châu Âu để tiếp nhận được các nguồn hỗ trợ này đều đã đưa ra một chươngtrình phục hồi kinh tế toàn diện và lập kế hoạch thành lập tổ chức hợp táckinh tế châu Âu, hiện nay là OECD.Ngày 14
Trang 2MỤC LỤC
Lời nói đầu: 2
PHẦN I : TỔNG QUAN VỀ ODA 3
I Lịch sử phát triển ODA trên thế giới 3
II.Khái niệm ODA 5
1 Khái niệm 5
3 Phân loại 8
a Theo nguồn cung cấp và nơi tiếp nhận 8
5.Vai trò của ODA đối với các quốc gia trên thế giới 14
a.Vai trò của ODA đối với các nước tiếp nhận 14
*Những tác động tích cực 14
II.Mặt hạn chế 29
1 Hệ thống luật pháp liên quan đến quản lý nhà nước về vốn ODA tại Việt Nam 34
Lời nói đầu:
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển kinh
tế với tốc độ cao Điều kiện không thể thiếu để phục vụ cho phát triển kinh tế
là nhu cầu về vốn nhưng nguồn vốn trong nước lại không đủ đáp ứng được nhu cầu trong giai đoạn này Do đó một nhiệm vụ quan trọng được đặt ra là phải thu hút được một cách hiệu quả các nguồn vốn từ bên ngoài Vốn đầu tư nước ngoài trong đó nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA đã đóng góp vai trò quan trọng trong tiến trình tăng trưởng và hội nhập kinh tế của Việt Nam Với tính chất quan trọng đó, khoá luận sẽ là những nghiên cứu tổng hợp về vốn ODA nhằm các mục đích sau:
Trang 3- Về mặt lý luận, cho biết vị trí và vai trò của ODA trong nền kinh tế ViệtNam.
- Về mặt thực tiễn, trình bày thực trạng việc thu hút và sử dụng vốn ODAvào phát triển kinh tế trong giai đoạn từ năm 1993 trở lại đây
- Đánh giá những thành tựu và tồn tại trong quá trình sử dụng ODA vàonhững mục đích trên
- Đề ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy việc thu hút và sử dụngvốn ODA một cách hiệu quả nhất
Bài thảo luận sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, so sánh, tổng hợp
và phân tích, kết hợp với những kết quả thống kê thu được từ thực tiễn, vậndụng lý luận để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
Như vậy, bố cục bài thảo luận gồm 3 phần:
I Lịch sử phát triển ODA trên thế giới
Sau chiến tranh thế giới thứ II, hầu hết các quốc gia tham gia chiến tranhđều bị thiệt hại hết sức nặng nề và đều phải nhanh chóng tiến hành công cuộckhôi phục kinh tế Tuy nhiên, khôi phục kinh tế đối với những quốc gia bịthiệt hại trong chiến tranh không thể chỉ dựa vào nội lực mà còn cần có sự hỗtrợ từ bên ngoài Từ những lý do đó, nguồn hỗ trợ phát triển chính thức đã rađời cùng kế hoạch Marshall nhằm hỗ trợ các nước Châu Âu phục hồi kinh tế,đặc biệt là phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá Các nước
Trang 4châu Âu để tiếp nhận được các nguồn hỗ trợ này đều đã đưa ra một chươngtrình phục hồi kinh tế toàn diện và lập kế hoạch thành lập tổ chức hợp táckinh tế châu Âu, hiện nay là OECD.
Ngày 14 tháng 12 năm 1960, 20 nước châu Âu đã chính thức ký hiệp định
tổ chức kinh tế và phát triển OECD (Organization for Economic Cooperationand Development) Hiệp định này chính thức có hiệu lực từ năm 1961 và sau
đó có thêm 4 nước là Nhật Bản, Niudilân, Phần Lan và Australia Trongkhuôn khổ hợp tác phát triển, các nước thành viên OECD đã lập ra các uỷ banchuyên môn trong đó có uỷ ban viện trợ phát triển DAC (DevelopmentAssistance Committee) để hỗ trợ các nước đang phát triển
Sau đó, khái niệm về một chính sách viện trợ giúp các nước đang phát triển
phục hồi nền kinh tế đã ra đời với tên gọi: hỗ trợ phát triển chính thức
(Official development assistance), được gọi tắt là ODA.
