Nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận
Trang 1MỞ ĐẦU
Những năm gần đây du lịch Bình Thuận ngày càng phát triển và trở thành một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, thu hút nhiều nhà đầu tư, du khách trong và ngoài nước Từ một vùng đất ven biển còn hoang sơ cách đây không lâu, đến nay Bình Thuận đang được biết đến như một trung tâm du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng trong cả nước, có sức thu hút mạnh mẽ du khách trong nước và quốc tế
Để đẩy mạnh tốc độ phát triển du lịch Bình Thuận ngày càng tăng, thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TU ngày 25/3/2004 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Thuận (khoá X) về phát triển du lịch đến năm 2010, ngày 15/3/2005 UBND tỉnh Bình Thuận đã ban hành “Chương trình hành động của UBND tỉnh về phát triển
du lịch đến năm 2010” Chương trình hành động này đã đề ra các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, nội dung chương trình và các chính sách, giải pháp phát triển du lịch Bình Thuận đến năm 2010 để thực hiện mục tiêu đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, góp phần thực hiện chiến lược phát triển ngành mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã vạch ra: " Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác và liên kết với các nước."
Thời gian qua, mặc dù Bình Thuận đã đạt được những kết quả khả quan trong việc thu hút vốn cho đầu tư phát triển du lịch, thể hiện qua số lượng vốn đầu tư tăng nhanh, các kênh huy động vốn từng bước được đa dạng hoá, thu hút nhiều thành phần tham gia đầu tư Tuy nhiên công tác huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển du lịch Bình Thuận cũng còn khó khăn, chưa đáp ứng yêu cầu để đạt được mục tiêu đã đề ra Để góp phần phân tích và đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy công tác huy động và sử dụng vốn đầu tư
cho phát triển du lịch Bình Thuận trong thời gian tới, tôi xin chọn đề tài: " Nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận từ nay đến 2010" làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình
Trang 2Mục đích của đề tài là ứng dụng lý luận về vốn và các kênh huy động vốn đầu tư để phân tích vai trò của công tác huy động và sử dụng vốn trong quá trình phát triển du lịch Bình Thuận trong thời gian qua, đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế, vướng mắc Từ đó xác định những giải pháp và kiến nghị các vấn đề cần giải quyết
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là phương pháp mô tả và phương pháp phân tích, với nguồn số liệu được thu thập từ niên giám thống kê, các báo cáo của UBND tỉnh, các sở, ban ngành trong tỉnh và số liệu được công bố trên Internet
Trong quá trình thực hiện luận văn, do năng lực và điều kiện nghiên cứu còn nhiều hạn chế, chắc chắn nội dung luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong được sự quan tâm góp ý của Thầy Cô
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH
1.1.1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DU LỊCH
1.1.1.1 Những khái niệm cơ bản
- Một số khái niệm về du lịch
Ngành du lịch hiện đại hình thành trong thế kỷ XIX cùng với sự phát triển của nền văn minh công nghiệp, và từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đã trở thành một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng mạnh và chắc chắn của kinh tế thế giới Khái niệm về du lịch cũng đã có những thay đổi theo sự phát triển của ngành Nếu xem xét du lịch như là một hiện tượng xã hội, hiện tượng nhân văn làm phong phú thêm nhận thức và cuộc sống con người, Tổ chức du lịch thế giới (WTO : World Tourism Organization) đã đưa ra định nghĩa :”Du lịch bao gồm những hoạt động của những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình trong thời hạn không quá một năm liên tục để vui chơi, vì công việc hay vì mục đích khác không liên quan đến những hoạt động kiếm tiền
ở nơi mà họ đến” Nếu xem du lịch không chỉ đơn thuần là hiện tượng xã hội mà còn là hoạt động kinh tế, nó được coi là toàn bộ các hoạt động mà mục tiêu là kết hợp hoạt động của các đối tượng tham gia vào quá trình, kết hợp giá trị của các tài nguyên du lịch thiên nhiên và nhân văn với các dịch vụ, hàng hóa để tạo ra sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của khách
Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của du lịch học, theo tôi khái niệm du lịch phản ảnh các mối quan hệ bản chất bên trong, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các xu hướng và các quy luật phát triển của nó ; theo góc độ này du lịch là những hoạt động và mối quan hệ phát sinh do sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, người kinh doanh du lịch, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút, tiếp đón và phục vụ khách du lịch
- Du khách: Cũng theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Quốc tế, khách viếng
(visistors) là những người rời khỏi nơi cư trú của mình đến nơi khác không quá một năm và không vì mục đích kiếm tiền ; du khách (tourists) là những khách viếng có lưu trú qua hơn một đêm tại nơi đến ; khách viếng trong ngày (same-day
Trang 4visistors) không có lưu trú qua đêm tại nơi đến Khách du lịch quốc tế là những khách mà nơi cư trú là một quốc gia khác với quốc gia nơi đến du lịch ; khách du lịch nội địa là những khách mà quốc gia nơi cư trú cũng là quốc gia nơi đến tham quan du lịch, bao gồm cả những người nước ngoài nhưng đang cư trú tại quốc gia đó
- Khu du lịch, điểm du lịch và tuyến du lịch
Khu du lịch là một không gian địa lý bao gồm diện tích mặt đất, mặt nước có tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn, đã được quy hoạch và công nhận về mặt pháp lý bởi Nhà nước, chủ yếu sử dụng vào mục đích du lịch hoặc bổ trợ cho mục đích du lịch, và việc sử dụng này có tính hơn hẳn về kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài so với sử dụng nó vào các mục đích khác Tài nguyên du lịch bao gồm cả những tài nguyên thiên nhiên, môi trường, sinh thái (bãi biển, sông hồ, núi, rừng cây ) ; cả những tài nguyên nhân văn như các di sản văn hóa, lịch sử, các công trình kiến trúc, các giá trị văn hóa phi vật thể Khu du lịch phải có quy mô cần thiết, khu du lịch gồm khu du lịch quốc gia và khu du lịch địa phương
Điểm du lịch là nơi có một vài loại tài nguyên du lịch hấp dẫn hoặc công trình riêng biệt phục vụ du lịch hay kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ
Tuyến du lịch là lộ trình nối các điểm, các khu du lịch khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
- Sản phẩm du lịch
Có nhiều định nghĩa về sản phẩm du lịch, theo tôi, một trong những khái niệm đó là:”Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tỉềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng” (Từ điển du lịch - Tiếng Đức NXB Berlin 1984) Sản phẩm du lịch bao gồm những hàng hóa và dịch vụ kết hợp nhau Dịch vụ du lịch là kết quả của các hoạt động kinh tế được thể hiện trong sản phẩm vô hình như vận chuyển, lưu trú ăn uống, vui chơi giải trí, tài chính, thông tin liên lạc, y tế và các dịch vụ cá nhân khác
1.1.1.2 Một số quan điểm về phát triển du lịch
Theo xu hướng hiện nay là phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường để bảo đảm tính bền vững, từ đầu thập niên 90 đã xuất hiện khái niệm du lịch sinh thái, được các quốc gia quan tâm và Tổ chức Du lịch Quốc tế khuyến khích phát triển Với yêu cầu phải ngày càng phát huy các tác động tích
Trang 5cực, hạn chế những tác động tiêu cực của du lịch lên các yếu tố môi trường, nội dung cơ bản của du lịch sinh thái không đơn thuần là những hoạt động du lịch diễn ra ở những vùng giàu tiềm năng về sinh thái tự nhiên, về giá trị văn hóa mà tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường ; không chỉ dừng lại ở mức độ thụ động là hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do du lịch tạo ra, mà còn phải chủ động đóng góp vào sự phát triển môi trường của các vùng du lịch : “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Giữa thập niên 90, xuất hiện khái niệm mới là phát triển du lịch bền vững WTO cho rằng :”Phát triển du lịch bền vững thỏa mãn những nhu cầu hiện tại của du khách và các vùng đón khách trong khi vẫn bảo vệ và nâng cao các cơ hội cho tương lai Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các nguồn tài nguyên theo một cách nào đó để vừa đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, sự
đa dạng sinh học và các hệ thống đảm bảo sự sống”
1.1.2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA VIỆT NAM
Với mục tiêu tổng quát là đưa ngành du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế ; từng bước đưa Việt Nam trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ của khu vực ; chiến lược phát triển du lịch của nước ta giai đoạn
2001 – 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số TTg ngày 22/7/2001 đã đề ra một số nội dung chính :
97/2002/QĐ-Tốc độ tăng trưởng GDP của ngành du lịch bình quân trong thời kỳ này đạt từ 11 – 11,5%/năm Đến 2005 khách quốc tế vào Việt Nam du lịch từ 3 – 3,5 triệu lượt người, khách nội địa từ 15 – 16 triệu lượt người, thu nhập du lịch đạt trên 2 tỷ USD ; năm 2010 khách quốc tế đạt 5,5 – 6 triệu, khách nội địa 25 – 26 triệu lượt người, thu nhập du lịch đạt 4 – 4,5 tỷ USD
Về thị trường, vừa khai thác khách từ các thị trường quốc tế khu vực Đông
Á – Thái Bình Dương, Tây Âu, Bắc Mỹ kết hợp khai thác các thị trường Bắc Á, Bắc Âu, Úc, New Zealand, các nước SNG và Đông Âu; vừa chú trọng khai thác thị trường du lịch nội địa
