Nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản của xã hội đáp ứng những sản phẩm thiết yếu cho đời sống xã hội, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngành khác trong nền kinh tế. Trong những năm qua, Thái Bình với 90% dân cư sống ở nông thôn và 58,49% lao động nông nghiệp, đã đạt được những thành tích quan trọng trong việc sản xuất nông nghiệp như giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, tăng giá trị sản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao đời sống nhân dân, làm thay đổi diện mạo nông thôn, phát triển kinh tế, xã hội... Tuy nhiên, nếu xem xét ở góc độ bền vững thì phát triển nông nghiệp của tỉnh Thái Bình đang có nhiều vấn đề bức xúc đặt ra. Sản xuất nông nghiệp đã và đang có dấu hiệu gây tác động tiêu cực đến môi trường như làm giảm đa dạng sinh học, suy thoái tài nguyên, chưa có bước đột phá phát triển nông nghiệp, chưa thật sự chú ý phát triển theo chiều sâu, chưa chú ý đến vấn đề môi trường cũng như vấn đề xã hội trong nông nghiệp và nông thôn. Đứng trước những khó khăn và thách thức đó thì việc xây dựng một nền nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Vì những lý do trên nên đề tài “Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình” được chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
Trang 1Mục lục
Trang
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững 61.1 Khái luận chung về phát triển nông nghiệp bền vững 6
1.1.2 Tiêu chí phát triển bền vững trong nông nghiệp 11
1.2 Kinh nghiệm một số địa phương trong phát triển nông nghiệp bền vững 19
Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình 262.1 Giới thiệu khái quát về tình hình kinh tế, xã hội ở tỉnh Thái Bình 26
2.1.2 Tiềm năng cho phát triển nông nghiệp bền vững của tỉnh Thái Bình 272.1.3 Đặc điểm dân cư và các nguồn lực xã hội khác 302.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình trong
3.1 Bối cảnh mới ảnh hưởng đến phát triển bền vững nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình 75
3.2 Các quan điểm phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình 813.3 Giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình 843.3.1 Nhóm giải pháp về cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô 84
Trang 23.3.2 Nhóm giải pháp về các nguồn lực cơ bản 893.3.3 Nhóm giải pháp về nâng cao vai trò quản lý của nhà nước 106
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 4STT Tên Nội dung Trang
1 Bảng 2.1 Chỉ tiêu GDP toàn Tỉnh (theo giá so sánh 1994) 34
2 Bảng 2.2 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Thái Bình
Bảng 2.5 Tổng hợp diện tích, sản lượng, năng suất, giá trị sản
6
Bảng 2.6 Chỉ tiêu GDP bình quân đầu người của cả nước và
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu 2.1 Giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 36
Trang 52 Biểu 2.2 Cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế 62
3 Biểu 2.3 Diện tích, sản lượng giá sản xuất ngành chăn nuôi,
nuôi trồng thủy sản (2006-2010)
63
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản của xã hội đáp ứng những sảnphẩm thiết yếu cho đời sống xã hội, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngànhkhác trong nền kinh tế như: Sản xuất hàng hóa tiêu dùng, máy móc và các vật tưnông nghiệp, là nguồn cung cấp lao động cho khu vực công nghiệp và tạo ra mộtlượng vốn thặng dư để đầu tư cho sự nghiệp phát triển của đất nước Tuy nhiên,năng xuất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tựnhiên, đặc biệt trước những diễn biến bất thường của hiện tượng biến đổi khí hậutoàn cầu; những biến động của thị trường, của xã hội Do đó, vấn đề phát triểnnông nghiệp theo hướng bền vững được đề cập như là một trong những vấn đề vừa
cơ bản, vừa bức thiết có ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh tế - xã hội của đấtnước
Trong những năm qua, Thái Bình với 90% dân cư sống ở nông thôn và58,49% lao động nông nghiệp, đã đạt được những thành tích quan trọng trong việcsản xuất nông nghiệp như giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, tăng giá trịsản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao đời sống nhân dân, làm thay đổi diện mạonông thôn, phát triển kinh tế, xã hội
Tuy nhiên, nếu xem xét ở góc độ bền vững thì phát triển nông nghiệp củatỉnh Thái Bình đang có nhiều vấn đề bức xúc đặt ra Đó là trong thời gian qua, nôngnghiệp Thái Bình phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt quá trình pháttriển còn theo chiều rộng Cây lúa vẫn đóng vai trò chủ yếu trong cây trồng trên địabàn Một số cây thiếu tính bền vững, chưa hình thành được vùng nguyên liệu tậptrung, chuyên canh và giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích còn thấp trong khicác yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp như thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâutăng giá còn đầu ra sản phẩm lại quá bấp bênh ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập củadân cư nông nghiệp, tạo sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu rộng giữa thành thị
và nông thôn Thủy sản phát triển chưa toàn diện Ruộng đất bị chia nhỏ, manh múnkhông phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hóa lớn tập trung Ngành tiểu thủ công
Trang 7nghiệp ở nông thôn sản xuất nhỏ lẻ, chưa tạo được sản phẩm hàng hóa, năng lựccanh tranh trên thị trường yếu Sản xuất nông nghiệp đã và đang có dấu hiệu gây tácđộng tiêu cực đến môi trường như làm giảm đa dạng sinh học, suy thoái tài nguyên,gây khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước, tăng chi phí sản xuất, chưa có bước đột pháphát triển nông nghiệp, chưa thật sự chú ý phát triển theo chiều sâu, chưa chú ý đếnvấn đề môi trường cũng như vấn đề xã hội trong nông nghiệp và nông thôn Đứngtrước những khó khăn và thách thức đó thì việc xây dựng một nền nông nghiệp pháttriển theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quantrọng Điều này cũng đã được khẳng định trong mục tiêu định hướng phát triểnnông nghiệp của Tỉnh trong giai đoạn 2011 - 2015: “Xây dựng nền nông nghiệptoàn diện đa dạng theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, hiện đại bền vững, thânthiện với môi trường, gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới và
nâng cao đời sống của nhân dân” Vì những lý do trên nên đề tài “Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình” được chọn làm đề tài luận văn
thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Phát triển bền vững nói chung và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vữngnói riêng là một vấn đề khoa học được đề cập ở những khía cạnh khác nhau, qua tìmhiểu tác giả thấy có một số công trình khoa học nổi bật sau:
- Phát triển bền vững ở Việt Nam – thành tựu, cơ hội, thách thức và triểnvọng của Nguyễn Quang Thái và Ngô Thắng Lợi (2007), Nxb Lao động – xã hội
Đề tài đã đề cập đến phát triển bền vững nói chung ở Việt Nam chưa nêu cụ thể vềphát triển nông nghiệp bền vững ở một địa phương nhất định
- Công nghiệp hóa từ nông nghiệp, lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở ViệtNam của tác giả Đặng Kim Sơn (2007), Nxb Nông nghiệp Trong công trình của tác giảĐặng Kim Sơn thì phát triển nông nghiệp được tiếp cận từ lý thuyết phát triển nôngnghiệp, kinh nghiệm của một số nước và triển vọng của Việt Nam chưa đi sâu phân tích
ở góc độ phát triển bền vững nông nghiệp
Trang 8- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam - Conđường và bước đi của Nguyễn Kế Tuấn (2006), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội thìphát triển nông nghiệp bền vững được tác giả tiếp cận chủ yếu dưới góc độ đánh giátác động của việc phát triển nền nông nghiệp bền vững đối với nền kinh tế.
- Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững (2004), Nxb Chính trịQuốc gia, Hà Nội, do Nguyễn Từ chủ biên Đây là cuốn sách có nhiều bài viết cógiá trị bàn về vị trí và vai trò của ngành nông nghiệp trong sự phát triển kinh tế bềnvững chung của đất nước
- Đề tài “phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam - thực trạng và giảipháp” (2010), Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đặng Thị Tố Tâm lại nghiên cứu sâu vềphát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn, sản xuất hàng hóa
Ngoài ra có nhiều công trình nghiên cứu nhưng chỉ ở dạng những bài báođăng trên các báo, tạp chí, những báo cáo trong các hội thảo khoa học
Các công trình nghiên cứu, các bài viết, tham luận trên đều đề cập đến pháttriển nông nghiệp bền vững ở các góc độ khác nhau Đồng thời nêu lên các quanđiểm và kiến nghị các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững nhằm góp phầnvào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, đi sâu vào từngđịa phương cụ thể vấn đề phát triển nông nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vữngcòn ít được đề cập đến Đối với tỉnh Thái Bình, nghiên cứu phát triển nông nghiệptheo hướng bền vững trong thời kỳ đổi mới đất nước chưa có một công trình nào đềcập đầy đủ, toàn diện và hệ thống Do vậy, đây là một đề tài độc lập, đề cập mộtcách đầy đủ hệ thống về phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh TháiBình Các công trình, tài liệu trên là cơ sở để tác giả kế thừa có chọn lọc trong quátrình làm luận văn, đồng thời trên cơ sở các tư liệu, tài liệu về phát triển nôngnghiệp của tỉnh Thái Bình để làm rõ sự phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh TháiBình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của luận văn:
Trang 9Trên cơ sở hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệpbền vững, luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng tình hình phát triển nông nghiệp ởtỉnh Thái Bình và đưa ra các giải pháp để phát triển nông nghiệp của địa phươngtheo hướng bền vững trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ của luận văn:
Để thực hiện được mục tiêu này, luận văn có nhiệm vụ sau:
+ Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về phát triển bền vững, phát triển bềnvững nông nghiệp từ góc độ lý luận và thực tiễn
+ Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững ở một số địaphương
+ Phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Bình vànhững vấn đề đặt ra
+ Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng bềnvững ở Thái Bình trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu là ngành sảnxuất nông nghiệp và các yếu tố có liên quan đến phát triển nông nghiệp theo hướngbền vững ở tỉnh Thái Bình
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu phát triển nông nghiệp theohướng bền vững ở tỉnh Thái Bình dưới góc độ kinh tế chính trị
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu sản xuất nông nghiệp Thái Bình từ năm
2000 đến nay và đề xuất các giải pháp đến năm 2020
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu sản xuất nông nghiệp theo nghĩahẹp trên địa bàn tỉnh Thái Bình
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu cơ bản; đồng thời trong từng nội dungcụ thể luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp lôgic – lịch sử;phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương
Trang 10pháp so sánh…để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chủ
đề đề tài
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận về phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vững trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới
- Khái quát kinh nghiệm phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vữngcủa một số tỉnh Trên cơ sở đó, luận văn rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh TháiBình
- Phân tích thực trạng về việc phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ởtỉnh Thái Bình chỉ ra những mặt đạt được, những mặt hạn chế cũng như nguyênnhân của những hạn chế đó
- Đánh giá vai trò của nền nông nghiệp theo hướng bền vững đối với quátrình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và nâng cao chất lượng cuộc sống chodân cư nông thôn
- Đưa ra các quan điểm, các giải pháp để phát triển nền nông nghiệp bềnvững ở tỉnh Thái Bình trong thời gian tới
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vữngChương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnhThái Bình thời gian qua
Chương 3: Quan điểm, giải pháp tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướngbền vững ở tỉnh Thái Bình
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 1.1 Khái luận chung về phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ nhữngnăm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ đãbùng nổ, chất lượng cuộc sống của xã hội loài người đã có bước tiến rõ rệt do khoahọc công nghệ và năng suất lao động mang lại Của cải được nhân loại tạo ra ngàycàng nhiều và phong phú về chủng loại đã phần nào thỏa mãn nhu cầu vật chất vàtinh thần của con người, đã đưa đến sự phát triên nhanh của nền văn minh nhânloại Song cũng chính từ sự phát triển ấy đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày càngnổi cộm như tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng một cách quá mức về của cải,tài nguyên, năng lượng, thiên tai, bão, lũ, ô nhiễm và sự cố môi trường ngày cànggia tăng đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, gây trở ngại đối với sự pháttriển kinh tế và làm giảm sút chất lượng cuộc sống của con người
Đứng trước áp lực của thực tế khắc nghiệt, con người không còn cách lựa chọnnào khác là phải xem xét lại những hành vi ứng xử của minh với thiên nhiên, phươngsách phát triển KT - XH và tiến trình phát triển của mình Cách lựa chọn duy nhất đó
là con đường phát triển có sự kết hợp cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môitrường; đó chính là con đường đảm bảo tái sản xuất xã hội bền vững, hay nói cáchkhác đó chính là sự phát triển bền vững
Phát triển bền vững, cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau, sau đây làmột số quan niệm bàn về phát triển bền vững
Ủy ban quốc tế về phát triển và môi trường (1987) đã đưa ra định nghĩa:
“Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi, trong đó việc khai thác và sửdụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật và sự
Trang 12thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại vàtương lai của con người”.
Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio deJenerio (Braxin) năm 1992 đã đưa ra khái niệm vắn tắt về phát triển bền vững vàđược sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế đó là: “Phát triển bền vững
là sự phát triển nhanh đáp ứng những yêu cầu hiện tại mà không gây trở ngại choviệc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”
Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về PTBV tổ chức ở Johannesburg (cộng hòaNam Phi) năm 2002 đã bổ sung và hoàn chỉnh khái niệm về phát triển bền vững:
“Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hàihòa giữa ba mặt của sự phát triển gồm: Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo
vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu và đời sống con người hiện tại, nhưngkhông làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Nhưvậy, PTBV là sự phát triển trong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ thực hiện ba nhómmục tiêu lớn: Mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường Trong đó sựphát triển kinh tế là nguồn gốc, là động lực; sự phát triển xã hội là mục tiêu và sựphát triển môi trường là điều kiện của phát triển bền vững Theo đó, PTBV gồm
ba nội dung cơ bản đó là:
Bền vững về kinh tế: Đòi hỏi phải kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởngkinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sửdụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học và công nghệ, đặcbiệt chú trọng phát triển công nghệ sạch
Bền vững về xã hội: Là phải xây dựng một xã hội trong đó nền kinh tế tăngtrưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong
đó giáo dục – đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diệncho mọi đối tượng trong xã hội
Bền vững về tài nguyên và môi trường: Là các dạng tài nguyên thiên nhiêntái tạo được phải sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả
về số lượng và chất lượng các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết
Trang 13kiệm và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiênnhiên…) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái
và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịpthời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trườngsạch
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về PTBV đã được kết tinh và phản ánhđầy đủ nhất trong Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam: “Mục tiêu tổng quát củaPTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bìnhđẳng của công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa của con người và tựnhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triểnkinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”
Từ những cơ sở lý luận nên trên, tác giả cho rằng: Phát triển bền vững có nộidung lớn và phong phú, không chỉ hàm nghĩa phát triển kinh tế bền vững mà còn baohàm nội dung phát triển xã hội bền vững và gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trườngsinh thái Trong mỗi nội dung có thành tố riêng nhưng chúng luôn thống nhất biệnchứng và quan hệ hữu cơ với nhau tạo lên sự phát triển bền vững
Như vậy, việc quán triệt và nhận thức đúng đắn nội hàm của PTBV làphương pháp luận tốt khi thực hiện PTNNBV phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiệnnay
1.1.1.2 Phát triển nông nghiệp
Nền nông nghiệp của mỗi quốc gia cũng đều phải trải qua giai đoạn phát triển
từ thấp đến cao, gắn liền với sự tiến hóa của loài người và sự gia tăng dân số Trong
xã hội cộng sản nguyên thủy, nền nông nghiệp chủ yếu là săn bắt, hái lượm Khi loàingười tích lũy được kinh nghiệm, công cụ sản xuất ra đời, nền nông nghiệp được pháttriển sang trồng trọt và chăn nuôi theo hướng du canh hay du mục Canh tác du canh,
du cư gắn liền với nền canh tác đốt rẫy Sau đó, do sức ép về dân số và đất đai, nôngnghiệp du canh, du cư vẫn tồn tại đến ngày nay ở một số vùng do một số cộng đồngđồng bào dân tộc ít người thực hiện Từ nền nông nghiệp truyền thống sang nông
Trang 14nghiệp hiện đại, nông nghiệp tự cung và tự cấp sang nông nghiệp hàng hóa là những
xu hướng cơ bản của sự phát triển nông nghiệp trong một thế kỷ qua ở các nước
Thuật ngữ phát triển nông nghiệp được dùng nhiều trong đời sống kinh tế xãhội Phát triển nông nghiệp thể hiện quá trình thay đổi của nền nông nghiệp ở giai đoạnnày so với giai đoạn trước đó và thường đạt ở trình độ cao hơn cả về số lượng và chấtlượng Nền nông nghiệp phát triển là một nền sản xuất vật chất không những có nhiềuhơn về đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) đa dạng hơn về tổ chức và thể chế, thỏa mãn tốthơn nhu cầu của xã hội về nông nghiệp
Như vậy, phát triển nông nghiệp là một quá trình không phải trong trạng tháitĩnh Quá trình thay đổi của nền nông nghiệp chỉ sự tác động của quy luật thịtrường, chính sách can thiệp vào nền nông nghiệp của chính phủ, nhận thức và ứng
xử của người sản xuất và người tiêu dùng về các sản phẩm và dịch vụ tạo ra tronglĩnh vực công nghiệp Nền nông nghiệp phát triển là kết quả của quá trình phát triểnnông nghiệp
1.1.1.3 Phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển nông nghiệp bền vững là nội dung trọng yếu của chiến lược phátriển KT - XH của mọi quốc gia Phát triển nông nghiệp bền vững là tiền đề đảm bảocác mục tiêu phát triển KT - XH, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người.Tuy nhiên vào nửa cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, trong quá trình PTNN loài người
đã phải đương đầu với những thách thức có tính toàn cầu và ở từng quốc gia với mức
độ nghiêm trọng khác nhau như: Sự nghèo đói, sự suy giảm về tài nguyên thiên nhiên
và môi trường, áp lực dân số, sử dụng quá mức các chất hóa học…Trước nhữngthách thức nói trên, PTNNBV mới bắt đầu được quan tâm trong hai thập kỷ cuối củathế kỷ XX với nhiều quan niệm khác nhau:
Theo tổ chức lương thực và Nông nghiệp (FAO, 1992) định nghĩa: Pháttriển nông nghiệp bền vững là quá trình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kỹthuật ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầucủa mai sau Sự phát triển của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và nuôitrồng thủy sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài
Trang 15nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấpnhận về phương diện xã hội Định nghĩa này đã đề cập đến những vấn đề cốt lõi củaPTNNBV trên cả ba phương diện là sự phát triển hài hòa ba nhóm mục tiêu: Kinhtế, xã hội và môi trường đồng thời chỉ rõ cách thức thực hiện để hướng đến pháttriển nông nghiệp bền vững.