Ngay từ đầu những năm 1950, phần đông các nước công nghiệp lớn đềuviện trợ cho các nước đang phát triển Tính đến năm 1980, Mỹ đã viện trợcho các nước hơn 180 tỷ USD và là nước tài trợ lớn nhất thời kỳ đó Ngoài racòn có các nước viện trợ lớn khác như Pháp, Na Uy, Thuỵ Điển,… Liên Xô
cũ, Trung Quốc và các nước Đông Âu cũng cung cấp các khoản viện trợ tớicác nước XHCN kém phát triển và một phần tới Trung Đông Tổng viện trợ
từ các nước XHCN từ năm 1947 tới năm 1980 là 24 tỷ USD
Năm 1970, để việc hỗ trợ các nước đang phát triển được tiến hành một cáchđồng bộ và hiệu quả, đồng thời mang tính bắt buộc đối với các nước pháttriển, lần đầu tiên Đại hội đồng Liên hợp quốc đã chính thức thông qua Nghịquyết trong đó quy định chỉ tiêu ODA bằng 0,7% GNP của các nước pháttriển Theo quyết định này, các nước phát triển sẽ phấn đấu đạt chỉ tiêu trênvào năm 1985 hoặc muộn nhất vào cuối thập kỷ 80, và đạt 1% GNP vào năm
2000 Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện nghĩa vụ này của các nước là rất
Trang 5khác nhau Số liệu năm 1990 cho thấy một số nước thực hiện bằng hoặc vượtmức quy định này như Đan Mạch (0,96%), Thuỵ Điển (0,92%), Hà Lan(0,88% GNP) trong khi một số nước giàu như Mỹ chỉ trích có 0,17% GNP,Nhật Bản là 0,33% GNP, (1)
Những năm gần đây, không chỉ có các nước công nghiệp phát triển mà còn
có một số nước đang phát triển cũng bắt đầu cung cấp ODA như Ả Rập Xê út,
Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan,
Nhìn chung, ODA đã giúp nhiều nước kém phát triển có được những bướctiến rõ rệt và vững chắc Điển hình là Nhật Bản, sau Đại chiến thế giới lần thứ
II, nền kinh tế Nhật Bản kiệt quệ vì chiến tranh, nhưng cho đến nay Nhật Bản
đã trở thành một trong số những nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới
và vốn ODA chính là một yếu tố quan trọng đóng góp cho thành công củaNhật Bản Nguồn vốn này còn phát huy hiệu lực ở nhiều quốc gia khác trênthế giới như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore,
Không nằm ngoài xu hướng phát triển chung của thế giới, Việt Nam cũngđang cố gắng thu hút vốn ODA để phát triển nền kinh tế đất nước và coi đây
là một nguồn lực quan trọng đặc biệt cho việc phát triển cơ sở hạ tầng nhằmđưa nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc Do đó, chúng ta cần tìm hiểu rõ bảnchất của ODA, ưu điểm và nhược điểm của nó để có thể thu hút và sử dụngmột cách có hiệu quả nhất
II.Khái niệm ODA.
Trang 6kết tài trợ thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền haibên nhận và hổ trợ vốn ký kết.Hiệp định ký kết hổ trợ nầy được chi phối bởicông pháp quốc tế.
- Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là các khoản viện trợ không hoàn lạihoặc vay với điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và trả nợ của các cơquan chính thức thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chínhphủ
- Viện trợ phát triển chính thức là hình thức chuyển giao vốn (tiền tệ, vậtchất, công nghệ, ) từ các tổ chức tài chính quốc tế, từ các nước công nghiệpphát triển cho các nước đang phát triển và chậm phát triển
- Hỗ trợ phát triển chính thức là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại vàcác khoản tài trợ có hoàn lại (cho vay dài hạn với một số thời gian ân hạn vàlãi suất thấp) của chính phủ, các hệ thống của tổ chức Liên hợp quốc, các tổchức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế (như Ngân hàng thế giới -
WB, Ngân hàng phát triển Châu Á - ADB, Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF ) dànhcho chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ
- Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưuđãi Tuy vậy, nếu quản lí, sử dụng vốn ODA không hiệu quả vẫn có nguy cơ
để lại gánh nặng nợ nần trong tương lai