Trang 6Về đầu tư, ưu tiên đầu tư phát triển các khu du lịch tổng hợp quốc gia và các khu du lịch chuyên đề; đẩy mạnh phát triển du lịch đối với các địa bàn du lịch trọng điểm Các thành phố, đô thị du lịch phải đầu tư hợp lý, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa phát triển đô thị với phát triển du lịch bền vững Kết hợp đầu
tư nâng cấp, phát triển các điểm tham quan du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch với đầu tư cho tuyên truyền, quảng bá và đào tạo phát triển nguồn nhân lực
du lịch
Thực hiện việc hội nhập, hợp tác quốc tế về du lịch Tăng cường củng cố và mở rộng hợp tác song phương, đa phương với các tổ chức quốc tế, các nước có khả năng và kinh nghiệm phát triển du lịch
Về phát triển các vùng du lịch, chiến lược xác định có ba vùng :
Vùng du lịch Bắc Bộ : gồm các tỉnh, thành phố từ Hà Giang đến Hà Tĩnh, trung tâm của vùng là Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long
Vùng du lịch Bắc Trung Bộ : gồm các tỉnh, thành phố từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi Huế và Đà Nẵng là trung tâm của vùng
Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ : gồm các tỉnh, thành phố từ Kon
Tum đến Cà Mau với hai Á vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ Trung tâm của vùng là Thành phố Hồ Chí Minh và các địa bàn tăng trưởng du lịch là : thành phố Hồ Chí Minh – Nha Trang – Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ – Hà Tiên – Phú Quốc, thành phố Hồ Chí Minh – Vũng Tàu – Phan Thiết Sản phẩm
du lịch đặc trưng của vùng là du lịch tham quan, nghỉ dưỡng biển và núi để khai thác thế mạnh du lịch của dải ven biển Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, du lịch sông nước, du lịch sinh thái đồng bằng châu thổ sông Cửu Long
Là một trong các khu du lịch trọng điểm của quốc gia ; một trong những địa bàn tăng trưởng du lịch của Á vùng du lịch Nam Trung Bộ, du lịch tỉnh Bình Thuận được khẳng định là cần phải tập trung tạo ra sự phát triển nhanh, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào sau năm 2010, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn tỉnh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ ,CÁC CÔNG CỤ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ 1.2.1 Vốn đầu tư và các công cụ huy động vốn đầu tư
1.2.1.1 Khái niệm về vốn đầu tư
Trang 7Tài sản của một quốc gia bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài sản được sản xuất ra và tích luỹ lại trong suốt quá trình hình thành và phát triển, nguồn nhân lực và tri thức Quá trình phát triển của mổi nước luôn đặt ra yêu cầu phải tạo ra tài sản mới nhằm bù đắp những tài sản tiêu hao trong quá trình sử dụng, đồng thời không ngừng tăng thêm khối lượng tài sản quốc gia Để tạo ra tài sản mới phải đầu tư những yếu tố cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh như công cụ, máy móc, nguyên vật liệu, lao động, công nghệ… tất cả các yếu tố đó được xem là nguồn vốn đầu tư để tạo ra thu nhập, tài sản cho quốc gia
Vốn đầu tư hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ nguồn lực đưa vào hoạt động của nền kinh tế - xã hội, gồm máy móc thiết bị, nhà xưởng, lao động, tài nguyên, đất đai, khoa học công nghệ Vốn hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lực được thể hiện bằng tiền của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và của quốc gia
Hoạt động đầu tư là việc sử dụng vốn để phục hồi và tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh mới Đó là quá trình chuyển hoá vốn thành các yếu tố phục vụ cho quá trình sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để làm tăng tài sản quốc gia
1.2.1.2 Nhu cầu vốn đầu tư
Nhu cầu vốn đầu tư phát sinh do yêu cầu:
- Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế
Cơ sở hạ tầng được coi là nền tảng cho sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, mỗi địa phương Ở các nước đang phát triển, do trình độ phát triển kinh tế còn thấp nên các cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thông, hệ thống điện, cấp nước, bưu chính viễn thông … còn thiếu thốn và yếu kém, do đó cần đầu tư một lượng vốn rất lớn cho cơ sở hạ tầng, nhưng bản thân các nước này lại đang trong tình trạng tích lũy thấp, thiếu vốn , vì vậy nhu cầu thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài là rất cấp bách
Kinh nghiệm của các nước cho thấy việc tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng sẽ có tác động mạnh mẽ trở lại đến việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế Một nước có cơ sở hạ tầng tốt cùng với các chính sách ưu đãi khác sẽ có lợi thế hơn các nước khác trong việc thu hút dòng chảy của vốn đầu tư quốc tế
Vì vậy các nước rất chú trọng và dành một phần lớn ngân sách và nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) để chi cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng Bên cạnh đó, để giảm gánh nặng cho ngân sách, chính phủ thường cho phép tư nhân
Trang 8tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng, phát hành trái phiếu công trình, thành lập quỹ đầu
tư , quỹ phát triển hạ tầng…
- Đầu tư vốn vào các doanh nghiệp để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ:
Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế , các nước rất coi trọng việc thu hút vốn đầu tư cho các doanh nghiệp Vốn đầu tư dùng để thành lập mới, đầu tư đổi mới công nghệ, đầu tư mở rộng và cải tạo nhà xưởng, trang thiết bị Đầu tư cho các doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc tạo
ra công ăn việc làm, cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho xã hội, tạo nguồn thu cho ngân sách
- Đầu tư cho giáo dục và đào tạo: Đầu tư cho giáo dục và đào tạo nhằm
phát triển tiềm năng con người có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nền kinh tế Vì vậy, những nước có thành công nổi bật trong kinh tế thường là những nước chú trọng đầu tư lớn cho giáo dục đào tạo Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển kinh tế , chính phủ các nước thường dành một phần đáng kể ngân sách để chi cho giáo dục đào tạo Cùng với sự đầu tư của chính phủ, các nước còn cho phép huy động thêm các nguồn đầu tư khác như tư nhân, viện trợ, các tổ chức phi chính phủ … để phát triển giáo dục và đào tạo
- Đầu tư cho khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ đóng vai trò nền
tảng và động lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc đầu tư vốn cho khoa học công nghệ sẽ tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự phát triển nhanh và bền vững Phát triển khoa học công nghệ là hoạt động đòi hỏi phải đầu tư vốn lớn, lâu dài, phải có đủ vốn và chấp nhận rủi ro trong quá trình nghiên cứu, triển khai Hoạt động khoa học công nghệ chủ yếu dựa vào các nguồn: Vốn do ngân sách nhà nước cấp; Kinh phí thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học; Vốn
do liên doanh, liên kết với các tổ chức khác và Vốn viện trợ của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tài trợ của cá nhân trong và ngoài nước
1.2.1.3 Các nguồn huy động vốn đầu tư
Trong tổng thu nhập của mỗi nước, sau khi trừ đi phần tiêu dùng, còn lại là phần để bù đắp và tích luỹ Quỹ bù đắp và quỹ tích luỹ chính là nguồn gốc hình thành vốn đầu tư , trong đó quỹ tích luỹ là bộ phận quan trọng nhất
Quỹ tích luỹ được hình thành từ các khoản tiết kiệm Nền kinh tế càng phát triển thì tỉ lệ tích luỹ càng cao Đối với các nước đang phát triển, do thu
Trang 9nhập còn thấp nên quy mô và tỉ lệ tích lũy đều thấp, trong khi nhu cầu về vốn đầu tư rất cao, do đó rất cần đến nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Mặt khác, trong xu hướng chu chuyển vốn quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, ngay cả các nước phát triển vẫn cần có sự kết hợp giữa vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển kinh tế Như vậy vốn đầu tư có được của mỗi nước hình thành từ tiết kiệm trong nước và tiết kiệm của nước ngoài Tiết kiệm trong nước bao gồm tiết kiệm của Nhà nước, tiết kiệm của doanh nghiệp và tiết kiệm của dân cư là nguồn hình thành vốn đầu tư trong nước Tiết kiệm của nước ngoài hình thành vốn đầu
tư nước ngoài dưới các dạng đầu tư trực tiếp và gián tiếp
1) Nguồn hình thành vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia Nguồn vốn này có ưu điểm là ổn định, bền vững, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và hậu quả xấu đối với nền kinh tế do những tác động từ bên ngoài Mặc dù ngày nay các dòng vốn nước ngoài ngày càng trở nên đặc biệt không thể thiếu được đối với các nước đang phát triển, nhưng nguồn vốn trong nước vẫn giữ vị trí quyết định Nguồn vốn đầu tư trong nước hình thành từ tiết kiệm của ngân sách nhà nước, tiết kiệm của các doanh nghiệp và tiết kiệm của dân cư
Tiết kiệm của ngân sách nhà nước chính là số chênh lệch dương giữa tổng các khoản thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là các khoản thu thuế) với tổng chi tiêu dùng của ngân sách Tổng thu ngân sách sau khi chi cho các khoản chi thường xuyên, còn lại hình thành nguồn vốn đầu tư phát triển
Như vậy, vốn đầu tư của Nhà nước là một phần tiết kiệm của ngân sách để chi cho đầu tư phát triển Nguồn vốn này phụ thuộc vào khả năng tập trung thu nhập quốc dân vào ngân sách và quy mô chi tiêu dùng của nhà nước Đối với các nước đang phát triển, do tiết kiệm của nền kinh tế bị hạn chế bởi yếu tố về thu nhập bình quân đầu người, cho nên, để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng đầu tư đòi hỏi nhà nước phải gia tăng tiết kiệm NSNN trên cơ sở kết hợp chính sách thuế và chi tiêu Đây là nguồn vốn đầu tư quan trọng, ổn định và có tính định hướng cao đối với các nguồn vốn đầu tư khác
