Khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta ñược ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp sản xuất sứ gốm, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng cao cấp, chất ñộn trong nhiều ngành cô
Trang 1ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ PHÂN BỐ NGUYÊN LIỆU GỐM SỨ, THỦY TINH Ở VIỆT NAM
I Khái quát chung:
Đối với mỗi người Việt Nam nói chung thì việc tìm hiểu về tự nhiên Việt Nam cũng như nguồn tài nguyên khoáng sản là rất cần thiết Nó giúp ta nắm vững các quy luật tự nhiên, sự phân bố và hướng sử dụng các nguồn tài nguyên ñể mỗi người chúng ta có những hành ñộng hợp lý, ñúng ñắn nhất ñối với tự nhiên về nguồn tài nguyên thiên nhiên của ñất nước Đặc biệt ñối với giáo viên Địa lý thì việc này không chỉ ñơn thuần là tự mình nắm vững kiến thức mà ñây chính là nguồn tài liệu chúng ta sẽ sử dụng ñể giảng dạy cho học sinh sau này
Tài nguyên khoáng sản là nguồn lực vô cùng quan trọng ñối với việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia ñặc biệt là ñối với ñất nước có nền kinh tế tài nguyên, ñang ở giai ñoạn ñầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện ñại hoá như nước ta hiện nay
Nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú, ña dạng, ñáp ứng cho nhu cầu phát triển nhiều ngành công nghiệp khác nhau Cùng với quá trình phát triển của mình thì người dân Việt Nam từ xưa cũng ñã biết khai thác và sử dụng một số khoáng sản trong ñời sống hàng ngày Với khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa cũng vậy Từ xa xưa cha ông ta cũng ñã biết sử dụng các nguyên liệu này tạo ra các vật dụng ñể phục vụ cuộc sống của mình mà dấu vết còn lại ñến ngày nay các làng nghề truyền thống (gốm Bát Tràng, Chu Đậu) các công trình kiến trúc cổ (chùa Dâu, tháp Chàm) Ngày nay với trình ñộ khoa học kỹ thuật phát triển nhiều sản phẩm mới với những tính năng ưu việt ñược tạo ra từ các nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa
Khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta ñược ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp sản xuất sứ gốm, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng cao cấp, chất ñộn trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau… Do ñó việc nghiên cứu thành công về ñặc ñiểm, sự phân bố và ứng dụng thực tiễn của nguồn nguyên liệu này trong sản xuất cũng như trong ñời sống là rất quan trọng Nó giúp ta ñánh giá ñúng thực trạng, tiềm năng, tìm ra hướng khai thác thích hợp ñể có hiệu quả kinh tế cao nhất và có tác dụng lâu dài
Qua việc nghiên cứu, thực hiện ñề tài này giúp ta hiểu biết sâu sắc hơn về nguồn khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta ñể phụ vụ cho việc giảng dạy phần ñịa lý các ngành kinh tế của ñất nước Ngoài ra sự có mặt của một số khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở ñịa phương em (felspat, sét chịu lửa…) không chỉ thuận lợi cho em trong việc thu thập số liệu, kế thừa tri thức của các tác giả ñi trước mà ñây chính là nguồn tư liệu quý phục
vụ cho việc giảng dạy ñịa lý ở ñịa phương của em sau này Chính những ñiều này ñã giúp em có lựa chọn cho mình ñề tài: “Đặc ñiểm và phân bố nhóm khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam”
Nguồn tài nguyên khoáng sản nước ta rất phong phú ña dạng Cho tới nay ñã có rất nhiều tác giả nghiên cứu và thành công trong lĩnh vực này Tuy nhiên với trình ñộ là một sinh viên ñại học, ñiều kiện về thời gian và ñiều kiện thực ñịa có hạn nên phạm vi ñề tài này chỉ dừng ở mức
ñộ nhất ñịnh Đó là tìm hiểu về ñặc ñiểm và sự phân bố nhóm khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam với chín loại khoáng sản là sét gốm, ñôlômit, felspat, quarzit, magnesit, kao lin, cát thuỷ tinh, disthen và silimanit, sét chịu lửa
Thực hiện ñề tài nghiên cứu giúp sinh viên củng cố và mở rộng những kiến thức ñã học, bổ sung thêm những kiến thức mới Những kiến thức này là hảnh trang quan trọng cho mỗi người giáo viên nói chung, người giáo viên Địa lý nói riêng khi ñứng trên mục giảng
Qua quá trình thực hiện ñề tài ta có thể hiểu sâu sắc hơn về ñiều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên nói chung, tài nguyên khoáng sản nói riêng và tầm quan trọng của nó ñối với sự phát triển kinh tế ñất nước Mặt khác qua ñó sẽ phần nào làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các nhân tố tự
Trang 2nhiên, ñịa chất tới sự hình thành tài nguyên khoáng sản Cụ thể ở ñề tài này là sự ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên, ñịa chất tới sự hình thành các nhóm khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam
Làm khoá luận tốt nghiệp cũng là một hình thức học tập tương ñối hiệu quả, giúp sinh viên làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học ñồng thời biết áp dụng những kiến thức ñã học vào thực tiễn tức là biết ñưa lý thuyết gắn với thực tế Từ ñó có thể hiểu sâu hơn về vấn ñề mình nghiên cứu nói riêng, về ñiều kiện tự nhiên xung quanh nói chung, thực hiện mục tiêu giáo dục của trường cũng như phương châm giáo dục của Đảng và Nhà nước là học ñi ñôi với hành ñể biến quá trình ñào tạo của nhà trường thành quá trình tự ñào tạo của mỗi sinh viên
Qua việc thực hiện khoá luận tốt nghiệp không chỉ sinh viên ñược rèn luyện, củng cố kiến thức mà qua ñó nhà trường có thể ñánh giá ñược năng lực học tập và nghiên cứu của sinh viên Mặt khác khi ñã trởi thành giáo viên thì với vốn kinh nghiệm này của mình sinh viên có thể tham gia các chuyên ñề nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác giảng dạy trên lớp hoặc ngoại khoá, bổ sung một cách tốt nhất, cụ thể nhất kiến thức cho học sinh về những ñiều kiện tự nhiên xung quanh, tạo cho học sinh có sự hứng thú, say mê học tập bộ môn Địa lý trong nhà trường Từ ñó giúp cho học sinh có cái nhìn thích hợp, ñúng ñắn và sự ứng xử hợp lý với tài nguyên thiên nhiên nói riêng, môi trường xung quanh nói chung
Qua ñề tài này cần phải làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên, ñịa chất tới sự hình thành nhóm khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta Đồng thời ñề tài cũng phải nêu lên ñược những ñặc trưng về công dụng, phân bố và hướng phát triển của nguồn khoáng sản này trong ñời sống và trong nền kinh tế
Lập sơ ñồ phân bố các tụ khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam theo nguồn gốc và trữ lượng ñể qua sơ ñồ ta có thể thấy ñược ñặc ñiểm hình thành và phân bố của các tụ khoáng nói trên trên ñất nước ta
Thực hiện ñề tài tức là mỗi sinh viên phải biết vận dụng những kiến thức ñã học với những tài liệu thu ñược ñể tạo ra những kiến thức của riêng mình Do vậy ñể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp thì mỗi sinh viên không những phải có những kiến thức nhất ñịnh mà phải luôn có sự cố gắng, nỗ lực phấn ñấu hoàn thành công việc với tinh thần, ý thức trách nhiệm cao nhất Tuy nhiên do trình ñộ, thời gian và kinh nghiệm có hạn nên trong quá trình thực hiện hẳn sẽ không tránh khỏi những thiêú sót
II Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu:
Đây là phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, số liệu, bản biểu có liên quan tới ñề tài từ ñó tổng hợp và khái quát hoá, ñưa ra những ñặc ñiểm chính, quan trọng và phục vụ trực tiếp cho ñề tài
Phương pháp này là rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ nhà nghiên cứu nào cũng phải dùng ñến Đây là bước rất quan trọng vì thu thập ñược nguồn tài liệu càng phong phú, chi tiết bao nhiêu thì ñề tài càng có ñiều kiện hoàn thiện dễ dàng hơn trong thời gian ngắn hơn mà lại có chất lượng cao nhất
2 Phương pháp thành lập sơ ñồ phân bố và các biểu bảng:
Khi sử dụng phương pháp này ta phải xác ñịnh ñược ñịa ñiểm phân bố và trữ lượng của từng
tụ khoáng Trên bản ñồ hành chính ta tiến hành lập sơ ñồ phân bố các tụ khoáng nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam
Với phương pháp này thể hiện một cách trực quan nhất sự phân bố của các tụ khoáng ñồng thời cũng phần nào chứng minh vai trò của các yếu tố tự nhiên trong việc hình thành các tụ khoáng kể trên
Trang 3V Quá trình phát triển và lịch sử nghiên cứu khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam
Từ xưa người Việt Nam ñã biết khai thác và sử dụng các khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa trong cuộc sống của mình Trước ñây, việc khai thác nguồn nguyên liệu này không ñáng kể, chủ yếu là sản xuất ñồ gia dụng (bát, chậu, tiểu sành ) nhưng hiện nay,ñặc biệt
là trong hai thập kỷ trở lại ñây thì ñây là nguồn nguyên liệu quý cho phát triển công nghiệp và cho xuất khẩu Việc ñiều tra, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam theo các mức ñộ khác nhau từ thô sơ ñến hiện ñại gắn liền với các thời kỳ phát triển từ thời nguyên thuỷ ñến nay và ñã ñược ghi nhận qua nhiều di tích khảo cổ
và sử liệu Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về nguồn nguyên liệu quý giá này còn ít và tương ñối tản mạn
1 Thời kỳ tiền sử
Vào thời tiền sử người Việt cổ ñã phát hiện ra nguồn sét gốm song họ mới chỉ biết nặn thành
ñồ dùng và phơi khô ñể sử dụng vì khi ñó họ chưa có kỹ thuật nung Sang thời ñại ñồ ñá giữa, các di vật ñồ gốm của văn hoá Hoà Bình ñã ñánh dấu sự ra ñời và phát triển của việc sử dụng có hiệu quả cao nguồn tài nguyên quý giá này Đó là họ ñã biết nung ñể cho sản phẩm bền, ñẹp hơn Cho tới cách ñây 2500 năm, vào thời Hùng Vương ngoài việc trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa, ñúc ñồng, làm ñồ trang sức thì người Việt cổ ñã biết nặn nồi niêu ñể thổi nấu, làm thạp,
vò gốm ñể ñựng Các hoa văn trang trí cho những ñồ này thật phong phú và tinh xảo chủ yếu diễn tả phong cảnh và các hoạt ñộng trong ñời sống hàng ngày của họ
2 Thời kỳ phong kiến
Thời kỳ phong kiến là giai ñoạn phát triển khá rực rỡ của ngành sản xuất gốm và vật liệu chịu lửa ở nước ta Từ lâu người Việt Nam ñã tìm ra kỹ thuật nung ñể tạo ra các sản phẩm ñẹp, bền hơn Ngoài ra việc tráng một lớp men sứ bên ngoài cũng ñã làm tăng nét thẩm mĩ của các sản phẩm Cùng với sự phát triển của các thương cảng lớn như Vân Đồn, phố Hiến, Hội An các sản phẩm sứ gốm của ta không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn ñược ñem trao ñổi, buôn bán với các nước khác trên thế giới nhất là các nước trong khu vực Đỉnh cao của ngành sản xuất gốm
sứ ở nước ta thời phong kiến là vào thời Trần, Hồ, Mạc Gốm Bát Tràng nổi tiếng từ thời Lý, Trần với ñồ gốm sứ cổ truyền Trước làng có tên là Bạch Thổ (ñất trắng) sau ñó sản xuất bát nổi tiếng nên có tên là Bát Tràng và tồn tại cho tới ngày nay là một minh chứng cụ thể
