1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Vài nét về hệ thống chữ viết tiếng Nhật pdf

25 909 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 174,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bungo vẫn hữu ích đối với các sử gia, học giả văn chương, và luật sư nhiều điều luật của Nhật có từ thời Thế chiến thứ hai vẫn còn được viết bằng bungo, mặc dù hiện đang có những nỗ lực

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

 

Như chúng ta đã biết, tiếng Nhật là ngôn ngữ chính thức ở Nhật Bản, và Nhật là quốc giaduy nhất dùng tiếng Nhật làm ngôn ngữ hành chính chính thức Người ta gọi đó là ngôn ngữ

chuẩn: hyōjungo (Nhật: 標準語: ngôn ngữ tiêu chuẩn), hoặc kyōtsūgo (Nhật: 共通語: ngôn

ngữ phổ thông) Ngôn ngữ tiêu chuẩn này được tạo ra sau Minh Trị Duy Tân meiji ishin

(Nhật: 明治維新) (1868) từ thứ ngôn ngữ được nói ở khu vực đô thị Tokyo do nhu cầu trao

đổi thông tin Ngôn ngữ chuẩn (Hyōjungo) được dạy ở trường học và được dùng trên truyền

hình và giao tiếp chính thức, và cũng là bản tiếng Nhật được bàn đến trong bài này

Trước đây, tiếng Nhật chuẩn trong văn viết (bungo (Nhật: 文語), "văn ngữ") khác với văn nói (kōgo (Nhật: 口語), "khẩu ngữ") Hai hệ thống này có ngữ pháp khác nhau và có những

biến thể về từ vựng Bungo là cách viết tiếng Nhật chủ yếu cho đến khoảng năm 1900, sau đó kogo dần dần mở rộng tầm ảnh hưởng và hai phương pháp này đều được dùng trong văn viết cho đến thập niên 1940 Bungo vẫn hữu ích đối với các sử gia, học giả văn chương, và luật sư (nhiều điều luật của Nhật có từ thời Thế chiến thứ hai vẫn còn được viết bằng bungo, mặc dù hiện đang có những nỗ lực để hiện đại hóa ngôn ngữ này) Kōgo phương pháp được dùng cho

cả nói và viết tiếng Nhật chiếm ưu thế hiện nay, mặc dù ngữ pháp và từ vựng bungo thỉnh

thoảng vẫn được dùng trong tiếng Nhật hiện đại để tăng biểu cảm

Về nguồn gốc, hiện nay việc khẳng định tiếng Nhật thuộc hệ thống nào vẫn nằm trongvòng tranh cãi, cần phải được chứng minh thêm Có nhiều giả thuyết đã được đưa ra, nhưngchưa có giả thuyết nào đủ mạnh để có thể khẳng định điều này

Có giả thuyết cho rằng nó thuộc hệ ngôn ngữ Altai, đặc biệt khi quan sát tiếng Nhật từcuối thời Minh Trị Trong tiếng Nhật cổ (từ vựng Đại Hòa), có thể thấy rằng âm /r/ (âm nước)không đứng ở đầu từ, và một loại nguyên âm điều hòa (không để hai nguyên âm cùng loạiđứng gần nhau để điều hòa cách đọc) đã được sử dụng Tuy nhiên, bản thân những ngôn ngữcho rằng mình thuộc hệ ngôn ngữ Altai cũng cần phải chứng minh thêm về sự tương quan đó,

Trang 2

do đó, đối với đặc trưng rất dễ thấy của tiếng Nhật cổ được đề cập ở bên trên thì tiếng Nhật làngôn ngữ thuộc "kiểu Altai", chứ không hoàn toàn thuộc về hệ đó.