Tiết kiệm của các doanh nghiệp là số lãi ròng có được từ kết quả kinh doanh Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư phát triển theo chiều rộng và chiều sâu Qui mô tiết kiệm của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố trực tiếp như: hiệu quả kinh doanh; chính sách thuế; sự ổn
Trang 10định kinh tế vĩ mô…
Tiết kiệm của dân cư là phần tiết kiệm của các hộ gia đình và các cá nhân, tổ chức đoàn thể xã hội Đây là phần còn lại của thu nhập sau khi đã đóng thuế và sử dụng cho mục đích tiêu dùng Mức độ tiết kiệm của dân cư phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức thu nhập bình quân đầu người, chính sách lãi suất, chính sách thuế và sự ổn định kinh tế vĩ mô Tiết kiệm của dân cư giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính, do khả năng chuyển hoá nhanh chóng thành nguồn vốn cho đầu tư thông qua các hình thức gởi tiết kiệm, mua chứng khoán, trực tiếp đầu tư Tiết kiệm dân cư cũng dễ dàng chuyển thành nguồn vốn đầu tư của Nhà nước bằng cách mua trái phiếu chính phủ, hoặc chuyển thành nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp qua việc mua trái phiếu, cổ phiếu của các công ty phát hành
Tóm lại, tiết kiệm là một quá trình nền kinh tế dành ra một phần thu nhập
ở hiện tại để tạo ra nguồn vốn cung ứng cho đầu tư phát triển, qua đó nâng cao hơn nữa nhu cầu tiêu dùng trong tương lai Tuy vậy, đối với những nền kinh tế đang chuyển đổi, bước đầu thực hiện chính sách công nghiệp hóa do nguồn tiết kiệm trong nước thấp không đáp ứng đủ nhu cầu vốn nên cần phải thu hút nguồn vốn nước ngoài để tạo ra cú hích cho sự đầu tư phát triển nền kinh tế
2) Nguồn hình thành vốn đầu tư nước ngoài
So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là mang lại ngoại tệ cho nền kinh tế Tuy vậy, nguồn vốn nước ngoài lại luôn chứa ẩn những nhân tố tiềm tàng gây bất lợi cho nền kinh tế, đó là sự lệ thuộc; nguy cơ khủng hoảng nợ; sự tháo chạy đầu tư; sự gia tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm trong nước…Như vậy, vấn đề huy động vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính sách huy động vốn của các nền kinh tế đang chuyển đổi, đó là: một mặt, phải ra sức huy động vốn nước ngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho công nghiệp hóa; mặt khác,phải kiểm soát chặc chẽ sự động vốn nước ngoài để ngăn chặn khủng hoảng Để vượt qua những thử thách đó đòi hỏi nhà nước phải sử dụng tốt các công cụ tài chính trong việc ổn định hoá môi trường kinh tế vĩ mô, tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho sự vận động vốn nước ngoài , điều chỉnh và lựa chọn các hình thức thu hút vốn sao cho có lợi cho nền kinh tế
Về bản chất, vốn nước ngoài cũng được hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể kinh tế nước ngoài và được huy động thông qua các hình thức cơ bản sau:
Trang 11a Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI)
Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào để thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh, góp vốn vào các công
ty, xí nghiệp liên doanh hoặc thành lập các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài hình thành từ tiết kiệm của tư nhân và các công ty nước ngoài đầu tư vốn vào một nước khác nhằm khai thác lợi thế so sánh, tận dụng các yếu tố lao động, tài nguyên của địa phương, tiết kiệm chi phí vận chuyển để tăng lợi nhuận cho việc đầu tư
Đối với các nước đang phát triển, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang ý nghiã quan trọng trong việc tạo nên cú hích ban đầu cho sự tăng trưởng, bên cạnh nguồn vốn ngoại tệ, FDI còn mang theo công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận thị trường thế giới Vì vậy, thu hút FDI đang trở thành hình thức huy động vốn phổ biến , tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước đang phát triển
b Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
Vốn đầu tư gián tiếp là những khoản đầu tư thực hiện thông qua các hoạt động cho vay và viện trợ Nguồn vốn có thể là của chính phủ các nước, có thể là của các tổ chức quốc tế được huy động thông qua các hình thức cơ bản sau:
Tài trợ phát triển chính thức (ODA): Đây là nguồn vốn thuộc chương trình hợp tác phát triển do chính phủ các nước ngoài hổ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức liên chính phủ và các tổ chức phi chính phủ cho một nước tiếp nhận Nguồn vốn ODA bao gồm viện trợ không hoàn lại, các khoản cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, khối lượng vốn vay và thời hạn thanh toán, nhằm vào hổ trợ cán cân thanh toán, hổ trợ các chương trình, dự án…
Nguồn vốn ODA tuy có ưu điểm về chi phí sử dụng, nhưng các nước tiếp nhận viện trợ thường xuyên phải đối mặt với những thử thách rất lớn đó là gánh nặng nợ quốc gia trong tương lai, chấp nhận những điều kiện và ràng buộc khắt khe về thủ tục chuyển giao vốn, đôi khi còn gắn cả những điều kiện về chính trị Bên cạnh đó, do trình độ quản lý của các nước đang phát triển còn thấp cho nên hiệu quả sử dụng nguồn vốn này không cao, làm cho nhiều nước lâm vào cảnh nợ nần chồng chất và nền kinh tế không phát triển được Vì vậy, vấn đề quan trọng là cần phải nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA để đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế đã đề ra
Trang 12+ Phát hành chứng khoán trên thị trường tài chính quốc tế Ưu điểm của phương thức này là huy động vốn trực tiếp , không phải thông qua các tổ chức tài chính trung gian nên chi phí sử dụng vốn thấp hơn các khoản vay tín dụng Người
đi vay có thể là doanh nghiệp và chính phủ Tuy vậy, việc tìm kiếm vốn trên thị trường tài chính quốc tế vẫn có nhiều khó khăn và thử thách, đặc biệt là các tiêu chuẩn tín nhiệm của chứng khoán để được chấp nhận giao dịch tại các thị trường tài chính quốc tế Vì các mức tiêu chuẩn tín nhiệm đòi hỏi rất cao nên các
Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO: Non-Government Organization) là các khoản viện trợ không hoàn lại Trước đây loại viện trợ này chủ yếu là vật chất, phục vụ cho mục đích nhân đạo như cung cấp thuốc men cho các trung tâm y tế, chổ ở và lương thực cho các nạn nhân thiên tai… Hiện nay loại viện trợ này lại được thực hiện nhiều hơn bằng các chương trình phát triển dài hạn, có sự hỗ trợ của các chuyên gia như huấn luyện những người làm công tác bảo vệ sức khỏe, thiết lập các dự án tín dụng, cung cấp nước sạch ở nông thôn…
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp được sử dụng có hiệu quả sẽ có tác dụng thúc đẩy, khuyến khích và tạo điều kiện thu hút đầu tư trực tiếp Đối với các nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài là nguồn vốn rất quý giá, cần phải tận dụng và khai thác có hiệu quả, tạo thành đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế
3) Huy động qua thị trường vốn
+ Phát hành chứng khoán trên TTCK trong nước Với sự chuyên môn hóa về mua bán các loại chứng khoán, TTCK được xem như một cơ sở hạ tầng tài chính để huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi của công chúng trong và ngoài nước, tạo nên nguồn vốn đầu tư trung dài hạn cho nền kinh tế So với hình thức huy động qua ngân hàng, TTCK huy động vốn với phạm vi rộng rãi và linh hoạt hơn, có thể đáp ứng nhanh chóng những nhu cầu khác nhau của người cần vốn, đảm bảo về hiệu quả và thời gian lựa chọn Còn đối với các nhà đầu tư, trên TTCK, các hình thức bỏ vốn của họ trở nên linh hoạt, vì vậy, hạn chế tối đa những rủi ro trong đầu tư…Chính những ưu điểm đó mà ngày nay TTCK trở thành một kênh huy động vốn nước ngoài rất hiệu quả; hơn nữa nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế trong nước hoà nhập nền kinh tế thế giới Trong vòng hơn mười năm trở lại đây, đầu tư vốn quốc tế đã không còn tập trung xung quanh các công cụ truyền thống thông qua hệ thống tài chính trung gian Thay vào đó, đầu tư vào TTCK đã chiếm tới 80% chu chuyển vốn trên thị trường tài chính quốc tế
Trang 13doanh nghiệp ở các mức thông thường khó đạt được, do vậy các loại chứng khoán lưu hành trên thị trường tài chính quốc tế phổ biến là trái phiếu của chính phủ Ngoài ra, việc huy động vốn nước ngoài còn được thực hiện thông qua các hoạt động thuê tài chính; tín dụng thương mại; tín dụng ngân hàng…
Tóm lại vốn đầu tư chủ yếu được từ hai nguồn đó là nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước Trên cơ sở đó, đòi hỏi nền kinh tế phải phát triển các công cụ tài chính để tổ chức khai thác và thực hiện huy động vốn, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững
1.2.1.3.4 Các công cụ huy động vốn đầu tư
Huy động vốn đầu tư là quá trình tổ chức khai thác các nguồn lực tài chính đưa vào phục vụ cho sự đầu tư tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội Và do vậy, suy cho cùng đối sách của chính sách huy động vốn là hướng vào nâng cao tỉ lệ tiết kiệm và đầu tư từ các khu vực kinh tế để gia tăng thêm khối lượng vốn mới cho nền kinh tế Các công cụ huy động vốn thường được sử dụng là:
1) Các công cụ thuộc chính sách tài chính - tiền tệ
+Thuế: Thuế là công cụ để nhà nước huy động, tập trung các nguồn lực
tài chính của xã hội vào ngân sách dưới hình thức cưỡng chế, bắt buộc Tạo lập nguồn thu cho NSNN là chức năng cơ bản của thuế Theo kinh nghiệm phát triển, để có được nguồn thu từ thuế không những đáp ứng cơ bản các nhu cầu chi tiêu dùng mà còn dành ra một phần thỏa đáng tạo nguồn vốn cho sự đầu tư phát triển, thì đòi hỏi nhà nước phải thiết lập một hệ thống thuế có hiệu quả, được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản: Thuế phải thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia, Thuế phải có độ nổi và tính ổn định, Thuế phải đảm bảo tính trung lập và đơn giản
+ Tín dụng : Tín dụng được xem là chiếc cầu nối giữa các nguồn cung cầu
về vốn tiền tệ trong nền kinh tế Bằng việc huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế để bổ sung kịp thời cho những doanh nghiệp, cá nhân kể cả ngân sách đang gặp thiếu hụt về vốn trên nguyên tắc có hoàn trả, các tổ chức tín dụng góp phần quan trọng trong việc điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, đồng thời còn giúp cho các doanh nghiệp bổ sung vốn đầu tư để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, cải tiến quản lý, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển Tín dụng bao gồm tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng
Trang 14Xét trên góc độ huy động vốn, tín dụng nhà nước là hoạt động đi vay do nhà nước tiến hành nhằm cân đối ngân sách khi mà nguồn thu thuế và các nguồn khác không đáp ứng đầy đủ các nhu cầu chi tiêu của ngân sách Tín dụng nhà nước giúp nhà nước huy động và tập trung được một nguồn thu lớn tạo điều kiện cho ổn định kinh tế vĩ mô, phân bổ lại nguồn lực tài chính, nâng cao nguồn vốn tập trung để thoả mãn nhu cầu đầu tư của nhà nước
Tín dụng nhà nước được thực hiện nhằm vay nợ trong nước thông qua các công cụ như công trái, tín phiếu ngắn hạn, trái phiếu dài hạn phát hành trong nước Bằng việc phát hành các chứng khoán này, nhà nước cung cấp cho thị trường tài chính một khối lượng hàng hoá lớn, ít rủi ro làm phong phú thêm sản phẩm để phát triển thị trường
Tín dụng nhà nước cũng được thực hiện nhằm vay nợ nước ngoài bằng việc vay từ nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA, phát hành trái phiếu của nhà nước trên thị trường quốc tế Tín dụng nhà nước là một kênh huy động vốn cần thiết và quan trọng để bù đắp bội chi ngân sách và tạo nguồn vốn đầu tư Tuy nhiên việc vay nợ phải được kiểm soát một cách chặt chẽ để tránh tình trạng vay quá giới hạn cho phép, dẫn đến áp lực nặng nề của việc trả nợ, cũng như mất cân đối giữa đầu tư của ngân sách và đầu tư của khu vực doanh nghiệp và dân cư làm gia tăng lãi suất huy động vốn, gây hạn chế việc vay vốn đầu tư
Tín dụng ngân hàng là công cụ thu hút vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp và dân cư để cho vay Các ngân hàng thương mại và các tổ chức trung gian tín dụng bằng việc cho vay những nguồn tiền đã huy động được đã cung cấp cho nền kinh tế một khoản vốn đầu tư cần thiết để phát triển Bên cạnh việc thực hiện nghiệp vụ truyền thống là vay và cho vay các ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ đầu tư vốn dưới các hình thức đầu tư trực tiếp như hùn vốn liên doanh, liên kết, thành lập công ty, xí nghiệp bằng vốn tự có của mình; hoặc đầu tư gián tiếp như sử dụng các nguồn vốn huy động có thời hạn và vốn tự có để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác, và hưởng thu nhập qua chênh lệch giá trên thị trường thứ cấp
Trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng, quá trình điều tiết và chu chuyển vốn đã vượt khỏi giới hạn của một quốc gia làm hình thành các quan hệ tín dụng quốc tế Như vậy tín dụng không chỉ là một kênh quan trọng thu hút vốn đầu tư từ trong nước mà còn là một nhân tố thúc đẩy huy động vốn đầu tư từ nước ngoài
Trang 15+ Các quỹ hổ trợ tài chính nhà nước
Là công cụ tài chính năng động để đa dạng hóa sự huy động các nguồn lực tài chính của xã hội vào nhà nước, qua đó tiến hành hỗ trợ đầu tư ở một số lĩnh vực hay hoạt động có tính chất ưu tiên cần khuyến khích nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Trên góc độ này, quỹ hổ trợ tài chính của nhà nước lại có tác dụng rất tích cực trong việc tăng cường thu hút vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân Như vậy, tính hợp lý việc thành lập và phát triển các quỹ hổ trợ tài chính không những tạo cho nhà nước có thêm công cụ để gia tăng nguồn lực tài chính, thực hiện tốt vai trò quản lý vĩ mô, mà còn góp phần hình thành và phát triển thị trường tín dụng hỗ trợ của nhà nước để hướng vào khai thác nội lực, nâng cao tỉ lệ vốn hóa các nguồn tích lũy đưa vào đầu tư phát triển
2) Thị trường tài chính và các công cụ trên thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi tập trung các quan hệ cung cầu về vốn và tại đó các loại chứng khoán được các chủ thể thị trường sử dụng như là công cụ tài chính để giải quyết nhu cầu giao lưu vốn Nói một cách cụ thể hơn, trên thị trường tài chính, đối với người cần vốn, chứng khoán là công cụ tài chính để huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn, ngắn hạn; còn đối với người thừa vốn , thì chứng khoán là công cụ đầu tư để mang lại những khoản thu nhập nhất định
Dựa vào khuôn khổ của luật pháp qui định, các chủ thể huy động vốn trên thị trường tài chính phải chủ động xây dựng chiến lược phát hành chứng khoán một cách có hiệu quả, trong đó cần minh chứng cho các nhà đầu tư phải thật hấp dẫn; tạo ra nhiều tiện ích, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các nhà đầu tư…
Đối với nền kinh tế đang chuyển đổi, để thúc đẩy nhanh sự ra đời và phát triển thị trường tài chính nhằm tạo vốn cho tiến trình công nghiệp hóa, nhà nước phải chủ động tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự ra đời và vận hành của một thị trường tài chính có hiệu quả, đó là ổn định kinh tế; thực hiện chính sách kích thích tiết kiệm đầu tư, chính sách cổ phần hóa DNNN, chính sách kích cung và kích cầu chứng khoán, và những khuôn khổ pháp lý cho sự chuyển nhượng, mua bán chứng khoán trên thị trường…
3) Các công cụ tài chính vĩ mô hỗ trợ cho quá trình huy động vốn
a/ Chi ngân sách nhà nước
Mặc dù đây không phải là công cụ trực tiếp huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước, nhưng nó có tác động đến việc làm mở rộng hay thu hẹp nguồn
Trang 16vốn đầu tư mà nhà nước cung ứng cho nền kinh tế cũng như làm biến đổi qui mô tiết kiệm - đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân thông qua việc phân phối nguồn lực tài chính tập trung thành 2 quỹ tiêu dùng và quỹ đầu tư
b/ Các công cụ tài chính thuộc chính sách tiền tệ
-Lãi suất: Trên thị trường tài chính, lãi suất được xem như là giá cả của
tín dụng, trên góc độ kinh tế vĩ mô lãi suất là công cụ để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ Do đó, lãi suất ít nhạy cảm với quan hệ cung cầu về vốn Một khi có sự mất cân đối quan hệ cung cầu vốn thì diễn ra quá trình phân phối lại thu nhập giữa người đi vay và cho vay thông qua sự thay đổi tăng hay giảm lãi suất Chính đặc tính này mà lãi suất có tác động đến sự phân phối nguồn tài chính xã hội trong mối tương quan giữa tiết kiệm và đầu tư Trong ngắn hạn, lãi suất càng cao thì khích lệ công chúng hạn chế tiêu dùng trong hiện tại để tăng tiết kiệm trong thu nhập Sau đó, từ khoản tiết kiệm này, họ sẽ chọn hướng đầu tư vào hoạt động tài chính khi thấy có lợi hơn Ngược lại, ở mức lãi suất cao sẽ làm hạn chế các doanh nghiệp đi vay vốn để đầu tư, bởi lẽ khi đó thu nhập có được từ các dự án đầu tư khó mà bù được số lãi phải trả cho số tiền cho vay Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến đầu tư của xã hội giảm
- Thị trường mở: Là hoạt động mà NHTƯ tham gia vào mua bán chứng
khoán trên thị trường tài chính để thực hiện chính sách tiền tệ Bằng công cụ này, NHTƯ thực hiện thay đổi mức cung tín dụng của các TCTD theo hướng mở rộng hay thu hẹp Khi nền kinh tế mở cần mở rộng mức cung tiền tệ, NHTƯ thực hiện nghiệp vụ mua chứng khoán và ngược lại Ở một nền kinh tế phát triển công cụ thị trường mở đã tô thêm vẻ đẹp cho thị trường tài chính và trở thành công cụ có tính chủ đạo được NHTƯ sử dụng thường xuyên trong việc thực hiện chính sách tiền tệ và góp phần nâng cao hiệu suất của chính sách huy động vốn Còn đối với nền kinh tế đang chuyển đổi, do hệ thống thị trường tài chính hoạt động còn yếu kém và chứng khoán của nó yếu cả về số lượng và chất lượng, nên việc sử dụng công cụ này ở mức rất hạn chế
-Dự trữ bắt buộc: Là số tiền mà các TCTD phải gửi tại NHTƯ theo một tỉ
lệ phần trăm trên tổng số tiền gửi để thực hiện chính sách tiền tệ Dự trữ bắt buộc là công cụ có tính pháp định Căn cứ vào các diễn biến tình hình kinh tế và mục tiêu chính sách tiền tệ, NHTƯ có thể đặt ra yêu cầu dự trữ trong một khuôn khổ giới hạn mà luật pháp cho phép
Trang 17- Tỉ giá hối đoái: Gắn liền với sự vận động của hai đồng tiền trong mối
tương quan so sánh sức mua của chúng, tỉ giá hối đoái thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập của những đối tượng có liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế Do đó, sự tác động của tỉ giá hối đoái đến quá trình huy động vốn của nền kinh tế được biểu hiện thông qua những ảnh hưởng của nó đến sự thay đổi tiết kiệm -đầu tư, cán cân thanh toán và sự ổn định kinh tế vĩ mô
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Hiệu quả của họat động đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện mối quan hệ
so sánh giữa kết quả thực hiện các mục tiêu đặt ra của họat động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kỳ nhất định
Hiệu quả tài chính (Etc) của họat động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển họat động SXKD dịch vụ và nâng cao đời sống của người lao động trong các cơ sở SXKD, Dịch vụ trên cơ sở số vốn đầu tư mà cơ sở đã sử dụng so với các kỳ khác, các cơ sở khác hoặc so với định mức chung Khái niệm này có thể được biểu hiện qua công thức sau:
Etc = Các kết quả mà cơ sở thu được do thực hiện đầu tư