Theo Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứunông nghiệp của Liên Hợp Quốc (TAC/CGIRC) định nghĩa: Nông nghiệp bền vững
là nền nông nghiệp phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên thiên nhiênnhằm thỏa mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường vàgìn giữ được tài nguyên thiên nhiên [38, tr.12] Quan niệm này thiên về giải phápquản lý để PTNNBV, còn trên phương diện xây dựng nền nông nghiệp bền vững thìchưa được đề cập đầy đủ
Tổ chức về môi trường sinh thái thế giới (WCED) đưa ra định nghĩa: Nôngnghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được các nhu cầu của thế hệ hiện nay
mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau Định nghĩa trên chỉ đềcập khái quát tới vấn đề PTNNBV nói chung chưa đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể
Ở nước ta, vấn đề PTNNBV là một trong những nội dung được đề cập ởquyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tương chính phủ về
“Định hướng phát triển ở Việt Nam” Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam chỉ rõ:
“Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình sản xuất ngày càng nhiều hàng hóatheo yêu cầu của thị trường, phải đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo tồn vàphát triển được các nguồn tài nguyên như đất, nước, không khí, rừng và đa dạngsinh học [34, tr.10]
Các định nghĩa trên đã đề cập đến những giác độ khác nhau, rất lý thú vàsâu sắc về phát triển nông nghiệp bền vững Rõ ràng là các mục tiêu đặt ra của mộtnền nông nghiệp bền vững rất tuyệt vời và xứng đáng Tuy nhiên để làm tốt cácmục tiêu đó không phải là chuyện dễ dàng Ngay cả những nước phát triển ở châu
Mỹ, châu Âu cũng cần phấn đấu để dần có được một nền nông nghiệp bền vữngnhư các mục tiêu đề ra ở trên Các mục tiêu này nhằm đến một sự bền vững cho cả
Trang 16thế giới và phải có bước đi thích hợp để đảm bảo cho cuộc sống hiện tại của mọidân cư trên trái đất Không thế vì một mục tiêu cứng nhắc nào mà quên đi các mụctiêu khác, nhất là sự sinh tồn của cả cộng đồng Bên cạnh đó, nông nghiệp chỉ làmột phần của xã hội, muốn có sự bền vững trong nông nghiệp thì xã hội như là mộttổng thể, cần phải có các nguồn tài nguyên của nó như không khí, nước, đất, nănglượng và tất cả những thứ khác theo cách bền vững hơn Với cách tiếp cận trên, tácgiả luận văn có thể đưa ra quan niệm về PTNNBV ở tỉnh Thái Bình như sau:
Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình là quá trìnhĐảng bộ, chính quyền, các cơ quan, ban ngành chức năng, các thành phần kinh tế vànhân dân nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan, đường lối của Đảng,chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước vào thực tiễn nền nông nghiệp Thái Bìnhnhằm đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng nhanh, bền vững và ổn định, phân phốicông bằng sản phẩm và tài nguyên nông nghiệp, sử dụng hợp lý tài nguyên thiênnhiên, làm tăng sự công bằng giữa các thế hệ và hoàn thiện chất lượng cuộc sống
Với quan niệm trên có thể hiểu PTNN theo hướng bền vững ở tỉnh TháiBình là việc Đảng bộ, chính quyền, các cơ quan ban ngành chức năng và nhân dânTỉnh sử dụng các công cụ, chính sách, biện pháp tác động vào quá trình sản xuấtnông nghiệp nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế liên tục, ổn định đạt hiệu quả cao,giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân góp phần xóa đói, giảm nghèo, giảiquyết các vấn đễ xã hội, xây dựng nông thôn mới có đời sống vật chất và tinh thầnngày càng cao; gắn với việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống Nhưvậy, PTNN theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình là sự kết hợp hài hòa của ba mặt.Bảo đảm phát triển kinh tế cao và ổn định gắn với giải quyết có hiệu quả các vấn đề
về mặt xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
1.1.2 Tiêu chí phát triển bền vững trong nông nghiệp
Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững là nội dung quan trọng trong quátrình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Để xác định chính xác tiêu chí phát triểnbền vững trong nông nghiệp cần phải căn cứ vào nội dung CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về “ Đẩy mạnh CNH, HĐH nông
Trang 17nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 2010”, vào chiến lược phát triển KT XH (2006 2010) của Đại hội X; chiến lược phát triển KT - XH (2011 - 2020) của Đại hội XI vàcăn cứ vào định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trìnhnghị sự 21 của Việt Nam) cũng như đặc điểm riêng có của từng địa phương Vậndụng vào điều kiện thực tế ở tỉnh Thái Bình, tiêu chí phát triển bền vững trong nôngnghiệp được xác định cụ thể như sau:
-1.1.2.1 Tiêu chí bền vững về kinh tế nông nghiệp
Một là, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng liên tục, ổn định và hiệu quả.
Tăng trưởng là mục tiêu theo đuổi của tất cả các ngành trong nền kinh tếquốc dân Bất cứ một ngành nào, một lĩnh vực nào nếu không có sự tăng trưởng sẽgây trở ngại đối với tiến trình phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế, nhất lànhững nước thuần nông như nước ta nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng; đồngthời tăng trưởng kinh tế phải gắn với phát triển KT - XH trong đó xác lập được sựcân đối giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các nguồn lực con người,tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển côngnghệ thân thiện với môi trường
Hai là, áp dụng cơ giới hóa, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, chế
biến nông sản, nhất là công nghệ sinh học
Đối với nền nông nghiệp truyền thống, năng suất lao động thấp, không ổnđịnh, đôi khi còn ảnh hưởng nhiều của các yếu tố thời tiết, thiên tai Mặt khác, năngsuất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao, chi phí đầu vào lớn Việc tiếp tụcduy trì nền nông nghiệp truyền thống sẽ đẩy lùi sự phát triển của toàn bộ nền kinh tếquốc dân Đồng thời, với phương thức canh tác thủ công, độc canh, khai thác, sửdụng bừa bãi tài nguyên đất, tài nguyên nước môi trướng sẽ bị tàn phá nghiêmtrọng, điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người lao động trong nôngnghiệp và dân cư nông thôn Vì vậy để phát triển bền vững về kinh tế nông nghiệpcần áp dụng cơ giới hóa, ứng dụng khoa học cộng nghệ vào sản sản xuất, chế biếnnông sản, nhất là công nghệ sinh học
Ba là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 18Hiện nay nước ta đang đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước, mà mộttrong những mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn Đây là một ngành sản xuất có vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉgiúp đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất côngnghiệp, sản xuất hàng hóa nông sản xuất khẩu, cân bằng và đảm bảo môi trườngsinh thái mà sản xuất nông nghiệp còn là ngành chiếm đa số lao động của đất nước.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một đòi hỏi tất yếu để thực hiện mục tiêu dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Sự chuyển dịch phải đảm bảo theo tănggiá trị sản xuất ở những sản phẩm có giá trị, hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với việckhai thác tiềm năng lợi thế của vùng.
Bốn là, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
Những nguồn lực cơ bản trong sản xuất nông nghiệp đó là đất nông nghiệp,lực lượng lao động (cả về chất lượng và số lượng) tham gia sản xuất nông nghiệp vàcác nguồn vốn (tài chính) được huy động đầu tư vào sản xuất Sử dụng hiệu quả cácnguồn lực nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân
1.1.2.2 Tiêu chí bền vững về xã hội
Tuyên bố tại Hội nghị Rio de Ranerio đã khẳng định: Xóa bỏ đói nghèo làyêu cầu không thể thiếu của phát triển bền vững (kinh tế, xã hội và môi trường) Dovậy tiêu chí bền vững về xã hội trong khu vực nông thôn cần giải quyết như xóa đóigiảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm và thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sựphân hóa giàu nghèo…Trên thực tế hiện nay, tình trạng nghèo đói tồn tại chủ yếu ởvùng nông thôn, chiếm phần lớn trong số những người thuộc diện nghèo đói lànhững người tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Đối với nền nôngnghiệp truyền thống lạc hậu, tốc độ tăng trưởng thấp rất khó có thể giải quyết đượcvấn đề nghèo đói Trong khi đó, việc phát triển một nền nông nghiệp theo hướngbền vững sẽ đảm bảo được các mục tiêu tăng trưởng ổn định và hiệu quả Thực hiệncác mục tiêu trên sẽ là cơ sở giải quyết vấn đề thất nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội vềcông ăn việc làm, ổn định đời sống cho người lao động từng bước nâng cao thunhập và chất lượng đời sống cho nhân dân trong khu vực nông thôn Khi các mục
Trang 19tiêu trên được thực hiện sẽ là cơ sở, tiền đề vật chất góp phần thúc đẩy nhanh quátrình xóa đói giảm nghèo.
Tiêu chí phát triển bền vững về xã hội trong nông nghiệp phải tạo điều kiệncho mọi người, nhất là những người trong hoàn cảnh khó khăn đều có cơ hội tiếpcận công bằng các dịch vụ cơ bản về giáo dục, y tế, thông tin…mang tính an sinh xãhội luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội ởnước ta hiện nay
1.1.2.3 Tiêu chí bền vững về môi trường trong nông nghiệp
Trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân thì nông nghiệp là ngànhliên quan trực tiếp tới các điều kiện tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái.Bằng hoạt động lao động của mình con người tác động đến các yếu tố tự nhiêntrong đất để nuôi dưỡng cây trồng, gia súc, từ đó tạo ra các sản phẩm cần thiết cho
xã hội Vì vậy bảo vệ nguồn tài nguyên đất, nước…là một nhiệm vụ cấp bách, nókhông chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệpbảo vệ tài nguyên và môi trường trong tương lai và lâu dài, vì đó là sự sống còn củachính chúng ta và thế hệ tương lai Do đó phát triển bền vững về môi trường nôngnghiệp phải gắn với bảo vệ đất, sử dụng tiết kiệm đất và sử dụng các nguồn nước,
sử dụng tiết kiệm nguồn nước
Hoạt động sản xuất nông nghiệp phải giữ cho môi trường trong lành, sạchđẹp, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, khắcphục ô nhiễm suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học
Để thực hiện được các tiêu chí trên cần tập trung vào ba nội dung sau:
Thứ nhất, khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên hiện có để thỏa
mãn nhu cầu con người Do đó trong khai thác tài nguyên thiên nhiên vào sản xuấtnông nghiệp phải có quy hoạch, kế hoạch khoa học
Thứ hai, giữ gìn và bảo tồn chất lượng tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ
mai sau Do đó ngay trong hiện tại, việc khái thác và sử dụng các nguồn tài nguyênngoài việc thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ hiện tại phải tinh đến lợi ích của thế hệtương lai
Trang 20Thư ba, ngăn chặn ô nhiễm, lạm dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp.
