Đối với phần những chính sách của Việt Nam trên con đường trở thành thành viênthứ 7 của ASEAN, bài viết sẽ nêu ra chính sách cụ thể và việc triển khai chính sách đó thểhiện qua những văn
Trang 1ASEAN – CHỖ ĐỨNG MỚI CỦA VIỆT NAM TRONG MỘT THẾ GIỚI
HẬU CHIẾN TRANH LẠNH
MỤC LỤC
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU 3
A NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỰA CHỌN CỦA VIỆT NAM 4 1 Xu thế khu vực hóa 4
2 Từ chạy đua vũ trang đến chạy đua kinh tế 4
3 Vấn đề Campuchia: Khúc mắc được giải quyết 5
4 ASEAN: một góc nhìn mới 6
5 Việt Nam: Sự cần thiết của việc gia nhập ASEAN 7
6 Thái độ của Mỹ và Trung Quốc 8
B CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN THỨ BẢY CỦA ASEAN 9
I Chính sách đối ngoại Việt Nam: tiếp nối và kế thừa 9
II Triển khai chính sách đối ngoại 11
C ĐÁNH GIÁ CỦA CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ VÀ CÁC NHÂN 13
I Phản ứng của Quốc tế 13
II Đánh giá cá nhân 14
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Đầu thập niên 90, trước sự thay đổ của tình hình thế giới, chính sách đối ngoại ViệtNam trước đây không còn phù hợp nữa Là một nước trong hàng ngũ phe xã hội chủnghĩa trong thời kì chiến tranh lạnh, Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn từ hai cường quốcLiên Xô và Trung Quốc Vậy trong một thế giới hậu chiến tranh lạnh, khi phe khối chủnghĩa xã hội đã tan rã, Việt Nam sẽ chọn cho mình con đường nào để tiếp tục? Lịch sử đãchứng minh tính đúng đắn của câu trả lời mà Việt Nam đã chọn Việt Nam đã đổi mới,
mở cửa đất nước, nỗ lực tham gia vào các diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc tế
Bằng việc gia nhập ASEAN, Việt Nam đã đặt bước chân đầu tiên lên con đường
đi tìm vị trí và chỗ đứng mới cho bản thân Đây được đánh giá là một trong những quyếtđịnh đúng đắn nhất của Việt Nam trong trong thập niên 90 Chúng tôi giới hạn bài viếtcủa mình trong 5 năm đầu (1991-1995), nghiên cứu chính sách đối ngoại của Việt Nam
trong từng bước gia nhập ASEAN Bài viết sẽ trả lời cho câu hỏi Tại sao Việt Nam lại
chọn ASEAN làm bước đột phá trong chính sách đối ngoại của mình?
Bài viết đề cập đến ba vấn đề chính xoay quanh câu hỏi nghiên cứu: Những yếu tốtác động đến quyết định của Việt Nam; Chính sách đối ngoại Việt Nam hướng tới việc trởthành thành viên thứ 7 của ASEAN; Đánh giá của cộng đồng quốc tế và cá nhân trước sựkiện này Với mỗi phần lớn sẽ có những phân tích đánh gia cụ thể cũng như những tríchdẫn có liên quan Cụ thể như sau:
Trong phần Những yếu tố tác động đến quyết định của Việt Nam, chúng tôi chủyếu xem xét sự biến chuyển trong tình hình thế giới, Đông Nam Á và ở ngay trong lòngViệt Nam Trong đó đi vào xu thế khu vực hóa trên thế giới lúc bấy giờ; vấn đềCampuchia cũng như thái độ của Mỹ và Trung Quốc, những điều đã tạo thuận lợi cũngtrong quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN Đồng thời bài viết cũng sẽ phân tích sâu vàogóc nhìn từ hai bên: Việt Nam và ASEAN
Đối với phần những chính sách của Việt Nam trên con đường trở thành thành viênthứ 7 của ASEAN, bài viết sẽ nêu ra chính sách cụ thể và việc triển khai chính sách đó thểhiện qua những văn kiện Đảng cũng như các chuyển thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước
và những sự kiện liên quan
Trong phần cuối cùng: Đánh giá của cộng đồng quốc tế và cá nhân, cô và các bạn
sẽ tìm thấy những phản ứng của báo chí và các “nhân vật sự kiên” cũng như những đánhgiá của tập thể tác giả đối với sự kiện này
Vì nhiều lý do, bài viết có thể còn những sơ suất, rất mong bạn đọc góp ý và lượngthứ Chân thành cám ơn cô và các bạn đã theo dõi bài viết!
TẬP THỂ TÁC GIẢ
Trang 4A NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỰA CHỌN CỦA VIỆT NAM
1 Xu thế khu vực hóa
Chiến tranh lạnh kết thúc mang theo đó là những nghi kị và sự không tin tưởng lẫn nhaugiữa các quốc gia dần được xoá bỏ Đồng thời nó cũng mang đến những cơ hội và cả những tháchthức khác nhau cho tất cả các nước trên thế giới một lần nữa “trở mình sống dậy”
Bức tường Béc lin bị phá bỏ năm 1989, như là biểu tượng của sự cáo chung những tườngrào ngăn cản trong quan hệ quốc tế Sự kiện này cho phép chúng ta giờ đây có thể nhìn thế giớinhư một thể thống nhất với xu hướng hợp tác, liên kết diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ khônglường đươc Năm 1991, chấm dứt sự tồn tại của Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết,chiến tranh Lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực kết thúc, đây không còn là thời điểm mà mọiđộng thái của Xô Mỹ đều quyết định đến kết cục của quan hệ quốc tế, và các nước nhỏ, bằngcách này hay cách khác, đều chịu chi phối từ quyết định của Xô-Mỹ Cơn sóng liên kết khu vựclan ra toàn thế giới và Đông Nam Á cũng không nằm ngoài quy luật đó Một thế giới đa cực đanghình thành, và đương nhiên, các nước ASEAN cần nhanh nhạy nắm bắt xu thế đó để đưa ranhững quyết sách hợp lý, đảm bảo lợi ích của mình
Sự hình thành thế giới đa cực đã tạo nên nhiều cơ hội cho những nước nhỏ bé như ViệtNam vươn lên tìm chỗ đứng chính trị cho mình: cơ hội thoát khỏi các cuộc xung đột nảy sinh từcác cuộc cạnh tranh mang tính địa chiến lược và những bất đồng về hệ tư tưởng; cơ hội để bắtđầu thực hiện nhiệm vụ cấp bách là thiết lập một nền hòa bình bền vững và lâu dài cũng như vunđắp cho tình hữu nghị và thịnh vượng chung ở khu vực; cơ hội để khởi xướng, tăng cường vàphát triển sự hợp tác vì sự tiến bộ chung, chuẩn bị để bước vào thiên niên kỉ mới, thế kỉ XXI.Chớp được những cơ hội này sẽ tạo đà cho đất nước phát triển ngày càng cao
Để tận dụng những cơ hội này, Việt Nam cần có sự điều chỉnh linh hoạt trong chính sáchđối ngoại Quyết sách của những người đứng đầu trong thời điểm nhạy cảm này sẽ ảnh hưởng tớivận mệnh và chiều hướng phát triển sau này của đất nước
2 Từ chạy đua vũ trang đến chạy đua kinh tế.
Chiến tranh lạnh kết thúc không chỉ kết thúc một giai đoạn khủng hoảng tinh thần và nghi
kị sâu sắc giữa các nước mà còn là động cơ để thay đổi tiêu chuẩn đánh giá và vị thế của cácnước Không còn lấy chạy đua vũ trang làm tiêu chuẩn để đánh giá sức mạnh của một nước nữa
mà sức mạnh kinh tế quyết định hết thảy Phát triển kinh tế đã và đang trở thành cuộc đua mà tất
cả các nước đều tham gia Kinh tế sẽ quyết định vị thế cũng như tiếng nói của quốc gia trêntrường quốc tế Kinh tế lên ngôi cũng đồng nghĩa với việc biên giới giữa các quốc gia hầu nhưkhông còn Đóng cửa sẽ khiến nền kinh tế trì trệ kém phát triển, chỉ có mở cửa và hội nhập mớigiúp nền kinh tế của các nước phát triển được
Trang 5Sau nhiều thập kỉ chạy đua vũ trang, nhiều nước kiệt quệ về kinh tế và suy giảm vị thếcủa mình Nếu như sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là bá chủ thế giới, chủ nợ của châu Âu vàNhật Bản với những khoản viện trợ khổng lồ thì ở đầu thập niên 90, Mỹ đứng trước nguy cơ bị
