1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động kinh doanh tín dụng và rủi ro tín dụng ở các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt nam.DOC

76 913 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng hoạt động kinh doanh tín dụng và rủi ro tín dụng ở các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tín dụng ngân hàng
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 1999
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 312 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng hoạt động kinh doanh tín dụng và rủi ro tín dụng ở các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt nam

Trang 1

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài :

Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt nam trong các nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII và lần thứ VIII, nền kinh tế nớc ta đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng Xã hội chủ nghĩa Quá trình vận động này

đòi hỏi các quan hệ kinh tế - xã hội chuyển biến và thay đổi thờng xuyên Lĩnh vực tiền tệ tín dụng Ngân hàng động kinh doanh tiền tệ là loại hình hoạt động mang tính năng động và rủi ro cao - cần đợc cải biến, đổi mới nhằm đáp ứng

đợc những yêu cầu khắt khe của thị trờng.

Hơn nữa, yêu cầu đặt ra đối với ngân hàng là không những phải phát triển không ngừng để thích nghi và tồn tại mà còn phải giữ vai trò tiên phong trong việc định hớng cho những hoạt động của các doanh nghiệp Do vậy, các ngân hàng càng cần phải năng động hơn, nhậy cảm hơn và tỉnh táo hơn để có thể thực hiện tốt vai trò của mình, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế.

Việt nam mới bớc vào kinh tế thị trờng nên yêu cầu này càng trở nên cấp thiết Thực tế cho thấy rằng, trong những năm vừa qua, đặc biệt là năm

1998 và 1999, hàng loạt các vụ việc xảy ra liên quan đến hoạt động tín dụng giữa các ngân hàng thơng mại và các tổ chức kinh tế trong nớc đã làm ảnh h- ởng không ít tới nền kinh tế nói chung và bớc phát triển của từng doanh nghiệp, từng ngân hàng nói riêng

Ngân hàng thơng mại cổ phần là mô hình mới trong hệ thốngngân hàng thơng mại Việt nam đợc thành lập dới hình thức công ty cổ phần Hiện nay hệ thống này vừa vận hành để phát triển, vừa rút kinh nghiệm để định hình Là loại hình non trẻ, lại hoạt động trong môi trờng kinh tế thị trờng cha ổn định,

do vậy, tình hình đặt ra đối với các ngân hàng Thơng mại Cổ phần cũng không nằm ngoài bối cảnh trên Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, với đặc tính riêng có của mình, các NHTMCP đã có những phát huy nhất định đóng góp vào sự nghiệp xây dựng chung của đất nớc, tuy nhiên, bên cạnh những mặt đợc, đã bộc lộ khá nhiều hạn chế

Do vậy, việc nghiên cứu Hoạt động kinh doanh tín dụng và các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần trong

điều kiện kinh tế hiện nay là cần thiết.

2.Mục đích nghiên cứu của đề tài :

Trang 2

- Nghiên cứu và đánh giá hoạt động kinh doanh tín dụng, rủi ro trong kinh doanh tín dụng của Ngân hàng Thơng mại Cổ phần trong nền kinh tế thị trờng.

-Một số giải pháp và kiến nghị để hạn chế rủi ro tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của khối các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần.

3 Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu :

Đề tài nghiên cứu chủ yếu về hoạt động tín dụng và rủi ro của nó tại các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần Nghiên cứu thực trạng rủi ro tín dụng ở một số Ngân hàng TMCP tại Hà nội : Ngân hàng TMCP Châu á Thái Bình Dơng, Ngân hàng TMCP Kỹ thơng, Ngân hàng TMCP Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần có Hội sở tại Hà nội.

6 Nội dung và bố cục của đề tài :

-Lời nói đầu.

- Chơng 1 : Hoạt động kinh doanh của NHTM và vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụngcủa NHTM.

- Chơng 2 : Thực trạng hoạt động kinh doanh tín dụng và rủi ro tín dụng ở các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần Việt nam.

Trang 3

- Chơng 3 : Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh tín dụng tại các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần.

-Kết luận :

- Danh mục tài liệu tham khảo.

- Ngoài ra đề tài còn có một số biểu bảng liên quan.

Trang 4

Chơng I

hoạt động kinh doanh của NHTM và vấn đề rủi

ro trong hoạt động tín dụng của NHTM

I - Ngân hàng thơng mại và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trờng.

1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng thơng mại:

Phơng thức sản xuất T bản chủ nghĩa ra đời đặt ra những yêu cầu rất lớn

đối với hoạt động tiền tệ , đòi hỏi phải có các tổ chức chuyên hoạt động trênlĩnh vực tiền tệ Vào thế kỷ XV, ngân hàng ra đời nhằm thực hiện các chứcnăng phát hành giấy bạc vào lu thông, nhận tiền gửi của khách hàng, cho vay,

đổi tiền, chuyển ngân và các dịch vụ tiền tệ khác Việc thành lập một số ngânhàng hớng vào phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đãthúc đẩy sự phát triển thêm một bớc nghề ngân hàng ở các nớc ý, Hà lan,

Đức

Cùng với sự phát triển và thắng thế của chế độ TBCN, hệ thống ngânhàng đã có những phát triển vợt bậc vào cuối thế kỷ XVII Lúc này, các tổchức tài chính ngoài chức năng phát hành tiền còn thực hiện việc đi vay đểcho vay đồng thời với các nghiệp vụ hối đoái, thanh toán không dùng tiềnmặt, phát hành các công cụ lu thông tín dụng Về mặt bản chất, hoạt động củacác ngân hàng trong giai đoạn này cũng đã thực hiện nghiệp vụ của một ngân

hàng thơng mại Nhng cha xuất hiện thuật ngữ Ngân hàng thơng mại Lúc

này, ngân hàng vừa làm chức năng phát hành tiền, vừa làm chức năng kinhdoanh Đây là giai đoạn chủ nghĩa t bản tự do cạnh tranh nên ngân hàng hoạt

động cũng hoàn toàn mang tính độc lập, cha có tính hệ thống và phụ thuộcvào nhau

Cuối thế kỷ XIX, sản xuất và lu thông hàng hoá phát triển kéo theo sựphát triển về quy mô và phạm vi nghiệp vụ của các ngân hàng Song trong luthông có quá nhiều loại tiền do nhiều ngân hàng phát hành làm cản trở việc luthông hàng hoá Do vậy Nhà nớc đã phải ban hành đạo luật chỉ cho một sốngân hàng đợc phát hành tiền Mỗi quốc gia chỉ có một hoặc một số ngânhàng đợc phát hành tiền Đó là các ngân hàng có tiềm lực và quy mô lớn

Những ngân hàng không đợc phép phát hành tiền là các Ngân hàng

th-ơng mại

Thời kỳ này, các ngân hàng phát triển và gặt hái đợc những kết quả tolớn đến mức C Mác đã cho rằng Ngân hàng là “tạo phẩm tuyệt tác nhất vàhoàn thiện nhất “ trong số các tạo phẩm của nền kinh tế thị trờng

Trang 5

Cuối thế kỷ XIX, hầu hết các nớc Châu Âu đều ban hành đạo luật chỉcho phép một ngân hàng duy nhất đợc phát hành tiền Nh vậy, lúc này hệthống ngân hàng của nền kinh tế thị trờng đã bắt đầu hình thành hai cấp làngân hàng phát hành và ngân hàng trung gian.

Vào đầu thế kỷ XX, vấn đề đặt ra là các ngân hàng phát hành thuộcquyền sở hữu t nhân, do đó sự điều tiết của nhà nóc đối với các hoạt động kinh

tế vĩ mô trong tình hình kinh tế phát triển đã gặp không ít khó khăn Tiếp đếncuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã buộc các nớc phải có biện pháp hữuhiệu để duy trì việc phát triển kinh tế, do đó việc tách chức năng của ngânhàng đợc thể hiện ở mức độ cao hơn: hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp:

-Ngân hàng Trung ơng vừa làm chức năng phát hành vừa làm chức năngquản lý nhà nớc về tiền tệ , tín dụng ngân hàng

- Ngân hàng kinh doanh (ngân hàng thơng mại) : Là trung gian tài chính có giấy kinh doanh của chính phủ để cho vay tiền và mở các khoản tiềngửi và chuyên về việc đa ngời cho vay và ngời đi vay gặp nhau là trung giantài chính, thực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng, có vaitrò quan trọng trong việc tập trung, thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tvào những đơn vị kinh tế làm ăn có lãi thuộc mọi thành phần kinh tế, thúc đẩytăng trởng kinh tế

ở Việt nam, từ ngày thành lập cho đến năm 1988, hệ thống ngân hàngmột cấp vừa thực hiện chức năng quản lý về tiền tệ, tín dụng, ngoại hối vừakiêm nhiệm hoạt động kinh doanh của các ngân hàng chuyên nghiệp Đặc trngcủa hệ thống ngân hàng lúc này là thực hiện mệnh lệnh của nền kinh tế tậptrung, nặng về bao cấp, hiệu quả thấp, không tạo động lực cho phát triển kinh

tế, thậm chí chất lợng tín dụng kém vì mọi rủi ro trong hoạt động kinh doanhtrong hoạt động ngân hàng đều đợc ngân sách nhà nớc bù đắp; nền kinh tế bịsuy yếu

Đứng trớc tình hình đó, Đảng chủ trơng chuyển mạnh hoạt động

ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh Xã hội chủ nghĩa và

“Bên cạnh nhiệm vụ quản lý lu thông tiền tệ của ngân hàng nhà nớc,cần xây dựng hệ thống ngân hàng chuyên nghiệp kinh doanh tín dụng và dịch

vụ ngân hàng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế “

Đồng thời kiện toàn Ngân hàng Nhà nớc làm nhiệm vụ phát hành vàquản lý nhà nớc về tiền tệ, tín dụng Phát triển các ngân hàng chuyên nghiệp

là tổ chức kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng

Trang 6

Tháng 3.1988, Nghị định 53/CP đợc ban hành với nội dung cơ bản

“Chuyển hẳn hệ thống Ngân hàng sang hoạt động kinh doanh ”

Tháng 9.1990, hai Pháp lệnh Ngân hàng đã đợc thông qua và công bố.Trên cơ sở đó, hệ thống NHTM đợc hình thành bao gồm các Ngân hàng thơngmại Quốc doanh, Ngân hàngThơng mại Cổ phần, các tổ chức tài chính khác,

là những pháp nhân kinh doanh tiền tệ, cung ứng dịch vụ ngân hàng cho cácdoanh nghiệp và cá nhân, thông qua đó tìm kiếm lợi nhuận

Đến năm 1999, hệ thống NH Việt nam đã phát triển đến giai đoạn cao

về số lợng, cơ cấu và loại hình: - 6 NHTM quốc doanh với 1.200 chi nhánhvới nguồn vốn tự có do Nhà nớc cấp

-4 ngân hàng liên doanh với nớc ngoài,-Hơn 800 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở,-47 NHTM cổ phần gồm 27 NHTMCP đô thị và 20 NHTMCPnông thôn , 5 công ty tài chính và cho thuê tài chính

Hiện nay các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần do chủ trơng đa dạng hoá các thành phần kinh tế của Đảng, với đặc điểm là sở hữu của nhiều ngời, hoạt

động kinh doanh với chức năng nhiệm vụ nh một Ngân hàng Thơng mại, đã và

đang chứng tỏ sự tồn tại cần thiết khách quan của mình trong nền kinh tế Việt nam.

