Giá trị của hàng hoá sức lao động là giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân, vợ con anh ta; những yếu tố tinh thần, dân tộc, tôn giáo của người công n
Trang 1Một là, người lao động phải tự do về thân thể, phải làm chủ
được sức lao động của mình và có quyền đem bán cho người khác Vậy người có sức lao động phải có quyền sở hữu sức lao động của mình
Hai là, người lao động phải tước hết tư liệu sản xuất để trở
thành người vô sản và bắt buộc phải bán sức lao động, vì không còn cách nào khác để sinh sống
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định của sự chuyển hoá tiền thành tư bản
Cũng như những hàng hoá khác, hàng hoá - sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng
Giá trị của hàng hoá sức lao động là giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân, vợ con anh ta; những yếu tố tinh thần, dân tộc, tôn giáo của người công nhân, những chi phí đào tạo người công nhân
Giá trị hàng hoá sức lao động giống giá trị hàng hoá thông thường ở chỗ: Nó phản ánh một lượng lao động hao phí nhất
Trang 2định để tạo ra nó Nhưng giữa chúng có sự khác nhau căn bản: Giá trị của hàng hoá thông thường biểu thị hao phí lao
động trực tiếp để sản xuất hàng hoá nhưng hàng hoá - sức lao động lại là sự hao phí lao động gián tiếp thông qua việc sản xuất ra những vật phẩm tiêu dùng để nuôi sống người công nhân Còn hàng hoá sức lao động ngoài yếu tố vật chất,
nó còn có yếu tố tinh thần lịch sử, dân tộc, yếu tố gia đình và truyền thống, nghề nghiệp mà hàng hoá thông thường không
có
Cũng giống như các hàng hoá thông thường, hàng hoá sức lao động có khả năng thoả mãn những nhu cầu nhất định nào
đó của người mua Nhưng giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có thuộc tính đặc biệt, nó khác hoàn toàn với hàng hoá thông thường ở chỗ: Khi đem tiêu dùng hay sử dụng nó thì không những không bị tiêu biến theo thời gian về giá trị
và giá trị sử dụng mà ngược lại nó lại tạo ra một lượng giá trị mới c + m ( c + m > v, với v là giá trị sử dụng của bản thân nó) Khoản lớn lên được sinh ra trong quá trình sử dụng sức lao động chính là ∆T hay giá trị thặng dư
Từ đó Mác kết luận: Hàng hoá - sức lao động là nguồn gốc tạo ra giá trị hơn thế nữa là tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư
Trang 3bản Bởi vì, sức lao động càng đem tiêu dùng hay sử dụng thì người công nhân hay người lao động càng tích luỹ được kinh nghiệm nghề nghiệp, càng nâng cao năng suất lao động Vì vậy sẽ làm giảm giá trị hay mức tiền lương mà nhà tư bản đã trả cho họ Vì vậy, dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư bản rất
ưa thích loại hàng hoá đặc biệt này
Vậy quá trình người công nhân tiến hành lao động là quá trình sản xuất ra hàng hoá và đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân giá trị sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản đã chiếm
đoạt Như vậy, hàng hoá - sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Đó là đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá - sức lao động so với các hàng hoá khác Nó là chìa khoá để giải thích tính mâu thuẫn của công thức chung của tư bản
3- Bản chất giá trị thặng dư:
Nói chung, trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giá trị sử dụng không phải là mục
đích Giá trị sử dụng được sản xuất chỉ vì nó là vật mang giá trị trao đổi
Trang 4Nhà tư bản muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi, nghĩa là một hàng hoá Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động mà nhà tư bản
đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra một giá trị thặng dư
Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư C.Mác viết: “ Với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”
Quá trình lao động với tư cách là quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động có hai đặc trưng:
Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của
nhà tư bản giống như những yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho có hiêụ quả nhất
Trang 5Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, chứ
không phải của người công nhân
C.Mác đã lấy ví dụ về việc sản xuất sợi ở nước Anh làm
đối tượng nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư Để nghiên cứu, Mác đã sử dụng phương pháp giả định khoa học thông qua giả thiết chặt chẽ để tiến hành nghiên cứu: Không xét đến ngoại thương, giá cả thống nhất với giá trị, toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đem tiêu dùng chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm và chỉ nghiên cứu trong nền kinh tế tái sản xuất giản đơn
Từ các giả định đó, Mác đưa ra một loạt các giả thiết để nghiên cứu:
Nhà tư bản dự kiến kéo 10 kg sợi; giá 1 kg bông là 1 đôla; hao mòn thiết bị máy móc để kéo 5 kg bông thành 5 kg sợi
là 1 đôla; tiền thuê sức lao động 1 ngày là 4 đôla; giá trị mới
1 giờ lao động của công nhân là 1 đôla và chỉ cần 4 giờ người công nhân kéo được 5 kg bông thành 5 kg sợi
Từ đó, có bảng quyết toán như sau: