Nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm mở rộng thị trường du lịch cho công ty dịch vụ du lịch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THU HIỀN
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CHO CÁC DOANH NGHIỆP
NGÀNH DU LỊCH TỈNH LÂM ĐỒNG
SAU KHI GIA NHẬP WTO
Chuyên ngành: KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Uyên Uyên
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2007
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TOÀN CẦU HÓA VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ 4
1.1.Toàn cầu hóa 4
1.1.1 Toàn cầu hóa 4
1.1.2 Hội nhập 5
1.2 WTO, vai trò và lợi ích từ WTO đối với các nước thành viên 6
1.2.1 WTO - Lịch sử hình thành và phát triển 6
1.2.1.1 WTO là gì? 6
1.2.1.2 Gia nhập WTO 7
1.2.2 Vai trò của WTO và lợi ích từ WTO 8
1.3.Việt Nam gia nhập WTO - điều kiện cần thiết để hội nhập và phát triển kinh tế 8
1.3.1 Các lợi ích cho Việt Nam khi là thành viên WTO 9
1.3.2 Các thách thức về kinh tế khi Việt Nam là thành viên WTO 10
1.4 Năng lực cạnh tranh và nâng cao trong lĩnh vực kinh tế 12
1.4.1.Cạnh tranh 12
1.4.2 Năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp 14
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 18
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGÀNH DU LỊCH LÂM ĐỒNG 19
2.1 Thực trạng ngành du lịch Việt Nam 19
Trang 32.1.1 Thực lực ngành du lịch Việt Nam 19
2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn của du lịch Việt Nam khi gia nhập WTO 27
2.1.2.1 Những thuận lợi 27
2.2.2.2 Những khó khăn 29
2.2 Thực trạng ngành du lịch Lâm Đồng hiện nay 30
2.2.1 Thực lực ngành du lịch Lâm Đồng hiện nay 30
2.2.1.1 Thực lực về cơ sở du lịch 30
2.2.1.2 Thực lực về hoạt động kinh doanh 30
2.2.1.3 So sánh hoạt động và hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch Lâm Đồng với một số địa phương trong nước trong những năm gần đây 35
2.2.2 Những thuận lợi của ngành du lịch Lâm Đồng hiện nay 38
2.2.3 Những khó khăn của ngành du lịch Lâm Đồng khi bước vào hội nhập 39
2.3 Tồn tại của ngành du lịch Lâm Đồng khi bước vào hội nhập kinh tế thế giới 40
2.4 Nguyên nhân tồn tại và bài học kinh nghiệm 41
2.4.1 Nguyên nhân tồn tại 41
2.4.2 Những bài học kinh nghiệm 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 43
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DU LỊCH TỈNH LÂM ĐỒNG SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 44
3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch lâm Đồng sau khi gia nhập WTO 44
3.1.1 Các quan điểm phát triển 44
3.1.2 Mục tiêu phát triển 46
3.2 Các giải pháp vĩ mô 47
3.2.1 Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển du lịch và tổ chức sắp xếp các doanh nghiệp 47
3.2.2 Giải pháp về quy hoạch và quản lý quy hoạch du lịch 50
Trang 43.2.3 Bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch, đảm bảo cho ngành du lịch phát
triển bền vững 51
3.2.4 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực hoạt động thương mại du lịch tỉnh Lâm Đồng 53
3.2.5 Liên kết với các doanh nghiệp du lịch các tỉnh khác tạo vành đai khép kín trong kinh doanh du lịch 56
3.2.6 Xây dựng và phát huy vai trò của hiệp hội du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt 57
3.3 Các giải pháp vi mô 58
3.3.1 Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế 58
3.3.2 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch 58
3.3.3 Đảm bảo chính sách thông thoáng, tạo điều kiện cho sự đi lại, ăn ở của du khách, đặc biệt là khách nước ngoài trong suốt quá trình lưu trú 59
3.3.4 Nhà nước nên khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch trên cơ sở qui hoạch phát triển du lịch tổng thể của nhà nước 60
3.4 Giải pháp tài chính nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh của ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng 61
3.4.1 Xác định nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển 61
3.4.2 Giải pháp khuyến khích, kêu gọi đầu tư 62
3.4.3 Các quan điểm thu hút vốn đầu tư 62
3.4.4 Giải pháp tăng cường nguồn lực tài chính cho hoạt động đầu tư 63
3.4.4.1 Nguồn nội lực 63
3.4.4.2 Nguồn ngoại lực 64
3.5 Các giải pháp hỗ trợ 65
3.5.1 Phối hợp với các ngành kinh tế kỹ thuật và văn hóa xã hội có liên quan 65
3.5.2 Công tác xúc tiến quảng bá du lịch 66
3.5.3 Một số ý kiến đề xuất với chính quyền địa phương 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 69
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
FDI Vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp
GDP Thu nhập quốc dân
NCPT Nghiên cứu phát triển
ODA Nguồn vốn cho vay dài hạn lãi suất ưu đãi
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 - Số khách sạn được xếp hạng của Du lịch Việt Nam 22
Bảng 2.2 - Cơ cấu doanh thu du lịch trên tổng doanh thu quốc gia 23
Bảng 2.3 - Lượt khách cả nước 24
Bảng 2.4 - Số khách quốc tế đến Việt Nam 25
Bảng 2.5 - Khách quốc tế đến Việt Nam 4 tháng đầu năm 2007 26
Bảng 2.6 - Số doanh nghiệp du lịch của tỉnh Lâm Đồng 30
Bảng 2.7 - Lượng khách du lịch hàng năm tỉnh Lâm Đồng 31
Bảng 2.8 - Các chỉ tiêu về du lịch Lâm Đồng 32
Bảng 2.9 - So sánh thu nhập du lịch với các ngành kinh tế trong các năm 33
Bảng 2.10 - Số khách quốc tế đến Việt Nam 34
Bảng 2.11 - Chi tiêu của khách quốc tế một ngày 35
Bảng 2.12 - Đánh giá về cảnh quan môi trường du lịch Việt Nam 36
Bảng 3.1 - Các chỉ tiêu phát triển du lịch chủ yếu của Lâm Đồng đến năm 2020 60
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 - Cơ cấu các doanh nghiệp lữ hành quốc tế Việt Nam 22
Biểu đồ 2.2 - Cơ cấu khách đến theo phương tiện 25
Biểu đồ 2.3 - Cơ số phòng so với lượng khách và số lao động ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng (2000 - 2006) 31
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu: “Toàn cầu hóa kinh tế là
xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng cường sức ép cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế” [4 tr 157] Việt Nam ta cũng không nằm ngoài quy luật chung Chúng ta cần nhanh chóng hội nhập toàn cầu để tiến lên theo trào lưu chung của thế giới, tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với tốc độ phát triển chung của thế giới
Hội nhập kinh tế quốc tế chi phối sự phát triển kinh tế xã hội của toàn thế giới ở cấp vi mô lẫn vĩ mô Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các nước phải có thực lực nhất định mới có thể hợp tác bình đẳng, lâu dài và các bên cùng có lợi Điều đó đồng nghĩa với việc tham gia hội nhập toàn cầu đem đến cho chúng ta cả những thuận lợi và thời cơ phát triển nhưng ngược lại cũng kèm theo những thách thức, nguy cơ nhất định, đòi hỏi chúng ta phải khẩn trương chuẩn bị chu đáo để vượt qua
Chúng ta đang từng bước hội nhập toàn cầu thông qua ký kết các hiệp định thương mại song phương, Việt Nam hiện nay là thành viên tích cực của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) và bước tiến quan trọng là gia nhập WTO
Sau khi gia nhập WTO, cùng với những ngành nghề khác, ngành du lịch thương mại nói chung và ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng nói riêng cũng đối mặt với những cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi ngành cần phải có chiến lược phát triển mới, nhanh chóng mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng hoạt động, từ đó nâng
cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển Vì vậy, đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng sau khi gia nhập WTO” có thể góp phần giúp cho các doanh nghiệp ngành du lịch Lâm Đồng tham
khảo để điều chỉnh chiến lược phát triển của mình nhằm từng bước hội nhập tốt hơn