EU và Nhật Bản vượt mặt về kinh tế Nhưng quốc gia phải trả cái giá đắt nhất là Liên Xô Thànhtrì vững chắc của hệ thống xã hội chủ nghĩa, cường quốc duy nhất có thể đối trọng với Mỹ trongquá khứ, đã sụp đổ sau hơn 70 năm tồn tại Việc tập trung đầu tư quá lớn cho quân sự đã khiếnnền kinh tế vốn chứa đựng nhiều bất ổn của Liên Xô ngày càng xuống dốc, dẫn đến những khủnghoảng không thể cứu chữa Chính sách cứng nhắc đã kéo lùi nền kinh tế của một số nước xã hộichủ nghĩa xuống vài chục năm, thậm chí hàng trăm năm, hậu quả đến ngày hôm nay vẫn còn thấy
rõ, điển hình là Bắc Triều Tiên
Liên Xô sụp đổ được coi như là chiến thắng to lớn của nước Mỹ, tuy nhiên, người chiếnthắng thực sự là những nước không bị cuốn quá sâu vào cuộc chạy đua quân sự và biết tận dụngthời cơ tập trung phát triển kinh tế Đại diện tiêu biểu có thể kể ra ở đây là Nhật Bản – nước đãvươn lên trở thành trung tâm tài chính thứ 2 sau Mỹ, Singapore – con hổ của châu Á, cộng đồng
EU – một thực thể nắm vai trò quyết định tới kinh tế - chính trị thế giới Đặc biệt ở Đông Nam Á,các nước ASEAN như Singapore, Malaysia, Thái Lan đã nhạy bén thích ứng sớm với xu thế này
Để phát triển kinh tế còn cần một môi trường thuận lợi và ổn định Vậy làm thế nào đểcác nước nhỏ yếu có thể lấp đẩy sự thiếu hụt này và tự tin phát triển kinh tế Cách giải quyết màcác nước đó đang theo đuổi lúc này là “bắt tay với nhau” để cùng phát triển Xu hướng hợp táckhu vực cũng phát triển mạnh mẽ từ đó Các nước nhỏ yếu sẽ cùng kết hợp với nhau hình thành
tổ chức khu vực với mục đích cùng nhau phát triển kinh tế và giành được tiếng nói lớn hơn trêncộng đồng quốc tế cũng như tạo sức cạnh tranh lớn hơn với các nền kinh tế phát triển Và nhữngnước ở gần nhau cùng trong một khu vực sẽ ưu tiên kết hợp với nhau bởi sự tương đồng về địa lý,khí hậu, văn hóa cũng như nền kinh tế tương đồng sẽ có chung nhiều điều kiện cùng phát triển.Đấy là lý do vì sao Việt Nam cần tìm đến một cộng đồng mới để phục vụ cho mục tiêu phát triểnkinh tế
ASEAN chính là câu trả lời đúng đắn cho Việt Nam Tuy nhiên, có một trở ngại lớn trêncon đường Việt Nam gia nhập tổ chức này
3 Vấn đề Campuchia: Khúc mắc được giải quyết
Sau năm 1975, vấn đề Campuchia được coi như là vấn đề nổi cộm nhất chi phối đến quan
hệ giữa Việt Nam và các nước ASEAN Về phía Việt Nam, chúng ta coi đưa quân vào
Campuchia là làm nghĩa vụ quốc tế, cứu nhân dân Campuchia khỏi thảm họa diệt chủng Tuy nhiên, đối với các nước ASEAN, đây đơn giản là một hành động xâm lược Chính vì thế, trong vấn đề Campuchia, các nước ASEAN chủ trương đấu tranh đòi Việt Nam rút quân, quyết liệt lên
án hành động của Việt Nam ASEAN lo sợ Việt Nam sẽ đe dọa trực tiếp đến an ninh khu vực Thêm vào đó, những bất đồng trong ý thức hệ càng khiến cho mối quan hệ này thêm căng thẳng Cần nói thêm rằng, việc tiến quân vào Campuchia của Việt Nam chỉ nhận được sự ủng hộ từ các
Trang 6nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Lào và Đông Âu Do vậy, các nước ASEAN tin rằng, đây là
sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản
Sau 1978, có rất nhiều cuộc gặp mặt giữa đại diện ngoại giao hai bên nhằm hòa dịu mối quan hệ và ổn định tình hình khu vực, tuy nhiên, phải đến 1991 với dấu mốc là hiệp định Paris vềvấn đề Campuchia, quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN mới có được những bước chuyển mạnh
mẽ Hiệp định Paris 1991 đã đặt Campuchia dưới sự bảo trợ và kiểm soát của Liên Hợp Quốc, chấm dứt hoàn toàn dính líu của các lực lượng quân sự nước ngoài ở Campuchia Hiệp định này cùng với việc rút quân năm 1989 đã cho thấy thiện chí của Việt Nam trong vấn đề Campuchia, kết thúc những căng thẳng đối đầu giữa Việt Nam và các nước trong khu vực
Hiệp định Paris 1991 chính thức đưa ra giải pháp hòa bình cho Campuchia đồng thời cũng gỡ nút thắt trong quan hệ Việt Nam ASEAN Việc xóa đi những căng thẳng trước đây, cùnghợp tác, duy trì hòa bình, ổn định khu vực chính là nhiệm vụ mới cho ASEAN Hiệp định Paris không chỉ chấm dứt những bất đồng hai bên về vấn đề Campuchia, mà còn mở ra một nền hòa bình mới cho các nước trong khu vực Nền hòa bình mong manh này cần có sự đoàn kết của các nước để cùng duy trì Chính vì thế, nối lại quan hệ với Việt Nam là một yêu cầu cần thiết đối với các nước ASEAN trong thời điểm này
ASEAN là tên viết tắt của Association of South East Asian Nations , Hiệp hội các nước Đông Nam Á Thành lập vào năm 1967 với tư cách là một tổ chức an ninh – chính trị bao gồm 5 nước thành viên là Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore (Brunei gia nhập vàonăm 1984) Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, ASEAN dần trở thành một tổ chức hợp tác tòan diện trên các lĩnh vực chính trị - kinh tế - văn hóa Để làm được điều đó, từ đầu thập niên 90, ASEAN mở rộng kết nạp thêm các quốc gia Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar Kết nạp các thành viên có thể chế chính trị đối lập và một nền kinh tế kém phát triển là một quyết định không hề dễ dàng Nhưng, đây lại là bước đi chiến lược cho quá trình đảm bảo an ninh khu vực
và xây dựng một hình ảnh mới cho tổ chức ASEAN
Liệu quyết định mở rộng có phải xuất phát từ động lực kinh tế không? Trước những năm
90 hoạt động của ASEAN bị cuốn vào các xung đột chính trị, ví dụ như vấn đề Campuchia Mặtkhác, về hoạt động kinh tế các nước ASEAN hướng ra bên ngoài và chưa chú trọng hợp tác vớicác nền kinh tế trong khu vực, do giai đoạn này tiềm lực kinh tế của các nước ASEAN còn thấp
Từ đầu những năm 90 sức mạnh kinh tế của các nước ASEAN gia tăng rõ rệt và họ đã trở thànhnhững nước công nghiệp mới hoặc công nghiệp phát triển “Trong bối cảnh đó và đứng trướcnhững thách thức và cơ hội mới do quá trình cơ cấu lại nền kinh tế thế giới dưới tác động củacuộc cách mạng khoa học-công nghệ mới cũng như xu thế quốc hóa khu vực hóa đã đặt ra, Hộinghị cấp cao họp ở Singapore tháng 1/1992 đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử ASEAN,chuyển mạnh sang hợp tác kinh tế với hai quyết định quan trọng: hình thành khu vực mậu dịch tự
Trang 7do AFTA và kí Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế”1 Như vậy, kết nạp Việt Nam, một thịtrường rộng lớn chưa được khai thác, và một nguồn tiềm năng kinh tế hứa hẹn, là một bước đilogic Câu nói của Thủ tướng Thái Lan Chatichai: “Biến Đông Dương từ chiến trường thành thịtrường” đã thể hiện rõ hơn quyết tâm của ASEAN cho mục tiêu này.
