đã giảm mạnh từ 6,7% tổng sản phẩmtrong nước, năm 1989 xuống chỉ còn 3,1% năm 1991 trước khi gần phục hồi lạiđược và lên tới 5,6% năm 1992 Đồng thời, đầu tư của tư nhân đã tăng lên Sựthay đổi, cơ bản đó là một sự phát cơ bản đó là một sự phát triển lánh mạnh đốivới Việt Nam Nhưng cả đầu tư tư nhân đều cần phải tăng Tỷ lệ đầu tư được báocáo chính thức là 12% tổng sản phẩm trong nước có lẽ là bị đánh giá hơi bị thấpvà không phản ánh đầy đủ hoạt động của khu vực tư nhân Tuy nhiên, Việt Namsẽ cần phải tăng đầu tư rất nhiều để thực hiện, Việt Nam cần phải tăng đầu tưrất nhiều để thực hiện được sự phát triển nhanh cơ sở vững chắc
Kiểm soát tiền tệ và lạm phát: các nhà d8ương cục việt Nam đã đạt tiếnbộ rất to lớn trong việc kiểm soát lạm phát, đặc biệt là so với kinh nghiệm củacác nền kinh tế quá độ ở Đông Aâu và ở Liên Xô trước kia: tỷ lệ lạm phát tronglĩnh vực giá tiêu dùng giảm xuống giảm từ gần 70% năm 1990 và 1991 xuốn17% năm 1992 Giữa năm 1993 lạm phát tiếp tục giảm thêm nữa, xuống tới mứccả năm là 10% Việt Nam đã chặn lại được nạm lạm phát nhanh bằng cách điềuchỉnh lãi suất lên tới mức đương theo giá thực Năm 1992: kinh phí thực cấp chokinh phí thực cấp cho chính phủ là âm Hơn nữa, các ngân hàng đã được phépthoáng hơn trong các ngân hàng đã được phép thoáng hơn trong các quyết địnhvề tín dụng của mình, và mức tăng tín dụng cấp cho các doanh nghiệp nhà nướcđã giảm xuống trong khi tín dụng cấp cho khu vực tư nhân tăng lên nhanh chóng
Trang 11Tài chính công cộng: chính sách tài chính của Việt Nam đã được cải
thiện rất nhiều trong thời kỳ 1989 – 1992 và người ta phải ca ngợi chính phủ vềsự thay đổi mạnh mẽ trong lĩnh vực này Số thiếu hụt về tài chính đã giảm từ11,4% tổng sản phẩm trong nước năm 1989 xuống còn 3,8% năm 1992 Việt tạmngưng cấp vốn của chính phủ thông qua ngân hàng là nền tảng then chốt củachương trình chống lạm phát Tuy nhiên vẫn còn một số lý do cần phải lưu ý.Một phần trong số gia tăng của số thu là do sự gia tăng ngẫu nhiên là số thu vềdầu lửa hơn là do việc mở rộng việc thu thuế dưa trên cơ sở rộng rãi đem lại.Một vấn đề khác là số chi định kỳ cộng chung lại vẫn còn quá lớn Rất có thể làcó một số lĩnh vực cần tiết kiệm ở đây, nhưng thật khó có thể nê cụ thể được,khi ngân sách còn chưa rõ Cuối cùng chương trình đầu tư công cộng đã đượckhai thác triệt để trong những năm vừa qua và cần phải được mở rộng nếu ViệtNam cần phải phát triển kết cấu hạn hạ tầng cần thiết cho sự phát triển nhanhchóng vững chắc Chính phủ sẽ khó mà xử lý được những sự thúc ép đó, nếukhông có một khối lượng lớn viện trợ của nước ngoài Đồng thời chính phủ có cơhội tăng tiết kiệm của mình thông qua việc huy động tốt hơn nữa các nguồn lựcvà quản lý chặt chẽ hơn nữa chi phí định kỳ Những nhu cầu đầu tư công cộng cóthể được đáp ứng tốt nhất thông qua việc kết hợp viện trợ của nước ngoài vớitiết kiệm cao hơn nữa của chính phủ
Ngoài ra, Việt nam còn đạt được những thành tựu trong các lĩnh vựckhác của kinh tế vĩ mô như trong cán cân thanh toán xuất nhập khẩu, tỷ giá hốiđoái…
CHƯƠNG II
Trang 12NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHỮNG HẠN CHẾ VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT
I/ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃHỘI CHỦ NGHĨA