Trang 8với nền du lịch các nước trong khu vực và các nước trên thế giới Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đã gia nhập WTO, nền kinh tế nước ta đứng trước một thử thách to lớn, những cơ hội, thời cơ lớn đến với chúng
ta, nhưng những thử thách, khó khăn cũng rất nhiều Trong nước đang phát sinh 2 luồng tư tưởng chính, một quá lạc quan cho là chỉ có thuận lợi, kinh tế nước ta sắp phất lên nhanh chóng; một quá bi quan lại chỉ nhìn thấy thách thức, sợ nền kinh tế của ta sẽ không đứng vững Mặt khác, thực trạng của ngành du lịch nước ta nói chung và của Lâm Đồng nói riêng lại quá nhiều bất cập và tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới Đề tài đã có cái nhìn tổng quát và đã đi thẳng vào thực tế để đề ra được những giải pháp mang tính tương đối toàn diện cho sự phát triển của du lịch Lâm Đồng trong tương lai, thời kỳ sau gia nhập WTO, trong
đó có những giải pháp đáng chú ý và có tính khả thi
2 Mục đích - nội dung nghiên cứu
a.Mục đích: Đề tài hệ thống hóa về lý luận và thực tiễn liên quan đến ngành
du lịch Lâm Đồng, đối chiếu với những yêu cầu của hội nhập toàn cầu hiện nay để
đề ra những giải pháp thích hợp giúp đẩy mạnh hoạt động của ngành du lịch Lâm Đồng, nâng cao sức cạnh tranh để ngành du lịch Lâm Đồng có thể nhanh chóng hội nhập với ngành du lịch trong khu vực và trên thế giới
b Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu việc gia nhập WTO đã tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch Lâm Đồng nói riêng như thế nào
- Nghiên cứu thực trạng ngành du lịch Việt Nam và của ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng hiện nay
- Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng sau khi Việt Nam gia nhập WTO
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là năng lực hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng
Trang 9- Phạm vi nghiên cứu trong thời kỳ sau khi Việt Nam gia nhập WTO
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tôn trọng hiện thực khách quan, đề tài kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; phương pháp chuyên gia, phương pháp logic biện chứng, phương pháp so sánh - đối chiếu Đề tài cũng sử dụng những kỹ thuật nghiên cứu như: kỹ thuật thống kê, phân tích, tổng hợp, tính toán v.v dựa trên các nguồn dữ liệu, thông tin được sưu tầm từ tài liệu thư viện, website, sách, báo, tạp chí,
5 Kết cấu luận văn
Trong phạm vi đề tài như đã nêu trên, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương Trong đó:
- Chương I: Tổng quan về toàn cầu hóa và năng lực cạnh tranh của nền kinh
Trang 10Chương I
TỔNG QUAN VỀ TOÀN CẦU HÓA
VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ
1.1 Toàn cầu hóa
1.1.1 Toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa được định nghĩa bởi nhiều cách:
- Trước hết đó là quá trình hình thành và phát triển các thị trường toàn cầu, vượt ra khỏi phạm vi của bất cứ quốc gia nào
- Toàn cầu hóa là một xu hướng làm cho mối quan hệ xã hội trở nên ít bị ràng buộc bởi địa lý lãnh thổ [11]
- Toàn cầu hóa là những quan niệm có nhiều mặt và nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và các hậu quả của sự chi phối (Ban thư ký WTO)
- Quá trình toàn cầu hóa sẽ làm cho các nước gia tăng sự phụ thuộc, tương trợ lẫn nhau mà trước hết là về mặt kinh tế, các luồng giao thương hàng hóa và quyền lực của mỗi nước sẽ vươn ra khỏi phạm vi một lãnh thổ để đến các nơi khác
có ưu thế hơn, qua đó chúng sẽ được sử dụng hợp lý hơn
- Và cuối cùng, toàn cầu hóa đòi hỏi các nước phải luôn vận động phát triển
vì các lợi thế của các quốc gia khác đã trở thành áp lực đối với quốc gia Nếu ta không nỗ lực sẽ dễ dàng bị đào thải, tụt hậu
Có thể hiểu toàn cầu hoa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau:
Theo nghĩa rộng: xác định toàn cầu hóa như một hiện tượng hay một quá
trình trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau trên nhiều mặt của đời sống xã hội (cả kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến môi trường, thể chế v.v ) giữa các quốc gia Vì vậy, một số tác giả đưa ra định nghĩa: “Toàn cầu hóa xét về bản chất, là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, các dân tộc trên thế giới” [2 tr 43]
Trang 11Theo nghĩa hẹp: coi là khái niệm chỉ liên quan đến kinh tế, chỉ hiện tượng
hay quá trình hình thành thị trường toàn cầu, làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia Theo quan điểm này, các nhà kinh tế thuộc UNCTAD đưa ra định nghĩa: “Toàn cầu hóa liên hệ với các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hóa và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia, cùng với sự hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng gia tăng đó” [2 tr 50]
1.1.2 Hội nhập
Cũng như toàn cầu hóa, hội nhập cũng có nhiều quan điểm khác nhau, song
ta có thể xem hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa trên cấp độ đơn phương, song phương, đa phương Từ thuật ngữ trên
ta có thể hiểu được nội dung chủ yếu của quá trình này là:
- Ký kết và tham gia vào các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế, cùng các thành viên đàm phán xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các quy định, cam kết đối với các thành viên của định chế, tổ chức đó
- Tiến hành các công việc thay đổi cần thiết để đảm bảo được mục tiêu của quá trình hội nhập cũng như phù hợp với các quy định của các định chế, tổ chức khi gia nhập
Như phân tích trên, hội nhập kinh tế là một quá trình mở cửa dần của từng quốc gia, vì thế tùy thuộc vào việc mở cửa này và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong tổ chức mà hình thành nên các cấp độ khác nhau
Hiện nay các nhà kinh tế thường đưa ra 5 cấp độ hội nhập kinh tế như sau:
1- Khu vự hóa mậu dịch tự do: Là giai đoạn đầu của tiến trình hội nhập kinh
tế Ở giai đoạn này, các nền kinh tế thành viên tiến hành cắt giảm và loại bỏ dần các hàng rào thuế quan, các hạn chế định lượng và các biện pháp phi thuế quan trong thương mại nội khối Tuy nhiên, họ vẫn độc lập thực hiện chính sách thuế quan đối với các nước ngoài khối Ví dụ: khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
Trang 122- Liên minh thuế quan: Đây là giai đoạn tiếp theo trong tiến trình hội nhập
Tham gia vào liên minh thuế quan, các thành viên ngoài việc hoàn tất việc loại bỏ thuế quan và các hạn chế về số lượng trong thương mại nội khối, phải cùng nhau thực hiện một chính sách thuế quan chung đối với các nước ngoài khối Ví dụ: nhóm ANDEAN và liên minh thuế quan giữa cộng đồng kinh tế Châu Âu, Phần Lan, Áo, Thụy Điển
3- Thị trường chung: Là mô hình liên minh thuế quan cộng thêm với việc bãi
bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác Như vậy, trong một thị trường chung, không những hàng hóa, dịch vụ mà hầu hết các nguồn lực khác (vốn, kỹ thuật, công nghệ, nhân công,…) đều được tự do lưu chuyển giữa các thành viên Ví dụ: cộng đồng kinh tế Châu Âu (EC) trước đây
4- Liên minh kinh tế: Là mô hình hội nhập ở giai đoạn cao dựa trên cơ sở mô
hình thị trường chung cộng thêm với việc phối hợp các chính sách kinh tế giữa các thành viên Ví dụ: liên minh Châu Âu (EC)
5- Liên minh toàn diện: Là giai đoạn cuối cùng của quá trình hội nhập Các
thành viên thống nhất về chính trị và các lĩnh vực kinh tế, bao gồm cả các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, thuế và các chính sách xã hội Như vậy, ở giai đoạn này, quyền lực quốc gia ở các lĩnh vực được chuyển giao cho một cơ cấu cộng đồng Đây thực chất
là một giai đoạn xây dựng một kiểu nhà nước liên bang hoặc các “cộng đồng an ninh đa nguyên” theo mô thức Deutsch Ví dụ: quá trình thành lập Hoa Kỳ từ các thuộc địa cũ của Anh và thống nhất nước Đức từ các tiểu vương quốc trong liên minh thuế quan Đức - Phổ trước đây