Hệ ngôn ngữ Nam Đảo cũng là một hệ âm vị và từ vựng được cho là có sự tương đồng vớitiếng Nhật, tuy nhiên, những minh chứng được đưa ra để khẳng định về mặt ngôn ngữ thìkhông đủ, có rất nhiều những ví dụ cho giả thiết trên không thể kiểm chứng được Cho nên nói

về mối quan hệ thì có thể nói rằng nó không rõ ràng

Có giả thuyết nói rằng tiếng Nhật có quan hệ với hệ ngôn ngữ Dravidian, nhưng nhữngnhà nghiên cứu nhận thấy mối quan hệ đó không nhiều Shin Ono có giả thuyết cho rằng cácđiểm từ vựng - ngữ pháp của tiếng Nhật có những điểm chung với tiếng Tamil, tuy nhiên đã cónhiều chỉ trích quan điểm này khi xem xét vấn đề theo phương pháp của ngành so sánh ngônngữ học

Nếu chúng ta quan tâm đến mối quan hệ đối với cá nhân từng ngôn ngữ, thì ký hiệu, từvựng v.v…của tiếng Nhật ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tiếng Hán từ xa xưa thông qua Hán tự vàHán ngữ Nhật Bản thuộc về nhóm các nước có truyền thống sử dụng chữ Hán (các nước đồngvăn) mà trung tâm là Trung Quốc Tuy nhiên, cơ sở từ vựng không có sự tương ứng, ngoài rađặc trưng về văn phạm - phát âm thì hoàn toàn khác Trung Quốc, do đó sự liên quan về hệthống là không chính xác

Đối với ngôn ngữ Ainu, mặc dù cấu trúc câu của ngôn ngữ Ainu tương tự như của tiếngNhật (kiểu S-O-V), nhưng văn phạm - hình thái xét theo loại hình thì thuộc về các tổ hợp ngônngữ khác nhau, đồng thời cấu tạo âm vị cũng chứng tỏ tồn tại nhiều khác biệt về hữu thanh -

vô thanh cũng như việc sử dụng âm tiết đóng Sự liên quan tương tự về mặt từ vựng cơ bảncũng đã được chỉ ra nhưng những dẫn chứng thì không đầy đủ Nói chung sự giống nhau vềngôn ngữ thể hiện ở chỗ, có nhiều từ vựng Ainu rất dễ nhận ra là đều được mượn từ tiếngNhật Hiện nay, những tài liệu chứng minh ra sự liên quan với nhau của hai ngôn ngữ mộtcách hệ thống rất thiếu

Đối với ngôn ngữ Triều Tiên, mặc dù có nhiều điểm giống nhau về cấu trúc văn phạm, cơ

sở từ vựng của hai ngôn ngữ khác nhau rất nhiều Về khía cạnh âm vị, mặc dù có những điểmgiống nhau về nguồn gốc cũng như âm nước không đứng ở đầu từ, hay đều dùng một kiểu hòa

Trang 3

hợp nguyên âm, v.v., nhưng cũng như hệ ngôn ngữ Altai được đề cập ở trên, sự tương tựkhông đóng vai trò toàn bộ, âm đóng và phụ âm kép (trong tiếng Triều Tiên thời kỳ giữa) tồntại sự khác nhau lớn so với tiếng Nhật Trong Ngôn ngữ Cao Ly đã biến mất của bán đảo TriềuTiên, cách đếm số cũng như từ vựng được cho là tương tự với tiếng Nhật, nhưng sự thật làhiện nay tiếng Cao Ly là biến mất gần như hoàn toàn, do đó khó có thể trở thành tài liệu kếtluận giả thuyết trên một cách có hệ thống.