Tuy nhiên, trên thực tế, các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần nớc ta cònrất nhỏ nhoi về tầm cỡ, về năng lực tài chính, khả năng kinh doanh và các dịch

vụ ngân hàng còn nghèo nàn Nguồn vốn tự có của các Ngân hàng TMCP chủyếu là do các cổ đông là thể nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty

cổ phần đóng góp, tỷ trọng vốn đóng góp của các cổ đông quốc doanh cònrất thấp do vậy khả năng cạnh tranh kém Đây cũng là một tất yếu khách quan

do thời gian hoạt động còn quá ngắn, là loại hình kinh doanh mới, non trẻ, vừavận hành để phát triển vừa rút kinh nghiệm để định hình nên không tránh khỏi

có những tồn tại và khiếm khuyết

Nh vậy, các Ngân hàng trung gian chuyển sang cơ chế mới theo xu ớng ngày càng đa thành phần, kết hợp chuyên môn hoá và đa năng hoá, pháttriển cả về số lợng và cơ cấu, nâng cao sự nhậy cảm cạnh tranh trên thị trờng.Môi trờng hoạt động ngân hàng hiện nay không còn ở những bớc sơ khai củanền kinh tế thị trờng, nó đã và đang thay đổi một cách căn bản và có một vaitrò rất to lớn trong quá trình phát triển kinh tế Hơn nữa, Ngân hàng phải làngời đi trớc để tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, phục vụ yêu cầu của CNH

h-và HĐH đất nớc

Trang 7

Nh V.I.Lênin đã nói ” Không có những ngân hàng lớn thì sẽ không thểthực hiện đợc CNXH ” và hệ thống ngân hàng ” là cái gì giống bộ xơngcủa xã hội XHCN ”

2 Định nghĩa NHTM :

Để đa ra đợc một định nghĩa về NHTM, ngời ta thờng phải dựa vào tínhchất và mục đích hoạt động của nó trên thị trờng tài chính, và đôi khi còn kếthợp tính chất, mục đích và đối tợng hoạt động

Luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa : “Ngân hàng là những

xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thờng xuyên nhận của công chúng dới hìnhthức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào cácnghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính” Hay nh Luật của Ngânhàng ấn Độ 1950, đợc bổ sung 1959 đã nêu : “Ngân hàng là cơ sở nhận cáckhoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu t ” Những định nghĩa đại loại

nh vậy là căn cứ vào mục đích, tính chất hoạt động

Một loạt định nghĩa khác lại căn cứ vào sự kết hợp với đối tợng hoạt

động Ví dụ nh Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930 địng nghĩa : “những nhàbăng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hànhnghề thơng mại và các giá trị địa ốc, các phơng tiện tín dụng và hối phiếu,thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm ”

Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhng phân tích, khai thác nộidung của các định nghĩa đó, ngời ta dễ dàng nhận thấy các NHTM đều cóchung một tính chất là việc nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳhạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinhdoanh khác của chính Ngân hàng

ở Việt Nam, trong bớc chuyển đổi sang kinh tế thị trờng có sự quản lýcủa Nhà nớc, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo

định hớng XHCN Mọi ngời đợc tự do kinh doanh theo pháp luật, đợc bảo hộquyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đankết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng Các doanh nghiệp,không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranhbình đẳng trớc pháp luật

Theo hớng đó, nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra nhữngtiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổchức tín dụng khác Cho nên để tăng cờng quản lý, hớng dẫn hoạt động củacác ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triểnnền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân

Trang 8

Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có nêu: “ Tổ chức tíndụng là doanh nghiệp đợc thành lập theo quy định của luật này và các quy

định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngânhàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứngcác dịch vụ thanh toán”

Từ định nghĩa chung đó, căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt độngLuật còn chỉ rõ các loại hình ngân hàng gồm : Ngân hàng thơng mại, Ngânhàng phát triển, Ngân hàng đầu t, Ngân hàng chính sách và các loại hình ngânhàng khác

Ngày nay, trong thế giới hiện đại, hoạt động của các tổ chức tài chính làmôi giới trên thị trờng tài chính ngày càng phát triển về số lợng và quy môhoạt động, đa dạng và phong phú, hoạt động đan xen lẫn nhau Ngời ta phânbiệt ngân hàng thơng mại với các tổ chức môi giới tài chính khác là ở chỗngân hàng thơng mại là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, chủ yếu là tiền gửikhông kỳ hạn, chính từ hoạt động đó đã tạo cơ hội cho ngân hàng thơng mại

có thể làm tăng bội số tiền gửi của khách hàng trong hệ thống ngân hàng củamình Đó là đặc trng cơ bản để phân biệt ngân hàng thơng mại với các ngânhàng và các tổ chức tín dụng khác

3 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trờng :

Nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế mà mọi hoạt động kinh tế trong đó

đều do thị trờng điều tiết theo quy luật cung cầu, vận động theo quy luật kinh

tế khách quan Kinh tế thị trờng đợc vận hành và điều chỉnh bởi một hệthống thị trờng phức tạp và các mối quan hệ kinh tế tinh vi trong đó các thànhphần kinh tế đều đợc tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Do vậy cácchủ thể kinh tế phải biết vận dụng sáng tạo, tạo cho mình lợi thế trong kinhdoanh để tồn tại và phát triển

Hoạt động của quy luật cung cầu trong nền kinh tế thị trờng luôn tạo ra

sự cạnh tranh mạnh mẽ, làm động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Sự pháttriển của nền kinh tế thị trờng làm nảy sinh nhiều loại ngân hàng Mỗi loạingân hàng lại thực hiện những chức năng nhất định khác nhau

Qua quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thơng mại ta thấyrằng NHTM ra đời là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trờng và trởlại chính NHTM lại đóng góp một vai trò to lớn trong nền kinh tế đầy tínhphức tạp này:

- Giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về vốn, giảm chi phí lu thông,nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bằng cách tập trung các khoản vốn nhỏ phân

Trang 9

tán, thành lợng vốn lớn tạo điều kiện cho việc áp dụng kỹ thuật hiện đại, đổimới công nghệ, thúc đẩy nền kinh tế tăng trởng thông qua việc đầu t vốn;

- Thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế : chuyển vốn từ những lĩnh vựckém hiệu quả vào những lĩnh vực có hiệu quả cao hơn sao cho phù hợp vớiyêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thị trờng;

- Ngân hàng thơng mại là công cụ để nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh

tế : bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng thơng mạitrong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng khối lợng tiền cung ứngtrong lu thông Thông qua việc cấp các khoản tín dụng cho các ngành trongnền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phânchia vốn của thị trờng, điều tiết chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò

điều tiết gián tiếp vĩ mô : “Nhà nớc điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thịtrờng”

-Ngoài ra, với các dịch vụ phục vụ việc lu thông tiền tệ, hàng hoá giữacác quốc gia, NHTM đã không ngừng thúc đẩy các mối quan hệ quốc tế giữacác nhà sản xuất kinh doanh trong nớc và ngoài nớc NHTM là cầu nối nềntài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế

II.Hoạt động kinh doanh của NHTM:

1 Huy động vốn:

Các NHTM thực hiện một dịch vụ rất quan trọng đối với tất cả các khuvực của nền kinh tế bằng cách cung ứng những điều kiện thuận lợi và nhữngphơng thức dễ dàng để nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tíndụng khác dới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và cácloại tiền gửi khác Các tổ chức, cá nhân, các TCTD khác đợc nhận một khoảntiền thởng dới danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửi, với mức độ an toàn vàhình thức thanh khoản cao

Ngoài ra, các NHTM còn huy động vốn dới dạng phát hành các giấy tờ

có giá, vay vốn ngắn hạn của NHNN dới hình thức tái cấp vốn, vay của cácTCTD khác Số tiền huy động đợc thông qua hình thức tiền gửi và phát hànhgiấy tờ có giá luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp vàcá nhân

Trang 10

vay và lãi suất huy động (lãi suất tiền gửi ) sau khi trừ đi các chi phí Họ coi

đó là chức năng quan trọng nhất của mình

C.Mác đã viết “ cái mà ngời chủ ngân hàng kinh doanh là bản thân tíndụng “

Ngời cũng đã viết “Bản thân chế độ tín dụng, một mặt là một hình tháinội tại của phơng thức sản xuất TBCN, mặt khác là một động lực thúc đẩy ph-

ơng thức sản xuất TBCN tiến lên hình thái cao hơn, tột cùng có thể của nó “và

“ Chế độ tín dụng ngân hàng đẩy nhanh tốc độ phát triển của lực lợngsản xuất vật chất và sự hình thành thị trờng thế giới; đẩy hai yếu tố đó pháttriển đến một mức độ cao nhất định, với t cách là cơ sở vật chất của một hìnhthái sản xuất mới “

Tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế,

nó đã tài trợ cho các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, thơng nghiệp, dịch

vụ, xuất nhập khẩu của đất nớc; đã cung cấp những sản phẩm đờng vòngcho nhu cầu dân sinh và phát triển đất nớc thông qua quá trình từ sản xuất đến

lu thông

Nh vậy, trong việc tạo ra khả năng tín dụng, các ngân hàng thơng mại

đã và đang thực hiện chức năng xã hội đặc biệt của mình, làm cho sản phẩmxã hội tăng lên, vốn đầu t đợc mở rộng và từ đó, đời sống dân chúng đợc cảithiện

Sở dĩ tín dụng ngân hàng có thể đóng đợc vai trò quan trọng của mình

là do nó đợc hình thành và phát triển nh một quy luật tất yếu khách quan của nền kinh tế

Hoạt động tín dụng là một nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa quan trọng,quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng, song nó khôngchỉ đơn giản và giới hạn ảnh hởng trong phạm vi một ngân hàng, một ngành,một địa phơng một thời điểm hay một giai đoạn mà còn ảnh hởng tới chất l-ợng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội, ảnh hởng tới bớc tiến của cả mộtnền kinh tế, của một phơng thức sản xuất, của một giai đoạn phát triển xã hội,của trình độ hoà nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới hiện đại

Nhận thức đầy đủ đúng đắn vai trò của tín dụng đòi hỏi con ngời sửdụng nó phải biết tôn trọng, đối xử với nó nh một khoa học kinh tế thực sự.Cho nên dù ở bất cứ một thời kỳ nào, bối cảnh nào thì yêu cầu cơ bản của tín

dụng ngân hàng vẫn phải là Hiện thực, Khả thi và Hiệu quả Trải qua nhiều

phơng thức sản xuất khác nhau các nhà kinh tế học đã đúc kết Hoạt động Tín

Trang 11

dụng - với đúng nghĩa nh C.Mác đã chỉ ra - phải tuân theo các nguyên tắc

căn bản chung nhất:

-Vốn vay phải đợc sử dụng đúng mục đích có hiệu quả;

-Vốn vay phải đợc đảm bảo bằng giá trị vật t hàng hoá tơng đơng;

-Vốn vay phải đợc hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn cam kết

Ba nguyên tắc tín dụng trên đây hình thành nh một quy luật phát triểnnội tại của hoạt động tín dụng, là quy định bất khả vi phạm, là mối quan hệkhông thể tách rời trong kinh doanh tín dụng Thực tế cho thấy rằng một khichỉ một trong ba nguyên tắc bị coi nhẹ thì sớm muộn cũng dẫn đến quan hệtín dụng bị phá vỡ , tín dụng sẽ mất dần đi vai trò và tác dụng của mình và trởthành vật cản kìm hãm hoặc đẩy lùi sự phát triển của nền kinh tế

Cho nên, khi nói đến vai trò “bà đỡ “ của tín dụng ngân hàng đối vớitiến trình phát triển kinh tế là nói đến loại hình tín dụng đúng nghĩa, tuân thủnghiêm ngặt cả ba nguyên tắc tín dụng trên đây và có chất lợng cao Chất lợngcủa tín dụng không phải là một khái niệm mơ hồ, trừu tợng Nó đợc thể hiệnthông qua kết quả của quá trình tuân thủ ba nguyên tắc này và cuối cùng chấtlợng tín dụng đợc phản ánh đúng nh vai trò quan trọng của tín dụng đã đợc đềcập ở trên, vào sự phát đạt của từng tổ chức kinh tế trong xã hội nói riêng, vàotốc độ tăng trởng của nền kinh tế và vào tiến bộ xã hội trong từng thời kỳ nóichung

3 Các dịch vụ ngân hàng khác :

Dịch vụ thanh toán :