Trang 7- Các nước nhận vốn ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mớiđược nhận tài trợ Điều kiện này tuỳ thuộc từng nhà tài trợ
- Chủ yếu dành hỗ trợ cho các dự án đầu tư và cơ sở hạ tầng như GTVT,giáo dục y tế
- Các nhà tài trợ là các tổ chức viện trợ đa phương (gồm các tổ chức thuộc
Tổ chức Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu, các tổ chức phi chính phủ IMF,
WB, ADB) và các tổ chức viện trợ song phương như các nước thuộc Tổ chứchợp tác và phát triển kinh tế OECD, các nước đang phát triển như Ả Rập xê-
út, Tiểu vương quốc Arập, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc Các nước cungcấp viện trợ nhiều nhất hiện nay là Mỹ, Nhật, Pháp, Anh, Australia, ThuỵĐiển
* Các tiêu chuẩn được viện trợ và vay ODA :
Tiêu chuẩn được viện trợ và vay ODA thường được xác định trên cơ sở tìnhhình phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia, trong đó các tiêu chuẩn cơbản chủ yếu nhất là GDP tính theo đầu người và khả năng trả nợ của quốc gia
đó Thông thường những nước đang phát triển có mức thu nhập bình quânđầu người một năm thấp hơn mức tối thiểu mới có đủ tiêu chuẩn để vayODA Mức tối thiểu này được điều chỉnh theo thời gian và tuỳ vào chính sáchcủa từng tổ chức tài trợ Ví dụ năm 1996 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)quy định mức thu nhập bình quân tối thiểu là 851 USD/người, đối với Ngânhàng Thế giới, con số này là 1.305 USD/người (2),
* Các điều kiện và thời hạn vay ODA
Các khoản vay ODA dành cho các nước nghèo, kém phát triển thường có lãisuất thấp, thậm chí không có lãi suất, thời hạn trả vốn lâu, thời gian ân hạndài Ví dụ như thời gian hoàn trả vốn của Nhật Bản là 30 năm, của ADB và
WB là 40 năm, lãi suất của ADB là 1%/năm, của WB là 0,75%/năm, thời gian
ân hạn là 10 năm, Nếu cán cân thanh toán và tình hình kinh tế của nước đivay được cải thiện một cách đáng kể thì thời hạn các khoản vay có thể được
Trang 8điều chỉnh nhằm thể hiện những thay đổi to lớn trong tình hình kinh tế củatừng nước Tuy nhiên, nếu sự điều chỉnh đó làm nền kinh tế của quốc gia vayvốn bị bất ổn thì có thể điều chỉnh lại.
3. Phân loại.
a Theo nguồn cung cấp và nơi tiếp nhận
- Theo nguồn cung cấp : Có 2 loại :
+ ODA song phương: là viện trợ phát triển chính thức của chính phủ nướcnày dành cho chính phủ nước kia Hiện nay, trong số các nước cung cấp ODAsong phương, Nhật Bản và Mỹ là những nước dẫn đầu thế giới
+ ODA đa phương: là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc
tế (như Ngân hàng phát triển Châu Á, Liên minh Châu Âu, ) hoặc của chínhphủ một nước dành cho chính phủ một nước khác nhưng được thực hiệnthông qua các tổ chức phương như Chương trình phát triển Liên hiệp quốc(UNDP) hay Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF),
- Theo nơi tiếp nhận : Nếu phân loại theo nước tiếp nhận ODA, có thể chiaODA làm hai loại:
+ ODA thông thường: là hỗ trợ cho nước có thu nhập bình quân đầu ngườithấp
+ ODA đặc biệt: là hỗ trợ cho các nước đang phát triển với thời hạn chovay ngắn, lãi suất cao hơn so với ODA thông thường
b Theo tính chất
Thông thường ODA gồm hai phần: phần không hoàn lại và phần hoàn lạivới điều kiện ưu đãi (lãi suất thấp, thời gian ân hạn dài, ) Phần không hoànlại lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào khả năng tài chính và hảo tâm của chủ tài trợ,thông thường chiếm khoảng 15% tổng số ODA Phần hoàn lại với điều kiện
ưu đãi chiếm phần lớn ODA Như vậy, nếu phân loại theo tính chất, ODA cóthể chia thành hai loại chính: Viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại.Ngoài ra, còn có một phần nhỏ ODA được thực hiện dưới dạng viện trợ hỗn
Trang 9hợp, nghĩa là ODA một phần cấp không, phần còn lại thực hiện theo hìnhthức vay tín dụng, có thể ưu đãi hoặc bình thường.
