TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP CHUỖI GIÁ TRỊ LÚA GẠO Ở TỈNH KIÊN GIANG. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường diễn biến phức tạp và cạnh tranh ngày càng gay gắt,đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới(WTO). Với việc Phân tích về chuỗi giá trị lúa gạo của tỉnh Kiên Giang thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long là mục tiêu mà chúng tôi muốn nghiên cứu.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TPHCM
Trang 3Với việc Phân tích về chuỗi giá trị lúa gạo của
tỉnh Kiên Giang thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long
là mục tiêu mà chúng tôi muốn nghiên cứu
Trên cơ sở đó nhằm giúp các nhà tạo lập chính sách hoạch định và thiết kế những chính sách
phù hợp nhằm tăng hiệu quả sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
Trang 4Điểm mạnh và điểm yếu của
chuỗi giá trị lúa gạo
Biện pháp để cải thiện chuỗi
giá trị
Trang 5 Chuỗi giá trị là chuỗi các hoạt động do nhiều
người tham gia thực hiện(người sản xuất sơ
cấp,người chế biến,thương nhân,người cung cấp dịch vụ…) để biến nguyên liệu thô thành thành
phẩm bán lẻ
Chuỗi giá trị bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên vật liệu và chuyển dịch theo các mối liên kết với các đơn vị sản xuất,kinh doanh,lắp ráp,chế biến…
1.Khái niệm chuỗi giá trị
Trang 62.Chức năng và tác nhân tham gia của
chuỗi giá trị
Đầu vào trồng lúa tỉnh kiên Giang
nguồn cung cấp giống,phân,thuốc bảo vệ thực vật là công ty phân lân Ninh Bình, Công ty cổ phần
Supephotphat… và các đại lý.
Giống lúa: có 40 giống lúa trong đó có 28 giống lúa đạt phẩm chất lượng cao.
Trang 7 Trong năm 2006-2011,sản lượng lúa của Kiên
Giang tăng qua các năm nhờ tăng năng suất
cùng với tăng thâm canh
Ngoài ra còn triển khai mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”, đã áp dụng được 1800 ha
Tuy nhiên ,năm đầu tiên áp dụng nên chưa đạt hiệu quả cao,diện tích chưa đạt so với kế hoạch
Sản xuất lúa :
Trang 8QUY TRÌNH THU MUA LÚA
Có đến 92% sản lượng lúa của nông dân được thương lái mua và vận chuyển đến các nhà máy chế biến, sau đó giao lại cho các cty kinh doanh xuất khẩu
31,3%
24,2%
92,1% 48,8% 24,2%
Trang 9Về năng lực chế biến: Hiệu suất sử dụng các nhà máy chế biến chiếm khoảng 70% công suất thiết kế
Về hệ thống tồn trữ lúa gạo: còn rất thiếu, tính
đến 12/2011,có 26 kho dự trữ chỉ đáp ứng khoảng 41,85% do đó không đảm bảo hiệu suất sử dụng cho các dây chuyền chế biến gạo và nhu cầu tồn trữ lớn để xuất khẩu
Chế biến :
Trang 10Cơ cấu chất lượng gạo xuất
khẩu:
Trong giai đoan 2006- 2011
bình quân tỷ lệ chất lượng gạo
chất lượng cao chiếm 50%, gạo
chất lượng trung bình chiếm 20%
và số còn lại chiếm khoảng trên
30% Tuy nhiên về xu hương tỷ
trọng gạo cấp cao có chiều hướng
chững lại, gạo cấp trung bình có
chiều hướng giảm, gạo cấp thấp
có xu hướng tăng nhanh.
MAKERTING VÀ BÁN HÀNG
Trang 11Gần đây nhu cầu gạo từ các nước Châu Á và Châu Phi tăng rất mạnh nhưng thị trường này ít tiêu dùng gạo cao cấp, mà nhập khẩu gạo phẩm cấp thấp đến trung bình là chủ yếu.