Việc đa ra một cơ chế thanh toán, hay nói một cách khác, sự vận độngvốn là một nghiệp vụ quan trọng do các NHTM thực hiện thông qua việc : mởtài khoản; cung ứng các phơng tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toántrong nớc cho khách hàng; thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ; dịch vụngân quỹ , thông qua mối quan hệ giữa ngân hàng nớc này là đại lý chongân hàng nớc khác với công nghệ ngân hàng hiện đại đã làm cho quá trìnhthanh toán quốc tế diễn ra nhanh chóng và thuận lợi

Ngoài ra, các NHTM còn:

-Thực hiện việc góp vốn mua cổ phần của các TCTD khác hoặc của cácdoanh nghiệp từ nguồn vốn điều lệ và quỹ dự trữ của mình

- Kinh doanh ngoại hối và vàng

- Uỷ thác và nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đếnhoạt động ngân hàng; kinh doanh, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ t vấn

Trang 12

tài chính tiền tệ cho khách hàng, dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá,cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác

Qua tìm hiểu chức năng nghiệp vụ và quá trình thực hiện nghiệp vụ củaNHTM, ta thấy rõ vai trò trung gian của ngân hàng và mối quan hệ tách biệtgiữa ngời cho vay tiền và ngời đi vay tiền: Khi Ngân hàng phát ra một khoảntiền vay, số vốn đó nằm ngoài tầm kiểm soát của Ngân hàng, nên sự vận động

của nó nh thế nào Ngân hàng rất khó theo dõi Khả năng rủi ro chính là ở

đây Xét về mặt chủ quan, việc chọn lựa khách hàng cho vay là rất quan trọng

đối với Ngân hàng vì nếu tìm hiểu không kỹ lỡng về khách hàng thì Ngânhàng có thể chuốc lấy tai hoạ cho mình khi những đồng tiền ra đi mà khôngtrở về Còn về mặt khách quan, mọi rủi ro đối với khách hàng trong kinhdoanh đều là rủi ro của Ngân hàng, bởi vốn kinh doanh của khách hàng là mộtphần vốn vay từ Ngân hàng Trong khi đó, nguồn vốn để Ngân hàng đem đicho vay chủ yếu lấy từ tiền huy động đợc, tức là phần lớn số tiền để cho vaykhông thuộc sở hữu của Ngân hàng Ngân hàng phải có trách nhiệm bảo quản,gìn giữ và làm sinh lợi số tiền huy động đó Vì vậy NHTM sẽ phải gánh chịurủi ro từ nhiều phía: rủi ro từ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc cáccá nhân đi vay, rủi ro từ phía ngời gửi tiền và rủi ro từ phía các ngân hàng th-

ơng mại khác Đó là còn cha kể đến những rủi ro riêng có khác của hoạt độngkinh doanh ngân hàng

III Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng:

1 Rủi ro là gì?

Trong nền kinh tế thị trờng, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp

đôi Kinh tế thị trờng làm đa dạng hoá các thành phần kinh tế, bình đẳng hoáhoạt động của các thành phần này và thúc đẩy cạnh tranh lẫn nhau

Rủi ro - tuy là ”sự bất trắc gây ra mất mát thiệt hại “ - “ sự bất trắc cụthể liên quan đến một biến cố không mong đợi “

- song lại là hiện tợng tất yếu trong cơ chế thị trờng, trong quátrình cạnh tranh Rủi ro xuất hiện ở những điểm yếu, kém hiệu quả, mất cân

đối trong phát triển kinh tế Rủi ro vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả củanhững hoạt động kinh tế không có hiệu quả Nó tạo thức ăn, nguyên liệu choquá trình đào thải tự nhiên các doanh nghiệp yếu kém, thúc đẩy sự chấn chỉnhthích nghi của các doanh nghiệp, tạo xu hớng phát triển ổn định và có hiệuquả cho nền kinh tế

Trang 13

Trong điều kiện kinh tế thị trờng, hoạt động kinh doanh của cácNHTM cũng không nằm ngoài sự tác động trên Thậm chí ngân hàng phảiluôn ý thức đợc rằng hầu nh không có loại nghiệp vụ nào, không có loại dịch

vụ nào của ngân hàng là không có rủi ro

Hơn nữa, khác với các doanh nghiệp khác, NHTM ngoài sự cạnh tranhvới nhau trên hoạt động nghiệp vụ ngân hàng thuần tuý còn cạnh tranh vớinhau trên cơ sở các mối quan hệ với khách hàng của mình Vì vậy, khả năngrủi ro của ngân hàng trong kinh doanh tiền tệ là khả năng rủi ro nhân đôi

2 Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

“ Kinh doanh của Ngân hàng là một nghề lắm rủi ro “

Qua thống kê, các rủi ro của NHTM chủ yếu tập trung vào những dạng sau: 2.1 Rủi ro tín dụng : Rủi ro tín dụng là “ lỗ tiềm tàng vốn có đợc tạo ra khicấp tín dụng cho một khách hàng “

Đây là loại rủi ro lớn nhất và thờng xuyên xảy ra trong hoạt động kinhdoanh của ngân hàng Vì vậy, “Việc đánh giá rủi ro này là trách nhiệm chínhcủa nghề ngân hàng “ Rủi ro trong tín dụng xảy ra khi bên đi vay, trong mộtgiao dịch, không thực hiện đợc việc thanh toán tiền vay theo thời hạn và điềukiện trong hợp đồng làm cho ngời cho vay phải gánh chịu tổn thất tài chính

Rủi ro tín dụng có muôn hình muôn vẻ, với nhiều hình thái, màu sắc,cung bậc khác nhau, chúng luôn tiềm ẩn hay nói một các khác luôn rình rập

trong suốt quá trình trớc, trong và sau khi cho vay và biểu hiện ra bên ngoài

là món vay không thu hồi đợc, nợ quá hạn, nợ khó đòi, mất vốn

Hoạt động của NHTM chủ yếu là hoạt động tín dụng và Ngân hàng thulợi chủ yếu bằng cách cho vay: Phần lớn Tài sản Có của Ngân hàng là ở dạngtiền cho vay và thờng tạo ra tới 60% thu nhập của Ngân hàng Nhng rủi ro đalại cho Ngân hàng từ lĩnh vực này những thiệt hại nặng nề, có khi dẫn đến phásản Lý do là các khoản tiền cho vay ( chiếm tới hơn 60% Tài sản Có) kémlỏng hơn so với Tài sản Có khác bởi chúng không thể chuyển thành tiền mặttrớc khi các món vay đó đáo hạn

Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất

Nghiên cứu vận động tín dụng ta thấy mỗi trờng hợp đều có mức độ rủi

ro nhất định khác nhau mà biểu hiện bên ngoài là không thu hồi đợc nợ, nợquá hạn, nợ khó đòi, vốn bị đọng, mất vốn Để xem xét thực trạng rủi ro tíndụng của một NHTM, ngời ta thờng xét đến tỉ trọng nợ quá hạn cao hay thấp.Trong tỉ trọng nợ quá hạn, ngời ta còn chia ra tỉ trọng nợ quá hạn dới một

Trang 14

năm, nợ quá hạn trên một năm, nợ quá hạn khó đòi, nợ không có khả năngthu hồi Các tỉ trọng này càng cao thì khả năng bảo toàn vốn tín dụng củaNgân hàng càng thấp

Ngân hàng không thể loại trừ khả năng rủi ro, song rủi ro tín dụng đòihỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ hữu hiệu mới có thể ngănngừa bớt rủi ro, hạn chế tối đa những thiệt hại có thể xảy ra Nh trên đã đềcập, rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất , thờng xuyên xảy ra nhất và cũnggây ra cho ngân hàng những tổn thất to lớn nhất do tỉ trọng đầu t cho vaytrong sử dụng vốn lớn nhất Việc nghiên cứu rủi ro trong hoạt động tín dụng

sẽ cho ta có một cái nhìn toàn cục, từ đó có thể tìm đợc những biện pháp khắcphục rủi ro trong hoạt động kinh doanh tín dụng của các NHTM nói chung vàcác NHTMCP nói riêng

2.2 Rủi ro về nguồn vốn:

Rủi ro nguồn vốn thờng xảy ra dới hai hình thức:

-Rủi ro do thừa vốn: NHTM thông qua hình thức “đi vay để cho vay “

nhằm kiếm lợi nhuận, còn nguồn vốn tự có “ chỉ là cái đệm chống đỡ sự sụtgiá của các tài sản có “Khi nguồn vốn huy động của ngân hàng bị ứ đọng cónghĩa là ngân hàng không cho vay ra đợc hoặc không sử dụng hết, trong khi

đó ngân hàng vẫn phải trả lãi cho ngời gửi tiền., chi các chi phí nghiệp vụ, cácchi phí quản lý Nếu không khắc phục tình trạng này, đến một chừng mực nào

đó, mức độ thua lỗ lớn sẽ dẫn đến việc đóng cửa ngân hàng

-Rủi ro do thiếu vốn: Do việc chuyển hoán các kỳ hạn sử dụng vốn và

nguồn vốn không nhịp nhàng dẫn tới việc ngân hàng không đáp ứng đợc nhucầu cho vay và đầu t hoặc nhu cầu thanh toán của khách hàng Thực tế, ngânhàng thờng chỉ có các nguồn vốn ngắn hạn trong khi sử dụng vốn lại là các kỳhạn dài hơn; nguồn vốn tự có ít nhng lại cho vay với tổng d nợ quá số lần chophép làm thiếu hụt khả năng thanh toán cuối cùng; hoặc vì một nguyên nhânnào đó, hoặc do sự đồn đại thất thiệt trong giới kinh doanh và công chúng làmgiảm giá trị chất lợng tài sản có của ngân hàng làm lợng tiền gửi tại ngân hàng

bị rút ồ ạt trong khi đó số tiền đầu t có kỳ hạn cha đến thời điểm để thu hồi,gây tình trạng mất cân bằng

Rủi ro này thể hiện ngân hàng thiếu vốn hoạt động do đó khả năngthanh toán của ngân hàng kém Vì vậy ngân hàng lại càng khó lòng huy động

đợc vốn do sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính trên thị trờng vốn, từ đóphạm vi hoạt động của ngân hàng bị thu hẹp, có nguy cơ đi đến vỡ nợ

2.3 Rủi ro lãi suất:

Trang 15

Lãi suất là “ Chi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê vốn trong một thờigian nào đó “Nh vậy lãi suất cũng là một loại giá cả Trong cơ chế thị trờng,giá cả luôn biến động theo quan hệ cung cầu, nên lãi suất cũng luôn biến đổi.Rủi ro lãi suất là rủi ro ngân hàng phải gánh chịu khi có sự biến động về lãisuất làm giảm tiền lãi và thu nhập của ngân hàng Thiệt hại do rủi ro lãi suấtgây ra làm chi phí cho nguồn vốn lớn hơn chi phí sử dụng vốn Nếu tình trạnhnày kéo dài sẽ dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh của ngân hàng.