1.2 WTO, vai trò và lợi ích từ WTO đối với các nước thành viên
1.2.1 WTO - Lịch sử hình thành và phát triển
1.2.1.1 WTO là gì?
WTO (World Trade Organization) được hiểu là tổ chức thương mại thế giới
ra đời ngày 01/01/1995 Tuy chỉ mới ra đời được 11 năm, nhưng thực tế WTO đã có
bề dày nửa thế kỷ Chúng ta có thể hình dung về WTO với ba điều như sau:
- WTO là diễn đàn đàm phán thương mại (Negotiating forum)
Trang 13- WTO là nơi đề ra các quy tắc thương mại (Set of rules)
- WTO giúp giải quyết các tranh chấp thương mại (Settle disputes)
WTO được cấu thành từ các cấp:
- Hội nghị cấp bộ trưởng (Ministerial Conference), thường họp 2 năm 1 lần Đây là cơ quan có quyền ra quyết định cao nhất ở WTO Hội nghị cấp bộ trưởng sẽ thực hiện hành động cần thiết theo các chức năng
- Đại hội đồng (General Council), đây là bộ phận đại diện các nước thành viên Đại hội đồng sẽ họp giữa các kỳ họp cấp bộ trưởng
- Hội đồng các cấp, đây là hội đồng về các lĩnh vực như:
+ Thương mại hàng hóa (Council for Trade in Goods)
+ Thương mại dịch vụ (Council for Trade in Services)
+ Sở hữu trí tuệ (Aspects of Intellectual Property Rights)
- Các tiểu ban, đây là cấp túc trực thuộc đại hội đồng và các hội đồng Chẳng hạn hội đồng về thương mại hàng hóa có 11 tiểu ban như thực hiện chống bán phá giá, nông nghiệp, an toàn, …
Mục tiêu của WTO: Thúc đẩy mậu dịch tự do, hoạt động thương mại công
bằng, thông suốt và mở rộng hơn nữa thị trường thế giới
1.2.1.2 Gia nhập WTO
Muốn gia nhập WTO, phải trải qua trình tự gồm 3 giai đoạn: nộp đơn, đàm phán gia nhập và kết nạp Điều khác biệt là về thời gian và thỏa thuận đáp ứng yêu cầu từ các bên liên quan
Đàm phán gia nhập WTO cần phải qua 2 giai đoạn:
1 Công khai hóa chính sách về cơ chế thương mại có liên quan đến hiệp định WTO Trong quá trình nhóm công tác WTO xem xét, các thành viên còn lại sẽ
có quyền đặt các câu hỏi mà họ quan tâm, liên quan đến lĩnh vực kinh tế
2 Đàm phán trải qua 2 tiến trình: đàm phán đa phương và song phương Đàm phán đa phương thực chất là cuộc họp của nhóm công tác WTO với nước muốn gia nhập WTO, còn đàm phán song phương là đàm phán theo yêu cầu của các nước thành viên Cụ thể nước ta khi gia nhập WTO, có 28 nước yêu cầu đàm phán
Trang 14song phương với ta Trong đó có 3 nước ta đã có ký kết song phương từ trước, còn lại ta phải đàm phán với 25 nước trước khi nhóm công tác của WTO xét kết nạp
nước ta
1.2.2 Vai trò của WTO và lợi ích từ WTO
- Đây là tổ chức góp phần gìn giữ hòa bình
- Giải quyết các tranh chấp thương mại trong nội bộ WTO một cách xây dựng
- WTO hành động theo pháp luật quốc tế, không dựa vào quyền lực
- Cắt giảm thuế và hàng rào phi thuế quan
- Người tiêu dùng có nhiều cơ hội và quyền lựa chọn hơn
- Tăng thu nhập cho người dân và quốc gia
- Giúp tăng trưởng kinh tế của mọi quốc gia thành viên
- Cắt giảm chi phí, hiệu quả kinh tế cao hơn
- Bảo vệ quyền lợi kinh tế của quốc gia thành viên
- Giúp định ra hệ thống chính sách kinh tế quốc tế hoàn thiện hơn
1.3 Việt Nam gia nhập WTO - điều kiện cần thiết để hội nhập và phát triển kinh tế
Trong trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế, việc gia nhập WTO sẽ mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế Việt Nam, một nền kinh tế đang ở thời
kỳ đầu của sự phát triển với nhu cầu vốn đầu tư rất lớn Việc tham gia cùng sân chơi thương mại, dịch vụ tài chính, ngân hàng,… một cách bình đẳng sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam mở rộng đầu tư, thu hút vốn từ bên ngoài, cùng với vốn là kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm, tri thức về điều hành, quản trị kinh doanh, … để phát triển nền kinh tế
Việt Nam hiện nay là thành viên tích cực của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), và diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) Cũng nhờ hội nhập quốc tế mà kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng từ 3 tỷ USD năm 1986, đến 35,8 tỷ USD năm 2002, đạt
Trang 15mức 44,5 tỷ USD năm 2003 Việc gia nhập WTO là một bước đi quan trọng tiếp theo trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Thực tế cho thấy các quốc gia sau khi gia nhập WTO đều có vị thế cao hơn Bằng cách tham gia vào WTO, các nước nhỏ như Việt Nam cũng đương nhiên được hưởng những lợi ích mà tất cả các thành viên khác trong WTO dành cho nhau
Như vậy, trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới ngày nay, nếu không hội nhập mà tiếp tục đóng cửa thì nguy cơ tụt hậu tất yếu sẽ trở thành hiện thực Theo đuổi chính sách hội nhập một cách thận trọng và khôn khéo sẽ góp phần nâng cao trình độ, chuẩn mực về hoạch định chính sách, tạo thuận lợi cho thương mại, đồng thời duy trì được mức bảo hộ hợp lý cho các ngành kinh tế, giúp các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận được với công nghệ hiện đại, kỹ năng quản lý tiên tiến cũng như tham gia vào mạng lưới sản xuất kinh doanh quốc tế, nâng cao sức cạnh tranh trong nước cũng như quốc tế
1.3.1 Các lợi ích cho Việt Nam khi là thành viên WTO
- Mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận
với thị trường rộng lớn hơn, cùng với chế độ đối xử bình đẳng như đối với mọi thành viên khác của tổ chức Đây là cơ hội pháp lý để chúng ta tạo lập và tăng cường vị thế trên thương trường, từng bước xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong kinh doanh Những cam kết giảm trợ cấp, mở rộng hạn ngạch nhập khẩu của các nước, nhất là các nước thuộc nhóm phát triển sẽ giúp Việt Nam dành được vị thế trên thị trường quốc tế, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước, tạo công ăn việc làm, tăng thu ngoại tệ cho ngân sách nhà nước
Mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế thương mại vừa là động lực, vừa là áp lực để các doanh nghiệp Việt Nam nhìn lại mình, hiểu được thực chất điểm mạnh, điểm yếu, từ đó đổi mới, tổ chức lại theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả Gia nhập WTO, thị trường được mở rộng thông qua việc tạo lập môi trường kinh doanh ổn định với quan hệ thương mại được ràng buộc chặt chẽ, minh bạch và có khả năng dự báo trước
Trang 16- Trở thành thành viên WTO là một bước tiến lớn và quan trọng trong quá
trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới để từ đó tiếp cận với những thành quả của
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã, đang và sẽ diễn ra mạnh mẽ trên thế giới Thông qua làm việc trực tiếp với nước ngoài, Việt Nam không chỉ tiếp thu được với công nghệ sản xuất hiện đại mà còn học hỏi được kinh nghiệm quản lý
- Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế trên cơ sở các quy định của
WTO sẽ giúp Việt Nam tránh được sức ép của các nước lớn Vào WTO, những
nước yếu như Việt Nam sẽ có quyền thương lượng và khiếu nại một cách công bằng với các cường quốc thương mại trong tranh chấp dựa trên những luật lệ chung Ta
sẽ tránh được tình trạng bị ép thuế suất cao
- Gia nhập WTO, việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ thuận lợi
hơn Vì khi là thành viên của WTO, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không còn e ngại