Số vốn đầu tư mà cơ sở đã thực hiện để tạo ra các kết quả trên Etc được coi là có hiệu quả khi Etc > Etc0
Trong đó: Etc0 – chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức hoặc của các kỳ
khác mà cơ sở đã đạt được chọn làm cơ sở so sánh hoặc của đơn vị khác đã đạt tiêu chuẩn hiệu quả
Để phản ánh hiệu quả tài chính của họat động đầu tư, người ta phải sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu, trong đó chỉ tiêu bằng tiền được sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, tiền có giá trị thay đổi theo thời gian nên phải bảo đảm tính so sánh theo thời gian với việc sử dụng tỷ suất “r” được xác định tùy thuộc vào các nguồn vốn huy động
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của họat động đầu tư đối với từng dự án
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án gồm:
a) Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần, gồm có: Chỉ tiêu lơiï nhuận
thuần tính cho từng năm của đời dự án, phản ánh hiệu quả họat động trong từng năm của đời dự án; Chỉ tiêu thu nhập thuần phản ánh hiệu quả họat
Trang 18ñoông cụa toøan boô cođng cuoôc ñaău tö (quy mođ laõi cụa cạ ñôøi döï aùn) Caùc chư tieđu naøy coù theơ tính chuyeơn veă maịt baỉng thôøi gian hieôn tái hoaịc töông lai
b) Chư tieđu tyû suaât sinh lôøi voân ñaău tö (coøn gói laø heô soâ thu hoăi voân ñaău tö):
Chư tieđu naøy phạn aùnh möùc lôïi nhuaôn thu ñöôïc töøng naím RRi = Wipv tređn 1 ñôn vò voân ñaău tö (1.000ñ, 1.000.000ñ,…) vaø möùc thu
Iv0
nhaôp thuaăn thu ñöôïc tính cho 1 ñôn vò voân ñaău tö npv = NPV
Iv0
Trong ñoù: Iv0 – Voân ñaău tö tái thôøi ñieơm hieôn tái (döï aùn baĩt ñaău hoat ñoông)
Wipv – Lôïi nhuaôn thuaăn naím i tính chuyeơn veă thôøi ñieơm hieôn tái
NPV – Thu nhaôp thuaăn tính chuyeơn veă thôøi ñieơm hieôn tái
c) Chư tieđu tyû suaât sinh lôøi voân töï coù (rE) Chư tieđu naøy phạn aùnh möùc lôïi
nhuaôn thuaăn töøng naím tính tređn 1 ñôn vò voân töï coù bình quađn cụa naím ñoù rE = Wi
Ei
Trong ñoù, rE – Tyû suaât sinh lôøi voân töï coù naím i
Ei – Voân töï coù bình quađn naím i
Wi – Lôïi nhuaôn thuaăn naím i
Neâu tính cho cạ ñôøi döï aùn (npvE) chư tieđu naøy phạn aùnh möùc thu nhaôp thuaăn cụa cạ ñôøi döï aùn tính cho 1 ñôn vò voân töï coù bình quađn naím cụa cạ ñôøi döï aùn
npvE = NPV
Epv
d) Chư tieđu soâ laăn quay voøng voân cụa voân löu ñoông:
Voân löu ñoông laø moôt boô phaôn cụa voân ñaău tö Voân löu ñoông quay voøng caøng nhanh, caøng caăn ít voân vaø trong ñieău kieôn khaùc khođng ñoơi, thì hieôu quạ voẫn caøng cao
Coù cođng thöùc: Lwci = Oi
Wci
Trong ñoù: Oi – Doanh thu thuaăn naím i
Wci – Voân löu ñoông bình quađn naím i cụa döï aùn
Hoaịc: Lwc = Opv
Wcpv
Trong ñoù: Opv - Doanh thu thuaăn naím i cụa döï aùn
Wcpv - Voân löu ñoông bình quađn naím cụa cạ ñôøi döï aùn
Trang 19e) Chỉ tiêu tỷ số lợi ích và chi phí (ký hiệu B/C)
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ số giữa lợi ích thu được với chi phí phải bỏ ra, dự án có hiệu quả khi B/C ≥ 1 Dự án không có hiệu quả khi B/C < 1
Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư (ký hiệu T)
Chỉ tiêu này cho biết thời gian mà dự án cần họat động để thu hồi vốn đầu
tư đã bỏ ra từ lợi nhuận và khấu hao thu được hàng năm Dự án có hiệu quả khi T ≤ tuổi thọ của dự án hoặc T ≤ T định mức Thời gian thu hồi vốn càng ngắn thì hiệu quả của dự án càng cao
f) Chỉ tiêu hệ số hòan vốn nội bộ (ký hiệu IRR)
Hệ số hòan vốn nội bộ là mức lãi suất nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu để tính chuyển các khỏan thu, chi của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại thì tổng thu cân bằng với tổng chi Dự án có hiệu quả khi IRR ≥ r giới hạn Dự án không có hiệu quả khi IRR < r giới hạn Tỷ suất giới hạn được xác định căn cứ vào các nguồn vốn huy động của dự án Chẳng hạn dự án vay vốn đầu tư, tỷ suất giới hạn là mức lãi suất vay; nếu huy động vốn từ nhiều nguồn, tỷ suất giới hạn là mức lãi suất bình quân từ các nguồn huy động,…
g) Chỉ tiêu điểm hòa vốn:
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ để trang trãi các khỏan chi phí phải bỏ ra Điểm hòa vốn được biểu hiện bằng chỉ tiêu hiện vật (sản lượng tại điểm hòa vốn) và chỉ tiêu giá trị (doanh thu tại điểm hòa vốn) Nếu sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơn sản lượng hoặc doanh thu hòa vốn thì dự án có lãi (có hiệu quả) và ngược lại nếu nỏ hơn, dự án bị lỗ (không có hiệu quả) Điểm hòa vốn càng nhỏ càng tốt, mức độ an tòan của dự án càng cao, thời gian thu hồi vốn càng ngắn
Hiệu quả tài chính của họat động đầu tư
Lợi ích kinh tế - xã hội do thực hiện đầu tư được đánh giá từ góc độ nhà đầu tư và góc độ quản lý vĩ mô của Nhà nước
Xuất phát từ góc độ nhà đầu tư, tính các chỉ tiêu định lượng và thực hiện
các xem xét mang tính chất định tính sau: Mức đóng góp cho ngân sách; Số chỗ làm việc tăng thêm; Số ngọai tệ thực thu; Mức tăng năng suất lao động; Mức nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động; Tạo thị trường mới và mức độ chiếm lĩnh thị trường của dự án; Nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất; Nâng cao trình độ quản lý của lao động quản lý; Các tác động khác
Trang 20Từ thực tiễn của các nước có mức tăng trưởng cao cho thấy vốn là một nhân tố đặc biệt quan trọng, là chià khoá của sự thành công về tăng trưởng Nhật Bản và các nước công nghiệp mới ( NIC) đã đạt được những thành quả vượt bậc về kinh tế nhờ thực hiện tốt chính sách huy động và đầu tư vốn Vốn đã đóng góp hơn 50% mức tăng trưởng thu nhập của các nước này trong một thời gian dài Vai trò quan trọng của vốn thể hiện ở chỗ, muốn khai thác tốt các nguồn lực tự
Đứng trên góc độ vĩ mô, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội gồm có:
- Giá trị gia tăng thuần túy Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án Chỉ tiêu này bao gồm 2 yếu tố chi phí trực tiếp trả cho người lao động (Wg) và thặng dư xã hội (SS) Chỉ tiêu giá trị gia tăng thuần túy được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư mới, dự án hiện đại hóa hoặc mở rộng quy mô, tổ hợp nhiều dự án có mối liên hệ với nhau:
- Chỉ tiêu số lao động
- Mức giá trị gia tăng phân phối cho các nhóm dân cư và vùng lãnh thổ
- Chỉ tiêu mức tiết kiệm ngọai tệ
- Chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế
Để xác định lợi ích của dự án xét trên tông thể các mục tiêu phát triển
đa dạng của nền kinh tế, từ đó lựa chọn dự án tối ưu cần tiến hành phân tích hiệu quả tổng hợp Phân tích hiệu quả tổng hợp được dùng như là một công cụ trợ giúp cho việc lựa chọn và quyết định đầu tư Nó cho người ta quyết định đầu tư thấy được sự đóng góp của dự án theo tính ưu tiên mà họ đã dành cho các mục tiêu
Để đánh giá hiệu quả các công cuộc đầu tư phúc lợi công cộng, các nhà
kinh tế sử dụng các chỉ tiêu:
- Suất đầu tư tính cho 1 đơn vị năng lực phục vụ mới hoặc năng lực phục vụ tăng thêm (ivo)
- Hệ số huy động các kết quả đầu tư trong kỳ so với tòan bộ vốn đầu tư thực hiện các kỳ trước chưa được huy động và vốn đầu tư thực hiện trong kỳ nghiên cứu
-Tốc độ thực hiện đầu tư (Rc)
1.3 VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÓI CHUNG VÀ NGÀNH DU LỊCH NÓI RIÊNG
1.3.1.Vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 21nhiên như đất đai, tài nguyên thì luôn cần có một lượng vốn đầu tư nhất định Mô hình tăng trưởng kinh tế của Harrod - Domar đã chứng minh là có sự quan hệ
tỉ lệ thuận giữa tỉ lệ vốn đầu tư và tỉ lệ tăng trưởng thu nhập quốc nội (GDP)
Quan hệ giữa mức tăng vốn đầu tư và tăng trưởng đã được xác lập bằng phương trình kinh tế:
Mức tăng GDP = Mức tăng vốn đầu tư / ICOR
Trong đó ICOR (Incremental Capital Output Ratio) là Hệ số tăng trưởng
vốn - đầu ra, biểu thị hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư
Như vậy bên cạnh việc sử dụng vốn đầu tư một cách hiệu quả thì việc tỷ lệ vốn đầu tư tăng lên sẽ kéo theo tốc độ tăng trưởng tăng và ngược lại
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chỉ là một điều kiện tiền đề để tạo ra sự phát triển Phát triển kinh tế là cả một quá trình làm biến đổi sâu sắc về mọi mặt kinh tế xã hội của một đất nước cả về số lượng và chất lượng trong dài hạn Phát triển kinh tế đòi hỏi sự tăng trưởng phải được duy trì liên tục trong dài hạn, tạo nên những chuyển biến trong cơ cấu kinh tế và cấu trúc xã hội theo hướng hiện đại, nền kinh tế hoạt động với năng suất và hiệu quả cao, hàng hoá có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, môi trường được bảo vệ, đời sống vật chất và văn hoá của người dân được cải thiện rõ rệt
Ngoài những tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, việc duy trì lâu dài nguồn cung cấp vốn đầu tư một cách hiệu quả sẽ góp phần quan trọng để đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế Điều này thể hiện trước hết ở tác động của vốn đầu tư đến việc phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tư vốn vào cơ sở hạ tầng sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế một cách vững chắc Việc kiến tạo cơ sở hạ tầng luôn phải đi trước một bước để mở đường cho nền kinh tế phát triển Ngân hàng Thế giới đã nhận định rằng sự gia tăng tổng sản phẩm quốc gia thường tương ứng với sự gia tăng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng Vì vậy muốn phát triển kinh tế cần phải có một lượng vốn lớn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng Mặt khác, để đạt được mục đích phát triển kinh tế nhanh và bền vững, cần phải tạo cơ cấu kinh tế tối ưu phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi nước Một cơ cấu kinh tế tối ưu luôn bảo đảm sự phát triển cân đối, hài hoà cả về cơ cấu ngành và cơ cấu vùng và lãnh thổ Ở đây vốn đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác hiệu quả các nguồn lực tiềm năng tạo ra động lực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng tối ưu, từ đó tạo ra sự phát triển nhanh