2.4 Rủi ro tỉ giá hối đoái:

“ Tỉ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền tính ra một đồng tiền khác

Rủi ro hối đoái là rủi ro xuất hiện trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối

do sự biến động về tỉ giá giữa các đồng tiền

Trong nền kinh tế thị trờng, tỉ giá luôn biến động, “Với sự biến đổi của

tỉ giá hối đoái, bất kỳ một khoản mở nào cho dù dài hay ngắn , đối với một

đồng tiền nhất định, đều có thể tạo cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tỉgiá hối đoái “

2.5 Rủi ro trong thanh toán:

Là loại rủi ro xuất hiện trong thao tác nghiệp vụ và luân chuyển chứng

từ trong quá trình thanh toán Thông thờng, loại rủi ro này không gây thiệt hạiquá lớn về vật chất song cũng làm ảnh hởng tới tiến độ giao dịch và mức độtin cậy của khách hàng

2.6 Rủi ro thuần tuý :

Là các rủi ro nh: thiên tai, động đất, hoả hoạn

hoặc : lừa đảo, trộm cắp, tham nhũng

2.7 Rủi ro mất khả năng thanh toán :

“ Đây là loại rủi ro riêng có của ngân hàng và liên quan đến sự sốngcòn của doanh nghiệp ngân hàng “ và thờng là hậu quả của một hay nhiều rủi

ro trên, khiến cho ngân hàng mất khả năng chi trả, thâm hụt vốn tự có dẫn đếnphá sản

Sau đây là bảng tổng kết các loại rủi ro của Ngân hàng thơng mại

Trang 16

Trên đây là những rủi ro cơ bản nhất của NHTM Mỗi rủi ro xảy ra đều dẫn

đến hậu quả đối với một ngân hàng, thậm chí ảnh hởng tới toàn hệ thốngngân hàng Do vậy, việc “ đánh giá các rủi ro là hoạt động cơ bản của nghềngân hàng “ Và khi nhận thức, đánh giá đúng về rủi ro “ ta có thể chấp nhậnrủi ro một cách có ý thức và có kế hoạch để đối phó với hậu quả khi sự việcxấu đi “

Cho nên chúng ta cần tìm hiểu các nguyên nhân của nó

3 Nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng:

Qua nghiên cứu tổng hợp và thống kê, các nguyên nhân chủ yếu gâynên rủi ro tín dụng của ngân hàng bao gồm:

đặt ngời đi vay từng làm ăn có lãi vào thế thua lỗ

Một cuộc đình công kéo dài, việc giảm giá để cạnh tranh hoặc việc mấtmột ngời quản lý giỏi có thể làm thiệt hại nghiêm trọng đến khả năng chi trảtiền vay của ngời đi vay

Rủi rothanh toán

Rủi rohối

đoái

Rủi rolãisuất

Rủi ronguồn vốn

Rủi ro

tín

dụng

Rủi ro vỡ nợ

Trang 17

suôn sẻ nếu các bên tham gia đều có những thông tin và hiểu biết đầy đủ vềnhau Song một thực tế còn tồn tại là : một bên thờng không biết tất cả nhữnggì cần biết về phía bên kia và “Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có

đợc nh vậy đợc gọi là “thông tin không cân xứng “ “Việc thiếu thông tin trongcác giao dịch này sẽ đa đến “ Sự chọn lựa đối nghịch “ và “Rủi ro đạo đức “

Chọn lựa đối nghịch xảy ra trớc khi diễn ra giao dịch Bản chất vấn đề

là thay vì lựa chọn những ngời trả đợc nợ để cho vay, nhà ngân hàng - mặc dùkhông mong muốn - song vì thông tin không cân xứng - đã chọn ngời tíchcực vay nhất để cho vay, nhng lại là ngời Có khả năng tạo ra kết cục Khôngtrả đ ợc nợ , gây rủi ro cho ngân hàng

Thông tin không cân xứng có thể sẽ dẫn đến rủi ro về đạo đức sau khigiao dịch Đó là hiện tợng ngời vay do thiếu đạo đức, thực hiện những hoạt

động trái với cam kết sau khi nhận đợc khoản tiền vay, đa đến việc khó có thểhoàn trả món vay, gây rủi ro cho ngân hàng

Thông tin không cân xứng trên thị trờng tài chính dẫn tới sự lựa chọn

đối nghịch và rủi ro đạo đức đã đặt các ngân hàng trớc nguy cơ rủi ro cao.Muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả, thu đợc lợi nhuận, tránh tình trạngkinh doanh thua lỗ, nợ khê đọng dẫn đến phá sản , các ngân hàng phải thậttỉnh táo để có những nguồn thông tin cân xứng nhằm vợt qua đợc sự Chọn lựa

đối nghịch và Rủi ro về đạo đức

3.3 Sự điều khiển của cơ chế thị tr ờng :

Cơ chế thị trờng, với các quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy

luật giá cả là bàn tay vô hình điều khiển mọi hoạt động của các doanhnghiệp và quyết định sự sống còn của các doanh nghiệp

NHTM là một doanh nghiệp Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thìphải hoạt động sinh lời Bởi vậy, cũng nh tất cả các doanh nghiệp sản xuất vàkinh doanh khác, muốn tồn tại và phát triển, ngân hàng phải giải quyết đợccác mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình kinh doanh : mâu thuẫn về giá cả (lãisuất), về mức cung cầu của vốn, về các sản phẩm dịch vụ cung ứng cho khách

hàng Trong quá trình giải quyết mâu thuẫn, các ngân hàng cạnh tranh

nhau quyết liệt và tất yếu có ngân hàng thắng lợi và có ngân hàng chịu rủi ro

thất bại Lịch sử ngân hàng đã ghi lại nhiều trờng hợp ngân hàng phá sản vàcác cuộc khủng hoảng ngân hàng : Từ năm 1930 đến 1933, làn sóng phá sảnngân hàng đã tràn từ áo, Đức, Anh sang Mỹ; riêng ở Mỹ có 9.096 ngân hàngphải ngừng hoạt động; Sự đổ bể của hàng loạt các ngân hàng nh NHBankhaus Herstatt của Đức (1974), ngân hàng quốc gia Franklin - ngân hàng

Trang 18

đứng thứ 12 của Mỹ (1974), bài học đắt giá của NH Baring, một ngân hàng cótên tuổi ra đời từ 1762 bị đổ vỡ vào năm 1995, và gần đây cơn ác mộngDaiwa chi nhánh của ngân hàng Nhật bản tại New York - thua lỗ tới 1,1 tỷUSD đã cho ta thấy sự khắt khe đến mức nào của nền kinh tế thị trờng

Ngoài ra, cần xét đến mối quan hệ với khách hàng, khi ngân hàng đóng

vai chủ nợ - dùng nguồn vốn huy động đợc đem cho các doanh nghiệp và cá

nhân cần vốn vay - Thực tế cho thấy trong điều kiện kinh tế thị trờng, cácdoanh nghiệp là khách hàng vay vốn và giao dịch với ngân hàng cũng thờnggặp phải những rủi ro nhất định mà hậu quả là sự phá sản của doanh nghiệpkhông còn là hiện tợng riêng có của một nền kinh tế ổn định hay không ổn

định, hoặc của một nớc phát triển hay đang phát triển :

Vào những năm kinh tế khủng hoảng (1967), ở CHLB Đức chỉ có 3930doanh nghiệp bị phá sản thì ở những năm kinh tế tạm thời ổn định (1981), cótới 11.590 doanh nghiệp bị phá sản với số tiền vỡ nợ 15 tỉ Mác, năm 1985 sốdoanh nghiệp bị phá sản là 19.200 ở Mỹ, 7 tháng đầu năm 1992 có 59.188công ty bị phá sản, tăng 16% so với cùng kỳ năm1991 Chỉ riêng tháng7/1992, Mỹ có tới 8.580 công ty bị phá sản, tăng 11,6% so với tháng 7/1991.Năm 1990, số doanh nghiệp bị phá sản ở Pháp là 47.118, năm 1991: 52.965 vànăm 1992: 57.956 Đặc biệt, số doanh nghiệp bị phá sản năm 1991 gần gấp

đôi số doanh nghiệp mới thành lập của năm 1991

Tất nhiên ở đây còn có yếu tố liên quan tới Năng lực tài chính, Nănglực điều hành, Năng lực xử lý thông tin và nghiệp vụ trong quá trình sản xuất

và kinh doanh của các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế

Nền kinh tế là một “cơ thể sống “ Sự rủi ro vỡ nợ của một hay một sốkhách hàng trong một ngành nào đó có thể ảnh hởng lớn đến các ngành cóliên quan

Mặt khác, trong mối quan hệ với khách hàng- khi ngân hàng đóng vai

trò đi vay (nhận tiền gửi) - ngân hàng cũng cần phải tôn trọng quy luật cạnh

tranh Hiện nay ngời gửi tiền không đơn thuần gửi tiền nhằm bảo quản tiền

mà là để sinh lời Họ đã có độ nhậy cảm rất cao với thị trờng và cạnh tranhcho phép họ lựa chọn hình thức, nơi gửi tiền sao cho có lợi nhất ảnh hởngcủa nhóm khách hàng này đối với ngân hàng là rất lớn, thậm chí gây phá sảnngân hàng

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và điện tử tin học, với việc quốc

tế hoá các thị trờng tài chính, công nghệ ngân hàng càng phát triển ngày mộttinh vi và hiện đại Hơn nữa, với việc đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ

Trang 19

ngân hàng và đa năng hoá các tổ chức trung gian tài chính, thị trờng tài chínhtiền tệ ngày càng sôi động và cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt Để tồn tại

và phát triển, buộc lòng các NHTM phải tìm mọi cách để đứng vững trongcuộc cạnh tranh khốc liệt này

3.4 Môi tr ờng kinh tế có ảnh hởng đến sức mạnh tài chính của ngời đi vay vàthiệt hại hay thành công đối với ngời cho vay Sự hng thịnh hay suy thoái củachu kỳ kinh doanh cũng ảnh hởng tới lợi nhuận của ngời vay và do vậy tạonên niềm vui hay gây nên nỗi lo lắng cho ngời đi vay tiền Trong giai đoạnkinh tế hng thịnh, ngời vay hoạt động tốt do lợi nhuận thu đợc tơng đối cao,nhng trong giai đoạn khủng hoảng khả năng hoàn trả của ngời đi vay bị giảmsút Tuỳ vào mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng và trờng độ của nó màviệc ảnh hởng lên các cá nhân và các doanh nghiệp sản xuất lu thông cũng

nh lên khả năng thanh toán các khoản nợ của họ ở mức khác nhau : Mức độkhủng hoảng càng cao, sức mua của ngời tiêu dùng càng giảm sút gây ra hiệntợng hàng hoá bán ra và lợi nhuận của doanh nghiệp lu thông cũng giảmtheo, đồng thời lợng tồn kho của các doanh nghiệp sản xuất cũng vì thế màtăng một cách miễn cỡng gây ảnh hỏng tới lợi nhuận của họ

Lạm phát cũng có ảnh hởng bất lợi đến công việc kinh doanh : giá cả

nguyên vật liệu, năng lợng, lao động tăng làm cho các cá nhân và doanhnghiệp khó khăn về tài chính dẫn đến nhu cầu tín dụng tăng Và không giống

nh lợi tức, nợ không giảm trong các giai đoạn suy thoái Nó cố định về số ợng Nợ không thay đổi tơng ứng với sức mua của đồng tiền, vì vậy đã trở nêngánh nặng đối với ngời đi vay , kết quả là không trả đợc nợ

l-Thiểu phát cũng có ảnh hởng bất lợi đến công việc kinh doanh: chỉ số

tăng giá thấp hơn so với lãi suất cho vay làm cho các doanh nghiệp cầm chừngtrong vay vốn phát triển sản xuất làm cho tốc độ tăng trởng tín dụng chậm,hoạt động ngân hàng chững lại, thâm hụt cán cân vãng lai; giá trị sản xuấtcông nghiệp, mức lu chuyển hàng hoá, thu ngân sách, đầu t xây dựng cơ bảngiảm gây nên tình trạng kinh tế trì trệ, các doanh nghiệp không có cơ hội đểhoạt động sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận, trong khi đó vẫn phải duy trì cácchi phí cố định và phải hoàn trả vốn và lãi vay phục vụ cho các chu kỳ kinhdoanh trớc đó, kết quả lại là không trả đợc nợ

3.5 Môi tr ờng pháp lý trong kinh doanh là tổng hợp các yếu tố pháp lý có tác

động đến hoạt động kinh doanh bao gồm hệ thống pháp luật, hệ thống cácbiện pháp bảo đảm cho pháp luật đợc thực thi và sự chấp hành nghiêm chỉnh

Trang 20

pháp luật của các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh và các ngành có liênquan.