với việc thay đổi Chính sách của Chính phủ Việt Nam; môi trường pháp lý sẽ rõ ràng, minh bạch hơn, đặc biệt WTO có hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) để điều chỉnh đầu tư nước ngoài Theo đó, các nước thành viên WTO sẽ phải loại bỏ những biện pháp hạn chế đầu tư trái với TRIMS, từ đó môi trường đầu tư sẽ hấp dẫn hơn, việc thu hút đầu tư nước ngoài sẽ nhiều hơn
- Gia nhập WTO, hàng hóa và dịch vụ do nước ngoài cung cấp cho Việt Nam
sẽ nhiều và mẫu mã đa dạng hơn, tạo sự lựa chọn mới và tốt hơn cho người tiêu
dùng Người tiêu dùng sẽ được mua với giá thấp hơn (do hạ thấp hàng rào thuế quan)
1.3.2 Các thách thức về kinh tế khi Việt Nam là thành viên WTO
Gia nhập WTO, bên cạnh những cơ hội là những khó khăn mà Việt Nam phải đối mặt vì Việt Nam vẫn còn là một nước nghèo, kém phát triển với hệ thống chính sách kinh tế - xã hội còn nhiều khiếm khuyết, chưa hoàn chỉnh, năng lực nền kinh tế còn yếu Với xuất phát điểm như vậy, gia nhập WTO, chắc chắn Việt Nam
sẽ gặp không ít thách thức và có thể phải gánh chịu những thua thiệt lớn về nhiều mặt Có thể nêu những thách thức chính về kinh tế như sau:
Trang 17- Sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ của ta còn rất thấp vì chất lượng
thấp, giá thành cao, sự phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng còn hạn chế, năng lực cạnh tranh kém Vì vậy, khi gia nhập WTO, nếu doanh nghiệp không có chiến lược
và năng lực cạnh tranh đúng và đủ sức thì sẽ bị phá sản
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, trước hết do
quy mô doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là vừa và nhỏ Mặt khác ta chưa có kinh nghiệm về các mặt trên trường quốc tế, chưa hiểu rõ về WTO
- Giảm thuế xuất nhập khẩu sẽ làm giảm thu thuế nhập khẩu, giảm thu ngân
sách, tăng thêm gánh nặng cho ngân sách quốc gia Hiện nay, số tiền thu được từ
thuế nhập khẩu của Việt Nam chiếm khoảng 16 – 17% trong tổng thu ngân sách Việc gia nhập WTO gắn liền với việc giảm thuế nhập khẩu thì khả năng khoản thu cho ngân sách này khó được đảm bảo Điều này sẽ kéo theo khó khăn cho kế hoạch chi ngân sách
- Hệ thống pháp lý Việt Nam còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, phải sửa đổi,
bổ sung nhiều và liên tục Có lúc còn biểu hiện sự chủ quan, duy ý chí, chưa thật sự
quan tâm đến quy luật khách quan, quy luật thị trường cũng như các chuẩn mực quốc tế Đây là thách thức không chỉ về việc khó thực hiện đầy đủ các cam kết khi gia nhập WTO mà còn kéo dài thêm những bất ổn, khó khăn đối với các doanh nghiệp trong nước Ta cần nhanh chóng bổ sung và sửa đổi những bất cập về các văn bản pháp lý cần thíết trong lĩnh vực thương mại cho phù hợp luật pháp quốc tế
- Hiện nay, nguồn nhân lực ở nước ta còn biểu hiện nhiều hạn chế, đội ngũ
cán bộ chưa được đào tạo và trang bị kiến thức cần thiết về chuyên môn, nghiệp vụ
để hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh những tồn tại về nhân lực, công tác quản lý nhà nước cũng là những thách thức không nhỏ Công tác quản lý còn nhiều chồng chéo, sự phân cấp không rõ ràng về con người và nghĩa vụ Từ đó dẫn đến nhiều khó khăn, chậm chạp về tổ chức thực hiện, nhiều biểu hiện quan liêu, tham nhũng, việc chỉ đạo chưa sâu sát và không kịp thời
Trang 18- Việc thực thi luật bảo vệ sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập
quốc tế Điều này đang gây ra nhiều hệ lụy và thiệt thòi cho các doanh nghiệp của
nền kinh tế đang phát triển như nước ta
- Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam chưa hiểu thật thấu đáo về quy định
của WTO, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt
động kinh doanh theo kiểu gặp đâu làm đó, không có chiến lược thị trường, chưa có hướng đầu tư phát triển cụ thể, chưa chuẩn bị đội ngũ nhân lực với những hiểu biết cần thiết khi hội nhập… Như vậy, khó tránh khỏi sự đào thải tất yếu của quy luật cạnh tranh Do đó, khi gặp phải những tranh chấp trong kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ phải thuê luật sư nước ngoài và giải quyết tranh chấp ở tòa án ngoài lãnh thổ Việt Nam Điều này sẽ gây khó khăn và tốn kém thêm chi phí cho doanh nghiệp
- Việc trợ cấp của Chính phủ cho một số ngành hàng, sản phẩm ưu tiên sẽ
khó khăn hơn vì bị quy định và giám sát chặt chẽ bởi WTO
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO vừa là cơ hội, vừa là thách
thức Cơ hội và thách thức luôn vận động biến đổi, có thể chuyển hóa sang nhau Tận dụng được cơ hội sẽ đầy lùi được thách thức và tạo ra cơ hội mới Ngược lại, không tận dụng được cơ hội thì thách thức sẽ lấn át làm triệt tiêu cơ hội Chính vì vậy, phải nhận thức rõ, đầy đủ về cơ hội và thách thức Doanh nghiệp phải đương đầu với cạnh tranh nên cần phải trang bị đầy đủ, Nhà nước là người mở đường nên phải kịp thời, sáng suốt Có như vậy, việc gia nhập WTO của Việt Nam mới đi đến đích của sự thành công
1.4 Năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
tế
1.4.1.Cạnh tranh
Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế là một cuộc chạy đua về giá cả và chất lượng, cuộc chiến về quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và tăng cường phục vụ khách hàng Cạnh tranh xảy ra khi một hoặc nhiều đối thủ hoặc cảm thấy bị chèn ép hoặc
Trang 19thấy cơ hội để cải thiện vị trí Khi một doanh nghiệp có một bước đi mới, có những hiệu ứng rõ ràng đối với những đối thủ của nó và như thế có thể kích thích sự trả đũa hoặc những cố gắng chống trả lại, nói một cách khác là giữa các đối thủ luôn có
sự phụ thuộc lẫn nhau không thể tránh khỏi Ngoài áp lực từ những đối thủ hiện tại, doanh nghiệp còn phải chịu bốn áp lực khác: đó là nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ mới, mối đe dọa của những sản phẩm thay thế, quyền lực của người mua và quyền lực của người cung ứng Như thế để đạt được thắng lợi trong cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải đánh giá, chọn đúng chiến lược để tạo lợi thế, khẳng định vị trí của mình Cạnh tranh còn được hiểu là cuộc tự chạy đua để không bị dừng lại, không bị chậm so với chính mình, để vượt lên chính mình
Để bảo đảm cho cạnh tranh luôn được duy trì và phát huy được mặt tích cực của nó thì phải tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, tức là cạnh tranh phải đúng luật Điều đó đòi hỏi phải tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc tạo lập khung pháp luật để duy trì và khuyến khích cũng như kiểm soát cạnh tranh
Trong một thời gian dài ở Việt Nam trước đây, cạnh tranh được nhìn nhận dưới góc độ tiêu cực: cạnh tranh gắn với đổ vỡ, cạnh tranh là tiêu diệt lẫn nhau, là
“cá lớn nuốt cá bé” Nhận thức không đầy đủ về cạnh tranh đã dẫn tới không thừa nhận cạnh tranh, tạo ra sự độc quyền và nuôi dưỡng độc quyền trong nền kinh tế Cho đến nay, việc hạn chế cạnh tranh, duy trì độc quyền đối với doanh nghiệp Nhà nước trong một số ngành, lĩnh vực vẫn còn nặng nề
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, cần có nhận thức mới và đúng về cạnh tranh, ý nghĩa của cạnh tranh và việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Cạnh tranh là động lực cho phát triển của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất - kinh doanh (năng lực tổ chức quản lý, trình độ công nghệ, trình độ tay nghề ), nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn lực Theo ông Michael Fairbanks - một chuyên gia nghiên cứu và tư vấn về năng lực cạnh tranh, thì cạnh tranh tạo động lực tối đa hoá hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế Ngoài ra, cạnh tranh