Trang 22và bền vững
Vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế còn thể hiện qua việc vốn bảo đảm sự kết hợp cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư Tiết kiệm chính là nguồn gốc của đầu tư, nhưng việc tiết kiệm và đầu tư được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau, do đó dễ dẫn đến tình trạng nền kinh tế bị thừa hoặc thiếu vốn làm cho sự phát triển không ổn định, tăng trưởng thấp, thất nghiệp gia tăng Trong tình trạng thừa vốn, nhà nước phải khuyến khích đầu tư và kích cầu tiêu dùng để tiêu hoá tốt lượng vốn từ tiết kiệm Trong trường hợp thiếu vốn, nhà nước phải có chính sách thu hút vốn từ bên ngoài, kiểm soát và nâng cao hiệu quả hấp thụ vốn của nền kinh tế, đồng thời phải thực hành tiết kiệm để nâng cao tỷ trọng nguồn vốn trong nước Sự chu chuyển vốn sẽ tạo nên sự cân bằng vĩ mô giữa tiết kiệm và đầu tư , góp phần ổn định và phát triển kinh tế
Vốn còn là điều kiện không thể thiếu trong việc tạo ra công ăn việc làm , qua đó nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần cho người dân Vốn đầu
tư góp phần quan trọng trong việc phát triển giáo dục, y tế, văn hoá xã hội, thúc đẩy xã hội theo hướng công bằng, văn minh
1.3.2 Vai trò của vốn đầu tư đối với phát triển du lịch
Cũng như đối với các ngành kinh tế khác, vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành du lịch Để đưa du khách đến với các địa điểm du lịch, trước hết cần phải đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thông, phương tiện vận chuyển Muốn giữ chân du khách phải đầu tư xây dựng, tôn tạo các khu du lịch, xây dựng cơ sở lưu trú, hoàn chỉnh hệ thống thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, nước sạch cho các khu du lịch Muốn gia tăng nguồn thu từ khách du lịch phải đầu tư vốn để tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, phong phú và hấp dẫn Sự tăng trưởng của ngành du lịch cũng có quan hệ chặt chẽ với mức độ gia tăng vốn đầu tư và tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn đầu tư
Vốn đầu tư vào du lịch còn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, trong đó nâng dần tỉ trọng của các ngành dịch vụ trong thu nhập quốc dân và giảm dần tỉ trọng của các ngành nông lâm nghiệp Việc xác định quy mô và định hướng đầu tư vốn đúng đắn sẽ tạo điều kiện cho du lịch phát triển bền vững, khai thác tốt các tiềm năng và bảo vệ cảnh quan môi trường
Trang 231.4 KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH ĐỂ HUY ĐỘNG VỐN CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NÓI CHUNG VÀ NGÀNH DU LỊCH NÓI RIÊNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY
1.4.1 Kinh nghiệm sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng ở một số nước trên thế giới
Chính sách huy động vốn thông qua các công cụ tài chính là có khác nhau
ở mỗi nền kinh tế Tuỳ theo tình hình kinh tế-xã hội mà các nền kinh tế sử dụng linh hoạt các công cụ tài chính để tạo lập chính sách huy động vốn có hiệu quả Tuy vậy, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực cho Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa:
+ Cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô để huy động vốn có hiệu quả Thông thường các nền kinh tế tập trung vào giải quyết các vấn đề cơ bản như kiểm soát lạm phát; giảm thâm hụt ngân sách; thu chi ngân sách minh bạch và phân quyền rõ ràng; ổn định tỉ giá và tiền tệ để loại trừ những nhân tố bất ổn làm đẩy lùi tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế
+ Chú trọng sử dụng các công cụ tài chính kích thích tiết kiệm-đầu tư Chính sách tiết kiệm, chủ yếu tập trung vào cải cách hệ thống tài chính, xây dựng chính sách lãi suất dương thích hợp với quan hệ cung cầu; nâng cao tiết kiệm của chính phủ Chính sách khuyến khích đầu tư, thường chú trọng đến các chính sách cải cách thuế, đơn giản hệ thống thuế, lượng hóa cơ cấu thuế trực thu và gián thu, áp dụng chế độ miễn, giảm thuế linh hoạt; thực hiện chế độ khấu hao nhanh; tăng cường đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ; chú trọng sử dụng các quỹ hỗ trợ tài chính nhà nước trong việc tài trợ vốn cho các hoạt động cần ưu tiên phát triển, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa
+ Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính để tạo ra uy tín và nâng cao khả năng thu hút vốn ngày càng nhiều hơn Số tư bản nước ngoài cần được quản lý chặt chẽ và sử dụng vào hoàn thành cơ sở hạ tầng, mở rộng đầu tư đẩy mạnh xuất khẩu, tạo nguồn ngoại tệ đảm bảo khả năng trả nợ
+ Sử dụng các công cụ tài chính vĩ mô phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế Trong giai đoạn đầu của tiến
Trang 24Cách thức đổi mới: Đổi mới chính sách sử dụng các công cụ tài chính phải
phù hợp với tiến trình đổi mới kinh tế Sự phát triển kinh tế vừa là nhu cầu vừa là điều kiện cho sự thúc đẩy đổi mới tài chính càng thêm sâu sắc hơn Ngược lại, sự đổi mới các công cụ tài chính là khâu có tính đột phá, đóng vai trò bà đỡ cho tiến trình đổi mới kinh tế Đổi mới chính sách sử dụng các công cụ tài chính được tiến hành từng bước và không cứng nhắc theo một mô hình lý tưởng từ các quốc gia có nền kinh tế phát triển Khác với các nền kinh tế thị trường phát triển, đã tạo được môi trường kinh tế cho các công cụ tài chính phát huy tác dụng, chính
trình công nghiệp hóa, sự vận hành của các công cụ tài chính vĩ mô rất phức tạp như: đa thuế suất, đa lãi suất, đa tỉ giá…Vả lại, trong quá trình vận hành, các công cụ không thể nào hoàn toàn theo cơ chế thị trường mà phải chịu sự ràng buộc nhất định bởi các biện pháp hành chính cũng như sự can thiệp trực tiếp của nhà nước Và theo xu thế phát triển, các công cụ tài chính vĩ mô ngày càng mang tính thị trường hơn và tự do hóa hơn Tiến trình tự do hóa tài chính phải có bước đi thận trọng Kinh nghiệm các nước ASEAN cho thấy, nếu mở cửa thị trường tái chính quá nhanh, trong khi áp dụng chế độ tỉ giá cứng nhắc trói buộc đồng tiền duy nhất, chính sách quản lý ngoại hối không chặc chẽ, vốn ngắn hạn không kiểm soát nghiêm ngặt thì nền kinh tế không thể tránh được khủng hoảng
+ Sự bùng nổ TTCK các nước Đông Nam Á vào những năm 80 là một hiện tượng đáng ghi nhận, nhưng cần lưu ý rằng, thời điểm bắt đầu bùng nổ là sau khi hầu hết các nước NIEs và ASEAN-4 đã cất cánh Như vậy, sự phát triển của TTCK là kết quả chứ không phải nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng nhanh của các nước này Điều này cho thấy sự gia tăng tiết kiệm của các nước này trong những thập kỷ 70-80 là có sự đóng góp rất tích cực của hệ thống các TCTD trong quá trình phân bổ nguồn lực
1.4.2 Kinh nghiệm sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng ở Việt nam từ năm
1986 đến nay
Cơ sở cho sự đổi mới: Tạo lập môi trường kinh tế và pháp lý cho việc vận
hành các công cụ tài chính theo cơ chế thị trường là yếu tố quyết định cho sự thành công của quá trình đổi mới chính sách tài chính Mở cửa kinh tế, từng bước hòa nhập vào kinh tế thế giới là yếu tố hết sức quan trọng để tiếp cận các định chế tài chính tiên tiến trên thế giới và vận dụng có chọn lọc vào thực tiễn kinh tế Việt nam
Trang 25sách tài chính Việt nam được cải cách trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang chuyển đổi sâu sắc với đặc trưng là vừa xác định mục tiêu, vừa cải tạo các công cụ truyền thống và xây dựng các công cụ mới, vừa phải tạo môi trường cho các công cụ đó phát huy tác dụng
Cơ chế quản lý và điều hành chính sách Để kiềm chế và đẩy lùi lạm phát,
cùng với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nước phải kiên trì phối hợp các công cụ tài chính trên các phương diện, như quản lý chặt chẽ các nguồn tài chính để tăng thu ngân sách đi đôi với các biện pháp thắt chặc chi tiêu; mở rộng tín dụng theo cơ chế lãi suất thị trường; chấm dứt phát hành tiền để bù đắp bội chi NSNN; thực hiện cơ chế tỉ giá thị trường và quản lý chặt chẽ ngoại hối; đồng thời kiên trì phối hợp các công cụ tài chính khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế khai thác mọi tiềm năng về vốn, lao động để phát triển kinh doanh Hình thành và phát triển thị trường tài chính với nhiều tổ chức tài chính tham gia để tác động mạnh đến quá trình tạo vốn, phân phối và sử dụng vốn có hiệu quả trong toàn bộ nền kinh tế làm chuyển dịch lại cơ cấu kinh tế Nhanh chóng tổ chức lại bộ máy quản lý tài chính Tăng cường đào tạo cán bộ theo hướng trang bị những kiến thức, nghiệp vụ tài chính mới phù hợp với sự thay đổi của cơ chế quản lý kinh tế
Tóm lại, chương I đã trình bày các nội dung là: Những lý luận chung về du lịch, về vốn đầu tư, việc huy động vốn và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Tác giả đã trình bày các khái niệm, nhu cầu vốn đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư; Đồng thời tác giả đã trình bày vai trò của vốn đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng, nêu lên những kinh nghiệm sử dụng các công cụ tài chính để huy động và sử dụng vốn cho phát triển kinh tế-xã hội, phát triển ngành du lịch ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam từ 1986 đến nay
Trang 26CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
DU LỊCH CỦA TỈNH BÌNH THUẬN TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH BÌNH THUẬN
2.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Bình Thuận
a) Điều kiện tự nhiên và tài nguyên tự nhiên để phát triển du lịch