Hoạt động kinh doanh luôn chịu sự tác động của 3 yếu tố tạo thànhmôi trờng pháp lý nói trên Các yếu tố này có quan hệ đan xen và tác động

đến hoạt động kinh doanh một cách tổng hợp chứ không riêng rẽ, hay nói mộtcách khác chúng mang tính đồng bộ cao Nếu các yếu tố này tách rời nhau sẽkhông tồn tại một môi trờng pháp lý đồng bộ và khi đó sự tác động riêng lẻcủa một hay hai yếu tố sẽ tạo nên một nội dung khác, một ảnh hởng khác,thậm chí gây nên ách tắc hoặc những thua lỗ không đáng có hoặc tạo những

kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng Ví dụ, nếu thiếu yếu tố chấp hành pháp luật thì hệthống pháp luật và các văn bản hớng dẫn trở nên một hành lang pháp lý vắng

vẻ thuần tuý không có tác dụng

Sự đồng bộ ở đây bao gồm : sự đồng bộ giữa hệ thống pháp luật và cácvăn bản dới luật cũng nh các văn bản hớng dẫn thực hiện các luật; sự đồng bộgiữa các nghành, các cấp liên quan trong quá trình thực thi pháp luật và cácvăn bản hớng dẫn; sự đồng bộ (hoặc phù hợp) giữa hệ thống pháp luật vớinhững biến đổi trong đời sống kinh tế xã hội;

Với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định có một hệ thống luật pháptơng ứng Nền kinh tế thị trờng đòi hỏi các yếu tố pháp lý phải rất rõ ràng vàchặt chẽ, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh - đặc biệt là hoạt động kinhdoanh tiền tệ, tín dụng - đi theo một quỹ đạo nhất định nhằm hạn chế rủi ro

Trong giai đoạn đầu chuyển sang cơ chế mới “ Hơn 8000 cơ sở kinhdoanh tiền tệ ngoài hệ thống ngân hàng quốc doanh đang buổi ”ăn nên làmra” thì đùng một cái, hàng loạt vỡ nợ, đe doạ phá sản Hẳn là có nhiềunguyên nhân, song, một nguyên nhân cơ bản là do cha chuẩn bị đợc môi trờngpháp lý thích ứng với môi trờng kinh tế Nói các khác, hoạt động kinh tế bị hụthẫng do thiếu các ”luật chơi” “

Nhận định trên đã cho ta thấy mức độ quan trọng của môi trờng pháp

lý đối với hoạt động ngân hàng

Cùng với môi trờng kinh tế, môi trờng pháp lý tạo nên môi trờng chovay của các ngân hàng thơng mại Môi trờng cho vay có thể ảnh hởng tích cựchay tiêu cực, có thể hạn chế hay làm tăng thêm rủi ro đối với hoạt động kinhdoanh tín dụng của các ngân hàng thơng mại

Qua các phân tích trên, ta thấy ngân hàng - trong sự phát triển nội tạicủa mình, trong mối quan hệ với các ngân hàng khác, trong mối quan hệ với

Trang 21

khách hàng cho dù đóng vai trò là chủ nợ hay là ngời nhận nợ- đều bị chiphối, điều tiết của cơ chế thị trờng.

3.6 Các nguyên nhân khác:

Ngoài các nguyên nhân trên đa đến rủi ro cho hoạt động của ngân hàngcòn có những nguyên nhân khác nh : Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ,các biến động về kinh tế chính trị trên thế giới và những nguyên nhân do trộmcắp tham nhũng

Nh chúng ta đã biết, chính phủ dùng các chính sách kinh tế vĩ mô nh:chính sách tài khoá, tiền tệ, thu nhập, kinh tế đối ngoại cùng các công cụcủa hệ thống chính sách này tác động vào tổng sản phẩm quốc dân, việc làm,lạm phát, tỉ giá hối đoái nhằm giảm bớt những giao động của chu kỳ kinhdoanh trong mỗi thời kỳ

Qua nghiên cứu phân tích và thực tế cho thấy rằng bất kỳ sự thay đổinào trong chính sách kinh tế vĩ mô đều dẫn đến sự thay đổi của lãi suất, tỉ giáhối đoái, điều kiện mở rộng hay thu hẹp tín dụng Đây là những nhân tố gâynên tính bấp bênh trong kinh doanh tiền tệ, ảnh hởng trực tiếp tới hoạt độngcủa NHTM

Thực ra, sử dụng hệ thống chính sách này là việc kết hợp giữa bàn tayhữu hình của chính phủ với bàn tay vô hình của thị trờng Quá trình thực hiện

sự kết hợp này có lúc rất nhịp nhàng và hữu hiệu song cũng có lúc đã làm giatăng tính bấp bênh và rủi ro vốn có của hình thức hoạt động kinh doanh tiền

tệ Thực tế đã chứng minh rằng sự thành bại của việc điều hành chính sáchkinh tế vĩ mô, trong khuôn khổ định hớng phát triển kinh tế quốc gia, phụthuộc rất nhiều vào thực tiễn điều chỉnh của từng giai đoạn đối với hoạt độngcủa nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính ngân hàng nói riêng Vấn đề

tế nhị là giải quyết trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế,song có lúc không tránh khỏi là đa các NHTM vào tình trạng bị động Và rủi

ro, tổn thất đối với các NHTM cũng là điều không tránh khỏi

Trong điều kiện kinh tế mở cửa dới nhiều hình thức và phơng diện,những biến động lớn về kinh tế chính trị trên thế giới có ảnh hởng tới cácquan hệ kinh tế đối ngoại của một nớc mà biểu hiện là cán cân thanh toán, tỉgiá hối đoái biến động đa đến sự biến động của giá cả hàng hoá xuất nhậpkhẩu, lãi suất, mức cầu tiền tệ Đây là những nhân tố ảnh hởng trực tiếp tớihoạt động của các NHTM, gây nên rủi ro, đe doạ sự an toàn trong hoạt độngcủa các NHTM

Trang 22

IV Hệ thống các biện pháp hạn chế, phòng ngừa rủi ro tín dụng:

1.Xây dựngchính sách tín dụng :

Chính sách tín dụng là kim chỉ nam đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi

đúng quỹ đạo “Cơ cấu và chất lợng tín dụng của một ngân hàng phản ánhchính sách tín dụng của ngân hàng đó “

Để có hiệu quả, chính sách tín dụng phải đợc soạn thảo bằng văn bản,phải rõ ràng nhằm vào các mục tiêu và sách lợc để đạt đợc mục tiêu đó: tạo racác khoản tín dụng lớn có khả năng thu hồi, đảm bảo khả năng sinh lời trong

đầu t vốn tín dụng, phát triển tín dụng phù hợp với nhu cầu thị trờng Quy mô

và hình thức cho vay cần phải đợc xem xét trong mối quan hệ với khả năngthanh toán của khách hàng Thực tế cho thấy chính sách tín dụng phải đợcthay đổi theo từng thời kỳ nhằm phản ánh thực tế và phải luôn đợc duy trì nhmột “công cụ kiểm tra “

2 Đa dạng hoá hoạt động nghiệp vụ và duy trì quan hệ khách hàng lâu dài:

2.1.Đa dạng hoá hoạt động nghiệp vụ có tác dụng làm cho rủi ro của cácnghiệp vụ phân tán rộng và tính linh hoạt dới giác độ phản ứng trớc các biến

động của thị trờng lớn hơn: Sự thăng trầm của nền kinh tế tác động mạnh mẽ

đến hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp cũng nhhoạt động kinh doanh của ngân hàng, đa dạng hoá Tài sản Có sẽ làm giảm nhẹnhững tác động xấu, tránh đợc rủi ro, giúp cho ngân hàng có khả năng bảotoàn vốn, duy trì mức sinh lời

Để đa dạng hoá hoạt động nhiều hơn, các ngân hàng không những kinhdoanh đa năng mà còn hoạt động đa chi nhánh nhằm giảm rủi ro thông quaviệc bù trừ lỗ lãi giữa các chi nhánh, điều chuyển vốn trong hệ thống tạo ra sự

đồng bộ trong hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống, tăng cờng sức cạnhtranh

2.2.Duy trì quan hệ khách hàng lâu dài có thể giảm chi phí tập hợp thông tin,sàng lọc dễ dàng hơn và ngân hàng tránh đợc việc chọn lựa đối nghịch và rủi

ro đạo đức từ phía khách hàng Đối với khách hàng có mối quan hệ lâu dài,ngân hàng đã có sẵn phơng thức giám sát nên chi phí dành cho việc giám sát

họ cũng giảm đi Về phía khách hàng, do mối quan hệ lâu dài với ngân hàng

mà họ có thể đợc hởng lãi suất u đãi, hoặc hạn mức tín dụng nhằm phát triểnsản xuất kinh doanh, từ đó thúc đẩy một cách lành mạnh hoạt động tín dụngcủa ngân hàng

3 Đánh giá rủi ro tín dụng:

Trang 23

Đánh giá rủi ro tín dụng là một nguyên tắc cho vay quan trọng bởi mụctiêu của hoạt động cho vay là tạo ra những khoản cho vay không gặp khókhăn Vì vậy, việc đánh giá tính trung thực, năng lực và kinh nghiệm củakhách hàng, dù đó là một công ty hay một cá nhân, là yêu cầu tối cao Đánhgiá rủi ro tín dụng nhằm xác định : Liệu mức độ rủi ro có thể chấp nhận đợckhông và Liệu lợi nhuận có phù hợp với rủi ro hay không Trọng tâm cuả đánhgiá rủi ro và quyết định cho vay là có khả năng trả lời chắc chắn hai câi hỏi:Khách hàng có thể trả đợc nợ không ? và Khách hàng sẽ trả nợ hay không ?

Đây là một quá trình tìm hiểu thông tin đợc tiến hành trớc khi đa raquyết định cho vay Nó phải đợc tiến hành đối với từng và tất cả các kháchhàng tiềm tàng Để tìm câu trả lời cho hai câu hỏi trên, cần phân tích bất kỳthông tin nào nhận đợc từ, hoặc về khách hàng

Thông tin này thờng đợc nói đến với câu “Năm C của tín dụng “:

+Đặc điểm (Character)+Khả năng (Capacity)

+Điều kiện (Conditions)+Tài sản thế chấp (Collateral)Mối quan hệ với khách hàng (Customer Relationship) và Cạnh tranh(Competition) là hai C khác đa nhóm điều kiện lên thành bảy Bảy C này cungcấp những thông tin giúp cán bộ tín dụng và phân tích viên đa ra các quyết

định chính xác hơn

*Đặc điểm gắn trực tiếp với câu hỏi : Khách hàng sẽ trả nợ hay không?