Trang 20mang lại lợi ích cho người tiêu dùng vì được sử dụng hàng hoá rẻ hơn, chất lượng cao hơn, hậu mãi tốt hơn
Cạnh tranh không chỉ nhằm “tiêu diệt lẫn nhau”, “cá lớn nuốt cá bé” Thực tế cho thấy, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, các doanh nghiệp với đủ loại quy mô từ cực lớn, lớn, vừa, nhỏ và cực nhỏ vẫn cùng tồn tại và phát triển Mỗi loại quy mô đều tìm thấy chỗ đứng của mình Các doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ vẫn tìm thấy “khe, ngách” để tồn tại và phát triển, nhiều doanh nghiệp loại này vươn lên thành các doanh nghiệp lớn Như vậy, cạnh tranh không phải chỉ có tranh giành, mà cạnh tranh luôn đi đôi với hợp tác, cạnh tranh trong sự hợp tác và bổ sung, hỗ trợ cho nhau Với xu hướng hợp tác, liên kết trong sản xuất - kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể thực hiện một khâu trong dây chuyền sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp lớn hay cực lớn, trở thành đại lý, gia công hay hợp đồng thực hiện một số khâu trong dây chuyền đó
Cạnh tranh và độc quyền là hai mặt của quá trình phát triển Các doanh nghiệp luôn hướng tới độc quyền nhằm mục đích định đoạt thị trường và thu lợi nhuận siêu ngạch Độc quyền chỉ mang lại lợi ích trước mắt cho doanh nghiệp độc quyền Về lâu dài, doanh nghiệp độc quyền sẽ mất động lực phát triển, dẫn tới suy thoái Độc quyền làm tổn hại nền kinh tế và gây thiệt hại cho người tiêu dùng Do vậy, việc tạo lập và duy trì môi trường cạnh tranh, chống độc quyền là vấn đề then chốt và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
1.4.2 Năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh là khả năng khai thác, sử dụng và quản lý các nguồn lực một cách khoa học và hiệu quả, kết hợp với việc kịp thời tận dụng các yếu tố thuận lợi khách quan từ môi trường nhằm tạo ra các lợi thế cạnh tranh nhất định giúp doanh nghiệp có thể cạnh tranh thắng lợi trước các đối thủ của mình
Có thể xem xét năng lực cạnh tranh dưới 3 góc độ sau: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh sản phẩm
Trang 21Năng lực cạnh tranh quốc gia theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), được thể hiện qua 3 nhân tố: tính sáng tạo trong kinh tế; tính khoa học, tiên tiến của công nghệ và khả năng tài chính quốc gia
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh sản phẩm chính là khả năng khai thác và sử dụng các ưu thế, các năng lực độc đáo của mình để có thể đứng vững trước các áp lực cạnh tranh như: đối thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, khách hàng, nhà cung cấp và sản phẩm thay thế Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được xem xét dựa vào các tiêu chí như: cơ sở vật chất; năng lực khoa học công nghệ trong việc phát triển sản phẩm mới, nghiên cứu triển khai; khả năng về marketing; khả năng liên kết, sáp nhập; khả năng tài chính
và khả năng mềm dẻo của cơ cấu tổ chức
Các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành du lịch, thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Để nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần chú ý những vấn đề sau đây:
-Năng lực cạnh tranh là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố và chịu tác động của nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
-Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giành được lợi ích kinh tế của mình thông qua việc đua tranh để giành những điều kiện sản xuất hoặc tiêu thụ hàng hoá tốt hơn
-Theo ý kiến về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp do Giáo sư Michael Porter - Đại học Harvard (Hoa Kỳ) đề xuất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố: 1) Các điều kiện về cầu; 2) Các điều kiện về yếu tố sản xuất; 3) Chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và đối thủ cạnh tranh; 4) Các ngành liên quan và sự hỗ trợ
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết thể hiện khả năng của doanh nghiệp về quản lý, tiếp thị, trình độ công nghệ Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh không đơn thuần chỉ là tổng cộng các năng lực đó, mà còn là sự phù hợp của năng lực bên trong với nhu cầu thị trường và với điều kiện bên ngoài Nếu sự phù hợp đó đạt mức tối ưu thì năng lực cạnh tranh tăng lên theo cấp số nhân
Trang 22Do vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bên cạnh việc nâng cao năng lực bên trong doanh nghiệp thì cần tạo lập môi trường bên ngoài doanh nghiệp Điều đó vừa tạo điều kiện thuận lợi và quan trọng hơn là tạo động lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
Nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế làm cho áp lực cạnh tranh tăng lên rất lớn Các doanh nghiệp phải cạnh tranh với hàng hoá từ bên ngoài, với các nhà đầu tư từ bên ngoài trên thị trường nội địa và cạnh tranh trên thị trường quốc tế Trong bối cảnh đó, nếu sức cạnh tranh thấp, doanh nghiệp sẽ bị thôn tính, sáp nhập và thậm chí bị phá sản Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là quá trình lâu dài, phức tạp
và thường xuyên, liên tục
Để nâng cao năng lực cạnh tranh đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý, tiếp thị, nâng cao trình độ công nghệ, tay nghề của công nhân Tất cả các yếu tố này không thể có được trong một sớm, một chiều mà phải đầu tư lâu dài, thậm chí tốn nhiều công sức và tiền của Ngoài ra, việc nâng cao năng lực cạnh tranh không phải thực hiện một lần là xong mà đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên, liên tục Khi đạt được một mức độ nhất định về chất lượng, hiệu quả, mẫu mã, trình độ quản lý, công nghệ nếu doanh nghiệp hài lòng, tự mãn với kết quả đó thì cũng đồng nghĩa với việc bị loại ra khỏi cuộc chơi trong tương lai gần
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần thống nhất một số quan điểm định hướng nhằm bảo đảm tính cơ bản và vững chắc Một số quan điểm cụ thể như sau:
- Việc nâng cao năng lực cạnh tranh cần được thực hiện đồng bộ nhiều khâu, nhiều yếu tố, tuy nhiên cần chú trọng tập trung vào khâu then chốt, có tính quyết định
- Trong cơ chế thị trường, hoạt động kinh doanh cần nắm được nhu cầu, thị hiếu, các lực lượng cung trên thị trường Điều đó đòi hỏi phải tổ chức tiếp thị tốt, người quản lý phải hiểu biết, dự báo được nhu cầu và sự vận động của nhu cầu, thị
Trang 23hiếu Như vậy đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý và đây được coi là khâu rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Để nâng cao năng lực cạnh tranh cần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả Điều này đòi hỏi nỗ lực rất lớn trên mọi mặt của doanh nghiệp: từ đổi mới công nghệ, đổi mới tổ chức, nâng cao tay nghề cho người lao động, nâng cao năng lực quản lý, có chiến lược marketing tốt Tuy nhiên, tất cả các yếu tố đó đều không nằm ngoài vấn đề nâng cao năng lực của con người trong doanh nghiệp Do đó, đầu
