1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính hữu ích của các quy tắc xây dựng Báo cáo tài chính

3 354 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính hữu ích của các quy tắc xây dựng báo cáo tài chính
Tác giả PGS.TS.Phạm Văn Dược
Trường học Đại học Kinh tế Tp. HCM
Thể loại Nghiên cứu trao đổi
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính hữu ích của các quy tắc xây dựng Báo cáo tài chính

Trang 1

— oe saan ISSN 1859-1914

HỘI KẾ TOAN¿VÀ KIEM.TOAN VIỆT NAM:

VIETNAM ASSOCIATION OF ACCOUNTANTS AND AUDITORS (VAA)

2940)

Trang 2

Nghiên cứu trao dối

Tinh hữu ich tủa tác quy tắc xêy dựng 8(T(

IzI PGS.TS.Phạm Văn Dược”

khác nhau Mỗi cách xử lí kế toán đều có những lí lẽ hợp

lý để biện minh cho nó

Các nhà quản lý ở bên

ngoài sử dụng báo cáo sẽ có

sự hiểu biết khác nhau, nếu

Kế toán là công cụ quan trọng trong quá trình điều

hành hoạt động kinh đoanh ở đoanh nghiệp (DN), BCTC

lại là sản phẩm cao nhất của quá trình kế toán Mọi

quyết định quan trọng,của nhà quản trị đều có yêu

cầu thông tin từ các BCTC Vậy, quá trình xây dựng

các BCTC phải có quy tắc chung, để hướng dẫn và định

hướng cho các đối tượng sử đụng khác nhau

Sự cần thiết phải có

nguyên tắc kế toán

Như đã biết, nhà quản trị

(NQT) dựa trên thông tin kế

toán để ra các quyết định quan

trọng Đặc biệt, đối với các

DN có quy mô lớn, các báo

cáo công khai là một nguồn

thông tin quan tọng (đôi khi là

nguôn duy nhất) về hoạt động

của DN mà mục đích chủ yếu

cung cấp những đối tượng sử

dụng ở bên ngoài

Vậy đối tượng được cung

cấp thông tin là ai Trước hết,

các NQT được tiếp cận thông

tin về tất cả các mặt hoạt động

ở DN và do vậy, ở vị trí tốt

nhất để xác định loại thông tin

nào hữu ích với những cấp độ

quản trị khác nhau

Có ít nhất hai lí do mà nhà

quản lí chưa thể quyết định

ngay được, tuy nhiên những

thông tin của kế toán đã đưa

vào các BCTC công khai

Một là, vì tính không tương

xứng của thông tin, trong khi

các nhà quản lí có quyên tiếp

cận về tất cả các thông tin ở

| 22 | Sap chi KE loin Duin 20/0

các lĩnh vực hoạt động của tổ

chức đó và một số NQT khác thì không Do đó, các NỢT khai thác thông tin BCTC, có

thể chưa hiểu hết bản chất

của thông tin được thiết lập

đó Ví dụ, NQT có thể đi vay

nhằm mục đích một khoản

thù lao tăng thêm Nếu không

có sự hiểu biết về mức thù lao

của các NQT, mức độ vay và hoạt động của tổ chức đó, các

nhà cho vay sẽ không thể

quyết định đúng đắn có nên

cho vay hay không

Hai là, vì tính có thể so

sánh NQT có thể tin tưởng

vào việc cung cấp thông tin

về kế toán về những khoản

mục và NVKT có lợi cho những nhóm thành viên khác

Bằng cách nào đơ, họ báo

cáo thông tin này Ví dụ, giao

dịch đơn giản như việc mua

xe tải trả bằng tiền mặt, có thể ghi sổ bằng nhiều cách,

chuyển vào chi phí ngay vào

năm mua hoặc phân bổ chỉ

phí cho suốt vòng đời của tài sản theo nhiều phương pháp

không có các hình thức xử lý

kế toán đã chuẩn mực hoá

đối với các NVKT này, người

sử dụng các báo cáo sẽ gặp nhiều khó khăn khi so sánh hoạt động của một tổ chức trong một thời điểm cụ thể

với hoạt động của tổ chức đó

Vậy, nếu các NT được hoàn toàn tự do xây dựng nội

dung của các BCTC rồi công

khai, những người sử dụng ở bên ngoài sẽ không thể nhận

đủ thông tin cần thiết để thực hiện các quyết định quan trọng Chính vì điều này, các nhà làm luật đứng về quyền

lợi của các đối tượng bên

ngoài như cổ đông, chủ nợ, công nhân viên và các đối

tượng khác để cố gắng khai

triển một số nguyên tắc chỉ

đạo lập BCTC Hầu hết các

nguyên tắc này làm nhẹ bớt các các vấn đề tính không đối

xứng của thông tin và làm tăng thêm tính có thể so sánh,

để xác định thông tin nào

phải đưa vào BCTC công

khai và phải trình bày chúng

* Đại học Kinh tế Tp HCM

Trang 3

Nghiên cứu trao đổi

theo các quy định nhằm tránh

sự hiểu sai thông tin trên BCTC

của các đối tượng sử dụng

Tính hữu ích của các

chuẩn mực kế toán

Chuẩn mực kế toán (CMKT)