Để phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa , Đảng và NhàNước ta cần phải :
1/ Phát triển các loại hình doanh nghiệp:
Để hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa , việc công nhận , bảo hộ chế độ đa sở hữu và phát triển các doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng , do các doanh nghiệpluôn là những chủ thể quan trọng nhất của các nền kinh tế
Trong những năm đổi mới vừa qua , đồng thời với việc đã hiến pháp hóachủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần , công nhận , bảo vệ chế độ đa sởhữu , trong đó có sở hữu tư nhân, Đảng và Nhà Nước đã từng bước xây dựng ,hoàn thiện thể chế kinh tế đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinhtế khác nhau
Cần tập trung vào bốn loại doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước ,doanh nghiệp tư nhân , doanh nghiệp hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài ; từ thực tiễn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp màđề xuất một số giải pháp chủ yếu , nhằm góp phần vào việc nghiên cứu , tìm rathể chế kinh tế phù hợp với sự phát triển có hiệu quả và sức cạnh tranh cao củacác doanh nghiêp này
a/ Doanh nghiệp Nhà Nước
Trang 13Trong tất cả các nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trungsang nền kinh tế thị trường , vấn đề cải cách doanh nghiệp Nhà nước là một vấnđề có nhiều khó klhăn , phức tạp không chỉ ở quan điểm , đường lối , mà cả ởnhững vấn đề thuộc nghiệp vụ, kỹ thuật.
Cho đền những năm gần đây, doanh nghiệp Nhà nước vẫn giữ một vị tríquan trọng trong nền kinh tế nước ta: năm 2000 doanh nghiệp Nhà nước đónggóp 39.5% giá trị sản lượng công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu, 39.2%tổng thu ngân sách nhà nước
Trong thời gian qua , Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp trợ giúpdoanh nghiệp Nhà nước như : miễn thuế, giảm thuế, chi vay ưu đãi , vay khôngthế chấp , khoanh nợ , dãn nợ, chuyển nợ thành vốn ngân sách , cấp, tham giaxuất khẩu trả nợ Nhà nước được trúng thầu hoặc được giao thầu nhiều công trình
do Nhà nước đầu tư , để lại khấu hao cơ bản tái đầu tư v…v… Tuy vậy, nhữngyếu kém của doanh nghiệp nhà nước vẫn còn rất nghiêm trọng Đó là: năng lựccạnh tranh còn thấp kém, do chất lượng thấp , giá thành của nhiều sản phẩm còncao,nhiều mặt hàng cao hơn giá mặt hàng cùng loại nhập khẩu (như sắt , thép,phân bón,xi măng,đường), công nợ quá lớn , nợ quá hạn, nợ khó đòi ngày càngtăng (doanh nghiệp Nhà nước chiếm tới 74.8% trong số nợ quá hạncủa ngânhàng thương mại quốc doanh); quy mô quá nhỏ; công nghệ lạc hậu , v…v…Cónhững doanh nghiệp đáng ra phải cho phá sản vì thua lỗ kéo dài, không thểnào ứu vãn được, nhưng vẫn phải để tồn tại, hàng năm tiếp tục lỗ thêm
Trước tình hình đó, việc cải cách doanh nghiệp Nhà Nước đã trở thànhhết sức cấp bách Trong bối cảnh hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, càngthấy rõ yêu cầu này Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang cung ứng những hànghóa , dịch vụ chủ yếu là chi phí đầu vào của các doanh nghiệp, thế nhưng kinhdoanh kém hiệu quả , giá thành cao, nếu không gấp rút cải thiện kinh doanh thì
Trang 14rất khó khăn trong việc giảm chi phí đầu vào , góp phần nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp cả nước.