tư vào vốn con người, đào tạo đội ngũ nhân viên và quản lý là những khâu trung tâm trong chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Như ông Michael Fairbanks - chuyên gia tư vấn về năng lực cạnh tranh có nói: “Sự phát triển kinh tế trong tương lai sẽ phụ thuộc vào nguồn nhân lực tinh nhuệ và thái độ tích cực cạnh tranh, học hỏi, tin tưởng, hợp tác và đầu tư vào các yếu tố lợi thế phức tạp”
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo đảm tính vững chắc, tức
là có thể duy trì khả năng lâu dài và liên tục cả trong hiện tại và tương lai Để đảm bảo tính vững chắc, việc nâng cao năng lực cạnh tranh cần dựa trên lợi thế so sánh động, có giá trị gia tăng cao, không nên phụ thuộc quá lớn vào lợi thế lao động rẻ, tài nguyên sẵn có, vì như thế chỉ làm nghèo quốc gia đi mà thôi
- Ngoài ra, để bảo đảm tính bền vững thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh phải dựa trên các biện pháp lành mạnh (đúng luật), khoa học (đúng quy luật, vận dụng thành tựu khoa học - công nghệ) và phù hợp với xu thế chung như thân thiện với môi trường và chú trọng khía cạnh xã hội của sự phát triển
- Việc nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ là nhiệm vụ của các doanh nghiệp mà là nhiệm vụ quan trọng của tất cả các cơ quan chính quyền và của toàn
xã hội, là một trong những giải pháp quan trọng nhất để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Trang 24KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Thế giới trong thời đại ngày nay, toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu Toàn cầu hóa luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực Cạnh tranh trong phát triển kinh tế là quy luật phổ biến nhưng trong giai đoạn hội nhập toàn cầu thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn nhiều Việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế nói chung và cho các doanh nghiệp nói riêng, đối với nước ta hiện nay là vấn đề nóng bỏng và sống còn trong bối cảnh ta đã gia nhập WTO Tuy nhiên, qua nghiên cứu lý luận và đối chiếu thực tiễn nền kinh tế Việt Nam, chúng ta đã hiểu con đường cần đi và đã có thể vạch ra chiến lược cạnh tranh hợp lý và chắc chắn để đưa nền kinh tế nước ta đi lên, nhanh chóng hội nhập bình đẳng với các nền kinh tế khác trên thế giới Các ngành kinh tế cụ thể có thể dựa trên chiến lược chung đó mà tự điều chỉnh và vạch ra chiến lược của riêng ngành mình trong bước đi ban đầu của quá trình hội nhập hiện nay
Trang 25Chương II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGÀNH DU LỊCH LÂM ĐỒNG
Trước khi đi vào nghiên cứu thực trạng ngành du lịch Lâm Đồng, ta nghiên cứu qua về thực trạng ngành du lịch Việt Nam, vì du lịch Lâm Đồng nằm trong tổng thể ngành du lịch của cả nước
Thực hiện Chiến lược phát triển du lịch và Chương trình hành động quốc gia
về du lịch, chúng ta đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng, riêng trong 5 năm qua là 2.146 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật ở các khu du lịch trọng điểm và thu hút được hơn 190 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào du lịch với tổng số vốn là 4,64 tỷ USD
Hàng trăm khách sạn, khu du lịch cao cấp được xây mới, gia tăng số lượng phòng khách sạn và sản phẩm du lịch đạt tiêu chuẩn phục vụ khách quốc tế Công tác xúc tiến, quảng bá, đào tạo nhân lực cũng được đẩy mạnh Năm 2005 đạt 3,43 triệu lượt khách quốc tế
Chúng ta cũng đã ban hành Luật Du lịch và nhiều văn bản hướng dẫn tạo ra một môi trường pháp lý rõ ràng hơn trong hoạt động kinh doanh du lịch Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, lực lượng kinh doanh du lịch nước ta cũng đã phát triển, thích nghi dần với cơ chế mới
Các doanh nghiệp du lịch Nhà nước cũng đang được cổ phần hóa và sắp xếp lại theo hướng hình thành những tập đoàn du lịch mạnh, Công ty mẹ - công ty con
để từng bước làm ăn hiệu quả trước môi trường cạnh tranh quốc tế Du lịch Việt
Trang 26Nam đang mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế Đã có 26 hiệp định hợp tác du lịch song phương cấp Chính phủ được ký kết với các nước trong và ngoài khu vực, đồng thời thiết lập quan hệ với hơn 1.000 hãng du lịch của hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ
Chúng ta còn tham gia tích cực và hiệu quả vào các diễn đàn hợp tác du lịch quốc tế và khu vực như Tổ chức Du lịch Thế giới, hợp tác du lịch ASEAN, Hiệp hội
Du lịch châu Á - Thái Bình Dương, chương trình phát triển Du lịch tiểu vùng sông
Mê Kông mở rộng, hợp tác hành lang Ðông - Tây, hợp tác du lịch sông Mê Kông - sông Hằng, Đặc biệt, gần đây Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC 2006 được bạn bè quốc tế đánh giá cao
Thế giới trong những năm đầu của thế kỷ XXI đang có những biến đổi sâu sắc
về kinh tế, chính trị, xã hội; tính năng động và nhịp độ tăng trưởng cao của nền kinh
tế các nước khu vực Châu Á; xu thế toàn cầu hóa và hợp tác tiểu vùng (WEC, GMS,…); nhu cầu hợp tác phát triển tăng lên, đòi hỏi phải có sự thay đổi phạm vi, chức năng và cấu trúc của các thể chế toàn cầu như Liên hợp quốc (UN), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), tổ chức thương mại thế giới (WTO),…; nhu cầu du lịch trên thế giới đang tăng mạnh, du lịch thế giới phát triển với xu thế chuyển dần sang khu vực Đông Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á (theo dự báo của tổ chức du lịch thế giới, khu vực Đông Nam Á đến năm 2020 sẽ đón khoảng
120 triệu lượt khách quốc tế, mức tăng trưởng bình quân lượng khách quốc tế đến khu vực giai đọan đến năm 2010 là 6%/năm) Bối cảnh đó tạo cơ hội thuận lợi để du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tỉnh Lâm Đồng nói riêng phát triển theo hướng hội nhập ngang tầm khu vực và quốc tế
Việt Nam nằm trong vùng phát triển kinh tế được đánh giá vào loại năng động nhất thế giới Nền kinh tế không ngừng phát triển, GDP bình quân hàng năm tăng (Việt Nam tiếp tục được xếp là nước có tốc độ phát triển kinh tế cao trong khu vực Châu Á, đứng thứ 2 sau Trung Quốc); cơ cấu kinh tế đang chuyển đổi nhanh sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN; kết cấu hạ tầng ngày càng được đầu
Trang 27tư phát triển; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; nhận thức
du lịch thay đổi theo hướng tích cực; nhu cầu du lịch tăng nhanh
Hệ thống pháp luật đang từng bước được hoàn thiện mà điển hình là sự ra đời của Luật Du lịch được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ bảy (từ ngày 5/5 đến ngày 14/6/2005), và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi để phát triển du lịch Những quy định trong Luật Du lịch về cơ bản đã tiếp cận được với Luật Du lịch của nhiều nước trên thế giới, tạo nên những nền tảng vững chắc để thu hút các doanh nghiệp du lịch nước ngoài đầu tư, hợp tác kinh doanh với Việt Nam đồng thời thu hút ngày càng nhiều khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Các nội dung quy định về bảo vệ và tôn tạo tài nguyên du lịch, quy hoạch du lịch, công nhận và tổ chức quản lý khu, tuyến, điểm du lịch và đô thị du lịch; tiêu chuẩn hoá cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ, tiêu chuẩn hoá các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch; các quy định về đảm bảo an ninh, an toàn, cứu hộ, cứu nạn, bảo hiểm du lịch và giải quyết yêu cầu, kiến nghị của khách du lịch đều nhằm thể hiện chính sách của Nhà nước ta trong việc nâng cao sức cạnh tranh, tính hấp dẫn của du lịch Việt Nam, bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách du lịch và các nhà đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực du lịch