Sử dụng từ Đặc điểm là nói đến sự thẳng thắn, trách nhiệm, trung thực và nhấtquán của ngời vay để xác định sự trả nợ của họ

*Khả năng gắn trực tiếp với câu hỏi: Khách hàng có thể trả nợ đợc haykhông? Sử dụng từ Khả năng là nói đến khả năng trả nợ của ngời vay màkhông cần sử dụng đến tài sản thế chấp Nghĩa là khách có trả nợ đợc không

và đâu là những nguồn để trả nợ sau này Để trả lời đợc câu hỏi này, phải xác

định những nguồn tiền mặt nào sẵn có để trả nợ khoản vay Thờng có bốnnguồn có thể trả nợ vay :

+Lu chuyển vốn (sẽ đợc phân tích sau)+Bán tài sản có : thực tế cho thấy thanh lý tài sản là một nguồntrả nợ tồi

+Rót vốn từ bên ngoài : là một sự không chắc chắn nếu ngời chovay trông chờ sự rót vốn vào hoạt động kinh doanh trong tơng lai của ngời đi

Trang 24

vay nh là một nguồn trả nợ chính, vì nếu doanh nghiệp làm ăn không có lãi,nhà đầu t có thể sẽ không cấp vốn

+Vay ở nơi khác : phải kiểm tra hết sức kỹ lỡng khoản cho vayhiện tại nếu khách hàng đang tìm kiếm tái tài trợ từ ngời tài trợ/ ngời cho vaykhác Nếu ngời vay làm ăn không có lãi, có khả năng rất cao là không nơi nàocho vay, ngân hàng có thể sẽ gặp phải khoản vay có vấn đề Mặt khác, hoạt

động kinh doanh của khách hàng tốt có thể bị một TCTD khác lôi kéo mất

Khả năng cũng đề cập luôn tới khả năng pháp lý của đối tợng đó trongviệc vay vốn Nghĩa là, một ngời đi vay đại diện cho một công ty hoặc mộthợp doanh phải có sự uỷ quyền bằng văn bản cuả tổ chức doanh nghiệp đó

*Vốn : Nói chung ngời xin vay nên có đủ vốn tự có đầu t vào doanhnghiệp để tự chịu rủi ro Vì vậy, khi xác định liệu khách hàng sẽ trả nợ haykhông, thì việc phân tích tình trạng Vốn của khách hàng hỗ trợ cho việc đánhgiá khía cạnh Đặc điểm Việc có vốn cũng cho thấy khả năng và năng lực thựchiện những cam kết tài chính trong quá khứ của khách hàng Rất có khả năng

là năng lực này đợc duy trì trong suốt thời gian hợp đồng vay vốn

*Tài sản thế chấp : Tốt nhất nên xem tài sản thế chấp là nguồn trả nợthứ hai Dù giá trị của tài sản thế chấp đang cầm giữ có lớn đến mấy, việc bán

nó trong tơng lai không bao giờ là nguồn trả nợ chính của khoản vay

*Các điều kiện : là các yếu tố bên ngoài sự kiểm soát của khách hàng( tình hình của nền kinh tế, tình hình của ngành sản xuất đó ) nhng có thể tác

động đến khả năng của họ trong việc trả nợ Các yếu tố đó đóng vai trò hỗ trợ

mạnh mẽ trong việc xác định liệu khách hàng có thể trả đợc nợ hay không.

*Cạnh tranh: trong môi trờng cho vay ngày nay, cạnh tranh để có đợcnhững công việc kinh doanh tốt tất nhiên có một vai trò trong các quyết địnhtín dụng Mong ớc thu hút khách hàng mới và tốt từ các đối thủ cạnh tranh,hoặc giữ các doanh nghiệp có giá hiện tại khỏi đi sang các đối thủ cạnh tranh

có thể làm cho cán bộ tín dụng phải hy sinh chất lợng khi đa ra các quyết địnhtín dụng Tuy nhiên, cạnh tranh không nên dẫn dắt các quyết định tín dụng

mà nên đa ra các quyết định tín dụng chắc chắn có yếu tố cạnh tranh

*Quan hệ với khách hàng : Để quyết định mức độ mối quan hệ với mộtkhách hàng hiện tại, một yếu tố chủ chốt để đánh giá là số lợng sản phẩm củangân hàng mà khách hàng sử dụng

Theo số liệu thống kê năm 1991 do Vụ Quản lý sản phẩm và tiếp thịANZ mức sử dụng bình quân trên một khách hàng của ngân hàng ANZ là 1,5

Trang 25

sản phẩm Các nghiên cứu khác cho thấy một khách hàng có hơn ba mối liênhệ/sản phẩm trở thành khách hàng lâu dài và trung thành “

4.Phân tích khả năng tài chính, năng lực pháp lý, năng lực điều hành SXKD,

uy tín của ngời vay vốn nhằm nghiên cứu và hình thành các đảm bảo tín dụngchắc chắn :

Việc phân tích và đánh giá khả năng tài chính của ngời vay tạo cho cán

bộ tín dụng một cái nhìn tổng quát để đi đến quyết định đúng đắn Cần quantâm phân tích các chỉ tiêu sau để đánh giá khả năng tài chính của ngời vay:

-Tỷ suất lợi nhuận: biểu hiện khả năng sinh lợi của khách vay

đ-ợc tính bằng tỷ lệ giữa tổng lợi nhuận thu đđ-ợc và tổng vốn kinh doanh.Tỷ lệnày càng lớn doanh nghiệp càng có nhiều tích luỹ, tình hình tài chính lànhmạnh và ngợc lại Chỉ tiêu này cho phép ta đánh giá uy tín và sức cạnh tranhcủa ngời vay từ đó có cơ sở để quyết định đầu t tín dụng hay không

-Chỉ tiêu năng lực đi vay của ngời vay đợc xác định bằng tỉ lệgiữa Tổng số vốn của DN và tổng số d nợ đi vay các TCTD Tỷ lệ này >0,5doanh nghiệp có thể tiếp tục vay vốn Nếu tỷ lệ này <0,5, NH cần phải cânnhắc kỹ lỡng khi ra quyết định

-Chỉ tiêu khả năng thanh toán phản ánh khả năng hoàn trả nợ củadoanh nghiệp là tỷ lệ giữa Số tiền DN có thể dùng để thanh toán ( vốn bằngtiền, các khoản phải thu, hàng hoá trong kho có khả năng tiêu thụ) và Số tiền

DN phải thanh toán (các khoản phải trả, các khoản nợ ngân hàng đến hạn, nộpngân sách) Nếu tỷ lệ này >1, doanh nghiệp có tình hình tài chính bình thờng;ngợc lại <1, DN có tình hình tài chính khó khăn và không lành mạnh

-Báo cáo về chu chuyển vốn : Là thớc đo cơ bản về khả năng trả

nợ - khả năng thực hiện các nghĩa vụ của một doanh nghiệp, từ nguồn tiền mà

nó tạo ra đợc chính từ các hoạt động kinh doanh thông thờng Phân tích chuchuyển vốn là một bớc quan trọng đối với ngời cho vay khi phân tích tình hìnhtài chính của một doanh nghiệp Dự báo chu chuyển vốn là bản tóm tắt lợngtiền thu vào (chu chuyển vốn vào) và các khoản thanh toán ( chu chuyển vốnra) với kết quả là tiền tăng dơng hay âm Dự kiến về CCV càng lớn và càng ổn

định bao nhiêu đối với một doanh nghiệp thì doanh nghiệp có thể dựa càngnhiều vào công cụ tài chính để tính toán khả năng trả nợ Giá trị cốt lõi của tíndụng trong Dự báo CCV là :

* Việc hoàn trả phụ thuộc vào việc khách hàng tạo tiền và sử dụng nó

để thanh toán những khoản nợ Vì vậy, đánh giá tín dụng phải xem xét khảnăng và ý thức sẵn sàng trả nợ của khách hàng,

Trang 26

*Hoàn trả nợ phụ thuộc vào chu chuyển vốn đã đợc xác định và lu

chuyển đều đặn thu đợc từ các hoạt động kinh doanh cơ bản an toàn hơn việc

hoàn trả dựa vào chu chuyển vốn không thể dự đoán trớc đợc hay bấp bênh

tr-ớc tình hình suy thoái kinh tế,

*Giá trị tài sản đảm bảo không bảo đảm sự an toàn của tín dụng Tàisản đảm bảo là “giải pháp lựa chọn thứ hai “,

*Chúng ta phải tin tởng vào nguồn trả nợ chắc chắn từ chu chuyển vốn

đợc tạo ra từ hoạt động kinh doanh khi cấp tín dụng, xác định đ ợc nhữngnguồn trả nợ khả thi, có thể thay thế nếu chu chuyển vốn nêu trên không đạt

đợc

Dự báo về CCV là một công cụ để giám sát một cách thờng xuyên vàthích hợp kết quả hoạt động của khách hàng giữa các thời điểm khác nhau củabảng cân đối tài sản Dự báo cũng cho phép chúng ta xác định sớm những diễnbiến xấu Dự báo về CCV có thể dùng làm cơ sở để xác định nhu cầu vaytrung hạn của khách hàng và để xây dựng kế hoạch trả nợ thích hợp Việckhông muốn cung cấp hoặc không có khả năng cung cấp thông tin là dấu hiệucho thấy việc quản lý có vấn đề Tuy nhiên, ngòi cho vay không nên chấpnhận giá trị danh nghĩa của các số liệu cung cấp trong Dự báo về CCV, thờng

có thể số liệu không đợc chính xác và không dựa vào phần dự toán ngân sáchthích hợp Dự báo về CCV phải đợc đánh giá trên cơ sở số liệu lịch sử Vàchu chuyển vốn không những chỉ phụ thuộc vào nguồn vốn mà còn phụ thuộcvào vòng quay của vốn, do vậy ngời cho vay cần xác định rằng nguồn vốn vànhững CCV phải đủ để duy trì số lợng hàng hoá, cung ứng các khoản tín dụngcần thiết cho khách hàng và việc chi trả cho các chi phí và nghĩa vụ khi đếnhạn

Phân tích toàn diện về Dự báo CCV là một bộ phận không thể thiếu đợctrong quá trình phân tích tín dụng

5 Xếp hạng rủi ro Tín dụng : Xếp hạng rủi ro tín dụng của khách hàng đợc

dựa trên mức độ tín nhiệm và khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính của họ Mục đích của việc xếp hạng khách hàng theo mức độ rủi ro tín dụng để :+ Cho phép ngân hàng tạo lập một ý kiến về điều kiện chung của hạngmục cho vay

+Phát hiện nhanh hơn yếu tố tín dụng bất lợi hay chệch hớng khỏichính sách đã đặt ra cho một khách hàng hoặc một hạng mục cụ thể

+Xác định rõ khi nào cần tăng sự giám sát hoặc tăng các hoạt động điềuchỉnh cụ thể

Trang 27

+Tạo khả năng cho Ban giám đốc của ngân hàng có đợc đánh giá tổngthể về chất lợng chung các hạng mục tín dụng của ngân hàng.

Điều này đòi hỏi việc tiến hành xếp hạng rủi ro chính xác và nhất quán.Thông thờng, xếp hạng rủi ro tín dụng nằm trong các mức rủi ro cơ bản Cóthể mô tả các cấp độ nh sau :

*Rất mạnh : Khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính của kháchchắc chắn, đảm bảo việc trả nợ nh đã thoả thuận Chỉ cần có sự giám sát đều

*Rủi ro cao : Khách hàng đang trong tình trạng rủi ro cao kinhniên ( liên tục thua lỗ trong kinh doanh, khó khăn trầm trọng về khả năngthanh toán ) và ngân hàng đang cố gắng cải thiện hoặc từ bỏ mối quan hệ đểtránh thua lỗ tiềm tàng

*Khó đòi lãi : Khách hàng có rủi ro cao kinh niên, việc đòi đợclãi và các khoản phí mù mịt Không có khả năng mất nợ gốc

*Khê : Khách hàng là một rủi ro cao kinh niên Có khả năng mất

nợ gốc, lãi và các khoản phí sau khi đã nỗ lực hết sức đa ra những biện pháp

có thể

Nên xếp hạng rủi ro tất cả các khách hàng vay

Không đợc thông báo cho khách hàng cấp độ rủi ro của họ trong mọi ờng hợp

tr-Nên đánh giá lại ngay lập tức cấp độ rủi ro của khách hàng khi có bất

kỳ sự xuống cấp về khả năng tín dụng trở nên rõ ràng và nếu thích hợp, phải

đánh xuống cấp khách hàng

Trang 28

Tóm lại, quá trình xếp hạng rủi ro là rất quan trọng trong việc định vịmột khoản vay trong khung cảnh rủi ro tín dụng Việc này nhằm kiểm soátthận trọng rủi ro tín dụng và tối đa hoá lợi ích đối với ngân hàng từ mối quan

hệ của nó với khách hàng Việc tiến hành xếp hạng rủi ro với mọi đối tợngkhách hàng một cách đồng nhất và chính xác là việc làm không thể thiếu đợc