Ngoài ra, tiếng Lepcha - tiếng Hebrew cũng đã được đề cập đến, nhưng về mặt so sánhngôn ngữ học nó được xếp vào loại các giả thuyết sai

Ngôn ngữ giống với tiếng Nhật và hệ thống của nó được thấy rõ ràng nhất là ngôn ngữ củanhóm đảo Ryūkyū (thuộc tiểu vương quốc Ryūkyū trước đây) Ngôn ngữ Ryūkyū và tiếngNhật gần gũi một cách dị thường, do đó có khả năng xếp nó thành một phần của tiếng Nhật(phương ngữ Ryūkyū) Trong trường hợp là ngôn ngữ đặc biệt, tiếng Nhật và tiếng Ryūkyūđược xếp chung vào hệ ngôn ngữ Nhật Bản

Tiếng Nhật đựơc viết bằng 4 hệ chữ:

1 Chữ Hán: hay Kan ji (漢字)

2 Chữ mềm: hay Hiragana ( ひらがな)

3 Chữ cứng: hay Katakana ( カ タ カ ナ )

4 Chữ Latinh: hay Romanji (ロ-マン 字)

Mỗi hệ chữ được hình thành trong thời gian và hoàn cảnh khác nhau Mỗi hệ chữ còn lại

có một vai trò riêng và có tần số xuất hiện khác nhau trong văn bản, hầu như chỉ có Hán tự cótần số xuất hiện khá ổn định, vì Hán tự là cơ sở tạo nên chữ viết hiện đại Nhật Bản Bên cạnh

đó, tần số xuất hiện của từng hệ chữ còn phụ thuộc vào chủng loại văn bản Sau đây, chúng ta

sẽ tìm hiểu về nguồn gốc, đặc điểm, chức năng từ vựng, chức năng ngữ pháp của các hệ chữtrên

A HÁN TỰ (KANJI)

Trang 4

I SỰ DU NHẬP CHỮ HÁN VÀO NHẬT BẢN:

Nhật Bản là một trong ba nước điển hình nằm trong khối “các nước Hán hóa” “Khối cácnước Hán hóa” chỉ các quốc gia thuộc châu Á chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa TrungHoa Ảnh hưởng ấy, mở đầu được thông qua chữ Hán và thể hiện rõ nhất là việc dùng chungchữ Hán trong thời gian dài theo cung cách riêng ở mỗi quốc gia Trong ba nước đó, NhậtBản tỏ ra nổi trội hơn và có phong cách riêng

Cho đến nay người ta vẵn chưa đưa ra lời kết luận chính xác về thời điểm bắt đầu giao lưuvăn hóa Trung - Nhật Người ta chỉ biết rằng bên cạnh việc tiếp nhận những tiến bộ về nôngnghiệp trồng lúa nước người Nhật còn du nhập cả những “Thư tịch cổ” của Trung Quốc Từ

đó chữ Hán được du nhập và phát triển hoàn thiện thành một hệ thống chữ viết đặc thù choquốc gia này

Tuy nhiên lại có giả thuyết cho rằng chữ Hán du nhập vào Nhật Bản thông qua con đường

Triều Tiên Chữ Hán ở Nhật được gọi là Kanji (漢字 Hán tự) và được du nhập vào Nhật theocon đường giao lưu buôn bán giữa Nhật và Triều Tiên vào khoảng IV, V Tiếng Nhật cổ đại vốnkhông có chữ viết, nên khi chữ Hán du nhập vào Nhật, người Nhật dùng chữ Hán để viết tiếngnói của họ

Sỡ dĩ Nhật Bản trở thành thành viên xuất sắc trong khối các nước Hán hóa là do quá trìnhhình thành tiếp nhận chữ Hán của Nhật Bản khác với Việt Nam và Triều Tiên Việt Nam là mộtnước bị phương Bắc đô hộ suốt 1000 năm nên chỉ có thể tiếp nhận tiếng Hán một chiều Nhậtkhông bị đô hộ như Việt Nam hay Triều Tiên, hơn nữa đặc tính của người Nhật là sáng tạo, linhhoạt, không tiếp thu nguyên xi, cho nên quá trình tiếp nhận có sự chủ động, biến đổi, chọn lọc,tinh giản, biến các yếu tố ngoại lai thành bản địa

II ĐẶC ĐIỂM HÁN TỰ TRONG NGÔN NGỮ NHẬT:

Dạng chữ đầu tiên người Nhật sáng tạo từ chữ Hán để viết tiếng Nhật là chữ Man-yogana

(萬葉假名 Vạn Diệp Giả Danh) Hệ thống chữ viết này dựa trên chữ Hán và khá phức tạp

Man-yogana được đơn giản hóa thành Hiragana ひ ら が な ( 平 假 名 Bình Giả Danh) và

Trang 5

Katakana カタカナ (片假名 Phiến Giả Danh) Cả hai loại chữ này trải qua nhiều lần chỉnh lý

và hoàn thiện mới trở thành chữ viết ngày nay ở Nhật

Chữ Hán trong tiếng Nhật thường có ít nhất hai cách đọc, cách đọc theo âm Hán cổ, được

gọi là On-yomi (Nhật: 音読 (音讀)và cách đọc theo âm tiếng Nhật được gọi là Kun-yomi (Nhật:

訓読 (訓讀).Trong quá trình phát triển chữ viết cho tiếng Nhật, người Nhật còn mượn chữ Hán

để sáng tạo ra một số chữ (khoảng vài trăm chữ) và mỗi chữ này chỉ có cách đọc theo âm tiếng

Nhật; các chữ này được gọi là Kokuji (Nhật: 国字 (國字) tiếng Nhật gọi là Quốc Tự Quốc Huấn

(國字國訓), nghĩa là "chữ quốc ngữ âm quốc ngữ" Những chữ quốc ngữ này của người Nhật cócách hình thành khá giống chữ Nôm của Việt Nam Tháng 11 năm 1946, Bộ Giáo dục Nhật đềnghị đưa vào giảng dạy 1850 chữ Hán cơ bản trong trường học, và được Quốc hội Nhật thôngqua năm 1947

Một số điển hình về cách biến đổi từ chữ Hán sang Kana

Đến năm 1981 thì lượng chữ Hán thông dụng được điều chỉnh lại gồm khoảng 1945 chữthường dùng, khoảng 300 chữ thông dụng khác dùng để viết tên người Đến năm 2000, các chữHán dùng để viết tên người được điều chỉnh thêm, số lượng tăng lên trên 400 chữ Trong cuộc

Trang 6

sống hằng ngày có khoảng 2000 đến 3000 chữ Hán được sử dụng Các chữ Hán này được lập

thành bảng gọi là Bảng chữ Hán thường dùng (Jyoyo Kanji Hyo, 常用漢字表 Thường Dụng

Hán Tự Biểu) và Bảng chữ Hán dùng viết tên người (Jinmeiyo Kanji Hyo, 人名用漢字表 Nhân

Danh Dụng Hán Tự Biểu)

Hiện nay để đọc được một tờ báo Nhật chúng ta cần biết khoảng 1945 Kanji Đơn vị gốcHán chiếm 60% chữ viết của tiếng Nhật hiện đại Kanji dùng để diễn đạt ý nghĩa cơ bản của từ.Theo sau nó, nhất là sau các động từ và tính từ đuôi I (い) thường có chữ Hiragana theo sau làmchức năng ngữ pháp

Ví dụ: 私はご飯を食べました。彼はまだ食べていません。先、彼は酒をよく飲みました。

Những từ được tô đậm là những Hán tự, diễn đạt ý nghĩa cỏ bản của từ vựng, phần còn lại làHiragana, diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp

III SỰ TÁI DU NHẬP CHỮ HÁN VÀO TRUNG QUỐC:

Tiếng Nhật mượn trong tiếng Hán những chữ Hán đơn lẻ, sau dó dùng chúng để tạo rahàng loạt từ ghép Những từ ghép này dùng để dịch những từ ngoại quốc về đủ mọi lĩnh vực.Sau đó tiếng Hán phải vai mượn trực tiếp chữ Hán.Các nhà từ cựng học Trung Quốc gọinhững từ này là “ Nhật ngữ Hán tự từ” hay gọi là “từ chữ Hán tiếng Nhật” Những từ này đãhòa nhập vào tiếng Hán và trở thành thành viên không thể thiếu của kho từ vựng tiếng Hán