Việc gia nhập WTO và các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới đã và đang tạo điều kiện cho kinh tế đối ngoại, trong đó có du lịch phát triển Ngoài ra việc loại bỏ chế độ VISA đối với công dân một số nước ASEAN và Nhật Bản, việc mở thêm các đường bay Việt Nam – Mỹ, Việt Nam – Hàn Quốc,… cũng góp phần thu hút thêm khách du lịch các nước nói trên đến Việt Nam
Việt Nam có chế độ chính trị ổn định, an ninh đảm bảo; đất nước, con người Việt Nam mến khách; là điểm đến an toàn, thân thiện đối với khách quốc tế
Tại Hội nghị tổng kết du lịch Việt Nam 2006 và triển khai công tác du lịch
2007 diễn ra sáng 10-2 tại Hà Nội, Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng
đã nhấn mạnh chủ trương xã hội hóa du lịch và yêu cầu ngành du lịch phải rà soát
và qui hoạch lại toàn bộ hoạt động du lịch ở trong nước
Trang 28“3,585 triệu lượt khách quốc tế và 17,5 triệu lượt khách nội địa, thu nhập du lịch đạt 51.000 tỉ đồng, trong đó thu nhập từ du lịch quốc tế đạt 2,85 tỉ USD (khoảng 44.000 tỉ đồng)” - đó là những con số khá lạc quan mà phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Hoàng Tuấn Anh công bố trong hội nghị Năm 2006 cũng là năm ngành du lịch VN “ghi điểm” trong việc quảng bá hình ảnh VN qua việc phối hợp
tổ chức tốt Hội nghị cấp cao APEC Từ đây, lượng khách du lịch quay lại VN những lần sau đã lớn hơn rất nhiều so với các năm trước: khách Mỹ quay lại nhiều nhất với hơn 50%, châu Âu 48%, châu Á 28%
Tính đến tháng 6/2005 số khách sạn được xếp hạng của Du lịch Việt Nam là 2.572 khách sạn (từ 5 sao đến đạt tiêu chuẩn) với tổng số phòng là 72.064 phòng và
cả nước có 361 doanh nghiệp lữ hành quốc tế Cụ thể được minh họa qua bảng 2.1
Bảng 2.1
Số khách sạn được xếp hạng của Du lịch Việt Nam tính đến tháng 6/2005
Loại 5 sao 4 sao 3 sao 2 sao 1 sao ĐTC* Tổng số
Khách sạn 18 48 116 449 434 1.507 2.572
Số phòng 5.251 5.797 8.330 18.447 10.757 23.482 72.064
(Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam)
Xét cơ cấu các thành phần doanh nghiệp du lịch ta thấy rõ trên biểu đồ 2.1
Biểu đồ 2.1
(Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam)
Trang 29Ta thấy doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần hiện đang chiếm 47%, các công ty TNHH và các công ty tư nhân chiếm 51% Như vậy thành phần kinh tế ngoài quốc doanh trong ngành du lịch chiếm tỷ lệ cao hơn thành phần kinh tế nhà nước Tính chất xã hội hóa ngành du lịch đang ngày càng thể hiện rõ
Xét tổng doanh thu của ngành du lịch so với tổng GDP quốc gia, qua bảng thống kê 2.2 ta thấy:
Tỷ lệ % DT du lịch/Tổng DT
Tỷ lệ bình quân qua các năm 12,8 %
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Trang 30Như vậy, doanh thu khách sạn, nhà hàng, lữ hành trên cả nước qua các năm
có tăng về số tuyệt đối nhưng về cơ cấu doanh thu trong tổng doanh thu của cả nước thì doanh thu ngành du lịch vẫn không tăng, mức trung bình là 12,8%
Về số lượng khách hàng năm, có thể thấy rõ thực trạng hoạt động của ngành
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Như vậy, ở các cơ sở lưu trú, lượt khách Việt Nam cao hơn hẳn so với lượt khách quốc tế Nghĩa là tỷ lệ khách quốc tế lưu trú so với khách Việt Nam là rất thấp Hơn nữa, qua các năm, lượt khách Việt Nam có tỷ lệ tăng cao hơn so với tỷ lệ tăng lượt khách lưu trú quốc tế nên sự cách biệt này càng lớn
Còn khách lữ hành thì năm 2000, lượt khách lữ hành trong nước ít hơn lượt khách lữ hành quốc tế, nhưng từ năm 2001 đến nay thì lượt khách lữ hành quốc tế vượt lên cao hơn so với lượt khách lữ hành Việt Nam Như vậy nghĩa là các cơ sở kinh doanh lữ hành đã khai thác rất tốt nguồn khách lữ hành quốc tế đến Việt Nam Nhưng tỷ lệ tăng trưởng của lượt khách lữ hành nói chung còn chậm
Khách Việt Nam đi du lịch ra nước ngoài thì tăng mạnh, đặc biệt năm 2004 đến nay, do chính sách thông thoáng của nhà nước trong việc làm thủ tục VISA
Trang 31xuất cảnh dễ dàng hơn nên lượng khách Việt Nam đi du lịch ra nước ngoài tăng
đáng kể
Bảng 2.4
SỐ KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM (nghìn lượt người)
Quốc tịch Mục đích đến Năm
Tổng Đài
Loan
Nhật Bản Pháp Mỹ Anh
Thái Lan
Trung Quốc Du lịch
Thương mại
Thăm thân nhân Khác
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Qua bảng 2.4 ta thấy khách đến Việt Nam đi du lịch là chủ yếu Như vậy Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của du khách nước ngoài Ta cũng thấy khách Trung Quốc và Nhật Bản chiếm số đông trong lượng khách nước ngoài đến Việt Nam và khách đến Việt Nam bằng đường hàng không là chủ yếu (biểu đồ 2.2)
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Trang 32Ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, lượng khách đến Việt Nam tăng mạnh
(bảng 2.5) Đây là điều đáng mừng và triển vọng nhiều hứa hẹn cho du lịch Việt
Nam trong tương lai Một điều đáng mừng nữa, ngoài khách truyền thống là Trung
Quốc và Nhật Bản, lượng khách Hàn Quốc và Mỹ đến Việt Nam tăng lên khá cao
Bảng 2.5
Khách quốc tế đến Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2007
4 tháng đấu năm 2007
so với cùng kỳ năm ngoái (%)
Thăm thân nhân 234.800 120,4
Trang 33(Nguồn: Tổng cục Du lịch Việt Nam)
2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn của du lịch Việt Nam khi gia nhập
WTO
2.1.2.1 Những thuận lợi:
Việt Nam vừa chính thức gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Trong
xu thế chung, du lịch Việt Nam đã chủ động hội nhập quốc tế Ngành du lịch nước
ta đã bước vào một sân chơi mới với những luật lệ cạnh tranh quốc tế quyết liệt và
gay gắt hơn
Du lịch Việt Nam đang đứng trước vận hội mới, vị thế Việt Nam đã được nâng
lên, "sân chơi" rộng mở và luật chơi cũng rõ ràng Hội nhập WTO sẽ thúc đẩy việc
cải thiện và mở rộng các mối quan hệ kinh tế song phương, đa phương giữa Việt
Nam và các nước trên thế giới, góp phần giúp môi trường đầu tư kinh doanh nói
chung và trong lĩnh vực du lịch nói riêng của nước ta ngày một thông thoáng hơn,
cạnh tranh tự do và bình đẳng hơn Đây cũng là điều kiện thúc đẩy các thành phần
kinh tế tham gia vào các hoạt động kinh doanh và phát triển du lịch
Một thuận lợi nữa là khả năng thu hút vốn FDI của Việt Nam đang tăng
trưởng Ðây là điều kiện quan trọng giúp du lịch Việt Nam bắt kịp sự phát triển của
các nước trong khu vực và thế giới WTO đang mở ra những viễn cảnh đầu tư mới
Trang 34Nhiều tập đoàn kinh tế lớn đang hướng sự chú ý đến Việt Nam và "đổ bộ" vào đầu
tư đón đầu trong lĩnh vực du lịch Riêng phần giá cả và an ninh, Việt Nam được đánh giá cao Việt Nam là nước có chế độ chính trị rất ổn định, là thuận lợi lớn cho các nhà đầu tư, trong đó có ngành du lịch Trong 9 tháng của năm 2006 nguồn vốn đầu tư vào du lịch ở Việt Nam đạt 2,2 tỷ USD trong tổng vốn 5,15 tỷ USD đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Tổng cục Du lịch sẽ hướng dẫn cụ thể những cam kết thực hiện lộ trình