- Viện trợ không hoàn lại
Viện trợ không hoàn lại là viện trợ cấp không, không phải trả lại và thườngđược thực hiện dưới hai dạng sau đây:
+ Hỗ trợ kỹ thuật (Technical Assistance - TA): là việc chuyển giao côngnghệ hoặc truyền đạt những kinh nghiệm xử lý, bí quyết kỹ thuật cho nướcnhận ODA nhờ sự trợ giúp của các chuyên gia quốc tế Tuy nhiên, trong hìnhthức viện trợ này thì lương của các chuyên gia quốc tế lại chiếm phần đáng kểtrong tổng giá trị viện trợ
+ Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: Các nước tiếp nhận ODA dưới hìnhthức hiện vật như lương thực thực phẩm, thuốc men, vải vóc Tuy nhiên, đơngiá tính cho những hàng hoá này thường tương đối cao Chính vì thế, rất khóhuy động những hàng hoá này vào mục đích đầu tư phát triển Hơn nữa cũngcần nhận thấy rằng các khoản viện trợ không hoàn lại thường kèm theo một
số điều kiện về tiếp nhận, về đơn giá mà nếu nước chủ nhà có tiền chủ độngthực hiện thì chưa chắc đã cần đến những hàng hoá hay kỹ thuật đó, hay ítnhất cũng áp dụng một đơn giá thấp hơn nhiều lần Đây chính là lý do tại sao
tỉ trọng viện trợ không hoàn lại trong tổng số hỗ trợ phát triển chính thức có
xu hướng ngày càng giảm
- Viện trợ có hoàn lại
Viện trợ có hoàn lại thực chất là vay tín dụng với điều kiện ưu đãi Tínhchất ưu đãi của các khoản viện trợ được thể hiện ở những mặt sau:
+ Lãi suất thấp: lãi suất áp dụng cho các khoản vay tín dụng ưu đãi của WB
là 0,75%/năm, của ADB là 1%/năm, của Nhật Bản dao động trong khoảng0,75-2,3%/năm,
Trang 10+ Thời hạn vay dài hạn: Nhật cho Việt Nam vay trong 30 năm, Ngân hàngthế giới cho Việt Nam vay trong 40 năm,
+ Thời gian ân hạn (thời gian từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên) dài:ADB, Nhật Bản cho Việt Nam thời gian ân hạn 10 năm,
Chính vì những tính chất ưu đãi này nên ở các nước, ODA dưới dạng cáckhoản vay ưu đãi thường được sử dụng để đầu tư vào các dự án phát triển kếtcấu hạ tầng kinh tế xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống
c Theo điều kiện
ODA có hai loại: không điều kiện và có điều kiện Trên thực tế, chỉ có ThuỵĐiển là nước duy nhất cấp ODA không điều kiện Còn lại các nước viện trợkhi cấp ODA thường gắn với những điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị,…Ngoài ra, còn có loại ODA ràng buộc một phần, tức là một phần ở cấp việntrợ, phần còn lại có thể chi tiêu ở các cấp khác tuỳ theo nước nhận tài trợ
- ODA không ràng buộc
ODA không ràng buộc nghĩa là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràngbuộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng mà có thể chi tiêu ở bất kỳlĩnh vực nào hay khu vực nào
- ODA có ràng buộc
ODA có ràng buộc nghĩa là bắt buộc phải chi tiêu ở cấp, ở lĩnh vực việntrợ Nước nhận ODA có thể bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hoặc mục đích
sử dụng
ODA bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng: nghĩa là việc mua sắm hàng hoá hay
trang thiết bị hay dịch vụ bằng ODA đó chỉ giới hạn cho một số công ty donước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với tài trợ song phương), hoặc công tycủa nước thành viên (đối với viện trợ đa phương)
- ODA bị ràng buộc bởi mục đích sử dụng: nghĩa là nguồn ODA cung cấp
chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể
d Theo hình thức
Trang 11- Hỗ trợ cán cân thanh toán
Hỗ trợ cán cân thanh toán thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp nhưng đôi khicũng có thể là hiện vật thông qua hỗ trợ hàng hoá hoặc hỗ trợ nhập khẩu.Ngoại tệ hoặc hàng hoá chuyển vào trong nước qua hình thức hỗ trợ cán cânthanh toán có thể được chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách Điều này xảy rakhi hàng hoá nhập vào nhờ hình thức này được bán trên thị trường trongnước, và số thu nhập bằng bản tệ được đưa vào ngân sách của Chính phủ
- Tín dụng thương mại
ODA có thể thực hiện dưới dạng tín dụng thương mại với các điều khoản
"mềm" như lãi suất thấp, hạn trả dài,
- Viện trợ chương trình
Viện trợ chương trình (còn gọi là hỗ trợ phi dự án) là viện trợ khi đạt đượcmột hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA chomột mục đích tổng quát trong một thời hạn nhất định, mà không phải xác địnhmột cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào
- Hỗ trợ dự án
Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức, có thểliên quan đến hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, và thông thường các dự ánphải được chuẩn bị rất kỹ lưỡng trước khi thực hiện