Trên cơ sở đẩy mạng việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiêntiến vào sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm sạch, có chất lượng cao
Như vậy, những tiêu chí nêu trên là cơ sở cho việc đánh giá toàn diện sự pháttriển nông nghiệp theo hướng bền vững Tuy nhiên, trong quá trình xem xét, đánhgiá cần có quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển để vậndụng những tiêu chí này cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển, từng trường hợpcụ thể với những yêu cầu khác nhau, ở những địa phương khác nhau, khu vực vàtừng vùng khác nhau
1.1.3 Điều kiện phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.3.1 Môi trường kinh tế vĩ mô
Các hoạt động kinh tế bao giờ cũng diễn ra trong môi trường vĩ mô nhấtđịnh Môi trường vĩ mô càng thuận lợi, các hoạt động kinh tế càng hiệu quả và càngđược mở rộng Bởi vậy để phát triển bền vững phải tạo lập môi trường vĩ mô thuậnlợi cho phát triển nông nghiệp như ổn định hệ thống chính trị, xã hội, tạo lập môitrường pháp lý, bảo vệ được lợi ích chính đáng của nông dân, xây dựng môi trườngvăn hóa giáo dục phù hợp với yêu cầu phát triển KT - XH; củng cố, mở rộng quan
hệ hữu nghị với các nước
Hệ thống chính trị ở nông thôn đó là chủ thể trực tiếp lãnh đạo, đưaPTNNBV vào cuộc sống Cho nên hệ thống chính trị ở cơ sở là cực kỳ quan trọng.Vai trò hệ thống chính trị ở nông thôn thể hiện trực tiếp ở chỗ tổ chức cho nhân dânthực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhànước về xây dựng nông nghiệp phát triển bền vững vào thực tiễn cuộc sống Cácchủ trương, đường lối, chính sách đó dù có đúng nhưng khâu thực hiện không tốt thìcũng chỉ dừng lại ở góc độ lý luận mà thôi; đó là chưa tính đến thực hiện sai có thểdẫn đến sự phá hoại vững mạnh của hệ thống chính trị ở nông thôn là yếu tố chínhtrị, xã hội bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện phát triển nông nghiệp bền vững đạtđược mục đích
1.1.3.2 Các nguồn lực cơ bản
Trang 21Nguồn lực của mỗi quốc gia là tổng thể các điều kiện tự nhiên và tài nguyênthiên nhiên, hệ thống tài sản quốc dân, dân cư, nguồn lao động cùng với các đườnglối chính sách liên quan đến phát triển KT - XH của quốc gia đó Các nguồn lực cómối quan hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau Đến lượt mình mỗi nguồn lựclại có vai trò riêng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn lực tự nhiên giữ vai trò là cơ sở để phát triển KT - XH, chúng takhông thể phát triển kinh tế nông nghiệp nếu như thiếu cơ sở tài nguyên Vấn đề là
ở chỗ bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái, phát huy tối
đa thế mạnh và khắc phục những hạn chế của từng vùng, từng địa phương cụ thể
Dân cư và lao động có vai trò then chốt đối với phát triển kinh tế nôngnghiệp đặc biệt là đội ngũ lao động nông nghiệp có trình độ khoa học, kỹ thuật Mọicủa cải xã hội đều do con người làm ra và quay trở lại phục vụ cho nhu cầu chínhbản thân con người, con người là động lực của sản xuất bởi họ là yếu tố trực tiếpsản xuất ra của cải vật chất xã hội, vừa là yếu tố tiêu thụ những sản phẩm do chínhmình tạo ra Con người có khả năng áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật đểcải tạo tự nhiên phục vụ cho lao động sản xuất để nâng cao đời sống Đây là nguồnlực quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội
Ngoài các nguồn lực nói trên thì phải kể đến nguồn lực không kém phần quantrọng góp phần cơ bản cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp đó là cơ sở vật chất kỹthuật Cơ sở vật chất có vai trò quyết định nó thể hiện ở chỗ tạo điều kiện thuận lợihay gây khó khăn cho sự phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
Trước hết về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho ngành kinh tế nông nghiệp
là giao thông vận tải, thủy lợi nội đồng, mạng lưới cấp điện, mạng lưới cấp thoátnước và xử lý nước thải, rác thải, mạng lưới thông tin truyền thông, các nhà máy xínghiệp với năng lực đáng kể
1.1.3.3 Vai trò quản lý của nhà nước
Trong quá trình tồn tại và phát triển xã hội loài người đã trải qua nhiều giaiđoạn phát triển Ngoại trừ xã hội nguyên thủy đầu tiên thì xã hội nào cũng có nhà
Trang 22nước Sự ra đời của nhà nước là một vấn đề tất yếu khách quan của quá trình pháttriển xã hôi loài người.
Nhà nước ra đời có vai trò quản lý xã hội tạo điều kiện tốt nhất cho xã hộiphát triển Vì thế xã hội nào cũng cần có sự quản lý của nhà nước, đặc biệt là trongchế độ xã hội chủ nghĩa càng quan trọng vì nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nướccủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Đối với nền kinh tế thì vai trò của nhànước chiếm vị trí quan trọng hơn cả vì kinh tế có vai trò quyết định đến sự pháttriển của xã hội
Ở Việt Nam thì vai trò quản lý của nhà nước càng quan trọng vì đất nước ta
đi lên xã hội chủ nghĩa xuất phát từ một nền nông nghiệp nghèo làn, lạc hậu Saukhi giành thắng lợi trong kháng chiến chống thực dân Pháp thì chủ trương củaĐảng ta là bỏ qua giai đoạn chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trongkhi đó nền kinh tế nước ta vẫn là nền kinh tế lạc hậu so với các nước trong khuvực và trên thế giới, nền kinh tế vẫn dựa vào nông nghiệp, xuất phát điểm thấp.Thật vậy, ở nước ta vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước với các chính sách,các mục tiêu, các định hướng cụ thể là sự cần thiết tạo điều kiện tốt nhất để chođất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa
Vai trò quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp bắt nguồn tự sự cầnthiết phải phối hợp các hoạt động lao động chung trên cơ sở xã hội hóa sản xuất,PTNNBV, lực lượng sản xuất và trình độ phát triển sản xuất hàng hóa càng cao thìcàng cần thiết phải thực hiện vai trò này một cách chặt chẽ và nghiêm ngặt Tùytheo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hàng hóa của nông nghiệp trong từnggiai đoạn nhất định mà giữa các phân ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sảncũng như các yếu tố kinh tế của toàn ngành nông nghiệp có những mối quan hệ tỷ lệphù hợp đảm bảo khai thác hợp lý các nguồn lực và phát triển Sự phát triển khôngngừng của lực lượng sản xuất, sự tác động thường xuyên hay bị động của các yếu tố
tự nhiên, KT - XH, chính trị trong nước cũng như quốc tế luôn là những nguyênnhân phá vỡ những mối quan hệ tỷ lệ nói trên Trước tình hình đó, nhà nước nhậnthức đúng quy luật vận động phát triển, nắm vững và dự báo được các yếu tố tự
Trang 23nhiên KT - XH, chính trị trong nước và quốc tế để vạch ra những chiến lược và kếhoạch phát triển thể chế hóa các chủ trương đường lối phát triển nông nghiệp bềnvững thành các quy chế luật định để hướng dẫn, sử dụng các kích thích kinh tếnhằm định hướng phát triển các vùng nông nghiệp phát triển đúng hướng và có hiệuquả gắn với bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề xã hội.
Nhà nước xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động để định hướng sựphát triển của kinh tế nông nghiệp như chỉ ra chỉ tiêu đối với nông nghiệp, xây dựngnông nghiệp với các phương hướng sau:
Nhà nước định hướng cho nông nghiệp phát triển theo hướng CNH, HĐHmới có thể đưa nước ta khỏi tình trạng lạc hậu như hiện nay
Phát triển kinh tế bền vững trên cơ sở khai thác và sử dụng các tài nguyênhợp lý, tái tạo và bảo vệ để có thể khai thác lâu dài
Phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu là vì nền kinh tế không thể khép kínnên phải phát triển nó theo hướng xuất khẩu để tăng năng suất sản lượng trong sảnxuất nông nghiệp
Nhà nước tạo điều kiện tốt nhất để nông nghiệp phát triển như việc xây dựngcác cơ sở hạ tầng phục vụ cho nông nghiệp, tăng lượng tiền đầu tư cho nông nghiệp,nghiên cứu tạo ra các giống mới có năng suất cao
Bên cạnh những việc tạo cơ sở hạ tầng Nhà nước cũng có những chínhsách ưu tiên khuyến khích các hộ nông nghiệp như giảm thuế cho các mặt hàngnông phẩm, khen thưởng cho các hộ gia đình sản xuất giỏi Vì tính chất của nôngnghiệp ngày càng áp dụng nhiều khoa học, kỹ thuật nên cần phải có đội ngũ quản
lý lao động có năng lực nhất định Do vậy cần có chính sách để nâng cao chấtlượng nhân lực như mở các trường đào tạo cán bộ chuyên sâu về ngành nôngnghiệp để phục vụ cho ngành; thường xuyên mở các lớp tập huấn về kỹ thuật,đào tạo ngắn hạn cho các hộ nông dân để họ nâng cao hiểu biết Tất cả các chínhsách này đã đang và sẽ góp phần giúp cho nông nghiệp của nước ta ngày càngphát triển
Trang 241.2 Kinh nghiệm một số địa phương trong phát triển nông nghiệp bền vững
1.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng nông nghiệp truyền thống đồng bằng sôngHồng có điều kiện tự nhiên xã hội tương đồng với Thái Bình Bắc Ninh có diện tích822,7 km2, dân số 1038,2 nghìn người (mật độ 162 người/km2) trong đó dân cưnông thôn chiếm 60,5%, lao động nông nghiệp chiếm gần 48% lực lượng lao động
xã hội Là địa bàn đất chật người đông, Bắc Ninh đang đứng trước một áp lực lớntrong phát triển nông nghiệp do qũi đất sản xuất ngày càng bị thu hẹp, vì vậy đểPTNNBV Bắc Ninh đã và đang tích cực chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thốnghiện tại sang nền nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao nhằm nâng cao hiệu quảtính trên một đơn vị diện tích sản xuất nông nghiệp
Bắc Ninh xác định con người là trung tâm của phát triển bền vững Vì vậy,Bắc Ninh rất chú trọng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, công tácđào tạo nghề lao động nông thôn được triển khai theo hướng đa dạng các loại hình,các ngành nghề đào tạo như trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi thú y, nuôi trồngthủy sản, cơ khí nông nghiệp, điện, mộc, thêu Mô hình đào tạo nghề tiêu biểu củaBắc Ninh là mô hình “ba trong một”, đó là đào tạo nghề, giải quyết việc làm laođộng nông thôn gắn với doanh nghiệp Mô hình này lấy các cơ sở dạy nghề làm nơiđào tạo, rèn nghề, thực hành, vừa là nơi giới thiệu việc làm Năm 2012, mô hìnhtrên của các huyện Thuận Thành, Từ Sơn… Nhờ đó mà lĩnh vực đào tạo nghề nôngnghiệp cho lao động nông thôn Bắc Ninh đã có bước phát triển cả lượng và chất.Nếu như năm 2010 có 11.000 lao động nông thôn được đào tạo thì riêng sáu thángđầu năm 2012 có hơn 10.000 lao động nông thôn trong Tỉnh tham gia học nghề.Thật vậy, trong sáu tháng đầu năm 2012 Tỉnh đã giải quyết việc làm cho hơn13.000 lao động, tăng 19% so với năm 2011 góp phần giải quyết thời gian nôngnhàn, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nhân dân Ngoài ra Bắc Ninh coităng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; khai tháchợp lý và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái
Trang 25và bảo vệ môi trường, tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác độngxấu đối với môi trường.