Sản phẩm chưa đa dạng không nổi bật về phẩm chất, không thể hiện nét độc đáo riêng của gạo Kiên Giang trên thị trường quốc
tế làm cho chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam nói chung, của Kiên Giang nói riêng luôn bị đánh giá thấp
Trang 12Về giá cả xuất khẩu:
Giai đoạn 2006- 2011 giá gạo xuất khẩu tăng bình quân hàng năm 40USD/ tấn (so với giá xuất khẩu bình quân của cả nước vẫn thấp hơn 27 USD/ tấn)
Nguyên nhân của sự chênh lệch là chất lượng thấp không đông đều, uy tín chưa cao, biên độ giao động giá khá rộng…
Trang 13Mạng lưới phân phối
Gạo xuất khẩu của tỉnh tập trung vào doanh nghiệp là đầu mối xuất khẩu trực tiếp kigimex, KTC, kigifac,
kigitraco, Kiên An Phú và Thuận Phát…ngoài ra còn có các đơn vị tư nhân tham gia cung ứng gạo xuất khẩu.
Tất cả tạo thành một mạng lưới lưu thông lúa gaọ rộng khắp và đan xen với nhau, có khả năng cung ứng gạo không những cho nhu cầu xuất khẩu trong tỉnh mà còn cung cấp cho nhu cầu xuất khẩu của cá tỉnh trong khu vực
Trang 14Thị trường gạo xuất khẩu:
Gạo xuất khẩu ở Kiên Giang cũng chủ yếu được xuất
khẩu đi các nước Châu Á, kế đến là Châu Phi…
Tỷ trọng gạo xuất khẩu sang các nước Châu Á( tập trung
là các nước Đông Nam Á) chiếm bình quân hàng năm trên 55% có năm lên 60% Thị trường Châu Phi thì tỷ trọng
dao động trong khoảng từ 40% đến 50% tùy năm
Đối với các thị trường như Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc
và Trung Đông chiếm tỷ trọng nhỏ và có xu hướng giảm
Trang 15Chính sách xúc tiến:
Trong thời gian qua hoạt động xúc
tiến trong lĩnh vực xuất khẩu gạo chưa thực sự phát triển Các hoạt động xúc tiến hiện nay thường là tham dự hội
chợ, tham gia các đoàn chính phủ đàm phán song phương…
Tuy nhiên doanh nghiệp xuất khẩu
gạo ở tỉnh Kiên Giang chưa chủ động trong khâu tiếp thị và còn nhiều hạn chế trong việc nghiên cứu, phát triển thị
trường
Trang 16
Sản lượng và kim ngạch gạo xuất khẩu:
Năm Sản lượng(tấn) Kim ngạch(ngàn
USD)
Giá bình quân(USD/tấn)
Trang 173 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu
a Đầu vào
Cơ cấu sử dụng giống lúa của nông dân tỉnh
Kiên Giang là tương đối tốt.
Nông dân đã có ý thức sử dụng giống lúa năng suất cao, phẩm chất hạt tốt, kháng sâu bệnh.
Nông dân quan tâm đến năng suất lúa bằng
cách sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực
vật để phòng trừ dịch hại và sâu bệnh.
Điểm mạnh
Trang 18b.Sản xuất và thu mua
Tốc độ sản xuất lúa gia tăng, nhất là sản lượng giống lúa chất lượng cao.
Đã triển khai thực hiện mô hình “Cánh đồng mẫu lớn”, bước đầu hình thành mối liên kết “4 nhà”.
Nông dân đã có ý thức áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào trong sản xuất lúa
Thương lái chiếm số lượng lớn với phương tiện vận tải đa
dạng
Có nhiều kinh nghiệm,rất cơ động,linh hoạt và mềm dẻo trong việc xác định giá cả, hiểu tâm lý nông dân
Trang 19
d) Chế biến
Có nhiều cơ sở chế biến đặt trên địa bàn tỉnh
Các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư mới các dây
chuyền xay xát, lau bóng gạo với công nghệ tiên tiến hiện đại.
e) Marketing và bán hàng
Cơ cấu chất lượng gạo ở Kiên Giang khá tốt.
Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo tăng đều qua các năm.
Các đơn vị kinh doanh xuất khẩu gạo trên địa bàn tỉnh đủ năng lực để tiêu thụ hết lượng lúa hàng hóa hàng năm của tỉnh.
Trang 20
f) Các hoạt động chính nhằm mục đích hỗ trợ.
Có nhiều chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất.
Cơ chế quản lý và điều hành xuất khẩu gạo
được nới lỏng.
Hệ thống giao thông đường thủy thuận tiện cho vận chuyển hàng nông sản, lúa gạo và giúp mở rộng giao lưu hàng hóa trong nước và quốc tế.