+ Hỗ trợ cơ bản: chủ yếu là các dự án về xây dựng (đường xá, cầu cống, đê
đập, điện năng, viễn thông, trường học, bệnh viện, ) Thông thường các dự
án này có kèm theo một bộ phận của viện trợ kỹ thuật dưới dạng thuê chuyêngia nước ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó của dự án hoặc
để soạn thảo xác nhận các báo cáo cho đối tác viện trợ
+ Hỗ trợ kỹ thuật: chủ yếu là các dự án tập trung vào chuyển giao tri thức
(know-how) hoặc tăng cường cơ sở lập kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu tìnhhình cơ bản trước khi đầu tư
Trang 12e.Theo Nhà tài trợ
- ODA song phương: là nguồn vốn ODA của Chính phủ một nước cung cấp cho Chính phủnước tiếp nhận Thông thường vốn ODA song phương được tiến hành khi một số điều kiệnràng buộc của nước cung cấp vốn ODA được thoả mãn
- ODA đa phương: là nguồn vốn ODA của các tổ chức quốc tế cung cấp
cho Chính phủ nước tiếp nhận So với vốn ODA song phương thì vốn ODA
đa phương ít chịu ảnh hưởng bởi các áp lực thương mại, nhưng đôi khi lại
chịu những áp lực mạnh hơn về chính trị
4 Nguồn và đối tượng của ODA
a.Nguồn cung cấp ODA
Như đã đề cập trong định nghĩa về ODA, nguồn cung cấp ODA có thể đến
từ các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ Như
vậy, hiện nay, nguồn viện trợ ODA đối với các nước đang phát triển gồm các
loại sau:
+ Chính phủ nước ngoài và các cơ quan đại diện cho hợp tác phát triển của
chính phủ nước ngoài ví dụ như: Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản - JICA,
Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản - JBIC, Cơ quan phát triển quốc tế
Australia - AUSAID, Hội đồng viện trợ hải ngoại Australia ACFOA; Cơ quan
viện trợ chính thức Nauy - NORAD,
+ Các tổ chức phát triển Liên hiệp quốc (LHQ), bao gồm: Chương trình
Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF);
Chương trình Lương thực Thế giới (WFP); Tổ chức Lương thực và Nông
nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO); Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA);
Quỹ Trang thiết bị của Liên hiệp quốc (UNCDF); Tổ chức Phát triển Công
nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO); Cao uỷ Liên hiệp quốc về Người tị nạn
(UNHCR); Tổ chức Y tế Thế giới (WHO); Cơ quan Năng lượng Nguyên tử
Quốc tế (IAEA); Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của LHQ
(UNESCO);
Trang 13+ Các tổ chức Liên chính phủ, bao gồm: Liên minh Châu Âu (EU), Tổ chứchợp tác kinh tế và phát triển (OECD), Hiệp hội các nước ASEAN
+ Các tổ chức Tài chính quốc tế bao gồm: Ngân hàng Thế giới (WB); Ngânhàng Phát triển Châu Á (ADB); Quỹ các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC);Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB) và Quỹ Phát triển Bắc Âu (NID); Quỹ Quốc
tế về Phát triển nông nghiệp (IFAD), (trừ Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF)
b.Đối tượng của ODA
ODA của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới chỉ tập trung vào nhữngnước có thu nhập bình quân đầu người thấp, đặc biệt là những nước ở dướimức 220 USD/người, năm
Mặc dù vậy, việc xem xét một quốc gia có đủ điều kiện để được viện trợODA hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác trong đó quan trọngnhất lại là chính sách ngoại giao, tiếp đến là mức độ ổn định chính trị- kinh tế-xã hội và lộ trình cam kết phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó Do đó,một quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn 220 USD/ người,năm vẫn có thể thu hút lượng ODA lớn hơn nhiều lần so với một nước có thunhập thấp hơn 220 USD/người, năm Điều kiện về thu nhập luôn luôn đượcnhắc đến trong việc cấp ODA nhưng đó chỉ là điều kiện cần chứ không hẳn làđiều kiện đủ để một quốc gia trở thành nước được nhận viện trợ Do vậy,năng lực của bộ máy lãnh đạo của một quốc gia cũng chính là điều kiện quyếtđịnh khả năng thu hút ODA của quốc gia đó vì đôi khi việc tăng hoặc giảmquyết định viện trợ cũng do các lý do chính trị chứ không phải lý do viện trợkinh tế theo đúng nghĩa của nó
Sau khi đã ký các cam kết viện trợ, để được tiếp nhận nguồn viện trợ ODA,các nước phát triển phải tuân theo các điều kiện của nguồn hỗ trợ và từng dự
án, chương trình
Trang 14Một yêu cầu nữa đối với nước nhận viện trợ là uy tín của nước đó và nhữngtiến bộ đạt được thông qua quá trình sử dụng vốn viện trợ của các nước này.Đây là tiền đề quan trọng tạo thuận lợi cho nước tiếp nhận ODA có được sựtin tưởng từ phía các nhà tài trợ qua đó tiếp tục và nhận được nhiều sự ủng hộhơn nữa.