Bắc Ninh đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo chiều sâu trên cơ sở ứngdụng tích cực các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới tiên tiến Phát triển nông nghiệp
đô thị, nông nghiệp sạch trong đó tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ caogắn với nhu cầu thị trường, trước hết là thị trường Hà Nội và vùng kinh tế trọngđiểm bắc bộ, coi nông nghiệp công nghệ cao là khâu đột phá dễ phát triển nôngnghiệp chất lượng cao, hiệu quả và bền vững
Phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao nhằm thu hút sự đầu tư cótrọng điểm tạo bước nhảy vọt về năng suất và chất lượng nông sản Khu côngnghiệp công nghệ cao sẽ đóng vai trò “đầu tàu” mở đường đưa nhanh tiến bộ kỹthuật, công nghệ vào sản xuất, thúc đẩy chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thốngsang nền nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, tạo cơ sở phát triển nông nghiệp,nông thôn hướng nhanh tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khu công nghiệp côngnghệ cao đáp ứng yêu cầu đưa công nghiệp Bắc Ninh thành nền nông nghiệp hànghóa mạnh có sức cạnh tranh cao trên thị trường nội địa và xuất khẩu, phát huy hiệuquả các lợi thế về nguồn nhân lực và tài nguyên trên địa bàn Tỉnh
Mục tiêu phát triển nông nghiệpcủa tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 đó là, bêncạnh việc bảo vệ an ninh lương thực, tập trung xây dựng các khu nông nghiệp côngnghệ cao với quy mô khoảng 200 ha Hướng sản xuất chủ yếu tập trung vào các sảnphẩm rau, hoa, quả, cây cảnh Chú trọng tới các sản phẩm cao cấp có giá trị và nhucầu tiêu thụ cao trên thị trường xuất khẩu và thị trường nội tiêu và có yêu cầu khắtkhe, phát triển mô hình trang trại chăn nuôi lớn và hiện đại, công tác thú y đượcquan tâm bảo đảm vệ sinh an toàn dịch bệnh
Thực tiễn phát triển sản xuất nông nghiệp của Bắc Ninh tới nay đã đạt đượcnhững thành tựu quan trọng đặt cơ sở tiền đề đẩy mạnh quy mô sản xuất theo hướngchất lượng cao Đến năm 2011 Bắc Ninh đã đạt cơ cấu nông nghiệp khá tiến bộ khingành trồng trọt chỉ còn 50,82% và chăn nuôi chiếm 41,86% Năm 2011 có 311trang trại (chiếm 8,9% số lượng trang trại toàn vùng đồng bằng sông Hồng) Tới
Trang 26nay trên địa bàn Tỉnh đã hình thành nhiều vùng sản xuất nông sản có quy mô hànghóa gồm 13 vùng sản xuất hàng hóa, 24 vùng sản xuất khoai tây, 26 vùng sản xuấtrau xuất khẩu và một số vùng sản xuất hoa, cây cảnh… Không ít vùng đã đạt giá trịkinh tế cao, thu nhập gần 200 triêu đồng/ha/năm như vùng rau Hòa Đình (thành phốBắc Ninh) vùng cây cảnh Phú Lâm (Tiên Du)…Với kinh nghiệm phát triển nôngnghiệp của Tỉnh đang là bài học kinh nghiệm rất quý báu trong quá trình phát triển
KT – XH của Thái Bình nói chung và phát triển của ngành nông nghiệp nói riêng
1.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh An Giang
An Giang là một tỉnh miền Tây Nam Bộ có diện tích là 3.536,8 km2, dân số2.210,4 nghìn người, là một tỉnh sản xuất lúa hàng đầu tại Việt Nam Điều kiện tựnhiên của tỉnh An Giang hết sức thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đất đai màu
mỡ được phù sa bồi đắp hàng năm do dòng sông Mê Kông mang đến, khí hậu mát
mẻ, nguồn nước dồi dào giúp cho việc canh tác thuận lợi tạo năng suất lao độngcao, chi phí thấp Hàng năm diện tích lúa của An Giang lên hơn 53.000 ha, sảnlượng hơn 3 triệu tấn lúa góp phần không nhỏ vào kế hoạch xuất khẩu gạo của cảnước Ngoài cây lúa An Giang còn trồng bắp, đậu lành và nuôi trồng thủy sản nướcngọt như cá, tôm
Hiện tại, An Giang đang phát triển một nền nông nghiệp hoàn chỉnh với sự đadạng, chuyên môn hóa nhiều vật nuôi cây trồng vừa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trongTỉnh vừa góp phần xuất khẩu và cải thiện góp phần nâng cao đời sống nhân dân Mặc
dù An Giang chuyển sang cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp nhưng phần đóng góp củanông nghiệp có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của Tỉnh Có được kết quảtrên, bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, An Giang đã xây dựng chomình một chiến lược phát triển đúng đắn đó là:
Thứ nhất, thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo chiến lược xây dựng cơ cấu
kinh tế toàn diện và ổn định trong đó tập trung vào một số giải pháp như:
Đẩy nhanh tốc độ giao đất cho nông dân thông qua cải cách đất đai; thựchiện chính sách dồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu lớn
Trang 27Phân vùng sản xuất nhằm giải quyết tình trạng sản xuất không ổn định, xâydựng kế hoạch chuyên canh sản xuất, phân canh diện tích đất đai nhất định cho một
số loại cây đòi hỏi tưới tiêu tốt
Triển khai dự án hợp tác xã giống nguyên chủng và giống xác nhận đã pháthuy vai trò của ứng dụng khoa học công nghệ kỹ thuật vào sản xuất An Giang pháttriển mạng lưới hơn 193 đơn vị hợp tác xã, diện tích nhân giống sấp xỉ 35.000 ha,sản lượng giống hơn 19.000 tấn đáp ứng 73% nhu cầu giống đồng thời ứng dụngcông nghệ sinh học Để tăng năng suất, chất lượng nâng cao giá trị cạnh tranh củasản phẩm trong đó đặc biệt là lĩnh vực cho tạo giống cây trồng vật nuôi sản xuất cácchế phẩm sinh học kích thích tăng trưởng, bảo quản nông sản ứng dụng công nghệlên men vi sinh vật Enzyme công nghiệp Như vậy, với đà phát triển khoa học kỹthuật cùng sự nhạy bén áp dụng khoa học vào sản xuất nông nghiệp An Giang tiếnmột bước dài đến nền nông nghiệp bền vững
Thứ hai, trước những thách thức của dịch hại, chất thải nông nghiệp đối với
môi trường, để sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, An Giang hướng đến
mô hình GAP với chương trình ba tăng, ba giảm (tăng năng suất lúa, tăng chấtlượng lúa gạo, tăng hiệu quả kinh tế; giảm lượng giống gieo sạ, giảm lượng thuốctrừ sau, giảm lượng phân đạm) và tiết kiệm nước, sử dụng giác thải nông nghiệplàm phân vi sinh đã mang lại hiệu quả cao Việc hướng đến nền nông nghiệp sạchnhằm bảo vệ môi trường sống và tạo ra sản phẩm an toàn cho sức khỏe cộng đồng,đây là mô hình sản xuất phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay Mô hình GAP đãáp dụng thành công tại Châu Phú, Thoại Sơn…đối với ba dòng sản phẩm trồng trọt,chăn nuôi và thủy sản
Thứ ba, cấp tín dụng cho người nghèo và hỗ trợ vốn cho nông dân sản xuất
với các chính sách ưu đãi, phát triển rộng mở chương trình khuyến nông, xây dựngkết cấu hạ tầng, giải quyết các vấn đề về ô nhiễm…nhằm thúc đẩy phát triển nôngnghiệp bền vững
Thứ tư, An Giang là một trong những địa phương đi đầu và đi trước một
bước trong việc xây dựng mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước, nhà nông, nhà khoa
Trang 28học, nhà doanh nghiệp) An Giang phát triển hợp tác xã nông nghiệp và xây dựngđồng thời triển khai các đề án về tổ chức lại sản xuất, gắn liền với chế biến và thịtrường tiêu thụ.