Ngoài việc sản xuất các ñồ gốm sứ phục vụ cho cuộc sống con người thì ngành sản xuất vật liệu chịu lửa nói riêng, vật liệu xây dựng nói chung ñã ñược người dân ta sử dụng từ rất sớm ñáp ứng các nhu cầu của cuộc sống Nền văn minh lâu ñời cùng các di tích, thành quách, lâu ñài, lăng tẩm còn bảo tồn ñược nhất là các kinh ñô nước ta từ Phong Châu, Cổ Loa, Hoa Lư ñến Thăng Long, Huế ñã chứng tỏ sự có mặt hàng ngàn năm của ngành sản xuất này Từ thế kỷ thứ IV người Chăm xây dựng các tháp Chàm, với kỹ thuật nung ñỉnh cao và việc lựa chọn các loại sét phù hợp ñã tạo ra loại gạch rất cứng trải qua hàng ngàn năm vẫn không bị ăn mòn theo thời gian Gạch nung nhà Lý khắc chữ “Đại Việt quốc quân thành” thế kỷ X - XI tìm thấy ở Trường Yên (Ninh Bình) hay gạch “Lý gia ñệ tam ñế Long Thuỵ Thái Bình tứ niên tạo” (1057) xây dựng chùa Phật Tích chứng tỏ sự phát triển của ngành sản xuất vật liệu chịu lửa ở nước ta Tuy nhiên các sản phẩm làm từ khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa trong thời phong kiến còn rất ñơn giản các sản phẩm chủ yếu là ñồ gia dụng (chậu, vại, vò, bình, bát, ñĩa)
và vật liệu xây dựng Các sản phẩm cao cấp chưa có vì nền công nghiệp nước ta ở thời kì ñó nói chung ñang phát triển ở trình ñộ rất thấp
Các tài liệu nghiên cứu về nguồn khoáng sản này từ thời phong kiến trở về trước hầu như không có gì Việc khai thác chúng chủ yếu là tự phát, dựa trên các kinh nghiệm dân gian là
Trang 4chính Do đĩ ta chưa phát huy được hết ưu điểm của từng loại khống sản để sử dụng cho hợp
lý, hiệu quả cao nhất
3 Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược đến năm 1954
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta các mỏ khống sản đều thuộc quyền sở hữu của các tập đồn tư bản Pháp Chúng liên tục khai thác phục vụ chủ yếu cho sản xuất ở chính quốc và xuất khẩu, một phần sử dụng cho cơng nghiệp chế biến đáp ứng nhu cầu tại chỗ Tuy vậy, các tài liệu nghiên cứu đáng tin cậy về lĩnh vực này được lưu lại cho tới ngày nay rất ít Đây chính là một khĩ khăn cho việc phát triển khai thác và sử dụng khống sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta sau ngày giải phĩng
4 Từ năm 1954 đến nay
Năm 1954, miền Bắc hồn tồn được giải phĩng, ngành địa chất được thành lập (1955) với nhiệm vụ đánh giá thăm dị tại các mỏ cũ để tiếp tục khai thác đồng thời điều tra nghiên cứu, thăm dị, tìm kiếm các mỏ khống sản mới Do đĩ các tài liệu nghiên cứu về khống sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta ngày càng phong phú Cĩ thể kể đến một số tài liệu sau:
“Mỏ cát Vân Hải” của Trần Đình Chẩn
“Vài nét về mỏ kaolin felspat Thạch Khốn” - Đồn địa chất 29
“Khống sản vật liệu xây dựng ở Đồng Bằng Bắc Bộ và các vùng ven rìa” của Hồng Ngọc
Kỷ
“Khống sản miền Bắc Việt Nam” của Lê Thạc Xinh, Lê Đình Hữu, Trần Văn Trị
“Khống sản sa khống ven biển Việt Nam” của Nguyễn Thị Kim Hồn
“Những phát hiện mới về địa chất và khống sản vùng Chiêm Hố - Chợ Đồn” của tác giả Đinh Thế Tân, Ngơ Sĩ Nho, Trần Tất Thắng và Đinh Cơng Hùng
“Một số kết quả mới về địa chất và khống sản trên diện tích nhĩm Hà Đơng - Hồ Bình” của Nguyễn Đắc Lư, Trần Đăng Tuyết, Phạm Văn Đường
“ Địa chất và khống sản thành phố Hải Phịng” của Ngơ Quang Tồn và nnk
“Các biện pháp nâng cao chất lượng cơng tác lập bản đồ địa chấtvà tìm kiếm khống sản tỷ lệ 1/50 000 và những phát hiện mới của Liên đồn bản đồ địa chất” của Nguyễn Văn Hồnh