Yêu cầu của việc cải cách doanh nghiệp nhà nước là điều chỉnh cơ cấuđể doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý , tập trung vào những ngành , lĩnhvực then chốt và địa bàn quan trọng , là đa dạng hóa sở hữu , kể cả sở hữu tưnhân , mục tiêu là sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động và cơ sở vật chất_kỹthuật của doanh nghiệp nhà nước , phát triển sản xuất king doanh
Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 của ban chấp hành trung ương Đảng khóa
IX (9_2001) về doanh nghiệp nhà nước đã quyết định đến năm 2005 hoàn thành
cơ bản việc sắp xếp điều chỉnh cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hiện có bằng cáchình thức : cổ phần hóa , chuyển một số doanh nghiệp nhà nước hoặc doanhnghiệp trực thuộc các tổ chức chính trị , tổ chức chính trị_xã hội sang loại hìnhcông ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (còn gọi là công ty hóa ) , sápnhập ,giải thể, phá sản, giao, bán,khoán knh doanh,cho thuê
b/ Doanh nghiệp tư nhân
Đối với doanh nghiệp tư nhân trong một thời gian dài đã không cónhững cách nhìn nhận đúng đắn, phù hợp với thực tế, còn nặng giáo điều, bảothủ, trong thực tế còn nhiều phân biệt đối xử có tính chất kỳ thị, hạn chế doanhnghiệp tư nhân mở rộng sản xuất _ kinh doanh Từ năm 2000 thi hành Luậtdoanh nghiệp , trước tình hình doanh nghiệp tư nhân phát triển nhanh chóngđóng góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế, đã có những bănkhoăn, lo ngại, vì sự phát triển quá nhanh của kinh tế tư nhân và một số lệch lạckhó tránh khỏi trong quá trình đó , cho rằng “ quản lý được đến đâu thì mở rađến đó “ nhiều hạn chế, biến tướng của một số ngành và cấp quản lý đã vàđang được tạo ra dưới nhiều hình thức khác nhau để thực hiện cái gọi là “tăngcường quản lý Nhà Nước” mà thực chất là cố gắng vớt vát lại những quyền vàlợi ích không đáng đang bị cuộc sống và pháp luật loại bỏ Doanh nghiệp tư
Trang 15nhân còn gặp nhiều khó khăn , nhất là về mặt bằng kinh doanh và vay vốn , còn
bị sách nhiễu trong suốt quá trình kinh doanh , bị nhiều đoàn thanh tra, kiểm trađến “hỏi thăm sức khỏe” Nhiều chủ thể doanh nghiệp tư nhân đã phải dùngđến 1/3 thời gian để tiếp đón các đoàn này, tốn kém nhiều thời gian và tiền bạcđể được kinh doanh
Nhưng tình hình hiện nay có lẽ khác cơ bản so với thập kỷ 90 của thếkỷ XX Khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế khiến cho phát triển kinh tế phụthuộc nhiều hiệu quả và khả năng cạnh tranh cả ở tầm quốc gia lẫn tầm doanhnghiệp và sản phẩm; quy mô và nức độ thị trường hóa ngày càng lớn hơn Trongbối cảnh nói trên , càng không thể tiếp tục chỉ dựa vào đầu tư Nhà nước vàdoanh nghiệp Nhà nước để phát triển kinh tế Đây thực sự là cơ hội thúc đẩy đổimới kinh tế định hướng thị trường với quy mô và cường độ lớn hơn , trong đó cósự thúc đẩy và tạo điều kiện phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân chính thức,hiện đại
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định các thành phần kinh tế, gồmcả kinh tế tư nhân kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quantrọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy vậy , doanhnghiệp tư nhân không thể là quan trọng nhất , bởi vì, kinh tế Nhà nước phải làchủ đạo , và kinh tế nhà nước cùng với kinh tế hợp tác phải từng bước trở thànhnền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Tòan bộ hệ thống pháp luật ,chính sách và cả bộ máy Nhà Nước phải được xây dựng và vận hành theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa
c/ Doanh nghiệp hợp tác xã
Có thể nói , những nỗ lực hợp tác hóa, tập thể hóa sau năm 1975 đềukhông đem lại kết quả mong muốn Cơ chế “khoán 10” về cơ bản đã thay đổinguyên tắc “hợp tác xã” theo kiểu cũ; nói đúng hơn , hợp tác xã theo kiểu cũ bịxóa bỏ Cùng với việc được giao đất với năm quyền sử dụng lâu dài , hộ gia
Trang 16đình, trước hết là hộ gia đình nông dân , được xác lập và thực sự trở thành đơn vịkinh tế tự chủ , tách biệt về kinh tế và pháp lý khỏi hợp tác xã truyền thống Từnăm 1988, hộ gia đình nông dân đã tự mình quyết định sản xuất cái gì, sản xuấtbao nhiêu, sản xuất như thế nào, bán cho ai và tự quyết định cả giá bán Địa vịnói trên của hộ gia đình không chỉ là kết quả của các biện pháp đổi mới kinh tếhợp tác, chế độ quản lý đất đai, mà cả các biện pháp cải cách vĩ mônhư về giácả, về thị trường .Kết quả đạt được thật ngoạn mục , ngoài sự mong đợi, nhấtlà trên lĩnh vực sản xuất lương thực Kể từ thời điểm đo, vấn đề “ăn” từ lâu luônlà mối lo toan của cả bộ máy nhà nước , kể cả của các nhà lãnh đạo Đảng vànhà nước trong mấy chục năm dưới cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu ,bao cấp đã được giải quyết.