Bình Thuận là tỉnh cuối cùng của vùng Nam Trung Bộ, có mối liên hệ chặt chẽ và được phân công vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ, nằm trong khu vực ảnh hưởng cuả Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam Phía bắc giáp Lâm Đồng và Ninh Thuận, phía tây giáp Đồng Nai, tây nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu, đông và đông nam giáp Biển Đông Tỉnh có 10 đơn vị hành chính là thành phố Phan Thiết, thị xã LaGi, các huyện đất liền Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Đức Linh, Tánh Linh và huyện đảo Phú Qúy cách thành phố Phan Thiết 120 km
Tỉnh nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km, cách thành phố Nha Trang
250 km, có quốc lộ IA, đường sắt Thống Nhất chạy qua nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước; quốc lộ 28 nối liền thành phố Phan Thiết với các tỉnh Nam Tây Nguyên ; quốc lộ 55 nối với trung tâm dịch vụ dầu khí và
du lịch Vũng Tàu, trong tương lai sẽ kéo dài giáp với tỉnh Lâm Đồng
Với vị trí địa lý như trên, bên cạnh mối quan hệ kinh tế truyền thống với địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Thuận có điều kiện mở rộng mối quan hệ giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh Tây nguyên và cả nước
Tổng diện tích tự nhiên 7.855km2, với đại bộ phận lãnh thổ là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp Địa hình hẹp ngang, kéo dài theo hướng Đông Bắc
- Tây Nam Đặc biệt, với 192 km bờ biển trải dài trên địa bàn của 5 huyện, thành phố ven biển, từ huyện Hàm Tân giáp giới tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ở phía nam đến huyện Tuy Phong giáp Ninh Thuận ở phía bắc, diện tích vùng lãnh hải 52.000km2 là một trong những vùng biển giầu nguồn lợi về các loại hải sản với khả năng khai thác khoảng 120.000 tấn/năm ; nhiều tiềm năng để phát triển ngư nghiệp, diêm nghiệp và đặc biệt là du lịch biển
Trang 27Với các bãi biển cát trắng mịn rợp kín vườn dừa, rừng phi lao, bờ biển thoai thoải và nuớc biển sạch, trong xanh ở Phan Thiết - Mũi Né, Tiến Thành - Thuận Quý (Phan Thiết), Hòa Thắng (Bắc Bình), Đồi Dương (Hàm Tân), Mũi Điện - Khe Gà (Hàm Thuận Nam) ; các bãi biển nằm cạnh sườn đồi núi với bờ đá, bờ đất, các cồn cát nhấp nhô, địa hình phong phú như Tiến Thành (Phan Thiết) ; Vĩnh Hảo, Bình Thạnh (Tuy Phong) ; các đảo nhỏ, cù lao ven bờ với các rạn san hô, cảnh quan thiên nhiên còn hoang sơ, môi trường tự nhiên trong lành có điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao biển và du lịch sinh thái trên phạm vi toàn tỉnh
Về khí hậu, Bình Thuận nằm trong khu vực khô hạn nhất cả nước, nhiều gió, nhiều nắng, không có mùa đông, nhiệt độ trung bình năm 26,50C - 27,50C, lượng mưa trung bình 800-1.600mm/năm, thấp hơn trung bình cả nước (1.900mm/năm) Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 với số ngày mưa trung bình 104-140 ngày, như vậy mùa mưa ở Bình Thuận không trùng với thời gian cao điểm về du lịch của các nước Chân Âu (từ tháng 10 – tháng 4 năm sau) Bình Thuận ít chịu ảnh hưởng của bão Đặc điểm trên là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch nghỉ dưỡng và giải trí ven biển suốt cả năm Song do lượng mưa nhỏ, lượng bốc hơi lớn nên vấn đề khô hạn là một trong những hạn chế lớn của Bình Thuận Vì vậy, yếu tố thủy lợi để giữ nước và cấp nước có vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế Bình Thuận có 7 lưu vực sông chính, nhưng trừ sông
La Ngà, chiều dài và lưu vực, trữ lượng của các con sông còn lại đổ ra các cửa biển ở Bình Thuận nhỏ, không làm ảnh hưởng đến các bãi tắm lân cận vùng cửa sông
Một trong những tài nguyên khoáng sản khá đặc sắc của tỉnh là nguồn nước khoáng thiên nhiên như Vĩnh Hảo (Tuy Phong), Đa Kai (Đức Linh), Đồng Kho (Tánh Linh),Văn Lâm, Hàm Cường, Bưng Thị (Hàm Thuận Nam), Phong Điền (Hàm Tân) phân bố khá rộng trên phạm vi toàn tỉnh Ngoài một số điểm có đủ điều kiện đã khai thác làm nước giải khát khá nổi tiếng như Vĩnh Hảo, Đa Kai hoặc đang chuẩn bị khai thác như Văn Lâm, số còn lại có thể sử dụng phục vụ cho việc phát triển các loại hình du lịch điều dưỡng có sử dụng nước khoáng, bùn khoáng
Theo kết quả kiểm kê hiện trạng năm 1999, rừng Bình Thuận còn khoảng 368.319 ha, thuộc loại rừng nhiệt đới Nam Tây Nguyên với nhiều loại cây gỗ và động vật hoang dã quý hiếm, tàng ẩn nhiều giá trị tham quan nghiên cứu cho
Trang 28Các di tích văn hóa lịch sử trên đã thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan : tháp Chăm Poshanư, sưu tập các di vật cuối cùng của Hoàng tộc Chăm, các chùa Cổ Thạch, Tà-Kóu, dinh Thầy Thiếm, các đình làng ở các địa phương, trong đó có Vạn Thủy Tú là nơi thể hiện tập trung tập quán thờ cúng cá voi của
cư dân ven biển, nơi lưu giữ nhiều bộ xương cá voi, trong đó có bộ xương được
khách du lịch Đặc biệt là một số vùng lòng hồ thủy lợi, thủy điện với những khu vực rừng phòng hộ lân cận có thể phát triển loại hình du lịch sinh thái như Hàm Thuận – Đa Mi, Sông Quao, Sông Lòng Sông Điều đáng quan ngại là tình trạng phá rừng trái phép, săn bắt động vật hoang dã tràn lan đang làm suy kiệt nhanh chóng tài nguyên rừng
Như vậy, với những điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý của mình, Bình Thuận có những tài nguyên du lịch tự nhiên nổi bật để phát triển các loại hình du lịch ở vùng bờ biển, kết hợp với những điểm du lịch ở các vùng hồ nước, núi rừng có cảnh quan đẹp, tạo ra khả năng phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch Đồng thời, cũng cần quan tâm giải quyết các điểm yếu trong quá trình phát triển là phải kiểm soát tốt hơn môi trường
b) Tài nguyên về xã hội, nhân văn
Dân số trung bình của tỉnh Bình Thuận năm 2001 là 1.089.328 người, trong đó dân số thành thị chiếm 29,6 % Bình Thuận là nơi cư trú của 37 dân tộc khác nhau, chiếm tới phân nửa số dân tộc trên cả nước, trong đó dân tộc Kinh chiếm 93%, dân tộc Chăm 2,84%, còn lại là các dân tộc khác như K’Ho, Rắc-lây, Tày, Nùng, Hoa So với các địa phương khác trong cả nước, người Chăm ở Bình Thuận có số lượng khá đông, sinh sống thành các khu dân cư tập trung chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp và một số nghề thủ công như làm đồ gốm, dệt thổ cẩm Là cư dân bản địa đã sinh sống từ lâu trên vùng đất này, đồng bào dân tộc Chăm có một nền văn hóa có bề dày, với những đặc trưng riêng trong phong tục, tập quán, lối sống ; những nét đặc sắc thể hiện trong các công trình kiến trúc, các hoạt động văn hóa, lễ hội có sức lôi cuốn du khách bằng sự hấp dẫn riêng biệt của mình
Về các di tích văn hóa lịch sử, Tỉnh có 23 di tích văn hóa lịch sử được Nhà nước xếp hạng, trong đó có 13 di tích kiến trúc nghệ thuật, 7 di tích văn hóa, 2 thắng cảnh và 1 di tích khảo cổ Ngoài ra, một số di tích văn hóa lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đang được tiếp tục khảo cứu, thiết lập hồ sơ khoa học để tiếp tục đề nghị Nhà nước công nhận
Trang 29đánh giá là lớn nhất nước Nhìn chung, các di tích lịch sử văn hóa của Tỉnh tuy không nhiều nhưng khá đa dạng, có những di tích có giá trị văn hóa cao, hấp dẫn khách tham quan Tuy nhiên, việc đầu tư, tôn tạo, quản lý và tổ chức phục vụ khách du lịch ở các nơi này còn nhiều hạn chế cần sớm giải quyết
Là một vùng đất giao thoa nhiều nền văn hóa của các dân tộc với nhiều phong tục và tín ngưỡng khác nhau, ngoài các lễ hội mang tính chất dân tộc, tôn giáo và nghề nghiệp mang tính chất chung được tổ chức trong cả nước ; các lễ hội mang tính chất vùng và đặc thù ở địa phương cũng khá phong phú : lễ hội tết Ka-tê của người Chăm, lễ hội Nghinh Ông của người Hoa, lễ hội Nghinh Ông Nam Hải của cư dân các vạn chài ven biển, lễ cúng Tổ sư của các chùa lớn, của Dinh Thầy Thiếm diễn ra hàng năm thu hút rất đông khách tham dự Mặt hạn chế là hoạt động lễ hội tuy diễn ra khá rầm rộ trong những năm gần đây song còn mang tính tự phát, phục cổ, chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và tổ chức theo một chương trình và kế hoạch thống nhất, để vừa phát huy những nét đẹp truyền thống, hạn chế những yếu tố lạc hậu, vừa thực sự là một tài nguyên văn hóa phục vụ phát triển du lịch
Ngoài ra, Bình Thuận còn có những tài nguyên văn hóa, nhân văn khác như các loại hình văn nghệ độc đáo, mang đậm tính dân tộc đặc thù của những đoàn nghệ thuật không chuyên của người Chăm ; một số làng nghề truyền thống với các nghề dệt thổ cẩm, làm gốm góp phần làm phong phú thêm cho các hoạt động tham quan du lịch
2.1.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BÌNH THUẬN NHỮNG NĂM QUA
Phan Thiết là một điểm có thể quan sát hiện tượng nhật thực toàn phần, du khách trong và ngoài nước đã đổ về nơi đây để xem hiện tượng rất hiếm này của tự nhiên trong năm 1995 Từ đó du khách phát hiện và bị thu hút bởi những vùng bờ biển rất đẹp, những cảnh vật thiên nhiên rất hấp dẫn của Bình Thuận, đã tác động đến sự phát triển ngành du lịch, tạo ra tốc độ tăng trưởng rất nhanh trong những năm gần đây
1) Khách du lịch
Trong 8 năm từ 1993 đến 2000 tổng số lượt khách du lịch đến Bình Thuận là 562.115 lượt người, có mức tăng trưởng bình quân 46,34%/năm, trong đó khách quốc tế là 131.938 lượt khách, con số này quá thấp nếu so sánh giai đoạn 2001-
Trang 302005 (5 năm) có tổng số lượt khách du lịch đến Bình Thuận là 5.249.565, tăng gấp 9,3 lần, có tốc độ tăng trưởng bình quân 41,06%/năm, trong đó khách quốc tế là 471.050, tăng gấp 3,6 lần của 8 năm trước đó
Riêng năm 2005 có 1,75 triệu lượt khách đến Bình Thuận, nếu so với năm
2001 tăng gấp 3,4 lần và nếu so với 1993 tăng 70 lần Rõ ràng lượng khách du