Ví dụ:

Bảo hiểm 保険 ;Bác sĩ 医者 ;Phát minh 発明 , Công dân 公民; Bốicảnh 状況 , Tham quan 観光 , Thành viên 成員 ;Điện thoại 電話; Pháp luật法律

B HIRAGANA và KATAKANA

Trang 7

I HÌNH THÀNH HIRAGANA VÀ KATAKANA:

Khi dùng tiếng Hán để ghi âm tiếng Nhật tất nhiên là có rất nhiều sự bất lợi, do đó cầnphải sửa đổi phù hợp Việc cải tạo hình thể chữ Hán cho phù hợp với ghi chép tiếng Nhật gọi

là Kana Đây là một sang tạo của người Nhật khi sử dụng tiếng Hán làm cơ sở văn tự Nhật

“Ka” có nghĩa là mượn dùng hay lợi dụng, “Na” có thể là danh hiệu.Có thể nói Kana là hệthống văn tự vay mượn những bộ phận hay những nét của của chữ Hán làm kí hiệu để ghi các

âm tiếng Nhật Loại chữ Kana đầu tiên là loại chữ mượn chữ Hán đơn thể để làm kí hiệu, gọi

là “Vạn diệp giả danh”

Để viết chữ thuận tiện hơn, Vạn Diệp giả danh được giản hóa thành Hiragana 平假名(Bình giả danh) và Katakana 片假名 (Phiến giả danh) Ngay tên gọi đã gợi ra ý nghĩa, chữbình 平 (hira) ngụ ý dễ dàng tiện lợi, và chữ phiến 片 (kata) ngụ ý bất toàn Cho nên Phiến giảdanh là Vạn Diệp giả danh chưa hoàn chỉnh Cả hai Hiragana và Katakana đã trải qua nhiềulần chỉnh lý mới được chuẩn mực như hiện nay Trần Triết Xán 陳哲燦 viết rằng: Cát Bị Chân

Bị 吉備真備 tạo Phiến giả danh (Katakana) từ chữ Khải 楷 và nhà sư Không Hải 空海 tạoBình giả danh (Hiragana) từ chữ Thảo 草 Cả hai đều là người Nhật, du học Trung Quốc vàođời Đường (618-907)

Tuy nhiên còn có một thuyết khác về nguồn gốc của Hiragana Suốt thời Bình An 平安(Heian, 794-1185), triều đình và giới quý tộc rất hâm mộ văn chương chữ Hán Một số nữ quýtộc bắt đầu sáng tác thi văn, bao gồm những đoản ca 短歌 (tanka) và các thể loại khác Họkhông thích lối chữ cứng cỏi của Vạn Diệp giả danh 萬葉假名(Manyōgana) vì chữ Hán quáphức tạp Các nhà nho, nhà văn đã dựa vào chữ Hán mà nghĩ ra những chữ viết đơn giản hơn,gọi là Kana Đây là quá trình sáng tạo ra một hứ chữ viết để phiên âm tiếng Nhật giống nhưcách thức hình thành chữ Nôm ở Việt Nam Lối viết này uyển chuyển như chữ Thảo, kiểu chữnày gọi là Nữ thủ 女手(Onnade) để chép các thi văn Nó được xem là tiền thân của Hiragana.Tuy nhiên thời đó, loại chữ này ít được dùng vì nhiều người cho rằng đây là kiểu chữ khôngcứng cáp, chỉ dùng cho phụ nữ Tiếng Hán cổ được xem là dùng cho nam giới, nó được gọi là男手(Nam thủ) Đến năm 905 kiểu chữ này mới được xã hội thừa nhận và phổ biến rộng rãi