có vai trò làm tăng khả năng so

sánh của các BCTC, bằng cách

giới hạn sự lựa chọn các cách

xử lý kế toán khác nhau và

bằng cách buộc phải đề ra cách

ứng xử chuẩn mực và thích hợp

nhất Mục đích của việc chuẩn

mực hoá là nhằm đảm bảo các

tổ chức khác nhau đều áp dụng

các cách xử lý như nhau đối với

nghiệp vụ kinh tế (NVKT)

tương tự nhau Mục tiêu này có

thể đạt được Nói cách khác, sự

tiêu chuẩn hoá có thể dựa trên

thông lệ kế toán tối ưu nhất, có

hàm ý là sự đánh giá các cách

xử lý khác nhau và sự lựa chọn

cái gì thoả mãn tốt nhất của

chuẩn thích hợp nhất

Các tiêu chuẩn đo lường

thống nhất rất hữu ích với nhiều

lĩnh vực trong cuộc sống, thí dụ,

có ích đối với nhà thiết kế thời

trang, giúp cho họ tin rằng khi

mua về 100 mét vải, số lượng

nhận được (dựa trên sự hiểu

biết về độ dài của 1 mét) sẽ

đúng với số lượng họ dự kiến

mua về Việc áp dụng những

chuẩn mực thống nhất cho quá

trình soạn thảo các BCTC cũng

có những ưu điểm như vậy Mục

tiêu chính của chuẩn mực là

chuẩn mực hoá các con số kế

toán, phải có tính so sánh được

Cả hai tổ chức cần theo thời

gian lập báo cáo, nếu tất cả các

phương pháp kế toán đều được

chuẩn mực hoá, hai tổ chức này

cùng bắt đầu thực hiện xử lý

các NVKT giống nhau trong một năm sẽ cho ra bảng cân đối

kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giống nhau ở lúc cuối năm Trong

trường hợp này, sự chuẩn mực

hoá sẽ làm giảm thời gian và

chi phí soạn thảo các BCTC,

không cần dựa vào các giải

thích của căn cứ tính toán các con số cá biệt vì chỉ có một cơ

sở thống nhất chấp nhận

Tuy nhiên, việc áp dụng các

CMKT thống nhất có một số hậu quả Vì những chuẩn mực

này có thể giới hạn mức độ thêu đệt các thông tin trên BCTC

của người soạn thảo nhằm vừa thoả mãn nhu cầu của các nhóm

sử dụng vừa để phản ánh các

yếu tố môi trường của đơn vị

lập báo cáo Chúng cũng tự hạn

chế sự phát trển của kế toán

(hướng về thống kê tối ưu hơn)

bằng cách làm cho người soạn

thảo nản lòng trong việc trình

bày đối với các NVKT

Những khoản lợi ích và chi

phí tương tự sẽ phát sinh đối với

những người sử dụng các báo

cáo đó Các BCTC của tất cả các tổ chức phải có tính so sánh

và thống nhất thời gian cũng như tiền bạc để điều chỉnh

chúng thành hình thức chung và

theo cách xử lý kế toán chung trước khi tiến hành phân tích, so sánh Tuy nhiên, các xử lý kế toán thống nhất được chọn không thể có sự đảm bảo chắc chắn nào là sẽ cung cấp thông tin theo yêu cầu của các nhóm

sử dụng

Nội dung lý luận của

khuôn khổ lý thuyết

Trong quá trình lập BCTC,

nội dung lý luận là cơ cấu có tính lý thuyết toàn diện, cung cấp một cơ cấu tham khảo để

triển khai các thông lệ báo cáo

và quá trình đánh giá các thông

lệ hiện có Vào năm 1976, Hội

đồng CMKT Mỹ (FASB), tương

đương với ASB ở Anh đã mô tả

một nội dung lý thuyết là: “

một hệ thống mạch lạc, theo luật

định gồm các mục đích và

nguyên tắc có liên quan với nhau

` có thể dẫn đến những chuẩn

mực và định ra bảng chất, chức

năng và những giới hạn của kế

toán tài chính và các BCTC”

Từ đó, nhiều khái niệm khác

nhưng tương tự nhau đã được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu

và thực hành, thí dụ như: “

một tập hợp các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo chung và có thế

dùng để quyết định chỉ tiết bằng

việc làm tăng khả năng của tính

nhất quán và làm giảm thời

gian và chỉ phí phân tích”

Dù không chấp nhận hoàn toàn các khái niệm nhưng chắc

chắn có một sự thoả thuận

chung về nội dung lý luận của các BCTC nhằm mục đích cung cấp một tập hợp chặt chế gồm các nguyên tắc và khái niệm

mà có thể sử dụng là cổ sở lý

luận để xác định sự kiện nào

phải được xét tới, để đo lường

và để truyền đạt cho người khác là tốt nhất Như vậy, dù

nội dung lý luận của quá trình

lập BCTC có bản chất lý thuyết, nó vẫn nhằm hướng đến thông lệ kế toán

Với các khái niệm trình bày trên, có thể nhận diện những lý

(Xem tiếp trang 34)

Safi ché Ké loan Bun 20/0 Fj

Ngày đăng: 09/03/2013, 17:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w