Ngoài những yêu cầu được đặt ra ở trên, nước nhận viện trợ, thường lànhững nước đang phát triển còn gặp một khó khăn không nhỏ đó là nguồnvốn đối ứng theo yêu cầu của từng dự án, từng giai đoạn của dự án Khi cácnước đó gặp phải khó khăn về kinh tế hoặc do sự yếu kém của các cơ quan thihành, việc không đáp ứng đủ nguồn vốn đối ứng sẽ làm chậm tiến độ giảingân, làm chậm thời gian đưa công trình vào sử dụng, tăng chi phí thực hiện
dự án và làm giảm sút uy tín đối với nhà tài trợ
5.Vai trò của ODA đối với các quốc gia trên thế giới
a.Vai trò của ODA đối với các nước tiếp nhận
*Những tác động tích cực
Các nước đang phát triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng muốnđẩy mạnh nền kinh tế thì phải có một lượng vốn lớn để tập trung đầu tư chomột số lĩnh vực đặc biệt là cơ sở hạ tầng còn ở mức rất thấp Do đó không thểchỉ dựa vào nguồn lực trong nước mà còn phải biết tận dụng nguồn vốn từbên ngoài Một thực tế là muốn phát triển kinh tế, các nước đều phải có mộtkhoản đầu tư tương xứng (ví dụ như muốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh
tế khoảng 10% như Việt Nam thì cần đầu tư một lượng tiền vốn khoảng 30%GDP) Mà thực tế các nước này chỉ có mức tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế chỉdưới 10% GDP
Đáp ứng yêu cầu trên, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có đặc thù làlãi suất vay thấp, thời hạn dài (thường từ 15 - 40 năm lại thêm thời gian ân
Trang 15hạn từ 10 đến 20 năm),vốn đầu tư tập trung lớn, có thể lên tới hàng trăm triệuUSD cho một dự án Bên cạnh đó nguồn vốn này nhằm hỗ trợ các nước nghèogiải quyết các vấn đề trên, điều mà nguồn vốn tư bản (đầu tư trực tiếp) khôngbao giờ làm được.
Tuy xét về mối quan hệ thì ODA và tăng trưởng kinh tế không hoàn toàn tỉ
lệ thuận tức là không phải cứ viện trợ tăng lên thì tăng trưởng kinh tế cũngtăng lên Tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào khả năng quản lý tốt củanước nhận viện trợ Trong điều kiện quản lý tốt, thêm 1% viện trợ trong GDPthì tăng trưởng kinh tế tăng thêm là 0.5%
ODA giúp tăng thu nhập bình quân đầu người dẫn đến tăng phúc lợi và mứcsống cho người dân từ đó thúc đẩy phát triển Ví dụ vào năm 1966, Thái Lan
là nước nghèo với thu nhập dưới mức 1 USD/ngày (theo thời giá 1985), tỷ lệ
tử vong sơ sinh năm 1967 là 0,84% Tuy nhiên nước này đã có những biếnđổi mạnh mẽ, nhất là những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 Nhữngthành tựu này được đánh giá là có vai trò quan trọng của viện trợ ODA
ODA giúp đầu tư vào con người mà vấn đề quan trọng nhất là các dự án liênquan đến phổ cập giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Vấn đề này càngtrở nên cấp thiết vì theo thống kê gần đây của WB trong số gần 5 tỷ ngườisống ở các nước đang phát triển là thành viên của WB thì có:
3 tỷ người sống dưới mức 2 USD/ngày và khoảng 1,3 tỷ người sốngdưới mức 1 USD/ngày
Mỗi ngày có 40.000 người chết do các bệnh liên quan đến hô hấp
130 triệu trẻ em trong độ tuổi không có cơ hội đến trường
1,3 tỷ người không có cơ hội tiếp cận với nguồn nước sạch
ODA cũng có vai trò đối với công cuộc cải tổ kinh tế của chính phủ cácnước đang phát triển qua các dự án, chương trình hỗ trợ năng lực, cải tổ cơcấu các tổ chức, các cơ quan chức năng của chính phủ
Trang 16Hơn nữa việc sử dụng ODA còn mang lại nhiều thuận lợi khác cho các quốcgia đang phát triển trong công cuộc cải cách kinh tế nhờ những ưu điểm sau:
Vốn ODA sẽ giúp nước nhận tài trợ có cơ hội ứng dụng các thành tựukhoa học kỹ thuật và công nghệ trên thế giới Tuy các nước công nghiệp pháttriển không muốn chuyển giao công nghệ cao cho các nước nhận viện trợnhưng những công nghệ được chuyển giao cũng tương đối hiện đại so vớitrình độ của các nước này Trong quá trình thực hiện, nước viện trợ thường cửchuyên gia sang hướng dẫn thực hiện dự án do đó cán bộ của nước nhận việntrợ có thể học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm đáng quý
Vốn ODA cũng giúp nước nhận viện trợ có cơ hội đào tạo nguồn nhânlực cho đất nước mình Khi thực hiện các dự án có vốn nước ngoài, các cán
bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật cũng như công nhân sẽ có cơ hội tiếp thu côngnghệ mới, làm quen với các quy trình làm việc khoa học và hiện đại, đồngthời rèn luyện được tác phong làm việc công nghiệp
Tóm lại, ODA đóng một vai trò hết sức qua trọng đối với việc phát triểnkinh tế của các nước đang phát triển đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển cơ sở
hạ tầng kinh tế xã hội do tính chất ưu đãi đặc thù của nguồn vốn này Tuyvậy, việc sử dụng nguồn vốn này không phải là không có hạn chế