Nông dân tạo ra sản phẩm có chất lượng cao không thể thiếu trong quá trìnhsản xuất, doanh nghiệp đã hợp đồng với nông dân trong Tỉnh sản xuất trên diện tíchhàng ngàn ha và thu mua bao tiêu hàng ngàn tấn sản phẩm các loại
Mô hình liên kết bốn nhà đã làm thay đổi nhận thức của nông dân trong việc
bỏ tập quán canh tác cũ, lạc hậu, thay vào đó là việc ứng dụng các tiến bộ khoa học,
kỹ thuật trong sản xuất tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận, nông dân được tiếp cậnnhững tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới ngày càng nhiều hơn và sâu rộng hơn Kếtquả không những thu nhập của nông dân tăng cao góp phần cải thiện đời sống màcòn thúc đẩy phát triển kinh tế của Tỉnh
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thái Bình
Nông nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt, có vị trí trọng yếu trong cơ cấu nềnkinh tế của mỗi quốc gia nói chung và của tỉnh Thái Bình nói riêng Thông qua việcnghiên cứu những kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của các tỉnh trong nước sẽgiúp cho Thái Bình có nhiều bài học trong chiến lược phát triển nông nghiệp theohướng bền vững
Một là, xác định đúng đắn mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp
trong quá trình CNH, HĐH và phát triển KT - XH của Thái Bình Công nghiệp vànông nghiệp chính là hai ngành kinh tế xương cốt trực tiếp tạo ra của cải vật chất và
là hai ngành có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo điều kiện thúc đẩy nhau pháttriển Do vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế của mình nếu Thái Bình khôngphát triển hài hòa được giữa công nghiệp và nông nghiệp thì nền kinh tế có nguy cơrơi vào tình trạng mất ổn định thiếu tính cân bằng tổng thể Đặc biệt trong quá trìnhphát triển KT - XH của Thái Bình hiện nay, việc xuất hiện ngày càng nhiều các khucông nghiệp đang đẩy một bộ phận dân cư mất đất sản xuất nông nghiệp và rơi vàotình trạng thiếu việc làm, đời sống khó khăn, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khógiải quyết
Trang 29Từ kinh nghiệm của các tỉnh, trên cơ sở những vấn đề thực tiễn của Tỉnhviệc xác định đúng mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trìnhCNH, HĐH là bài học có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Thái Bình.
Hai là, phát triển nông nghiệp gắn với việc bảo vệ tài nguyên môi trường.
Ngành nông nghiệp là ngành có liên quan trực tiếp tới các điều kiện tài nguyên môitrường Cụ thể là trong quá trình sản xuất nông nghiệp liên quan trực tiếp tới cácyếu tố tài nguyên đất, nước, rừng… Bên cạnh đó khu vực nông nghiệp, nông thôn làkhu vực có trình độ dân trí thấp Do trình độ khoa học, kỹ thuật còn lạc hậu, trình
độ nhận thức của người sản xuất cũng còn hạn chế nên trong quá trình sản xuất, cácyếu tố đầu vào của sản xuất đã bị sử dụng một cách thiếu tổ chức, thiếu khoa họcgây ra hậu quả như ô nhiễm nguồn nước, sự suy thoái của đất nông nghiệp do lạmdụng hóa chất, sự cạn kiệt của nguồn lợi thủy sản do khai thác quá mức với nhữngphương tiện đánh bắt mang tính hủy diệt Điều đó đã và đang tác động trực tiếp tớitoàn bộ khu vực nông nghiệp, nông thôn làm cho diện tích đất bị hoang hóa, sảnlượng đánh bắt thủy hải sản gần bờ có xu hướng giảm Chính vì vậy việc phát triểnnông nghiệp, nông thôn phải gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa vôcùng quan trọng Bảo vệ tài nguyên môi trường chính là bảo vệ sự phát triển bềnvững của ngành nông nghiệp
Ba là, phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn liền với vấn đề xóa đói giảm
nghèo, nâng cao mức sống của dân cư vùng nông thôn Thực tiễn cho thấy, do yêucầu của quá trình tăng trưởng kinh tế nên không chỉ có riêng Thái Bình mà hầu hếtcác tỉnh trong cả nước đều dành phần lớn các nguồn vốn đầu tư cho công nghiệp vàdịch vụ, trong khi đó vốn đầu tư cho nông nghiệp còn hạn chế Vậy nên khu vựcnông nghiệp vẫn là khu vực phát triển chậm nhất, đời sống của nhân dân vẫn tronghoàn cảnh nghèo đói Tuy nhiên để vượt qua vòng luẩn quẩn này ở khu vực nôngnghiệp là hết sức khó khăn Đời sống khó khăn cùng với sự gia tăng của nghèo đói
sẽ là sự gia tăng của hàng loạt các tệ nạn xã hội gây mất ổn định không chỉ ở khuvực nông nghiệp, nông thôn mà nó còn tạo ra áp lực đè nặng lên nền kinh tế củaTỉnh cũng như của cả nước Để giải quyết được vấn đề đó thì không còn con đường
Trang 30nào khác là phải tập trung các nguồn lực để vực dậy sự phát triển của khu vực nôngnghiệp, nông thôn, đầu tư thích đáng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn Do vậyTỉnh cần có kế hoạch tốt và hợp lý, cần phải có cơ chế chính sách đầu tư hiệu quảcho khu vực nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu tư cho kết cấu hạ tầng xã hội pháttriển nông nghiệp, nông thôn Việc phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn phảinhằm thực hiện được mục đích cao nhất đó là xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mứcsống dân cư Chỉ khi đó sự phát triển mới thực sự bền vững.
Bốn là, để có một nền nông nghiệp sạch, phát triển bền vững, năng suất cao,
có những sản phẩm có giá trị cần có sự kết cấu “bốn nhà” trong sản xuất chế biến,tiêu thụ Đồng thời đẩy mạnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với nhu cầuthị trường coi nông nghiệp công nghệ cao là khâu đột phá để phát triển nông nghiệpchất lượng cao, hiệu quả và bền vững Cần tập trung đầu tư nghiên cứu sản xuất cácloại vác xin phòng chống hiệu quả dịch bệnh cho gia súc, cây trồng, vật nuôi, theo
đó tập trung đầu tư trang thiết bị máy móc vào nông nghiệp
Xuất phát từ thực tiễn Thái Bình là một tỉnh thuần nông, cơ sở vật chất củacông nghiệp hầu như chưa có gì Do vậy, muốn phát triển KT - XH của Tỉnh chúng
ta phải xuất phát từ nông nghiệp Tuy nhiên, nếu với nền nông nghiệp thủ công lạchậu, khép kín thì sẽ rất khó phát triển Trước những diễn biến bất thường của hiệntượng biến đổi khí hậu toàn cầu ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất hiệu quả sản xuấtnông nghiệp trong khi đó nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm vàdịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau Cần phải phát triển nông nghiệp theohướng bền vững đó là sự phát triển của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp vànuôi trồng thủy sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tàinguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ có hiệu quả về kinh tế và được chấpnhận về phương diện xã hội Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình đảm bảohài hòa ba nhóm mục tiêu KT - XH và môi trường
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG
BỀN VỮNG Ở TỈNH THÁI BÌNH 21 Giới thiệu khái quát về tình hình kinh tế, xã hội ở tỉnh Thái Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội
Thái Bình là một tỉnh ven biển thuộc khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng,
ba bề giáp sông lớn, một bề giáp biển đông, khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ Lại nằmtrong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác kinh tế tăng trưởng: Hà Nội, Hải Phòng,Quảng Ninh Vị trí địa lý: 20,17 - 20,44 độ vĩ Bắc; 106,06 - 106,39 độ kinh Đông.Phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và thành phố Hải Phòng Phía Tây và tâyNam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam Phía Đông giáp vịnh bắc bộ, đây là một lợi thếlớn trong phát triển nền nông nghiệp sinh thái
Là một địa bàn tỉnh duy nhất ở Việt Nam được bao quanh và ngăn cách vớicác tỉnh bạn trong vùng sinh thái bởi hệ thống sông biển khép kín Có năm cửa sônglớn đổ ra biển và bốn sông lớn chảy qua địa phận của Tỉnh Nhìn chung các sốnglớn chảy qua địa phận Tỉnh rồi đổ ra biển chịu ảnh hưởng của thủy triều nên rấtthuận lợi cho giao lưu kinh tế Mùa hè mực nước tăng nhanh, lưu lượng lớn, hàmlượng phù sa cao Mùa đông lưu lượng giảm xuống nhiều, nước mặn từ các cửasông lớn có thể chuyển sâu vào đất liền thành những vùng nước lợ rất thuận lợi choviệc đánh bắt nuôi trồng thủy sản, song cũng gây không ít khó khăn cho địa phươnghàng năm phải đầu tư cải tạo hàng trăm ha đất nhiễm mặn và xây dựng cơ sở hạtầng, đê kè thủy lợi mương máng tưới tiêu và phòng chống thiên tai để đáp ứng yêucầu của sản xuất và đời sống nhân dân
Thái Bình là một tỉnh có mật độ dân số cao so với các tỉnh trong cả nước(1.155 người/km2) Quy mô dân số của Tỉnh xếp hàng đứng thứ mười toàn quốc.Đến năm 2012, dân số Thái Bình là 1.786.500 người, số trong độ tuổi lao động là1.052.000 người (chiếm 58,9%) tổng dân số, trong đó số dân và số lao động nôngnghiệp chiếm tỷ trọng lớn (90% dân số và 58,46% lao động nông nghiệp) Có thểnói Thái Bình là tỉnh có tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn cao nhất cả nước và
Trang 32là một tỉnh nông nghiệp hầu như thuần nông, đối tượng chính sách lớn, lại bị ảnhhưởng của phong tục tập quán làm ăn tiểu nông manh mún bao đời nay Chính vìthế cần phải phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, đây cũng là quá trình làmthay đổi nếp nghĩ, nếp sống của người dân Công việc này đòi hỏi phải làm trongmột thời gian dài chứ không thể một sớm một chiều và chính nó là lực cản làmgiảm tốc độ của quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở Thái Bình.
2.1.2 Tiềm năng cho phát triển nông nghiệp bền vững của tỉnh Thái Bình
Diện tích đất tự nhiên toàn Tỉnh là 154.351 ha trong đó: Đất nông nghiệp là103.955 ha, đất lâm nghiệp có rừng là 2.500 ha, đất chuyên dùng là 25.978 ha, đấtthổ cư là 12.445 ha và đất chưa sử dụng, sông ngòi là 9.431 ha Với đặc điểm nàycho phép Thái Bình có thể chọn nông nghiệp là một hướng quan trọng ưu tiên đểphát triển
Địa hình Thái Bình tương đối bằng phẳng, đất đai phì nhiêu màu mỡ, nổitiếng được xem là “bờ xôi, ruộng mật” của vùng đồng bằng bắc bộ do được bồi tụbởi phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Hệ thống công trình thủy lợitưới tiêu đồng bộ Đó là điều kiện thuận lợi để Thái Bình phát triển nông nghiệphàng hóa với nhiều loại cây trồng và vật nuôi đa dạng, phong phú như cây lươngthực (lúa), cây thực phẩm xuât khẩu (khoai tây, dưa chuột, hành, tỏi, lạc, đậu tương,ớt…) và cây ăn quả nhiệt đới (cam, táo, ổi bo, nhãn, chuối…) và trồng hoa câycảnh… Thái Bình cũng là tỉnh có diện tích ven đê, ven sông và hệ thống kênhmương ao hồ rộng khắp, đây là điều kiện để phát triển ngành chăn nuôi
Thái Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bìnhhàng năm từ 23 – 240C Số giờ nắng trong năm từ 1.600 – 1.800 giờ, lượng mưatrung bình từ 1.500 – 1.900mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình nhiều năm từ 85 –90% Nhìn chung khí hậu thủy văn Thái Bình nhờ có thiên nhiên ưu đãi nên rấtthuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng với nhiều cây trồng vật nuôi có nguồngốc nhiệt đới và ổn định Điều này cho phép Thái Bình đẩy mạnh sản xuất vụ đông,sản xuất ra nhiều hàng hóa nông sản, tăng tỷ lệ thời gian được sử dụng ở nôngnghiệp nhằm khai thác có hiệu quả nguồn đất đang sử dụng
Trang 33Tiềm năng và nguồn lợi thủy sản Thái Bình được xem là một thế mạnh củaTỉnh với ba thủy vực khác nhau: nước ngọt, nước lợ và nước mặn Trong đó diệntích đất mặn chiếm 17 km2 chủ yếu dành cho khai thác thủy hải sản Vùng nước lợchủ yếu ở các khu vực cửa sông Hồng, sông Thái Bình và sông Trà Lý có cácnguồn phù du sinh vật, các loại tảo thực vật, thủy sinh phong phú làm thức ăn tựnhiên cho nuôi trồng thủy sản như cua, sò, hến, trồng rau câu…Vùng nước ngọt códiện tích 9.256 ha, hiện nay mới đưa vào nuôi khoảng 6.020 ha Ngoài ra còn cótrên 3.000 ha vùng cấy lúa một vụ năng suất thấp có thể chuyển sang nuôi trồngthủy sản.
Nguồn nước ngọt của Thái Bình phong phú và chủ yếu là nguồn nước mặncủa các con sông lớn Đây là điều kiện thuận lợi cho nhu cầu sinh hoạt, nhu cầu sảnxuất nông nghiệp nhất là sản xuất công nghiệp chế biến Sông Trà Lý vừa là nguồncung cấp nước và lượng phù sa lớn phục vụ sản xuất nông nghiệp vừa là giao thôngđường thủy rất quan trọng, cho phép Thái Bình phát triển vận tải cả đường sông,đường biển, nối liền thị trường Thái Bình với thị trường Trung Quốc, Quảng Ninh
và nội địa
Đường bộ nội tỉnh khá phát triển, Thái Bình hiện có mười tuyến đườngchính, các đường đều có thể nối tiếp với quốc lộ, khai thông và dễ dàng đi cáchuyện trong tỉnh Cho đến nay các sông ngăn cách với các tỉnh bạn và các huyệntrong Tỉnh đều được nối liền bởi cây cầu bê tông cốt sắt chịu lực như cầu TriềuDương, cầu Tân Đệ, cầu Nghìn… Có thể nói hệ thống giao thông đường thủy,đường bộ thuận lợi như vậy giúp cho Thái Bình không còn là ốc đảo nữa mà là địabàn trung chuyển, vận tải hàng hóa, vận tải hành khách giao lưu kinh tế giữa cáctỉnh phía Nam và phía Bắc
Tuy nhiên nhược điểm của giao thông Thái Bình là không có đường sắt, cảngbiển chỉ đón được tàu có trọng tải nhỏ (< 100 tấn) nên khó vận chuyển khối lượnghàng hóa lớn chạy ra ngoài tỉnh nhất là hàng xuất khẩu Hiện tại cảng Diêm Điềnđược đầu tư xây dựng và đã đi vào hoạt động, cùng với cầu, cảng Trà Lý sẽ mở ranhiều triển vọng trong việc phát triển kinh tế biển và giao lưu hàng hóa giữa Thái
Trang 34Bình và các tỉnh bạn, hy vọng trong tương lai không xa Thái Bình sẽ khắc phụcnhược điểm này.
Với điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông đương thủy, đường bộ nhưtrên, Thái Bình có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp toàn diện, vữngchắc, bao gồm cây lương thực, cây thực phẩm, cây ăn qủa, đặc biệt là trồng lúa vàcây rau màu vụ đông
Thái Bình là tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp ít (ít nhất so với các tỉnh đồngbằng sông Hồng) nên giá trị ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ.Trong sáu năm (2007 - 2012) Thái Bình đã triển khai có kết quả chương trình trồngrừng Diện tích rừng ngập mặn sáu năm đã tăng được 4.700 ha đưa tổng diện tíchrừng phòng hộ của Tỉnh đạt 7.000 ha Phong trào trồng cây nội đồng đã tăng diệntích trồng cây ăn quả, cây xanh nội đồng, cây xanh đô thị Toàn tỉnh đã trồng đượckhoảng 9,5 triệu cây phân tán các loại, tỷ lệ che phủ của rừng đạt 23% Tài nguyênrừng của Thái Bình có ý nghĩa quan trọng đặc biệt về cảnh quan, du lịch, cân bằngmôi trường sinh thái Rừng phòng hộ Thái Bình đã phát huy cao chức năng chắnsóng, chắn bão bảo vệ hệ thống đê biển, đê sông, bảo vệ an toàn cho sản xuất nông,lâm, ngư nghiệp cũng như cuộc sống của cộng đồng dân cư, vừa góp phần cho pháttriển bền vững về môi trường Bên cạnh đó tạo ra sản phẩm hoa, quả, gỗ…và cáclâm sản khác
Tài nguyên khoáng sản ở Thái Bình rất phong phú với trữ lượng tương đốilớn, có một số loại tài nguyên chất lượng tốt, giá trị kinh tế cao là nguồn nguyênliệu để phát triển công nghiệp như khí đốt, sét chịu lửa, cao lanh, nước khoáng…Ngoài ra Tỉnh còn có tiềm năng về than đá, than bùn, than nâu, đất sét, bô xít, thủyngân và nguồn nguyên liệu dồi dào cho phát triển công nghiệp xây dựng như gốm
sứ, thủy tinh, xi măng trắng, gạch ốp lát Ở nhiều lòng sông trong Tỉnh còn có khốilượng cát lớn đáng được khai thác cho nhu cầu xây dựng và san lấp
Như vậy, tài nguyên khoáng sản của Tỉnh có nhiều thể mạnh để phát triểncông nghiệp xây dựng, cung cấp những vật liệu phục vụ cho xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế, kỹ thuật (điện, đường, trường, trạm bê tông hóa kênh mương) choCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trang 35Thái Bình là tỉnh đồng bằng bắc bộ còn có rất nhiều tiềm năng để phát triển
KT - XH Với những điều kiện thiên nhiên ưu đãi, lợi thế vị trí địa lý, nguồn tàinguyên thiên nhiên phong phú cũng như truyền thống tốt đẹp của người dân TháiBình là những nhân tố rất thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp theo hướng bềnvững ở Thái Bình hiện nay
2.1.3 Đặc điểm dân cư và các nguồn lực xã hội khác
Nhân tố con người là yếu tố hàng đầu quyết định cho phát triển bền vững ởđịa phương Tính đến năm 2012 dân số Thái Bình là 1.786.500 người, trong đó dân
số nông thôn là 90%, dân số thành thị 10%, bình quân mỗi hộ gia đình có 3,75người Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên hiện nay là 8,4%/năm Số người trong độtuổi lao động là 1.052.200 người trong đó lao động trong khu vực nông, lâm nghiệpchiếm 58,49% [13, tr.17] Lao động qua đào tạo chiếm 23,5% (công nhân kỹ thuật
và nghiệp vụ 13,5%, trung cấp53,5%, cao đẳng, đại học và trên đại học 4,5%), mặc
dù là Tỉnh nông nghiệp nhưng số học sinh, sinh viên học trong các ngành phục vụnông nghiệp ít hơn nhiều ngành khác Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong nông nghiệpchỉ bằng 1/3 so với trong công nghiệp và dịch vụ Mỗi năm Thái Bình có khoảng19.000 học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông [13, tr.159] Đây là lực lượng laođộng trẻ, có trình độ văn hóa, cơ bản chưa có điều kiện học lên bậc đại học, lựclượng này có thể được đào tạo ở các trường dạy nghề trong Tỉnh sẽ là nguồn nhânlực quan trọng cho phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của Thái Bình
Người dân Thái Bình có truyền thống cách mạng, cần cù, sáng tạo trong laođộng và hiếu học, với một nguồn nhân lực dồi dào và ham học hỏi cộng với đặctrưng kinh tế nổi bật của Tỉnh nông nghiệp – vựa lúa của đồng bằng sông Hồng.Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Thái Bình là quê hương đónggóp sức người, sức của rất lớn cho công cuộc giải phóng dân tộc Hòa bình lập lạinhất thời kỳ đổi mới (1986) người dân Thái Bình tiếp tục kế thừa và phát huytruyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước tiếp tục phấn đấu đi lên Đến nay TháiBình đã đạt 12 – 13 tấn/ha và nhiều năm liền giành thắng lợi toàn diện trên mặt trậnnông nghiệp
Trang 36Là Tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng có dân số đông, đây vừa là cơ hội songcũng là thách thức cho quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững củaTỉnh Từ thực tiễn nêu trên chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực, giáo dục đều chưađáp ứng kịp thời cho phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp theohướng hiện đại, bền vững Đặc biệt tỷ lệ trình độ lao động được đào tạo chuyênmôn kỹ thuật còn thấp Thái Bình nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề cho lựclượng lao động là chìa khóa thành công đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn của Tỉnh phát triển theo hướng bền vững.