6 Tăng cờng công tác kiểm tra của ngân hàng :

- Kiểm tra trớc và sau khi cho vay

- Kiểm tra nội bộ hoạt động tín dụng

- Tăng cờng đối chiếu công nợ và phân loại nợ

7.Chú trọng đến nghệ thuật cho vay: Kinh ngiệm ở một số nớc cho thấy rằng

việc phân tích những chỉ tiêu, thông số có tính khoa học kỹ thuật liên quan

đến đánh giá tín dụng và đi đến quyết định cho vay của cán bộ tín dụng mớichỉ là hoàn thành một nửa nhiệm vụ của anh ta Nếu cán bộ tín dụng còn dànhmột chút thời gian và sức lực để kiểm tra những khía cạnh vô hình, ít kháchquan hơn của ngời xin vay nhằm xác định một cách chủ quan khả năng thànhcông của công ty, anh ta mới hoàn thành phân nửa kia của nhiệm vụ Nhữngcuộc khảo sát này không hề dễ dàng và tự chúng không thể đa ra một câu trảlời rõ ràng rành mạch, song nó là kết quả trực tiếp thu đợc từ khả năng củacán bộ tín dụng và lại là một bớc rất quan trọng của quá trình cho vay Đâychính là “nghệ thuật cho vay “, điều mà hiện nay đang bị coi nhẹ và ít đợcthực hiện nhất trong thực tế cho vay hiện nay Vì vậy, các Ngân hàng phảihiểu rõ cho vay còn là một nghệ thuật thay vì chỉ là một ngành khoa học đơnthuần Do đó, cần phải đa khía cạnh con ngời trong các ứng xử và tâm lý vàocông tác đào tạo về tín dụng, lựa chọn và sử dụng các cán bộ tín dụng vừa cócác kỹ năng xử thế của con ngời vừa có năng lực kỹ thuật

Trên đây là một số biện pháp hạn chế, phòng ngừa rủi ro có tính chất cơbản Tuy nhiên, trong từng điều kiện cụ thể, mỗi NHTM,TCTD đều có nhữngbiện pháp hoặc sách lợc riêng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng hoặc gia giảm cácbiện pháp cơ bản cho phù hợp song vẫn phải đảm bảo đợc ba nguyên tắc cơbản của Kinh doanh Tín dụng ngân hàng (đã đợc phân tích ở phần II.2) mộtcách có hiệu quả

Trang 29

Chơng 2

thực trạng hoạt động kinh doanh tín dụng và rủi ro tín dụng tại các nhtmcp việt namI.Vài nét về hoạt động của hệ thống NHTMCP Việt nam :

1 Giới thiệu về hệ thống Ngân Hàng Thơng mại Cổ phần Việt nam:

Sau khi nghị định 53/CP đợc ban hành (3/1988), mạng lới NHTM pháttriển cả bề rộng và bề sâu Cùng với sự ra đời và phát triển của các NHTMquốc doanh, với sự đa dạng hoá loại hình ngân hàng và đa năng hoá hoạt độngkinh doanh tiền tệ, hệ thống các Ngân hàng Thơng mại Cổ phần xuất hiện vàphát triển

Nhóm ngân hàng đợc thành lập trớc khi có pháp lệnh ngân hàng gồm :tại Hà nội có NHTMCP Nhà chính thức hoạt động từ 4/1989, tại thành phố Hồchí Minh, có ngân hàng Xuất Nhập khẩu, ngân hàng Sài gòn Công thơng,ngân hàng Phát triển Nhà Các ngân hàng này đã và đang chứng tỏ sự tồn tạicần thiết khách quan của mình trong nền kinh tế Việt nam Việc cho ra đờicác NHTMCP trớc khi có pháp lệnh ngân hàng là sự thể nghiệm của chínhsách đổi mới ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung Trongnhững năm đầu của thời kỳ đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trờng, lạm phátcòn ở mức cao, môi trờng kinh tế vĩ mô cha ổn định, hệ thống HTX tín dụng

bị phá sản, nhng các NHTMCP thử nghiệm trên vẫn vợt qua cơn sóng gió đó

Ngoài ra, tại thành phố Hồ chí Minh có 12 Ngân hàngTMCP đợc hìnhthành trên cơ sở hợp nhất các HTX tín dụng đô thị Do phải kế thừa những nợ

Trang 30

nần cũ, lại chịu ảnh hởng nặng nề bởi cơn bão táp tín dụng 1980-1990, nhữngngân hàng này có những khó khăn nhất định.

Cũng trong thời gian trên, do nhu cầu kinh doanh và yêu cầu phát triển,hàng loạt các chi nhánh của các ngân hàng TMCP đợc mở tại các tỉnh, thànhphố lớn

Cho đến nay, cả nớc có 50 ngân hàng TMCP, trong đó có 30 ngân hàngTMCP đô thị và 20 ngân hàng TMCP nông thôn Hầu hết các ngân hàng cổphần đô thị tập trung ở Hà nội và thành phố Hồ chí Minh Gần 50% ngân hàng

cổ phần nông thôn tập trung vào hai tỉnh Cần thơ và An giang Tổng vốn điều

lệ của các NHTMCP tính đến 30/09/1999 là 2.232,9 tỷ đ Ngân hàng có vốn

điều lệ cao nhất là NHTMCP á Châu 353,711 tỷ đồng và thấp nhất làNHTMCP Phú lâm 710 triệu đồng Vừa qua, NHTMCP á Châu đã đợc tạp chíEURO Money, một tạp chí tài chính có uy tín nhất châu Âu xuất bản tại Anh,bình chọn là ngân hàng Việt nam xuất sắc năm 1997

Sự ra đời và hoạt động của các NHTMCP trong thời gian qua đã đónggóp đáng kể cho sự phát triển nền kinh tế, tạo nên sự đa dạng phong phú theohớng có lợi trong hoạt động và động lực cạnh tranh giữa các ngân hàng, từ đóthúc đẩy cải tiến và đổi mới công nghệ của hệ thống ngân hàng thơng mại nóichung và NHTMCP nói riêng

Sơ đồ 1 : D nợ cho vay và lãi trớc thuế của hệ thống Ngân Hàng Thơng Mại

Cổ Phần qua các năm:

2586 83

Nguồn : NHNNTƯ

Trang 31

Vốn tự có của các Ngân hàng TMCP tăng nhanh, sáu tháng đầu 1997tới 71,4% ( trong khi năm 1996 chỉ tăng 32,55 %), tốc độ cung ứng vốn33,2% gấp đôi so với cùng kỳ năm 1996 - năm đợc đánh giá là có nhiều thànhtựu tăng trởng - thể hiện nỗ lực tự khẳng định mình bằng sự đóng góp ngàycàng lớn của khối NHCP vào sự phát triển kinh tế xã hội chung của cả nớc.

Nghiên cứu và so sánh mức tăng vốn tự có của các NHTMCP có Hội sởtại Hà nội, chúng ta thấy mức tăng đối với ngân hàng cao nhất là 94%, thấpnhất cũng là 30% Các con số cho ta thấy mức độ tăng trởng vốn của các ngânhàng này rất nhanh so với khi thành lập và cũng là biểu hiện tốt việc thực hiệncác quy định của NHNN ( quyết định 223, 166, 275 )

Tuy nhiên, so với yêu cầu kinh doanh, mức vốn tự có trung bình trên 90

tỷ của các NHTMCP là thấp Và mặc dù mức quy định của NHNN cha phải

là cao nhng tình trạng còn một số đơn vị cha huy động đủ mức vốn quy địnhcũng phần nào cho thấy năng lực tài chính của các ngân hàng cổ phần còn hạnchế

Trang 32

Bảng 1: Tình hình tăng vốn tự có của các NHTMCP trên địa bàn Hà nội :

Nguồn : NHNN, chi nhánh Hà nội

Theo quy định hiện hành, vốn của doanh nghiệp nhà nớc tham gia vàovốn điều lệ tại các NHTMCP phải là 10% Tuy nhiên, mức góp vốn của thànhphần này không đều giữa các ngân hàng, có ngân hàng vốn của doanh nghiệpnhà nớc chiếm hơn 50% (NHTMCP Quân đội 51%), song có ngân hàng tỷ lệnày chỉ là 2%( NHTMCP Châu á Thái Bình Dơng)

Ngoài ra, khi nghiên cứu cơ cấu, mức tăng trởng vốn điều lệ cũng nhcơ cấu sử dụng vốn của các NHTMCP, chúng ta thấy tiềm ẩn một vấn đề :những ngân hàng này rất dễ chệch hớng hoạt động của mình chỉ vì lợi ích củamột số ít ngời nắm giữ vai trò chủ chốt tại ngân hàng đó

phầnViệt nam :

2.1 Tình hình huy động vốn :

Nguồn vốn huy động chủ yếu tại các NHCP là từ nguồn huy động tiềngửi dân c Đây là nguồn vốn khá vững chắc song lãi suất phải trả lại cao, trongkhi NHNN khống chế lãi suất trần và chênh lệch lãi suất đầu vào đầu ra, nếukhông tính toán và chất lợng tín dụng không tốt thì hoạt động của ngân hàng

sẽ gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, các NH thờng xuyên phải nộp dự trữ bắtbuộc và giữ số tiền lớn tại quỹ nhằm bảo đảm khả năng chi trả cho kháchhàng đột xuất rút tiền gửi, do vậy một phần vốn bị “chết “ không sinh lời, làmtăng giá đầu vào của các ngân hàng

Tuy nhiên, nguồn vốn huy động của các NHTMCP tăng trởng nhanhqua các năm (năm 1997 có xu hớng chững lại và giảm so với 12 /1996):

Bảng 2 : Tình hình huy động vốn của các Hội sở NHCP tại Hà nội:

Đơn vị : Triệu đồng

Thời kỳ Tổng Tiền gửi Tỷ lệ % Có kỳ hạn Tỷ lệ %

Trang 33

Nguồn : NHNN chi nhánh Hà nội-

Tình hình huy động vốn của các NH này cho thấy vốn huy động chủyếu từ tiền gửi dân c và phần lớn là nguồn vốn có kỳ hạn Đây là nguồn vốnkhá ổn định, tạo điều kiện cho các NH chủ động trong việc sử dụng vốn song

dễ bị rủi ro lãi suất do cam kết kéo dài Mặt khác, tổng nguồn huy động ở đâycòn bao gồm cả lợng ngoại tệ huy động đã quy đổi, đa ra một vấn đề nênchăng NHNN quy định cụ thể về sử dụng nguồn vốn ngoại tệ, tránh tình trạngchuyển đổi cho vay bằng đồng Việt nam gây mất cân đối trạng thái ngoại hối

ở một số ngân hàng

Hiện nay ở nớc ta, một trong những nguồn vốn có chi phí thấp nhất làtiền gửi của các TCKT Tỷ lệ tiền gửi dân c trên của các NHCP cho phép tahình dung giá đầu vào của các NH này Tuy nhiên, tỷ lệ này cũng phụ thuộcvào tính đặc thù của từng NH Tại NHCP Quân đội, với tổng nguồn huy động

là 1.300.719 triệu đồng có tới 1.028.059 triệu đồng là tiền gửi của các TCKT(chiếm 79 %), tạo điều kiện cho NHCP Quân đội có chênh lệch lãi suất đầuvào đầu ra lớn, thu nhiều lợi nhuận

Bảng 3 : Chi tiết tình hình huy động vốn của các NHTMCP (tính đến 31/12/1998 )

Đơn vị : Triệu đồng

Vốn huy động % tăngSTT Tên NH Tiền gửi

TCKT

Tiền gửidân c

Tổng nguồnhuy động

giảm sovới 12/97

Nguồn : NHNN chi nhánh Hà nội

Qua nghiên cứu tình hình huy động vốn của các NHCP, nhìn chung cácngân hàng đã nắm sát diễn biến cung cầu vốn trên thị trờng, áp dụng linh hoạt,

Trang 34

rộng rãi mọi hình thức, biện pháp thích hợp để huy động vốn trong các tầnglớp dân c; thực hiện triệt để các biện pháp thông tin, quảng cáo, lãi suất, kỳhạn huy động hợp lý; thái độ phục vụ tận tình, công nghệ nhanh chóng để dânyên tâm gửi vốn lâu dài