Năm 1996, nhằm đổi mới hợp tác xã , quốc hội đã ban hành Luật hợptác xã Ngoài việc qui định thành lập, tổ chức quản lý,hoạt động củ hợp tác xã,luật còn đề ra hàng loạt các ưu đãi dành riêng cho hợp tác xã các loại Luật hợptác xã là khung pháp lý tạo điều kiên vừa để thành lập các hợp tác xã mới , vừađể chuyển đổi hợp tác xã trước đây sang tổ chức quản lý và hoạt động theo môhình hợp tác xã kiểu mới Thời hạn chuyển đổi dự kiến kết thúc vào cuối năm1998; nhưng cho đến nay, vẫn còn háng nghìn hợp tác xã chưa chuyển đổi được
Quy mô của hợp tác xã còn rất nhỏ Bình quân vốn hoạt động của mỗihợp tác xa chĩ khoảng 758 triệu đồng với số xã viên bình quân 787 xã viên và
197 lao động làm thuê /hợp tác xã Như vậy, bình quân mỗi xã viên đóng gópchưa đầy 1 triệu d0ồng, và mỗi chỗ làm việc chỉ có gần 4 triệu đồng (báo cáođiều tra năm 2003 )
Hợp tác xã cũng chưa thực hiện tốt chức năng dịch vụ đầu vào, đầu ranhư mong muốn của những người thiết kế chính sách Thực vậy, chính lực lượng
tư thương buôn bán nhỏ( chứ không phải hợp tác xã )đã tiêu thụ đại bộ phận sảnphẩm cho nông dân cũng như chính họ đã làm tốt hơn chức năng cung cấp dịch
Trang 17vụ, phân bón, các loại nguyên liệu khác cho các hộ nông dân Nói cách khác, sựhợp tác giữa hộ xã viên và tư thương chặt chẽ thì hiệu qủa hơn so với xã viên vàhợp tác xã
Thực tế phát triển kinh tế nói chung va hợp tác xã nói riêng trong mấynăm qua chúng tỏ luật hợp tác xã cùng các chính sách phát triển kinh tế hợp tácchưa phát huy được tác dụng như mong muốn Trong khi số lượng hợp tác xã,nhất là hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp giảm xuống, thì số lượng và quy mô (vềvốn, lao động ) của trang trại tăng lên rất nhanh trên nhiều vùng trong cả nước( điều đó đã xảy ra trong khi hầu như chưa có chính sách hỗ trợ trực tiếp chokinh tế trang trại ) Ngay cả khi thủ tục thành lập hết sức phức tạp, tốn kém vớinhững cản trở và đối xử bất bình đẳng trên nhiều mặt ( thời kỳ 1991-1999 )thì sốlượng doanh nghiệp tư nhân mới được thành lập hàng năm gấp 10 lần số hợp tácxã mới thành lập
d/ Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Để thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoà, từ tháng 12/1987, luậtđầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã được Quốc Hội thông qua, tiếp đó tháng11/1996 và tháng 6/2000, Quốc Hội thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Nhiều văn bản pháp quy đã được banhành để hướng dẫn thi hành luật
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phát triển khánhanh, bao quát nhiều lĩnh vực, đã có những đóng góp quan trọng vào sự pháttriển kinh tế –xã hội của đất nước như : bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu
tư phát triển, phục vụ chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạihoá, thu hút công nghệ hiện đại, phương pháp quản lýtiên tiến, phát triển nguồnnhân lực, góp phần tiếp cận và mở rộng thị trường Quốc Tế, nâng cao năng lựcxuất khẩu ở nước ta.v.v…
Trang 18Đã có những tập đoàn, công ty xuyên quốc gialớn như Nhật Bản(Misubishi, Mitsui .) của Đức (Mercedes, Benz, Siemens .) của Mỹ ( Mobil,carterrpila .) của Anh (BP ) đầu tư voào nước ta
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được coi là một bộ phận cấuthành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa NhàNước đã có nhiều chủ trương, chính sách để khẳng định vị trí của khu vực nàyhướng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu, hàng hoá và dịchvụ có công nghệ cao, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hútcông nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm, theo yêu cầu chuyển dịch cơ cấukinh tếc cũng như hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên không phải đã hết nhữngbăn khoăn, lo ngại và phân biệt d0ối xử đối với đầu tư nước ngoài Dó là những