Về an ninh – chính trị, như đã trình bày ở phần trước, thời điểm năm 1991 còn xảy ra nhiều biến động chi phối đến tình hình ASEAN Liên Xô tan rã, Mỹ giảm bớt sự có mặt của các lực lượng quân sự Những điều này đã tạo nên một khoảng trống quyền lực ở khu vực Các nước ASEAN lo ngại về nguy cơ can thiệp của một vài cường quốc khác, tiếp tục tạo ảnh hưởng và chiphối Đông Nam Á, đặt Đông Nam Á dưới những mục tiêu chính trị Bên cạnh đó, vẫn còn những nguy cơ tiềm tàng bất ổn như xung đột ở biển Đông Hơn thế nữa, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, các nước ASEAN cần một môi trường hòa bình và ổn định Vì vậy, ASEAN đã đưa sáng kiến về một diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), nơi mà không chỉ các thành viên của ASEAN
mà còn có các nước lớn và các nước quan sát viên cùng thảo luận về những biện pháp đảm bảo
an ninh khu vực Cũng trong bối cảnh đó, đã xuất hiện khái niệm về một “ASEAN mở rộng”, nhằm tranh thủ sự tham gia của các nước Đông Nam Á khác, mà mở đầu là Việt Nam
Mặt khác việc để Việt Nam gia nhập ASEAN cũng giống như một lời tuyên bố về sự độc lập chính trị của Đông Nam Á, rằng Đông Nam Á hôm nay, không phải là một khu vực để các nước lớn tranh giành ảnh hưởng, Đông Nam Á đang muốn hướng đến một cộng đồng hợp tác, phát triển dựa trên lợi ích của các quốc gia thành viên
Hội nghị Pari về vấn đề Campuchia (1991), Tuyên bố ASEAN về Biển Đông (1992), kýHiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) năm 1995 là những nỗlực của ASEAN thể hiện vai trò ở khu vực Các nhà Lãnh đạo ASEAN còn quyết định xúc tiếnmột tiến trình đối thoại đa phương trong khu vực về hợp tác chính trị - an ninh trên cơ sở mởrộng cơ chế Hội nghị sau Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (AMM-PMC), mời Liên Hợp Quốclàm đối tác đối thoại của ASEAN ASEAN đã thiết lập Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) vàonăm 1994 nhằm lôi kéo tất cả các nước lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương tham gia đốithoại và xây dựng lòng tin cùng với ASEAN Với ARF, ASEAN đã thực sự tạo ra một diễn đàn
để ASEAN bàn cùng các nước lớn các vấn đề an ninh chính trị của khu vực
3 Việt Nam: Sự cần thiết của việc gia nhập ASEAN
Nếu như năm năm đầu tiên của công cuộc đổi mới, chúng ta thực hiện cải cách kinh tế ở trong nước và bước đầu đạt được những thành tựu đáng kể, thì từ 1991 trở đi, chúng ta chú trọng hơn vào việc hướng ra thế giới và phát triển quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực Trước đây, Việt Nam coi ASEAN như công cụ của Mỹ, nhưng giờ đây, chúng ta đã nhận ra được nhữngtiềm năng hứa hẹn trong việc gia nhập tổ chức này
1 Thứ trưởng ngoại giao Vũ Khoan, Việt Nam và ASEAN, Tạp chí Cộng sản (11/1994), tr.328-329
Trang 8Về kinh tế, việc gia nhập ASEAN là một sự tiếp nối của chính sách mở cửa đất nước, tìm kiếm vốn đầu tư và thị trường Không những thế, khối thị trường chung Đông Nam Á là thử thách đầu tiên cho nền kinh tế thị trường non trẻ của Việt Nam Một điểm quan trọng khác khôngthể không nói tới, các nước ASEAN có xuất phát điểm giống Việt Nam, từng là thuộc địa của cácnước phương Tây Các nước đó đã áp dụng thành công các biện pháp cải cách kinh tế mà Việt Nam có thể học hỏi Với các yếu tố đó, Việt Nam hy vọng có thể đuổi kịp và hòa nhập với làn sóng phát triển kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
Về chính trị, nỗ lực gia nhập ASEAN của Việt Nam thể hiện mong muốn tạo sự độc lập tương đối với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc Mặc dù trên danh nghĩa, Trung Quốc với Việt Nam là đồng minh đứng cùng hàng ngũ xã hội chủ nghĩa, nhưng những bài học đắt giá tronglịch sử đã dạy cho Việt Nam phải luôn đề phòng cảnh giác, hợp tác nhưng không được quá phụ thuộc Mặt khác, Việt Nam cũng cần thể hiện thiện chí “làm bạn với tất cả các nước trên cộng đồng thế giới” Gia nhập ASEAN, một tổ chức khác biệt về hệ thống chính trị, cho thấy Việt Nam đã vượt qua rào cản về ý thức hệ và thực sự sẵn sàng hợp tác, cùng phát triển Thiện chí nàycủa Việt Nam cũng thúc đẩy quá trình bình thường hóa với Mỹ, xóa bỏ bao vây, cấm vận nền kinh tế ASEAN là cầu nối để Việt Nam mở rộng con đường hội nhập với thế giới và tư cách thành viên của tổ chức này sẽ nâng cao vị thế cũng như tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc
tế
Như vậy, cả ASEAN và Việt Nam đều cần nhau ASEAN thấy sức mạnh của Hiệp hộiđược tăng cường trên các phương diện an ninh, chính trị và kinh tế nếu kết nạp Việt Nam ViệtNam thấy việc tham gia vào ASEAN sẽ góp phần tạo dựng môi trường thuận lợi cho việc triểnkhai chính sách khu vực, phục vụ nhiệm vụ chiến lược của Việt Nam và xây dựng và bảo vệ đấtnước, đồng thời góp phần tạo dựng một vị thế quốc tế và một hình ảnh mới cho đất nước Mặtkhác, dứng trước những cơ hội và muốn vượt qua được thách thức, hai bên phải cùng nhau hợptác, chuyển từ đối đầu sang đối thoại và cùng xây dựng một mối quan hệ quốc tế mới tại khu vực
vì lợl ích chung là hoà bình và phát triển
4 Thái độ của Mỹ và Trung Quốc
Xét về bối cảnh quốc tế trong thời kì Việt Nam gia nhập ASEAN, chúng ta không thể không nói tới thái độ của các nước lớn, mà ở đây là Hoa Kì và Trung Quốc Trong thập kỉ sau chiến tranh Lạnh, mặc dù thế giới đang tiến tới một trật tự đa cực, các nước nhỏ ngày càng độc lập hơn, nhưng không thể phủ nhận, thái độ, quan điểm của các nước lớn này vẫn ảnh hưởng rất nhiều tới quá trình gia nhập ASEAN của Việt Nam Cùng những tính toán lợi ích của riêng mình,
Mỹ và Trung Quốc đã ủng hộ ASEAN có thêm một thành viên mới
Việt Nam là nhân tố quan trọng trong cân bằng chiến lược ở Đông Á của Hoa Kỳ Mỹ lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc trong khu vực, cũng như ảnh hưởng ngày càng to lớn lên các nước châu Á- Thái Bình Dương Một Trung Quốc lớn mạnh rõ ràng là một mối đe dọa tới vị trí lãnh đạo của Hoa Kỳ trong tương lai Trong bối cảnh đó, Mỹ coi Việt Nam và các nước ASEAN
Trang 9có khả năng đối trọng với Trung Quốc Như đã nói, việc Việt Nam gia nhập ASEAN và việc ASEAN xúc tiến cho đối thoại hai bên thể hiện sự độc lập trong quyết sách của các nước khu vựcĐông Nam Á Đấy cũng là điều mà Mỹ nhắm đến Một Đông Nam Á độc lập với Trung Quốc cũng là điều mà Mỹ mong muốn hơn hết
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ đang nỗ lực bình thường hóa quan hệ với Việt Nam nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Trong một bình luận của tạp chí Time, xuất bản năm 1995, đã khẳng định: “Để ngăn chặn Trung Quốc, chúng ta phải bắt đầu với những nước láng giềng của Trung Quốc, đặc biệt là Việt Nam Việt Nam là kẻ thù truyền thống của Trung Quốc (họ đã có một cuộcchiến vào năm 1979), vì thế, chúng ta cần làm bạn với Việt Nam”2 Bên cạnh lý do Trung Quốc,
Mỹ còn muốn thúc đẩy việc tìm kiếm những người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam, muốn nhắm đến một “diễn biến hòa bình” xảy ra ở Việt Nam, và cơ hội ở một thị trường kinh doanh đầy tiềm năng, chính vì thế, Hoa Kỳ không có lý do gì để ngăn cản việc Việt Nam gia nhập ASEAN Ủng hộ Việt Nam tham gia diễn đàn khu vực cũng là ủng hộ cho những lợi ích củaHoa Kỳ ở Đông Nam Á
Về phần Trung Quốc, đối đầu với Việt Nam không còn phù hợp với chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc lúc này nữa Các nước tư bản phương Tây như Mỹ, ASEAN đang có thiện chí hợp tác với Việt Nam, sẽ là bất lợi nếu Trung Quốc chậm chân trong xu hướng này Trong khi đó, các nước ASEAN vẫn còn lo ngại về ý đồ bành trướng của Trung Quốc Phản đối Việt Nam gia nhập ASEAN sẽ không khác gì sự áp đặt của một nước lớn lên một nước nhỏ trong khu vực, từ đó làm gia tăng thêm những căng thẳng, mâu thuẫn không đáng có giữa Trung Quốc