lịch đến Bình Thuận tăng nhanh trong vài ba năm gần đây (xem Bảng 2.1 kèm theo)
- Về du khách quốc tế đến Bình Thuận trong những năm gần đây tăng về
số lượng, tốc độ và chiếm tỷ trọng ngày càng cao so với cả nước Giai đoạn 1993-2000 lượng khách quốc tế đến Bình Thuận là 131.938 lượt người, so với cả nước trong giai đoạn trên chỉ chiếm tỷ trọng 1,12% ( 131.938/11.803.576 lượt người) Nhưng sau đó, giai đoạn 2001-2005 lượng khách quốc tế đến Bình Thuận là 471.050 lượt người, so với cả nước trong giai đoạn trên chiếm tỷ trọng 3,42% (471.050/13.765.149 lượt người), tăng hơn 3 lần so với giai đoạn 1993-2000
Nhìn chung, tốc độ tăng bình quân số du khách đến Bình Thuận trong 13
năm từ 1993-2005 là 44,31%/năm (cao hơn mức bình quân chung cả nước) Riêng
về du khách quốc tế trong cả nước có tốc độ tăng trong thời kỳ này là 20,23%/năm thì du khách quốc tế đến Bình Thuận có tốc độ tăng bình quân
43,12%/năm (tăng gấp2,13 lần so với tốc độ tăng bình quân cả nước giai đoạn 1993-2005) Điều này cho thấy khả năng phát triển của du lịch Bình Thuận thời gian qua tốt hơn mức trung bình toàn ngành (xem bảng 2.2 kèm theo)
- Về thời gian lưu trú: Thời gian lưu trú bình quân của khách còn thấp,
trong giai đoạn 1993-2005 là 1,41 ngày khách, trong đó khách quốc tế 1,92 ngày; Điều này cho thấy các loại hình, các sản phẩm du lịch của Tỉnh phải được đầu tư tốt hơn, đa dạng hơn trong những thời kỳ tiếp theo để có thể giữ du khách ở lại với mình lâu hơn
Trang 31tăng so với cả nước (xem bảng 2-3 kèm theo)
Trong giai đoạn 2001-2005 tỷ trọng GDP của du lịch Bình Thuận chiếm trong GDP toàn tỉnh tăng nhanh, từ chỗ chỉ chiếm một tỷ trọng không đáng kể trong những năm đầu thập niên 90, đến năm 2001 đạt khoảng 7,4 %, và năm
2005 đạt khoảng 11,7%, thể hiện vị trí ngày càng quan trọng của ngành du lịch trong sự phát triển kinh tế tỉnh Bình Thuận
3) Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch
Trong những năm gần đây du khách đến Bình Thuận đã gia tăng rất nhanh; đồng hành với tăng doanh thu du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành thời gian qua đã gia tăng đáng kể
- Cơ sở lưu trú
Vào thời điểm cuối năm 1994, toàn Tỉnh có 11 doanh nghiệp có cơ sở lưu trú với 238 phòng khách sạn, trong đó có 60 phòng đủ tiêu chuẩn đón khách quốc tế Đến năm 2001, toàn tỉnh chỉ có 24 cơ sở lưu trú với 610 phòng Còn đến nay (cuối năm 2005), toàn tỉnh có 102 cơ sở kinh doanh lưu trú đang hoạt động kinh doanh, bao gồm: 70 khu du lịch, 25 khách sạn và 7 nghỉ với 3.198 phòng; trong đó đạt tiêu chuẩn 4 sao có 4 cơ sở với 342 phòng; tiêu chuẩn 3 sao có 9 cơ sở với 588 phòng, 2 sao có 18 cơ sở với 802 phòng; 1 sao có 15 cơ sở với 376 phòng; đạt tiêu chuẩn tối thiểu có 12 cơ sở với 186 phòng Ngoài ra còn có 218 nhà trọ, nhà nghỉ quy mô nhỏ với trên 2.000 phòng ở Phan Thiết, Tuy Phong, Hàm Tân
- Phương tiện vận chuyển
Phương tiện vận chuyển phục vụ khách chủ yếu là ô-tô Với sự phát triển mạnh, đa dạng, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và tư nhân đã mua sắm nhiều loại ô-tô vận tải khách, bảo đảm đáp ứng kịp thời, thuận lợi nhu cầu đi lại của khách Số lượng xe khách đang hoạt động khoảng 450 chiếc, có 6 tàu biển chuyên vận chuyển khách trên tuyến Phan Thiết – Phú Quý
- Các dịch vụ khác
Trang 324) Cơ sở hạ tầng của ngành du lịch
Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của toàn Tỉnh nói chung và ngành du lịch nói riêng các năm qua tuy có được quan tâm đầu tư, nhưng so với yêu cầu phát triển vẫn còn những mặt bất cập
- Giao thông
Đường bộ: Toàn Tỉnh có 2.475 km đường bộ Các tuyến quốc lộ IA đi
xuyên qua tỉnh, quốc lộ 55 nối với Bà Rịa – Vũng Tàu, quốc lộ 28 nối với Lâm Đồng và các tỉnh Nam Tây Nguyên có tổng chiều dài 178 km đã và đang được nâng cấp khá tốt Các tuyến tỉnh lộ có 7 tuyến với chiều dài 238 km nối các trung tâm các huyện và các khu kinh tế trong tỉnh Đóng vai trò đặc biệt quan trọng cho sự phát triển du lịch là các tuyến giao thông ven biển từ Hàm Tân đến Tuy Phong được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, các tuyến còn lại đang trong quá trình xây dựng Các đường nhánh nối quốc lộ IA đến các khu du lịch đã được đầu tư khá tốt
Đường sắt: Tuyến đường sắt ngang qua Tỉnh có chiều dài 190 km với 11
ga, nhưng không có ga chính nào thuận tiện cho vận chuyển hành khách
Các cơ sở giao thông khác: Toàn tỉnh có 4 cảng : Phan Thiết, La Gi, Phan
Rí, Phú Quý, chủ yếu là cảng cá và cảng hàng hóa quy mô nhỏ
Từ 1994 đến 2005 đã đầu tư phát triển hạ tầng các vùng này hơn 365 tỷ, trong đó phần lớn là xây dựng đường giao thông và hệ thống điện với số vốn hơn
271 tỷ
- Điện, nước
Trang 33có điện lưới quốc gia Tuy nhiên, một số khu du lịch mới được quy hoạch dọc ven biển như đoạn Mũi Né – Hoà Thắng ; Thuận Quý – Khe Gà (Hàm Thuận Nam) ; Hàm Tân tuyến điện trung thế chưa có, đang trong quá trình xây dựng Hệ thống cấp nước sinh hoạt tại các thành phố, thị trấn nhìn chung công suất chưa đáp ứng đủ nhu cầu nước sạch của nhân dân, đang được tiếp tục đầu tư nâng cấp Các khu du lịch thuộc thành phố Phan Thiết giải quyết tốt việc cấp nước bằng cách đào giếng, sử dụng hệ thống xử lý và cấp nước nội bộ hoặc sử dụng nước máy
-Thông tin liên lạc
Mạng lưới bưu chính viễn thông của Tỉnh đã được đầu tư nâng cấp, đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc Toàn Tỉnh có 70 bưu cục, 64 điểm bưu điện văn hóa xã ; 48 tổng đài điện thoại cố định với dung lượng 57.798 số, 14 điểm thu phát sóng điện thoại di động Các khu vực trung tâm của các huyện, các khu du lịch đang hoạt động đều đã có mạng lưới điện thoại cố định và di động
5) Lao động
Nếu như thời điểm 2001 lực lượng lao động trực tiếp làm việc trong ngành
du lịch có khoảng 1.000 người, thì đến năm 2005 là khoảng 2.980 người Nếu tính cả số lao động gián tiếp liên quan đến hoạt động du lịch là 6.550 người, thì lao động du lịch trong ngành du lịch 2005 là 9.530 người Lực lượng lao động tăng nhanh về số lượng và chất lượng, trong đó lao động tại địa phương chiếm tỷ lệ trên 82% Từ năm 2001-2994, ngành du lịch Bình Thuận đã phối hợp với Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh, các doanh nghiệp và các Trường tại thành phố Hồ Chí Minh mở các lớp đào tạo bồi dưỡngkiến thức chuyên môn về du lịch cho 207 học viên, 2 lớp ngoại ngữ cho 80 học viên đang làm việc tại các khu du lịch, khách sạn trong tỉnh, đa số là lao động tại địa phương
Nhìn chung số lao động hoạt động trong lĩnh vực du lịch ngày càng được đào tạo bài bản hơn do sự hình thành các khách sạn, các làng nghỉ có quy mô tương đối lớn Tuy nhiên, việc đáp ứng lực lượng lao động tại chỗ có chuyên môn cao đáp ứng cho nhu cầu phát triển của các cơ sở du lịch còn hạn chế do chưa được đào tạo kịp thời
6) Đầu tư vào ngành du lịch
Việc thu hút đầu tư vào ngành du lịch của Tỉnh những năm qua có những kết quả vượt trội so với các ngành, lĩnh vực khác Nếu như trước năm 1995, chỉ
Trang 34có vài dự án đăng ký đầu tư vào ngành du lịch, và tập trung chủ yếu ở khu vực Hàm Tiến, Mũi Né của thành phố Phan Thiết, thì trong những năm gần đây, số dự án đăng ký đầu tư tăng rất nhanh, địa bàn đầu tư đã trải ra trên khắp các huyện ven biển Tính đến thời điểm cuối năm 2005, du lịch Bình Thuận đã thu hút các nhà đầu tư tư nhân ngoài tỉnh, đặc biệt là các doanh nhân ở thành phố Hồ Chí Minh và đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách mạnh mẽ với 357 dự án trên toàn tỉnh được chấp nhận đầu tư trên tổng diện tích đất cấp là 2.464,6 ha, tổng vốn đăng ký là 7.322 tỷ đồng Riêng về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tính đến cuối năm 2005, tỉnh Bình Thuận đã chấp thuận cho 23 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 121,02 triệu USD, trong đó số vốn đã thực hiện là 29,82 triệu USD Tóm lại, hiện nay có 74 dự án đã đi vào hoạt động, 68 dự án đang triển khai xây dựng và 215 dự án đang hoàn tất các thủ tục đầu tư
7) Hiện trạng quản lý Nhà nước về du lịch
Để tạo điều kiện cho sự phát triển du lịch Bình Thuận, công tác quản lý Nhà nước về du lịch đã được tăng cường hơn trong những năm trước Lãnh đạo Tỉnh Ủy, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo kịp thời, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư du lịch đến đầu tư, kinh doanh tại Bình Thuận UBND tỉnh đã ban hành các quy chế, quy định nhằm tạo cơ sở pháp lý và định kỳ gặp các doanh nghiệp để lắng nghe, tháo gở giúp các doanh nghiệp du lịch hoạt động ngày càng tốt hơn
Tỉnh cũng đã chỉ đạo tăng cường công tác quản lý, kiểm tra chấn chỉnh các hoạt động du lịch, tạo sự an tâm thoải mái cho du khách khi đến tham quan nghỉ dưỡng như: chất lượng phục vụ, giá cả, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, cứu hộ, v.v…Đã có 57 khách sạn, khu du lịch trên địa bàn tỉnh được xếp hạng từ đủ tiêu chuẩn kinh doanh du lịch đến 4 sao Qua đó cho thấy các doanh nghiệp đã quan tâm đến uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường du lịch trong nước và quốc tế Tỉnh đã hình thành các Ban Quản lý khu du lịch để kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của Nhà nước như: về vệ sinh môi trường, giữ gìn trật tự an toàn trong khu vực,… Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch đã được củng cố kiện toàn theo hướng chuyên môn hoá Tỉnh đã thành lập Sở Du lịch từ Sở Thương mại-Du lịch (ngày 01/3/2005) và các huyện, thành phố đều có 1 bộ phận giúp việc cho UBND huyện, thành phố theo dõi, quản lý công tác du lịch trên địa bàn ngày càng nhộn nhịp và phức tạp hơn; mặt khác, hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp du lịch có thể liên quan đến chức năng quản lý Nhà nước