Trang 8

Còn Katakana được chế tác vào thế kỷ IX đến thế kỷ X mới thành một hệ ghi âm hoànchỉnh Theo một số tác giả thì sự hình thành hệ chữ này là nhờ thời bấy giờ Nhật có kho tàngphong phú về các loại sách kinh điển Trung Quốc, các cuốn kinh Phật do các nhà sư Nhật Bảnmang về từ Trung Quốc Khác với Hiragana đi sau để biểu thị chức năng ngữ pháp, Katakana

có thể dùng biệt lập Từ cuối thế kỷ XIX, Nhật đã mượn một lượng lớn từ vựng đáng kể của hệẤn- Âu, chủ yếu là tiếng Anh Katakana dược dùng để ghi âm những chữ này

Bên cạnh Hiragana và Katakana còn có Furigana (Chấn giả danh 振假名) tức là các chữ Kana nhỏ xíu đặt sát Kanji để ghi âm đọc của Kanji Kể từ 1947, Quốc Hội Nhật chấp thuận không in kèm furigana bên cạnh Kanji trong các sách vở báo chí dành cho độc giả trung bình trở lên Chỉ in kèm furigana bên cạnh các chữ Kanji hiếm gặp và trong các sách vở báo chí dành cho độc giả bình dân

II HỆ THỐNG CHỮ CÁI HIRAGANA VÀ KATAKANA

1 Hiragana:

Trang 9

Hệ thống chữ cái Hiragana và phiên âm Latinh

Hệ thống chữ cái Hiragana gồm 46 chữ cái Gồm có nguyên âm và phụ âm

a Hệ thống nguyên âm và cách phát âm:

Nguyên âm được thể hiện bằng các ký tự 「あ・い・う・え・お」あ・い・う・え・お」」 Theo âm vần luận,nguyên âm tiếng Nhật có 5 âm được thể hiện theo các ký tự trên, ký hiệu âm tố được viết là:/a/, /i/, /u/, /e/, /o/

Chữ 「あ・い・う・え・お」う」giống như âm tròn môi [u] trong tiếng Việt và một số ngôn ngữ khác, đồng thờicũng là một nguyên âm không tròn môi, nhưng ở phía sau âm môi thì tiến đến âm tròn môi

Theo âm vần luận, chữ hīhī 「あ・い・う・え・お」ひいひい」 (tiếng rên), tồn tại một yếu tố gọi là trường âmbiểu diễn bằng 「あ・い・う・え・お」ー」 hay hàng a 「あ・い・う・え・お」あ」 trong kana (ký hiệu âm tố là /R/) Ở đây, tồn tại một

mora độc đáo độc lập được phát âm bằng phương pháp gọi là "kéo dài nguyên âm trước đó thêm

1 “mora" Giống như những từ tori ( 鳥, "chim") và tōri (通り, con đường), việc có hay không

có trường âm nhiều khi cũng khác nhau về ý nghĩa Tuy nhiên, theo âm thanh thì việc có một âm

Trang 10

cụ thể được gọi là "trường âm" là không có, vì ở phần nửa sau của nguyên âm dài [aː] [iː] [ɯː][eː] [o]ː cũng chính là âm đó.

Đối với những chữ được viết là ei 「あ・い・う・え・お」えい」, ou 「あ・い・う・え・お」お」う」 thì cách phát âm giống như ee

「あ・い・う・え・お」ええ」 hay oo 「あ・い・う・え・お」お」お」」 và nói chung đều đươc phiên âm thành các nguyên âm dài của [eː]

và [oː] (những từ như kei 「あ・い・う・え・お」けい」, kou 「あ・い・う・え・お」こう」 v.v… trường hợp có phụ âm ở đầu hoàn

toàn tương tự) Nói cách khác, eisei (衛星, "vệ tinh") outou (応答, "trả lời") được đọc là 「あ・い・う・え・お」エー

セー」「あ・い・う・え・お」オートー」 Tuy nhiên, ở Kyuushuu và phía Tây Shikoku, phía nam Bán đảo Kii thì ei 「あ・い・う・え・お」えい」 phát âm thành [ei]