2.2 Hoạt động tín dụng :

Các Ngân hàng TMCP đã liên tục thực hiện việc mở rộng cho vay cácthành phần kinh tế, nhất là cho vay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh,kinh tế hộ gia đình, khối lợng tín dụng ngày một tăng Riêng trên địa bàn Hànội, tính đến 30/9/1999 d nợ cho vay nền kinh tế của các ngân hàng TMCP đạt13.003,2 tỷ đồng – Chiếm 57,4 % sử dụng vốn (Chiếm 9,4% thị phần toànquốc), tăng 24,3 % so với năm 1996 và 2,9% so với 30/6/1999 Song một vấn

đề đáng quan tâm là tốc độ tăng trởng tín dụng lớn hơn tốc độ tăng trởngnguồn vốn huy động, có lúc đã làm căng thẳng khả năng thanh toán, phải bù

đắp bằng nguồn vốn vay từ các TCTD khác

Tuy nhiên, nội dung hoạt động kinh doanh của các NHTMCP cònnghèo nàn, chủ yếu là huy động vốn để cho vay và chỉ là cho vay ngắn hạn,còn các hình thức cho vay khác thì rất thấp Cũng vào thời điểm trên, d nợcho vay ngắn hạn của các ngân hàng TMCP trên địa bàn Hà nội là 2.024 tỷ

đồng chiếm 87,92% tổng d nợ, d nợ cho vay trung dài hạn chỉ chiếm 12,08%tổng d nợ và 7,66% so với tổng nguồn vốn huy động

Nguyên nhân chủ yếu là do khả năng tài chính, khả năng thẩm định củacác ngân hàng này còn bất cập, hơn nữa nguồn vốn huy động chủ yếu lànguồn vốn ngắn hạn

Hoạt động tín dụng còn nhiều sơ hở dẫn tới khả năng rủi ro tín dụngkhá lớn : Nợ quá hạn chiếm 25,5% trên tổng d nợ cho vay nền kinh tế trong đó

nợ khê đọng khó đòi chiếm 6,3% Hai chỉ tiêu này phản ánh sự mất cân đối vềthời hạn khả dụng của cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn và tình trạng chất l-ợng tín dụng xấu có thể gây thất thoát vốn trong quá trình kinh doanh tiền tệ

Đặc biệt, nếu so sánh mức Nợ quá hạn và Nợ khó đòi trên Tổng vốn tự có củacác ngân hàng này thì các con số lần lợt là 125,06 % và 30,9 % Điều này chothấy các cổ đông của ngân hàng cổ phần đang phải gánh chịu rủi ro bằng 1/2

số vốn của bản thân họ bỏ ra, với số thất thoát hiện hữu là 30,9%

Vì vậy cũng có thể cho rằng trớc mắt tình trạng tín dụng của cácNHTMCP cha đe dọa mất khả năng thanh toán và tạm thời cũng cha ảnh hởngtới tiền gửi của dân c Song nếu không có biện pháp hữu hiệu nhằm kiểm soátcủng cố và cải thiện chất lợng hoạt động tín dụng thì các nguy cơ nói trên sẽ

Trang 35

trở thành hiện thực không xa Đối với các NHTMCP, thực tiễn cho thấy rằngtổng d nợ tăng không còn là điều đáng mừng nữa, mà xen vào đó là nhữngphấp phỏng lo âu của việc không thu hồi đợc nợ.

2.3.Về nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế:

Tại các ngân hàng TMCP, việc kinh doanh ngoại tệ mới chỉ mang màusắc của mua bán ngoại tệ phục vụ thanh toán xuất nhập khẩu Nghiệp vụ kinhdoanh ngoại tệ cha phát triển do cha có đầu t chiều sâu về thiết bị máy móccũng nh về con ngời, do vậy nguồn thu từ nghiệp vụ này không đáng kể, thậmchí còn bị thua lỗ : chín tháng đầu năm 1997, Ngân hàng Kỹ thơng lỗ dochênh lệch tỷ giá trên 3 tỷ đồng, NH Châu á Thái bình Dơng ở trạng tháingoại hối đoản kéo dài đối với đồng USD là 30%, trong khi theo quy địnhhiện hành chỉ cho phép đoản ngoại hối 15% đối với một loại ngoại tệ vàkhông quá 30% đối với các loại ngoại tệ giao dịch trong ngày

Vấn đề này đòi hỏi các ngân hàng TMCP phải chú trọng tới việc tăngvốn tự có để nâng cao năng lực thực hiện nghiệp vụ này, đồng thời lu tâm tớivấn đề đầu t máy móc thiết bị cũng nh đào tạo cán bộ thực hiện nghệp vụ kinhdoanh ngoại tệ nhằm bắt kịp yêu cầu chung Đặc biệt vừa qua NHNN chophép các TCTD đợc hoạt động giao dịch hối đoái có kỳ hạn, hoán đổi giữa

đồng Việt nam và đồng đô la Mỹ tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD và cácTCKT nhng cũng đặt ra một đòi hỏi lớn về trình độ nghiệp vụ cũng nh về vốn

Để phục vụ tốt nghiệp vụ thanh toán quốc tế, đến tháng 9/1999, cácNgân hàng này đã thiết lập quan hệ đại lý với gần 550 ngân hàng tại 35 quốcgia trên thế giới Trong 3 năm qua, kim nghạch thanh toán XNK đạt 1.085triệu USD và đã khẳng định vị trí nhất định của các NHTMCP trong lĩnh vựcthanh toán XNK trên địa bàn thành phố

Tuy nhiên nói chung các NHTMCP cha quan tâm đúng mức tới loại hình dịch vụ mà thực chất đem lại nguồn lợi rất lớn này Ngoài ra, hiện naycòn tồn tại một vấn đề rất lớn là do không nghiêm chỉnh tuân thủ các quy chếbảo lãnh L/C trả chậm của NHNN và hơn nữa các ngân hàng còn thiếu kinh

Trang 36

nghiệm trong lĩnh vực này nên đã phát sinh nợ quá hạn tới 29.000.221 USD vàngân hàng phải trả thay doanh nghiệp 7.382.812 USD (tập trung chủ yếu ởngân hàng TMCP Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ).

2.4 Hoạt động thanh toán và cung ứng các dịch vụ trong n ớc

Trong nền kinh tế thị trờng, hoạt động kinh doanh của NHTM rất đadạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các cá nhân và doanh nghiệp hơnnữa trong điều kiện cạnh tranh giữa các ngân hàng càng gay gắt, do vậy để tồntại và phát triển, các ngân hàng phải không ngừng tìm tòi những hình thức

dịch vụ mới nhằm mở rộng kinh doanh, đáp ứng nhu cầu khách hàng, khuyến

khích khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán để có đầu vào thấp và từ

đó mở rộng các hoạt động kinh doanh khác.

Theo hớng đó, các NHTMCP cần từng bớc mở rộng các dịch vụ ngânhàng nh thu chi hộ cho các công ty, mở rộng dịch vụ khấu trừ tự động cho cáckhách hàng có tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, dịch vụ quản lýchứng khoán , chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc hình thành bộphận kinh doanh chứng khoán, đầu t chứng khoán, Để gia tăng nguồn vốnhuy động, các NHTMCP cần phải quan tâm đến các biện pháp huy động vốn

có chi phí thấp Trong tơng lai, khi mức độ cạnh tranh gay gắt hơn, NHTMCPphải có thêm nhiều cải tiến, đa ra đợc các sản phẩm hữu ích: phải đảm bảotính nhanh chóng sẵn sàng, an toàn tiện lợi và có tính kinh tế cao nhằm thoảmãn cao nhất sự mong đợi của khách gửi tiền

Nhìn chung các NHTMCP ở nớc ta - một phần do năng lực bản thân vềvốn tự có, tổ chức, quản lý và điều hành kinh doanh còn hạn chế, các cơ cấu,cơ chế kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro còn thiếu hoặc cha làm hết chức năng,cha phát huy hiệu quả, thêm vào đó là d âm, là sự ám ảnh về kiểu làm ănchộp giật, lừa đảo và các đổ vỡ trớc đây của các HTX tín dụng - cho đến naycha hoàn toàn lấy đợc niềm tin của dân, do vậy các NHCP gặp không ít khókhăn, cản trở cả về tâm lý xã hội lẫn những điều kiện hoạt động

Tuy nhiên, việc tiếp tục phát triển loại hình TCTD cổ phần nói chung vàNHTMCP nói riêng vẫn là một sự cần thiết Vì vậy việc phát triển phải đợctiến hành song song với việc củng cố về tổ chức, trình độ nghiệp vụ của cán

bộ quản lý và nhân viên, cơ chế phân định trách nhiệm trong điều hành tácnghiệp, cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm tăng cờng cả về lợng và về chất chokhu vực này

Trang 37

Muốn vậy, cần phải nghiên cứu kỹ hơn thực trạng hoạt động kinhdoanh, đặc biệt là kinh doanh tín dụng - điểm đợc coi là nóng nhất trong hoạt

động kinh doanh tiền tệ - tại các NHTMCP

II.Thực trạng hoạt động tín dụng tại các Ngân hàng thơng mại cổ phần ( Hội sở tại Hà nội):

Vòng quay vốn tín dụng đạt 2,25 vòng Cho vay ngoại tệ quy VNĐ đạt798.643 tỷđ

Các ngân hàng TMCP đã thu hút nhiều khách hàng mới, không phânbiệt thành phần kinh tế, thông qua các biện pháp u đãi về vốn, dịch vụ, thanhtoán Một số doanh nghiệp kinh doanh XNK, xây dựng, thơng nghiệp, sảnxuất vật liệu xây dựng và đặc biệt là có những doanh nghiệp Nhà nớc lớn tr-

ớc đây đã có quan hệ tín dụng với các NHTMQD nay cũng đã mở tài khoản vàvay vốn tại một số ngân hàng TMCP tại Hà nôị nh : UNIMEX Hà nội,HAPROSIMEX, Cty XNK Da giày, VINACONEX, Cty xây dựng Hồng Hà,Nhà máy Bánh kẹo Hải Hà làm cho lực lợng khách hàng của khối ngân hàngnày tăng lên cả về lợng lẫn về chất

Bảng số 4 : Chi tiết d nợ cho vay nền kinh tế (31/12/98)

Trang 38

Cộng 2.024.661 277.588 2.302.249 +17,11

Nguồn : NHNN-Chi nhánh Hà nội

1.2 Cơ cấu đầu t và cho vay :

Phân theo ngành sản xuất kinh doanh :

-Ngoài quốc doanh : 61,84%

Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà nội là thị trờng tíndụng đầy tiềm năng Cơ cấu kinh tế ngoài quốc doanh rất đa dạng đợc hìnhthành tự phát theo quan hệ cung cầu của cơ chế thị trờng Hiệu quả sản xuấtkinh doanh của các tổ chức kinh tế này gắn với lợi ích thiết thân của các chủdoanh nghiệp, hộ t nhân cá thể, do đó kinh doanh ở khu vực này hết sức năng

động, vòng quay vốn nhanh, lợi nhuận cao Vì vậy, các ngân hàng TMCP ởkhu vực nắm bắt những thuận lợi này để mở rộng thị trờng tín dụng Cơ cấu tỷtrọng vốn cho vay đối với kinh tế ngoài quốc doanh đợc phân bố tập trung vàocác ngành sau :

Kinh doanh thơng nghiệp dịch vụ : 38,7% ;

Sản xuất vật liệu xây dựng : 17,2 % ;

Sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu : 15,1 %,

Sản xuất kinh doanh các mặt hàng khác : 29 %

Ngày đăng: 08/09/2012, 14:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1 : D nợ cho vay và lãi trớc thuế của hệ thống Ngân Hàng Thơng Mại - Thực trạng hoạt động kinh doanh tín dụng và rủi ro tín dụng ở các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt nam.DOC
Sơ đồ 1 D nợ cho vay và lãi trớc thuế của hệ thống Ngân Hàng Thơng Mại (Trang 30)
Bảng số 4 : Chi tiết d nợ cho vay nền kinh tế (31/12/98) - Thực trạng hoạt động kinh doanh tín dụng và rủi ro tín dụng ở các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt nam.DOC
Bảng s ố 4 : Chi tiết d nợ cho vay nền kinh tế (31/12/98) (Trang 37)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w