WTO theo các kết quả đàm phán để các doanh nghiệp biết và chủ động chuẩn bị, điều chỉnh phương hướng kinh doanh, phát triển; phối hợp các địa phương, các doanh nghiệp, nghiên cứu tìm ra các giải pháp bảo đảm một môi trường du lịch lành mạnh, tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, thúc đẩy việc xây dựng các văn phòng đại diện du lịch Việt Nam ở nước ngoài; đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường một cách chuyên nghiệp để khai thác và mở rộng thị trường Điều cốt lõi
là toàn ngành phải xây dựng cho được những sản phẩm du lịch đặc sắc dựa trên thế mạnh tiềm năng của đất nước và từng vùng miền, làm nổi bật hình ảnh Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn, an toàn, thân thiện Bên cạnh đó là những biện pháp trong việc đào tạo một đội ngũ cán bộ năng động và chuyên nghiệp, một lực lượng lao động giỏi chuyên môn, thông thạo ngoại ngữ đáp ứng theo yêu cầu của sự phát triển
là hết sức cần thiết
Tổng cục Du lịch cho biết lĩnh vực du lịch - dịch vụ du lịch đang được các nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp quan tâm đặc biệt Nước ta đang mở ra những cơ hội kinh doanh lớn cho các nhà đầu tư ở khắp thế giới, sau khi Việt Nam gia nhập vào WTO Điều này đã được minh chứng bằng
số vốn cam kết đầu tư rất ấn tượng của các nhà đầu tư nước ngoài vào hàng loạt các
dự án trải dài từ Bắc chí Nam
Đây cũng là số vốn đầu tư lớn nhất cam kết đầu tư vào lĩnh vực du lịch - dịch
vụ du lịch trong nhiều năm trở lại đây
Trang 352.2.2.2 Những khó khăn:
Tuy vậy, du lịch VN cũng đứng trước rất nhiều khó khăn
Du lịch Việt Nam đang trong giai đoạn ban đầu gia nhập WTO, cho nên phải vừa hợp tác, vừa tìm hiểu cơ chế và luật chơi quốc tế Vì vậy có nhiều hạn chế và khó khăn, trong khi hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh Thực tế năng lực cạnh tranh của du lịch nước ta còn thấp bởi dịch vụ chưa đa dạng, cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ phát triển, chất lượng dịch vụ còn kém, giá cả cao, sản phẩm du lịch
ít phong phú Dẫn đến du lịch nước ta chưa giữ chân được khách, chưa kéo dài thời gian lưu trú của khách, tỷ lệ du khách quay lại lần sau còn thấp Hiệp hội du lịch Châu Á – Thái Bình Dương thông báo, hiện Việt Nam đứng thứ 87/124 nước về chỉ
số cạnh tranh du lịch (đứng đầu bảng là Thụy Sỹ, Singapore xếp thứ 8, Malaysia thứ
31, Thailand thứ 43 ) Các yếu tố về chính sách và hạ tầng du lịch thì được xếp trong nhóm cuối cùng Về thu nhập, năm 2006, Việt Nam thu khoảng 3 tỷ USD, trong khi Malaysia thu 17 tỷ USD, Thailand thu 13 tỷ USD [Theo vietnamnet.vn] Hội nhập sẽ tạo áp lực rất lớn với các doanh nghiệp du lịch Việt Nam trong cạnh tranh Phần lớn doanh nghiệp du lịch của ta thuộc loại nhỏ, chất lượng dịch vụ hạn chế, năng lực quản lý thấp Không một khách sạn nào ở VN có thể phục vụ được lượng khách cao cấp lưu trú từ 1.000 người trở lên Ðội ngũ nhân lực du lịch vừa thiếu vừa yếu về trình độ ngoại ngữ và kinh nghiệm, nhất là thiếu những người
có chuyên môn cao Quá trình hội nhập, mở cửa cũng có thể tạo ra nguy cơ phá hoại môi trường và cảnh quan du lịch nếu không có sự quan tâm và những biện pháp quản lý hiệu quả Ðó là một số thách thức chính đang đặt ra đối với ngành du lịch Việt Nam
Hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu Trong quá trình hội nhập, Nhà nước chỉ hỗ trợ, tạo môi trường pháp lý thông thoáng và thuận lợi, còn thành công tùy thuộc vào sức cạnh tranh, sự năng động của doanh nghiệp Đã đến lúc các doanh nghiệp không thể trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước mà phải thật sự tự thân vận động
Trang 362.2 Thực trạng ngành du lịch Lâm Đồng hiện nay
2.2.1 Thực lực ngành du lịch Lâm Đồng hiện nay:
Để đánh giá thực lực ngành du lịch Lâm Đồng hiện tại, luận văn xin đi vào số liệu thống kê một số lĩnh vực cơ bản sau:
2.2.1.1 Thực lực về cơ sở du lịch:
- Số cơ sở lưu trú: Khách sạn cĩ sao: 54 (Trong đĩ: KS 5 sao: 1, 4 sao: 2,
3 sao: 1, 2 sao: 20, 1 sao: 30) ;
Số nhà nghỉ các loại: 750 Tổng số phịng các cơ sở lưu trú: 10.000
Bảng 2.6 cho ta thấy rõ hơn về thực lực này
Bảng 2.6
Số doanh nghiệp du lịch của tỉnh Lâm Đồng
Phân loại doanh nghiệp DN kinh
doanh lữ hành DN kinh doanh lưu trú du lịch
DN kinh doanh dịch vụ du lịch khác
1 Doanh nghiệp Nhà nước 02 54
2 Doanh
nghiệp khác
16 750
(Nguồn: Sở Du lịch-Thương mại Lâm Đồng)
- Số khu, điểm du lịch, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hĩa : 91
Trong đĩ 79 điểm cĩ khả năng đầu tư khai thác kinh doanh Thực tế mới cĩ 25 khu, điểm đang kinh doanh và 12 cơ sở di tích lịch sử, văn hĩa, kiến trúc cĩ giá trị
du lịch đang được khai thác
2.2.1.2 Thực lực hoạt động kinh doanh:
- Lượng khách du lịch đến Lâm Đồng hàng năm: Được thể hiện qua bảng
2 7
Trang 37So với năm
2006
1 Tổng số lượt khách
(lượt khách) 1.560.900 1.848.000 + 18,4% 2.000.000 + 8,2
- Khách du lịch quốc tế 100.600 97.000 - 3,6% 160.000 + 65
- Khách du lịch nội địa 1.460.300 1.751.000 + 20% 1.840.000 + 5,1
2 Doanh thu xã hội từ du
(Nguồn: Sở du lịch – thương mại Lâm Đồng)
Như vậy, khách đến Lâm Đồng mấy năm gần đây tăng chậm Khách nước ngồi chiếm tỷ lệ thấp Năm 2007, số khách nước ngồi cĩ tăng nhanh hơn các năm trước Trong tình hình hiện nay, nhu cầu du lịch của người dân ngày càng tăng cao,
mà Lâm Đồng cĩ thành phố Đà Lạt là một thành phố du lịch nổi tiếng với thiên nhiên ưu đãi, cĩ thế mạnh về du lịch sinh thái và văn hĩa cồng chiêng của dân tộc K’Ho, thế nhưng lượng khách những năm gần đây đến Lâm Đồng khơng tăng đáng
kể so với xu thế chung Mặc dù Ngành du lịch thương mại tỉnh Lâm Đồng đã cĩ những biện pháp kích cầu như tổ chức festival hoa, khai thơng các con đường nối với các tỉnh kế cận, sửa chữa lại sân bay,… Nguyên nhân là do thiếu vốn đầu tư nên các doanh nghiệp du lịch tại Lâm Đồng cịn hoạt động một cách nhỏ lẻ, tự phát; các khu du lịch chưa cĩ sản phẩm gì đặc sắc tạo phong cách riêng, du khách đi tham quan chỗ nào cũng gặp những sản phẩm trùng lặp như hoa, đặc sản,… Chính quyền
địa phương chưa cĩ quy hoạch chung tổng thể cho các doanh nghiệp
- Khả năng đáp ứng về số phịng so với lượng khách du lịch và giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh: được thể hiện qua biểu đồ 2.3
Trang 38Biểu đồ 2.3
Cơ số phòng, so sánh với lượng khách và số lao động ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng (2000-2006)
0 5.000
l
S (
? phòng phòng)
L n (
ao đ?ng gành ngư?i)
Lượng khách (trăm lượt)
Số phòng (phòng)
Lao động ngành (người)
(Nguồn: Sở du lịch – thương mại Lâm Đồng)
Qua biểu đồ ta thấy, do lượng khách đến ít nên số phòng sử dụng còn chiếm tỷ
lệ thấp và số lao động được giải quyết công ăn việc làm trong ngành du lịch chưa cao
Tuy nhiên, lượng khách du lịch đến Lâm Đồng tăng bình quân 14%/năm; năm
2000 đạt 725.000 lượt khách, đến năm 2005 tăng lên 1.400.000 lượt khách đăng ký
lưu trú
Có thể đánh giá năng lực hoạt động của du lịch Lâm Đồng trong những năm gần đây thông qua các chỉ tiêu chính về du lịch được thống kê trong bảng 2.8