Phần cuối của các câu kết thúc bằng desu 「あ・い・う・え・お」です」」 và masu「あ・い・う・え・お」ます」」, biến thành vô

thanh và, có trường hợp nghe như [des] và [mas] (tùy thuộc vào từng phương ngữ và từng

cá nhân) Hơn nữa, trong trường hợp nguyên âm i 「あ・い・う・え・お」い」, u 「あ・い・う・え・お」う」 nằm giữa phụ âm vô thanh cũng biến thành vô thanh và thanh đới không rung Ví dụ như, Kikuchi trong Kikuchi Kan (菊池寛) và kuchikiki trong kuchikiki kōi (口利き行為き行為行為, cử chỉ phát ngôn) phần nguyên

âm thành nguyên âm vô thanh

Nguyên âm đứng phía trước 「あ・い・う・え・お」ん」 có xu hướng trở thành âm mũi Ngoài ra, 「あ・い・う・え・お」ん」 đứngphía trước nguyên âm thì trở thành nguyên âm mũi

b Hệ thống phụ âm

Phụ âm phân biệt theo âm vần luận, có các phụ âm thuộc các hàng 「あ・い・う・え・お」か(ka)・さ(sa)・た(ta)・な(na)・は(ha)・ま(ma)・や(ya)・ら(ra)・わ(wa)」, phụ âm kêu thuộc các hàng 「あ・い・う・え・お」が(ga)・ざ(za)・だ(da)・ば(ba)」, phụ âm nửa kêu thuộc hàng 「あ・い・う・え・お」ぱ(pa)」 Ký hiệu âm tố nhưsau:

 /k/, /s/, /t/, /h/ (âm điếc)

 /g/, /z/, /d/, /b/ (âm kêu)

 /p/ (âm nửa kêu)

Trang 11

 /n/, /m/, /r/

 /j/, /w/ (thường gọi là bán nguyên âm)

Mặt khác, theo âm thanh học, thì hệ thống phụ âm có rất nhiều khía cạnh phức tạp Các phụ

âm được dùng chủ yếu gồm có:

Âm đôi môi

Âm chân răng

Âm quặt lưỡi

Âm chân răng sau

Âm vòm

Âm vòm mềm

Âm lưỡi nhỏ

Âm họng

và cuối cùng là hàng pa 「あ・い・う・え・お」ぱ」 phát âm là [p].

Phụ âm hàng ra 「あ・い・う・え・お」ら」 khi đứng ở đầu từ thì phát âm như [d], thay vì phát âm như âmbật nhẹ khó đọc Cũng có người phát âm gần giống như [l] của tiếng Việt Không có ký hiệu âmthanh thích hợp nhưng cũng có khi được dùng thay thế bằng âm bật uốn lưỡi kêu [ɖ] Mặt khác,

Trang 12

âm ra cùng với 「あ・い・う・え・お」っ」」 như 「あ・い・う・え・お」あらっ」?」」, xuất hiện ở giữa hoặc cuối từ sẽ trở thành âm bậtlưỡi [ɾ] hoặc [ɽ].

Phụ âm hàng wa 「あ・い・う・え・お」わ」 có người nói dùng cách phát âm tròn môi [w], nhưng đa sốdùng âm không tròn môi [ɰ] (khi tách ra đọc từng âm thì tiếng Nhật lại đọc là [w]) Đối vớicác âm mượn 「あ・い・う・え・お」ウィ(vi)」「あ・い・う・え・お」ウェ(ve)」「あ・い・う・え・お」ウォ(vo)」 cũng phát âm y hệt nhưng cũng cónhiều người phát âm là 「あ・い・う・え・お」ウイ(ui)」「あ・い・う・え・お」ウエ(ue)」「あ・い・う・え・お」ウオ(uo)」