và ASEAN Tính toán đến lợi ích của mình như vậy, Trung Quốc cũng gần như bật đèn xanh, không gây khó khăn gì trong quá trình Việt Nam gia nhập
B CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TRÊN CHẶNG
ĐƯỜNG TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN THỨ BẢY CỦA ASEAN
nối và kế thừa
Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam (họp từ 17 - 22/6/1991) trên cơ sở đánh giá nhữngnguyên nhân tạo nên những thành tựu - hạn chế của việc thực hiện nghị quyết Trung ương (6, 7,8) Đại hội VII chỉ ra những vấn đề mới nảy sinh Đại hội thông qua cương lĩnh phương hướng cơbản về thời kỳ qúa độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và chiến lược ổn định phát triển kinh tế
- xã hội (đến năm 2000) của Việt Nam
Căn cứ vào mục tiêu chặng đường đầu thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là "vượt quakhó khăn thử thách ổn định và phát triển kinh tế - xã hội tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêucực - bất công xã hội đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay"
2 Charles Krauthammer, WE MUST CONTAIN CHINA, Tạp chí Time (31/7/1995)
Trang 10Đảng xác định nhiệm vụ đối ngoại bao trùm là: "giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghịhợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổquốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình,độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội "
Đại hội còn nhấn mạnh yêu cầu nhiệm vụ của chính sách đối ngoại là "cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh của lực lượng sản xuất và xu thế quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới để có chủ trươngđối ngoại phù hợp" So với Đại hội VI đây là bước phát triển mới của Đảng, về nhận thức chính sách đối ngoại trước những biến chuyển của tình hình thế giới Đặc biệt trong xác định nhiệm vụ chính sách đối ngoại là:"Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" mà Đại hội VII đã đề ra Để thích ứng với sự chuyển biến các quan hệ quốc tế đáp ứng những yêu cầu của chính sách đối nội Đầu 1991 Đảng xác định:
“… Hợp tác bình đẳng và cũng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị xã hội khác nhau với nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình"
Cụ thể đối với các nước ASEAN, Đại hội đảng VII đã nhấn mạnh tới việc phát triển quan
hệ hữu nghị với Đông Nam Á và Châu Á Thái Bình Dương, phấn đấu cho một Đông Nam Á hòa bình hữu nghị hợp tác
Sự phát triển, hoàn chỉnh đường lối đối ngoại được thể hiện trên luật pháp của Nhà nước.Tháng 4/1992 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới của Việt Nam Sự ra đời của Hiến pháp mớikhẳng định Đảng - Nhà nước ta nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của chính sách đối ngoại
Điều 14 Hiến pháp khẳng định: “Việt Nam thực hiện hòa bình, hữu nghị hợp tác với tất cảcác nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị xã hội khác nhau… tôn trọng độc lập chủquyền và toàn vẹn lãnh thỗ của nhau, không can thiệp vào nội bộ của nhau, bình đẳng và các bêncùng có lợi”
Chủ trương này đã làm cho chính sách đối ngoại của Đảng, nhà nước phát triển cả về nộidung - phương hướng chỉ đạo hoạt động đối ngoại, có tính chất quyết định trong công cuộc đổimới đất nước; sự phát triển này làm cho "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộngđồng thế giới" từ một định hướng chiến lược trở thành hiện thực trong chính sách đối ngoại củaĐảng - Nhà nước
Năm 1993, đồng chí Đỗ Mười nêu ra chính sách 4 điểm, trong đó đề cập đến việc hợp tácvới các nước láng giềng bao gồm phát triển quan hệ với từng nước và tổ chức ASEAN, sẵn sànggia nhập ASEAN; sẵn sàng tham gia các diễn đàn đảm bảo hòa bình an ninh, xây dựng khu vựcĐông Nam Á thành khu vực hòa bình, hợp tác phát triển không có căn cứ quân sự nước ngoài,không vũ khí hạt nhân; thông qua thương lượng giải quyết vấn đề tồn tại, kể cả tranh chấp biểnĐông