Trang 21a) Đầu vào
Công tác tuyển chọn và lai tạo giống lúa tại tỉnh
Kiên Giang còn yếu
Không đồng nhất về giống lúa trong quá trình sản
xuất
Nông dân lạm dụng phân hóa học và thuốc bảo
vệ thực vật trong canh tác lúa
Hiệu suất sử dụng các loại phân hóa học còn thấp
Chưa chú trọng kỹ thuật bón phân và sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật theo khuyến cáo của bộ
khuyến nông
Điểm yếu
Trang 22 Hầu hết diện tích trồng lúa của từng hộ nông dân
tỉnh Kiên Giang chưa phù hợp với công suất gặt máy liên hợp
Đa số nông dân phơi lúa ngoài đồng hoặc ven lộ, số lượng máy sấy lúa rất ít, hiệu suất sử dụng chưa cao
Nông dân chưa quan tâm đến việc tồn trữ và bảo
quản lâu dài, rất ít nông dân trữ lúa chờ bán với giá cao
Trang 23
d) Chế biến
Năng lực chế biến của các nhà máy chế biến chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong tỉnh và hiệu
suất sử dụng chưa cao.
Việc cải tiến kỹ thuật mới chỉ giới hạn ở khâu xay xát, chưa được chú trọng đồng bộ ở các
khâu liên hoàn khác.
Việc đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến
chưa gắn liền với vùng nguyên liệu.
Hệ thống kho bảo quản còn thiếu, cũ kỹ và lạc hậu.
Trang 24e) Marketing và bán hàng
Các nhà xuất khẩu thường không bảo đảm độ đồng nhất về quy cách chất lượng ngay trong từng lô gạo xuất khẩu.
Giá lúa gạo vẫn còn nhiều diễn biến thất
thường, chưa ổn định.
Một số thị trường lớn phải mua bán thông qua trung gian.
Các doanh nghiệp xuất khẩu thường bị động
trong việc huy động nguồn hàng cho xuất khẩu.
Trang 25f) Các hoạt động chính nhằm mục đích hỗ trợ.
Cơ chế quản lý và điều hành sản xuất còn nhiều bất cập, chưa đủ lực để khuyến khích sản xuất.
Việc quản lý điều hành xuất khẩu gạo còn quá
cứng nhắc, thiếu nhạy bén và phản ứng linh hoạt với sự biến động của thị trường.
Công tác quản lý các đơn vị đầu mối xuất khẩu gạo còn nhiều hạn chế.
Bản chất cơ chế quản lý và điều hành xuất khẩu gạo hiện nay vẫn theo hạn ngạch
Trang 26 Có sự liên kết ngang và dọc giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị(nông dân,thương lái,các nhà máy chế biến,các công ty xuất khẩu).
Liên kết ngang nhằm chia sẻ rủi ro,liên kết dọc nhằm thiết lập mối quan hệ tin cậy
Trong đó cơ chế để thúc đẩy liên kết ngang là hình thành hợp tác xã nông nghiệp, cơ chế thúc đẩy liên kết dọc là thông qua hợp đồng kinh tế
4.Biện pháp nâng cao chuỗi giá trị
Trang 27 Kiên Giang là một tỉnh có lợi thế và tiềm năng
phát triển xuất khẩu gạo
Để có thể phát triển bền vững thì liên kết dọc và ngang giữa các tác nhân tham gia là điều tất yếu
Muốn liên kết thành công thì vai trò của các cơ quan hữu quan là rất quan trọng thông qua việc ban hành khung pháp lý về hợp đồng và các tiêu chuẩn mang tính quá trình
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 28 Võ Thành Lộc(2010),Dự án nâng cao năng lực cán
bộ và nông dân trong phát triển doanh nghiệp nhỏ nông thôn tỉnh An Giang(ICRE) giai đoạn 2009-
2012.
Cục Thống kê Kiên Giang(2011),Niên giám Thống
kê Kiên Giang năm 2011,Kiên Giang.
Sở NN và PTNT Kiên Giang(2012),Báo cáo tình hình thực hiện phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh
Kiên Giang năm 2011,Kiên Giang.
Feller A.,Sunk D and Callarman T.(2006),’’Value
Chains Versus Supply
Chains’’,BPTrends,March,2006
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 29XIN CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC
BẠN ĐÃ LẮNG NGHE