Phụ âm hàng ga 「あ・い・う・え・お」が」 khi xuất hiện ở đầu từ thì dùng [g], nhưng ở giữa từ thì phổ biến cách

dùng [ŋ] (âm mũi hàng ga, gọi là âm kêu mũi) Ngày nay, việc dùng âm [ŋ] đang dần biến mất

Phụ âm hàng za 「あ・い・う・え・お」ざ」 khi đứng ở đầu từ và sau 「あ・い・う・え・お」ん」 thì sử dụng âm tắc xát (âm của [ʣ]phối hợp âm bật và âm xát) nhưng ở giữa từ thì thường sử dụng âm xát (như [z]) Cũng có

người luôn sử dụng âm tắc xát nhưng ví dụ như shujutsu (手術, "phẫu thuật") sẽ rất khó và đa số

sẽ dùng âm xát Ngoài ra, âm 「あ・い・う・え・お」ぢ」」 và 「あ・い・う・え・お」づ」」 của hàng da 「あ・い・う・え・お」だ」, ngoại trừ một vài phươngngữ, luôn gây cho ta cảm giác đồng âm với 「あ・い・う・え・お」じ」「ず」」「あ・い・う・え・お」ず」」 của hàng za, phương pháp phát âm

của chúng giống nhau

Phụ âm theo sau nguyên âm i 「あ・い・う・え・お」い」 cho ra âm sắc đặc biệt Một vài phụ âm biến thành âm

vòm, đầu lưỡi gần với vòm miệng cứng Ví dụ như, phụ âm của hàng ka 「あ・い・う・え・お」か」 nói chung phát

âm là [k] nhưng chỉ có ki 「あ・い・う・え・お」き行為」 xảy ra hiện tượng như trên, và được phát âm là [kʲ] Nếu sau

các phụ âm vòm hóa thuộc cột i như trên là các nguyên âm a 「あ・い・う・え・お」あ」 u 「あ・い・う・え・お」う」 o 「あ・い・う・え・お」お」」 thì

theo phép chính tả các chữ này sẽ biến thành 「あ・い・う・え・お」ゃ」「ゅ」「ょ」」「あ・い・う・え・お」ゅ」「ょ」」「あ・い・う・え・お」ょ」」 trong bảng kana và được

viết như 「あ・い・う・え・お」き行為ゃ」「ゅ」「ょ」」「あ・い・う・え・お」き行為ゅ」「ょ」」「あ・い・う・え・お」き行為ょ」」,「あ・い・う・え・お」みゃ」「ゅ」「ょ」」「あ・い・う・え・お」みゅ」「ょ」」「あ・い・う・え・お」みょ」」 Nếu sau nó là nguyên âm

「あ・い・う・え・お」え」 thì viết thành 「あ・い・う・え・お」ぇ」」 trong bảng kana ví dụ như 「あ・い・う・え・お」き行為ぇ」」, nhưng với những từ mượn

thì không có áp dụng theo cách trên

Phụ âm trên cột âm i 「あ・い・う・え・お」い」 của các hàng sa 「あ・い・う・え・お」さ」, za 「あ・い・う・え・お」ざ」, ta 「あ・い・う・え・お」た」, ha 「あ・い・う・え・お」は」 cũng có

âm sắc đặc biệt nhưng lúc này không phải chỉ vòm hóa, mà điểm điều âm đã di chuyển đến vòmcứng Phụ âm 「あ・い・う・え・お」し」 và 「あ・い・う・え・お」ち」」 phát âm lần lượt là [ɕ] và [ʨ] Các phụ âm thuộc hàng tương

Ngày đăng: 12/07/2014, 23:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng biểu thị cách thức chọn lọc biến đổi tinh giản chữ Hán thành hệ chữ cái Katakana - Vài nét về hệ thống chữ viết tiếng Nhật pdf
Bảng bi ểu thị cách thức chọn lọc biến đổi tinh giản chữ Hán thành hệ chữ cái Katakana (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w