lo ngại khi có thành phần nước ngoài trong nền kinh tế, cho rằng đây là hìnhthức bóc lột của tư bản nước ngoài đối với các nước chấp nhận đầu tư, khôngthấy rằng trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hoá như hiện nay, việc thu hútđầu tư nước ngoài là một hình thức thu hút nguồn lực cần thiết cho công cuộccông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ;đồng thời cũng là việc làm mà hai bêncùng có lợi, nhà tư bản bỏ vốn đầu tư được hưởng lợi nhuận thoả đáng Nhữngnước kém phát triển thu hút đầu tư nước ngoài là để tăng thêm nguồn vốn chođầu tư , du nhập công nghệ mới( đặt biệt là công nghệ từ những nước pháttriển)học tập phương pháp quản lý tiên tiến Đầu tư nước ngoài ngày càng trởthành dòng chính trong liên kết kinh tế toàn cầu hiện nay, không chỉ các nướcchậm phát triển cần đầu tư nước ngoài mà ngay các nước phát triển cũng đangkhuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài
2/ Phát triển đồng bộ các loại thị trường:
Hình thành đồng bộ các loại thị trường là một yêu cầu khách quan củanền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có thể ví như một cơ thểsống phải có đầy đủ các bộ phận của cơ thể Tuy nhiên, trong cơ thể sống mọi
Trang 19bộ phận không thể cùng một lúc được hình thành và phát triển như cơ thể lúc đãtrưởng thành Nền kinh tế thị trường cũng vậy, để có thể vận hành được thì phảinhen nhóm, ấp ủ, hình thành và phát triển dần từng bước
Tư duy va chính sáchvề hình thành và phát triển đồng bộ các loại thịtrường được khởi nguồn từ đại hội lần thứ VI của Đảng với tư tưởng giải phóngsức sản xuất và lưu thông hàng hoá bằng việc thực hiện 3 chương trình mục tiêuvề lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Tư duy này đượctiếp tục khẳng định và làm rõ hơn tại đại hội lần thứ VII của Đảng, đó là xâydựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,có sự quản lý của Nhà Nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đại hội lần IX củaĐảng vạch ra rõ ràng va dứt khoát hơn chủ trương xây dựng nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Một nền kinh tế thị trường định hướngxã hội chủ nghĩa đương nhiên phải bao gồm trong nó tất cả các thị trường bộphận
* Sự cần thiết phải hình thành các loại thị trường
Thực hiện ở các nước chuyển đổi và ở nước ta thời gian qua cho thấy dùcho muốn hay không, một khi đã chấp nhận nền kinh tế thị trường, hay nền kinhtế vận hành theo cơ chế thị trường, hay nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa,thì điều cốt lõi nhất vẫn là phải có thị trường Một khi đã chấp nhận sự hiện hữucủa thị trường thì phải có đầy đủ các loại thị trường của các nền kinh tế xã hộichủ nghĩả¬ Đông Aâu và Liên Xô trước đây, dù là áp dụng liệu pháp sốc như BaLan, Nga hay Hungary, Bungary thì cũng vẫn là việc xây dựng một nền kinh tếthị trường có đầy đủ các loại thị trường với đầy đủ các bộ phận cấu thành củanó Công cuộc chuyển sang kinh tế thị trường của Trung Quốc là tiên tiến hơn,dò đá qua sông nhưng không né tránh việc xây dựng các loại thị trường Ở nước
ta cũng vậy, chúng ta cần xây dựng đầy đủ các loại thị trường để nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam vận hành có hiệu qủa, cái khác
Trang 20nhau giữa các nước là sự lựa chọn thời gian bước đi, cách làm và bản chất củathị trường