*ODA và nguy cơ phụ thuộc của các nước tiếp nhận
Tuy nhiên, đối với nước tiếp nhận, nguồn hỗ trợ song phương tạo điều kiệngiúp tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời họ cũng phải chấp nhậnnhững điều kiện ràng buộc rất chặt chẽ từ phía các nước tài trợ Những ràngbuộc này có thể xuất phát từ lý do kinh tế cũng có thể là ràng buộc về chínhtrị Ví dụ năm 2003 này Mỹ sẵn sàng viện trợ và cho Thổ Nhĩ Kỳ vay mộtkhoản tiền lớn để đổi lấy việc Thổ Nhĩ Kỳ cho phép Mỹ đóng quân trongcuộc chiến tranh tấn công I-rắc
Trang 17Kinh nghiệm phát triển 50 năm qua của thế giới cho thấy Những nước tiếnhành phát triển dựa trên việc tăng cường và sử dụng nguồn vốn trong nướctiết kiệm được đồng thời hạn chế tối thiểu vay nợ nước ngoài là những nước
đã đạt được kết quả phát triển tốt và bền vững Trái lại, một số nước đangphát triển trông cậy quá nhiều vào viện trợ tài chính của nước ngoài, đặc biệt
là các khoản vay nợ, hiện vẫn đang nằm trong danh sách những nước mất cânđối và lệ thuộc vào nước ngoài
Trong xu hướng phát triển hiện nay, toàn cầu hoá là một xu hướng khôngthể tránh khỏi, các nước phát triển hay các nước đang phát triển cũng đềumuốn thúc đẩy quá trình này vì về bản chất nó đem lại lợi ích cho tất cả cácquốc gia Nếu xem xét một cách cụ thể, các nước đang phát triển đều phải trảgiá cho tiến trình hội nhập vì đều phải chấp nhận các điều kiện để được nhậnviện trợ Các điều kiện này đôi khi không thể thực hiện được hoặc nếu thựchiện được thì hậu quả về mặt xã hội mà nó gây ra còn to lớn hơn lợi ích mà
nó mang lại Có các yêu sách để viện trợ đi ngược lại với lợi ích quốc giahoặc không phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của quốc gia đó Chínhđiều này đã khiến chính phủ nhiều nước từ chối các khoản viện trợ do sức ép
từ bên trong
Với các lý do nêu trên, các nước đang phát triển luôn phải cân nhắc để vừa
có thể tận dụng tối đa các nguồn viện trợ lại không bị rơi vào nguy cơ lệthuộc Các nước đang phát triển phải luôn có chính sách mềm dẻo và linhhoạt để tranh thủ tối đa các nguồn viện trợ không hoàn lại đồng thời sử dụng
có hiệu quả nhất các khoản vay
Các nước đang phát triển cần chọn lọc đúng các dự án có hiệu quả kinh tế,đảm bảo hoàn vốn để có thể xây dựng lộ trình trả nợ hợp lý Đồng thời đẩymạnh các hình thức đầu tư khác nhằm phát triển các ngành công nghiệp xuất
Trang 18khẩu thu ngoại tệ để trả nợ vì đôi khi lãi suất vay thấp không đủ để bù lạinhững thiệt hại do sự thay đổi tỷ giá.
b.Vai trò của ODA đối với việc mở rộng thị trường của các nước cung cấp
Xu thế đầu tư quốc tế trong những năm cuối của thế kỷ đã cho thấy các khuvực thu hút đầu tư mạnh mẽ không còn là các nước tư bản phát triển, thay vào
đó là các nước đang phát triển, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á Chính vìvậy việc cải tạo, đổi mới cơ sở hạ tầng cũng như kiến trúc thượng tầng lênmột trình độ phát triển cao hơn, tạo điều kiện cho đầu tư có hiệu quả khôngcòn là nhu cầu của riêng các nước đang phát triển mà nó đã trở thành mongmuốn của cả các nước phát triển, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá
Nhu cầu mở rộng thị trường của các nước phát triển đang thúc đẩy các nướcnày đầu tư mạnh mẽ vào các nước đang phát triển hơn bao giờ hết Khi cácnước đang phát triển có một cơ sở hạ tầng phát triển ở một mức độ nhất định,một kiến trúc thượng tầng hoạt động có hiệu quả thì các nhà đầu tư mới có thểyên tâm với các quyết định đầu tư trong tương lai của mình Để thúc đẩy đầu
tư trực tiếp, các nước đang phát triển cần phải phát triển cơ sở hạ tầng vàhoàn thiện kiến trúc thượng tầng nhưng việc này lại rất khó thực hiện vớinguồn vốn hạn hẹp của các nước đang phát triển, đặc biệt là đầu tư cho cơ sở
hạ tầng
Ngoài ra, nguồn hỗ trợ ODA song phương tạo điều kiện thuận lợi cho nướcviện trợ trong việc củng cố vị thế chính trị cũng như kinh tế ODA giúp cácnước phát triển dễ dàng tìm hiểu thị trường của các nước đang phát triển,vươn ra để chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, khai thác tài nguyên phong phú
và nhân lực dồi dào từ nước nhận viện trợ, tiêu thụ được hàng hoá thông quacác điều kiện ràng buộc như buộc các nước nhận viện trợ phải mua hàng, thiết
Trang 19bị, công nghệ có khi với giá cao hơn so với giá trên thị trường thế giới,ràng buộc về tỷ lệ tham gia trong tổng trị giá dự án Ví dụ như Nhật bản,một đối tác song phương lớn nhất thế giới về ODA, thì 1/2 kim ngạch ngoạithương năm 1997 là buôn bán với các nước đang phát triển là những nướcnhận ODA từ Nhật bản Viện trợ ODA chính là sự mở đường cho các loạihình đầu tư trực tiếp khác.