2.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình trong những năm qua
Nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống của nước ta từ ngàn đời nay và
là lĩnh vực luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt coi trọng, là nền tảng có tínhchiến lược trong thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội đảm bảo an ninh lương thực
Trong những năm gần đây, nông nghiệp được coi là nền tảng bền vững, cơ
sở để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngànhnông nghiệp đạt nhiều thành tựu Tuy nhiên, để thoát khỏi những hạn chế như sảnxuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, áp dụng khoa học kỹ thuật chưa nhiều Đảng
ta xây dựng đột phá mạnh mẽ trên cơ sở bổ sung một số quan điểm, mục tiêu pháttriển nông nghiệp để phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững
Nghị quyết 26 – NQ/TW ra ngày 05/08/2008 về nông nghiệp, nông dân vànông thôn được thông qua tại Hội nghị lần thứ 7, BCH Trung ương Đảng khóa X.Nghị quyết 26 vạch rõ mục tiêu “Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theohướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn có năng suất chất lượng hiệu quả vàkhả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trướcmắt và lâu dài [6, tr.191] Đồng thời khẳng định: “Cần đẩy nhanh tiến độ quy hoạchsản xuất nông nghiệp trên cơ sở nhu cầu thị trường và lợi thế từng vùng, sử dụng đấtnông nghiệp tiết kiệm, có hiệu quả duy trì diện tích đất lúa đảm bảo vững chắc anninh lương thực quốc gia ”
Trang 37Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định rõ mục tiêu trong nông nghiệpphải “Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững,phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới” [20, tr.95].
Trong chiến lược phát triển KT - XH (2011 - 2020) Đại hội Đảng toàn quốclần thứ XI cũng xác định rõ hướng cụ thể: “Phát triển trang trại doanh nghiệp Nhànước phù hợp về quy mô và điều kiện từng vùng, gắn kết chặt chẽ hài hòa lợi íchgiữa người sản xuất, người chế biến và người tiêu thụ, giữa áp dụng kỹ thuật vàcông nghệ với tổ chức sản xuất, giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nôngthôn mới
Quyết định 124/QĐ-TTg 02/02/2012 Quy hoạch tổng thể sản xuất nông nghiệpđến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 với mục tiêu chung “Xây dựng nền nôngnghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở pháthuy lợi thế so sánh, áp dụng khoa học công nghệ để tăng năng xuất, chất lượng, hiệuquả và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cảtrước mắt và lâu dài đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệuquả sử dụng đất đai, nguồn nước, nguồn vốn, nâng cao thu nhập và đời sồng của nôngdân, ngư dân, diêm dân, người làm rừng”
Những văn kiện trên đã cung cấp những phương hướng, định hướng, chủtrương, chính sách lớn cho phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam nói chung
và ở tỉnh Thái Bình nói riêng
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình
2.2.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Năm năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hộiĐảng bộ Tỉnh lần thứ XVII, bên cạnh những thuận lợi Thái Bình còn gặp không ítkhó khăn
Mục tiêu chung của Tỉnh là đẩy mạnh CNH, HĐH, phấn đấu tăng trưởngcao và bền vững, giai đoạn này nền kinh tế của Tỉnh phát triển ổn định, cơ cấu kinhtế của Tỉnh chuyển đổi theo hướng tích cực, tốc độ tăng trưởng khá và đồng đều ởcác khu vực kinh tế Các ngành kinh tế đã đạt và vượt hầu hết các mục tiêu chủ yếu
Trang 38do Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVII đề ra Tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơcấu kinh tế, khai thác mọi tiềm năng thế mạnh của từng địa phương, từng lĩnh vực,tăng năng suất hàng hóa, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, kết quả đó đã góp phầnđẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của Thái Bình.
Giai đoạn 2006 - 2012 nền kinh tế Thái Bình đã vượt qua giai đoạn khókhăn, thách thức của thời kỳ suy thoái do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tếthế giới Với các chính sách kinh tế mới cùng cơ chế mở rộng giao lưu với bênngoài, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, khuyến khích mọi cá nhân đầu
tư sản xuất kinh doanh; tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, nền kinh tế Thái Bình
đã có sự tăng trưởng khá và liên tục Tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn nămtrước cụ thể: năm 2006 là 12,85%; năm 2007 là 14,36%; năm 2008 là 15,07%; năm
2009 là 14,5%; đặc biệt năm 2010 là 17,0%, năm 2011 là 15,7%, năm 2012 là16,1% Mức tăng bình quân hàng năm xấp xỉ với mức tăng bình quân của cả nước.Nhưng GDP bình quân đầu người của Tỉnh còn thấp so với bình quân cả nước,khoảng cách này không được thu hẹp trong giai đoạn này Sức sản xuất của Tỉnhđược nâng cao đáng kể, sản lượng nhiều mặt hàng công, nông nghiệp và dịch vụquan trọng tăng cao so với trước chiếm lĩnh được thị trường trong và ngoài tỉnh Cơcấu kinh tế tăng mạnh theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp; thu hút đầu tư cácthành phần kinh tế tăng mạnh, tiềm lực kinh tế và cơ sở vật chất kỹ thuật được tăngcường Nông nghiệp, nông thôn bắt đầu được quan tâm, đồng thời đẩy mạnh chuyểndịch cơ câu kinh tế nông nghiệp hỗ trợ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, từng bướcthay đổi bộ mặt KT - XH của Tỉnh
Giai đoạn 2006 - 2012, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứXIV xác định mục tiêu: “Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao theo hướng ổn định,bền vững tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinhtế, chủ động và chuẩn bị tốt cho hội nhập kinh tế Khai thác có hiệu quả các nguồnlực cho đầu tư phát triển… Chú trọng phát triển văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoahọc - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhândân, đẩy mạnh giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng tỷ lệ hộ giàu, không
Trang 39ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” [37, tr.35].Trong đó, về sản xuất nông nghiệp, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lànthứ XIV nêu rõ: “Tập trung đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theohướng hiện đại, bền vững, coi phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là nhiệmvụ quan trọng nhằm mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncho nhân dân, bảo đảm an ninh trật tự nông thôn, tạo tiền đề và môi trường thuậnlợi thúc đẩy công nghiệp dịch vụ và phát triển Phấn đấu tốc độ tăng trưởng nông,lâm nghiệp, thủy sản bình quân 5 - 5,5%/năm” [37, tr.42].
Bảng 2.1 Chỉ tiêu GDP toàn Tỉnh (theo giá so sánh 1994)
Dịch vụ
Sốtuyệtđối (tỷđồng)
Tốc độtăng(%)
Sốtuyệtđối (tỷđồng)
Tốc độtăng(%)
Sốtuyệtđối (tỷđồng)
Tốc độtăng(%)
16,10%
5.0635.2445.5075.8246.1906.4886.654
5,063,575,025,766,285.0425,138
4.8646.1057.6119.24511.64513.44815.234
22,4622,5124,6721,4725,9621,5823,70
3.1073.5574.0344.5865.1825.7905.846
12,6114,4813,4113,6813,0011,1%11,3%
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình 2012 [10, tr.26]
Vấn đề tăng cường và quan tâm để thúc đẩy phát triển nông nghiệp là nhiệmvụ thiết thực, đồng thời là hướng đi đúng cả về lý luận và thực tiễn trong điều kiệncủa Thái Bình
Qua thời gian hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết 03 - NQ/TU của Tỉnh ủy.Nghị quyết 26 - NQ/TƯ về nông nghiệp, nông thôn, nông dân đã thu được kết quảquan trọng, góp phần nần cao đời sống vật chất tinh thần cho đại bộ phận nhân dân
Trang 40trong Tỉnh Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2012 đạt5,4%/năm, cao hơn so với mức bình quân cả nước (3,97%) và của vùng kinh tếtrọng điểm bắc bộ (2,1%) giá trị sản xuất tăng 7,70%/năm.
Năm 2012 giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá cố định 1994) đạt 3.338,72
tỷ đồng, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước Trong đó sản xuất lương thực từ năm
2006 đến năm 2012 đều đạt trên 1 triệu tấn, giữ vững mục tiêu 1 triệu tấn lươngthực đã đề ra, lương thực bình quân đầu người tăng từ 611kg/người năm 2006 lên7,23kg/người năm 2012
Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2012 (theo giá cố định 1994) đạt1902,051 tỷ đồng tăng 8,9% so với năm 2011 và tăng 44,5% so với năm 2006,mức tăng bình quân sáu năm là 7,24% Cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi đang
có chuyển biến tích cực, trồng trọt giảm từ 63,86% năm 2006 xuống 55,30%năm 2012, chăn nuôi từ 32,94% lên 38,97% [13, tr.57] Cơ cấu chăn nuôi đãchuyển dần sang kinh tế hàng hóa, đàn trâu 2012 chỉ bằng 58,5% so với năm
2011 Số đầu lợn năm 2012 so với năm 2011 tăng 12,3%, so với năm 2006 tăng64,1% bình quân sáu năm tăng 10,41% trong đó lợn lái gấp 1,6 lần năm 2006tăng 7,5% so với năm 2011, bình quân sáu năm tăng 7,0%, thịt lợn hơi xuấtchuồng tăng 10,8% so với năm 2011 và tăng gấp 1,5 lần so với năm 2006, bìnhquân sáu năm tăng 94,5%, chăn nuôi gia cầm thủy sản và các con đặc sản cũngđược khuyến khích phát triển Sản lượng thủy sản năm 2012 so với năm 2011tăng 10,6% Riêng sản lượng tôm tăng 10,8%/năm [13, tr.19]
Những năm qua Tỉnh đã chuyển 6.000 ha diện tích cây lúa, làm muối sangnuôi trồng các cây con có hiệu quả kinh tế cao hơn Năm 2012 giá trị sản phẩmtrồng trọt trên 1ha đất nông nghiệp của Tỉnh đạt 48,32 triệu đồng so với năm 2011tăng 3,67% so với năm 2006 tăng 19,8% Toàn Tỉnh đã có 156 xã, thị trấn xây dựngđược 352 cánh đồng với diện tích 3.241 ha, đạt giá trị sản xuất bình quân 65,4 triệuđồng/ha/năm Giá trị các hoạt động dịch vụ nông nghiệp đạt 2.172 tỷ đồng tăng6,78% so với cùng kỳ Trong đó một số dịch vụ như: Dịch vụ tưới tiêu nước, làmđất, giống cây trồng, vật nuôi…bảo đảm đáp ứng nhu cầu sản xuất