Cũng như ở nhiều nền kinh tế thị trường khác, cho đến nay, cac loại thịtrường chính trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước tađược xác định gồm có: thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường bất động sản,thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường khoa học và công nghệ.Ngoài ra theo thời gian sẽ còn tiếp tục phát triển thêm các loại thị trường khácnữa, mà hiện tại chúng ta khó có thể hình dung chính xác được
Việc xây dựng đồng bộ các loại thị trường ở nước ta không có nghĩa làcùng một lúc xây dựng đầy đủ các loại thị trường, mà được tiến hành từng bước,có thử nghiệm, rút kinh nghiệm và làm tiếp, ưu tiên xây dựng một số loại thịtrường trước, số khác sẽ được xây dựng sau khi đã có đủ điều kiện Tuy nhiênđối với từng loại thị trường cụ thể thì các bộ phận cấu thành của nó dứt khoátphải được xây dựng đồng thời và đầy đủ nếu như muốn cho thị trường đó vậnhành thông thoáng và mang lại hiệu qủa thực
Có thể nói làm thử, rút kinh nghiệm làm tiếp, làm từng bộ phận tiến tớilàm tổng thể là phương châm chỉ đạo trong công cuộc xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong việc hình thành và phát triển đồng bộcác loại hình thị trường là một quá trình liên tục, kiên định và cần có thời gian,không kể nóng vội, cũng không ngập ngừng, do dự, gây ra chậm trễ và tổn thấtnhiều mặt
* Mức độ phát triển của các loại thị trường
Hiện đang còn có những ý kiến đánh giá khác nhau về mức độ hay trìnhđộ phát triển của các loại thị trường Tuy nhiên đa số ý kiến cho rằng ngoại trừthị trường hàng hoá và dịch vụ, mà chủ yếu là thị trường hàng hoá, tương đốiphát triển, các thị trường khác còn rất kém phát triển, thậm chí còn ở dạng mạch
Trang 21nha, chẳng hạn như thị trường khoa học và công nghệ, thị trường bất động sản.Chính sự kém phát triển của nhiều loại thị trường chủ yếu làm cho nhiệm vụ xâydựng đồng bộ các loại thị trường gặp rất nhiều khó khăn, ngay như xây dựngđồng bộ các yếu tố cấu thành của một loại thị trường cụ thể như cũng không hềđơn giản Điều này đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng toàn dân, từ những ngườilàm công tác lý luận đến những người hoạt động thực tiễn, trong đó lý luận cầnthực hiện tốt vai trò của nó là vừa phản ánh thực tiễn vừa hướng dẫn thực tiễn
3/ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên cơ sở phát huy nội lực và chủ động hội nhập:
Công nghiệp hoá là quá trình vận động của một nền kinh tế, từ một nềnkinh tế nông nghiệpdựa trên nền tảng kỹ thuật thủ công, mang tính hiện vật, tựcấp tự túc thành một nền kinh tế công nghiệp Quá trình công nghiệp hoá nhưvậy bao gồm cả việc phát triển của một nền sản xuất công nghiệp quy mô lớn,xây dựng văn minh công nghiệp và phát triển thể chế của nền kinh tế Quá trìnhcông nghiệp hoá có những đặc trưng sau :
Tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội ngày càng tăng
Tỷ trọng lao động tham gia ngành công nghiệp cũng ngày càng tăng lên,cùng với đó là thu nhập bình quân đầu người tăng
Một đặc trưng khác của quá trình công nghiệp hoá là “tăng trưởng kinhtế hiện đại” đó là những thay đổi liên tục về phương thức sản xuất, cho ra nhữngsản phẩm mới, tăng tỷ lệ dân cư sống ở thành thị, thay đổi tương đối về tỷ trọnggiữa tích lũy tư bản và tiêu dùng v.v…
Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá được hình thành có tính đếnbối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay với hai đặc trưng nổi bật :
Trang 22 Toàn cầu hoá kinh tế
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ
Trong bối đó, hội nghị lần thứ VII của Đảng đã khẳng định “ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạtđộng sản xuất, kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao độngthủ công là chính, sang sữ dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với côngnghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển củacông nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hộicao ’’
Thực tế cho thấy, không có một công thức công nghiệp hoá chung chotất cả các nước công nghiệp hoá và hiện đại hoá vốn là hai quá trình nối tiếp,đan xen nhau Các nước phát triển hiện nay đã có thời kỳ công nghiệp hoá khálâu trước khi bước vào hiện đại hoá và quá trình hiện đại hoá liên tục diễn ra.Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời đại ngày nay là quá trình cải biến mộtxã hội cổ truyền thành một xã hội hiện đại, có trình độ văn minh cao hơn, thểhiện không chỉ ở trình độ khoa học và công nghệ hiện đại, tiên tiến, có nền kinh
tế phát triển cao, xã hội đã được tổ chức khoa học và hợp lý, mà còn ở đời sống
chính trị, văn hoá, tinh thần của xã hội, và ở sự phát triển con người
Đối với Việt Nam, công nghiệp hoá được đề cập đến ngay từ nhữngnăm đầu hòa bình lập lại ở miền Bắc Đại hội lần thứ III Đảng Lao Động ViệtNam ( tháng 9 năm 1960 ) lần đầu tiên đã đặt raột đường lối phát triển kinh tếlâu dài cho miền Bắc là “ Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩacân đối vàhiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nềntảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức pháttruiển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ nước nông nghiệplạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại ”
Trang 23Trong những năm qua, công nghiệp đã thực sự trở thành đầu tàu trongviệc nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế Hơn thế nữa cùng với những chínhsách phân phối thu nhập được thực hiện tốt, sự phát triển của ngành công nghiệpđã có tác động lan tỏa, nâng cao đời sống của người lao động thuộc mọi giaitầng xã hội
Chủ trương của Đảng không phải là công nghiệp hoá và hiện đại hoámà là công nghiệp, hiện đại hoá trong quá trình phát triển không chỉ đơn thuầnphát triển công nghiệp , mà còn phải thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu trong từngngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghệ tiếnbộ, không chỉ đi tuần tự qua các bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, màcòn kết hợp đồng thời các thành tựu trên nhiều lĩnh vực và có những mũi nhọnphát triển đi tắt, đón đầu, không chỉ áp dụng các công nghệ tiên tiến mà cònphải biết tận dụng và hiện đại hoá công nghệ truyền thống
Điều quan trọng nhất của hiện đại hoá là các doanh nghiệp đã chú trọngnhiều hơn đến nghiên cứu, tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật và cách thức sảnxuất mới, đổi mới đa dạng hoá sản phẩm
4/ Xoá đói giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội, phát triển con người một cách toàn diện:
Đặt con người ở vị trí trung tâm, coi trọng các quan hệ xã hội và đờisống xã hội và đời sống xã hội là bản chất của chế độ ta Những thành tựu vềxã hội, ngay trong 30 năm kháng chiến và trong những năm hoà bình xây dựngtrước thời đổi mới, là niềm tự hào chính đáng của dân tộc ta
Trong dòng tư duy và hành động đặt con người ở vị trí trung tâm, chúng
ta dễ hiểu chủ trương do Đảng ta đề ra trong thời kỳ đổi mớilà kết hợp ngay từđầu và trong từng bước, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và công bằngxã hội
Trang 24Điều được bhấn mạnh là kết hợp ngay từ đầu, khi trình độ phát triểnkinh tế còn thấp, chứ không chờ kinh tế khá lên rồi mới kết hợp, và kết hợp từngbước, thích hợp với từng bước, một cách liên tục chứ không giai đoạn Điều mới
so với trước là ở cách xử lý sự kết hợp cách thực hiện công bằng xã hội, cáchgiải quyết các vấn đềtrong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Gần hai thập kỷ nay, trong nước ta cũng như trên thế giới, ngày càngnhiều những cuộc điều tra khảo sát, những công trình nghiên cứu, những cuộcthử nghiệm ở nhiều quy mô khác nhau, có khi bao quát cả một quốc gia, về mốiquan hệ giữa cái xã hội và cái kinh tế, về thế nào là tăng trưởng kinh tế, thế nàolà tiến bộ xã hội, thế nào là công bằng xã hội, thế nào là kết hợp giữa tăngtrưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội
Như một dấu hiệu của thời đại, các kết qủa trên thế giới cho thấy nhậnthức và hành động của chúng ta là gần gũi, gặp nhau với những kết qủa ấy,chứng tỏ khát vọng và đòi hỏi chung của mọi dân tộc Khát vọng và đòi hỏi nàybiểu hiện nổi bật trong những chủ trương được phổ biến nhanh chóng trên quymô toàn cầu về gắn bó văn hoá và phát triển bền vững ( lúc đầu nhấn mạnh sựgữi gìn môi trường, tiếp đó mở rộng ra bao hàm sự công bằng xã hội), về pháttriển là dân chủ và tự do, về xoá đói giảm nghèo, về phát huy nguồn vốn xã hội,về phát triển nguồn nhân lực và phát triển con người
Trong cố gắng triển khai những chủ trương quan trọng và tiến bộ này,
10 năm qua, liên hiệp quốc đã tổ chức một số hội nghị thưởng đỉnh có hàng trămnguyên thủ quốc gia tham dự Ba lĩnh vự trên đối với chiến lược phát triển xãhội của tất cả các nước đã được xác định là :
a/ Công ăn việc làm :
Trang 25Từ mấy chục năm nay, vấn đề công ăn việc làm, tuyển dụng lao độnggiảm bớt, nếu có thể thì loại bỏ tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp toàn phần,thất nghiệp từng phần, thất nghiệp che dấu, luôn luôn được đặt là vấn đề kinh tếvà vấn đề xã hội cực kỳ quan trọng, nhiều thời gian được gọi là “ vấn đề củavấn đề ”, vấn đề trung tâm cả về kinh tế và xã hội
Đảng, Nhà Nước và nhân dân ta, đã liên tục cố gắng, bằng những cáchnghĩ và cách làm của từng thời kỳ, rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau giữathời kỳ này với thời kỳ khác, để giải quyết tốt vấn đề công ăn việc làm Chúng
ta đã phấn đấu để từng bước giúp cho mỗi người lao động có việc làmhữu ích,sau đó tiến lên có việc làm hợp lý, hàng năm thu xếp công việc cho hàng triệungười đến tuổi lao động, giảm số người thất nghiệp o83 các thành thị, giảm tìnhtrạng nông dân hàng năm mỗi người thừa hàng trăm ngày không có việc làm ởnông thôn, trí thức chưa được sử dụng hết thời gian và khả năng lao động trí óc,thanh niên tốt nghiệp các loại trường khó tìm công việc, phải chờ đợi dài ngày,số đông người lao động không được đào tạo nên chỉ giao làn lao động giản đơn
Xét về những gì đã làm được, kể cả thời bao cấp và thời đổi mới thìthành tựu là lớn Xét về yêu cầu và khả năng, thì thời trước cũng như thời nay,còn xa mới dùng hết khả năng và đạt được yêu cầu Về điều này, tiếng nói củasố liệu và nhất là tiếng nói thực tế của cuộc sống thật là rõ rệt
b/ Xóa đói giảm nghèo:
Mục tiêu giảm ngèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc giakiên quyết và sụ hợp tác quốc tế, là một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức, xãhội, chính trị và kinh tế của cả loài người
Theo Liên hiệp quốc, để phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ vàcông bằng, các nước trên thế giớicần tiến công xoá đói nghèobằng một giảipháp toàn diện, bao gồm xoá bỏ nạn đói và suy dinh dưỡng, bảo đảm an toàn