*Vai trò của ODA đối với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam
Từ sau năm 1990, kinh tế xã hội nước ta bắt đầu thay đổi, công cuộc xâydựng phát triển kinh tế của chúng ta có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp phảikhông ít khó khăn
Trong bối cảnh như vậy, chúng ta đã biết phát huy những thành tựu đã đạtđược, vượt qua những khó khăn và đã thu được thắng lợi trên tất cả các lĩnhvực Những sự kiện nổi bật của quan hệ đối ngoại có ý nghĩa quan trọng đốivới hợp tác phát triển trong thời gian này là:
- Tháng 10 năm 1993, Việt Nam nối lại quan hệ với Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
- Tháng 11 năm 1993, Hội nghị lần thứ nhất các nhà tài trợ cho Việt Namhọp tại Pari mở ra giai đoạn hợp tác phát triển giữa nước ta với cộng đồng cácnhà tài trợ Từ đó đến nay đã có 6 Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dànhcho Việt Nam được tổ chức
- Tháng 12 năm 1993, Hội nghị các nước thành viên Câu lạc bộ Pari rakhuyến nghị xoá và giảm nợ cho Việt Nam
- Ngày 3 tháng 2 năm 1994, Mỹ xoá bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam.Tháng 8 năm 1994, Thượng nghị viện Mỹ bãi bỏ lệnh cấm viện trợ cho ViệtNam áp dụng từ hơn hai thập kỷ qua
Trang 20- Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức củaHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
- Ngày 7 tháng 4 năm 1997, Việt Nam và Mỹ ký Hiệp định về việc xử lý và
cơ cấu lại số nợ của Việt Nam với Mỹ và cơ quan phát triển quốc tế Mỹ(USAID) Đây là văn bản song phương cuối cùng về xử lý nợ của Việt Namvới các nước trong khuôn khổ biên bản thoả thuận khung tại Câu lạc bộ Pari
- Tháng 4 năm 1999, Hội thảo quốc tế về quan hệ đối tác được tổ chức tại
Hà Nội
Do có sự đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư cùng với những chính sách đúngđắn của Đảng và Nhà nước về việc cải thiện môi trường đầu tư, chúng ta đãthu hút được một lượng lớn cả vốn đầu tư trực tiếp và vốn ODA vào ViệtNam Những nguồn vốn này chủ yếu được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầngcũng như nhà xưởng và máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, trong đóvốn ODA chủ yếu dành cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và chính làbiện pháp hiệu quả để thu hút đầu tư trực tiếp
Phần II : Thực trạng thu hút và sử dụng ODA trong lĩnh vực phát triển kinh tế
I.Các thành tựu đã đạt được
1.Trước tháng 10/1993
Trước đây nước ta nhận đc 2 nguồn ODA song phương chủ yếu Một từ cácnước thuộc tổ chức SEV (hội đồng tương trợ thế giới) trong đó chủ yếu làLiên xô cũ Hai là các nước thuộc tổ chức DAC (uỷ ban hỗ trợ phát triển) vàmột số nước khác, trong đó chủ yếu là thuỵ điển, phần lan, đan mạch…
Các khoản ODA trên giúp chúng ta xây dựng một số nghành quantrọng nhất là sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế nước ta Sau cuộckhủng hoảng chính trị ở Liên xô cũ và Đông âu, SEV giải thể đã làm chonguồn viện trợ từ cá nước này chấm dứt dẫn tới rất nhiều khó khăn cho nước
ta, nhiều kế hoạch không có vốn để hoàn thành
Số dự án Vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ)(*)