“Những kết quả chủ yếu của việc hiệu đính các tờ bản đồ khống sản tỷ lệ 1:200000 loạt Đơng Bắc và Bắc Trung Bộ” của Phạm Văn Mẫn
“ Các kiểu nguồn gốc kaolin ở Việt Nam , đặc diểm phân bố và giá trị sử dụng thực tiễn của chúng” của Lê Lợi
Việc tìm hiểu các tài liệu trên để hiểu được lịch sử nghiên cứu khống sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa là điều rất cần thiết cho việc làm khĩa luận này
1 Yếu tố kiến tạo
Lịch sử phát triển của tự nhiên Việt Nam theo 3 giai đoạn lớn là: giai đoạn tiền Cambri, giai đoạn cổ kiến tạo, và giai đoạn tân kiến tạo
1.1 Giai đoạn tiền Cambri
Trang 5Vào giai ñoạn này nước ta có các dịa khối cổ: vòm sông Chảy, dãy Hoàng Liên Sơn, cánh cung sông Mã, ñịa khối Pu Hoạt, Pulaileng - Rào Cỏ và ñịa khối Kon Tum còn sót lại
Nhờ những hoạt ñộng nâng lên hạ xuống của vỏ Trái Đất mà ñất ñá bị xáo trộn, mắc ma phun trào, xâm nhập, các ñá biến chất phát triển
Trên vùng nền móng cổ tiền Cambri ñã hình thành các mỏ kaolin Phú Thọ, Sơn Tịnh song khoáng sản nói chung, khoáng sản nguyên liệu gốm sứ, thuỷ tinh, chịu lửa nói riêng hình thành vào thời kì này khá nghèo nàn
1.2 Giai ñoạn cổ kiến tạo
Trong giai ñoạn này bề mặt ñịa hình nước ta nhiều lần biến ñổi bởi các quá trình biển tiến, biển lùi, các quá trình sụt lún kèm theo sự bồi lấp trầm tích, các qúa trình nâng lên và uốn nếp kèm theo hiện tượng xâm nhập phun trào mácma, các quá trình ngoại lực dẫn ñến hạ thấp ñịa hình
Vào chu kỳ kiến tạo Paleozoi, các hoạt ñộng tạo lục nhẹ cũng ñã nâng ñịa khối cổ lên chút ít
và ñã thúc ñẩy các quá trình xâm thực, bào mòn, bồi tích các trầm tích lục nguyên cho vùng trũng Ngoài ra hiện tượng biển lùi và các pha uốn nếp khá mạnh ñã hình thành các ñá xâm nhập granit, ñá phun trào ryolit và andêzit, ñược phân bố rộng rãi ở miền Bắc và miền Trung nước ta hiện nay
Qua quá trình phong hoá, các lớp trầm tích, các ñá này lại tiếp tục bị phá huỷ, chia cắt thành các vật liệu nhỏ hơn hoặc hoà tan trong nước gặp ñiều kiện sẽ tích tụ lại hình thành các mỏ khoáng sản như sét gốm (Đồng Gianh, Núi Hồng, Hợp thành…), kaolin (Đatala, Đồng Hới…) Vào chu kỳ kiến tạo Mezozoi các hoạt ñộng ñịa chất chủ yếu là sụt võng lắng ñọng trầm tích kèm hoạt ñộng macma và nânglên hạ xuống nhẹ Hoạt ñộng macma diễn ra rộng khắp với các
ñá phun trào ryolit ở vùng Việt Bắc, Đông Bắc (máng trũng Cao bằng- Lạng sơn, thung lũng sông Thương ), ñá andêzit phun trào tạo một số ñỉnh núi cao ở Nam Trung bộ (Bi ñúp, Lang Biang, Tà ñưng) Các ñá macma xâm nhập chủ yếu là granit ñã tạo nên các núi cao Phia Biooc, Phia Uăc Đá macma xâm nhập và phun trào maphic ñược hình thành ở ñịa máng sông Đà
1.3 Giai ñoạn tân kiến tạo
Giai ñoạn tân kiến tạo diễn ra trong suốt ñại tân sinh có liên quan với các hoạt ñộng uốn nếp mạnh mẽ của chu kì vận ñộng Anpi làm cho ñịa hình nước ta ñược nâng cao, sông núi như trẻ lại tạo nên các vùng núi, cao nguyên, vùng ñồi núi thấp và ñồng bằng Các quá trình nâng lên ñể
lộ ñá mac ma ngoài thuận lợi cho quá trình phá huỷ ñá gốc
Các vận ñộng nâng lên ở giai ñoạn nàydiễn ra không liên tục mà thành từng ñợt với các chu
kỳ khác nhau Mỗi chu kỳ thường ñược bắt ñầu bằng hoạt ñộng nâng lên làm cho ñịa hình ñược nâng cao ñồng thời thúc ñẩy hoạt ñộng xâm thực của các sông suối, phá huỷ, chia cắt và hạ thấp các mặt ñịa hình ñó Tiếp theo pha nâng là pha yên tĩnh Hoạt ñộng xâm thực của sông suối trở nên yếu ñi, các thung lũng sông ñược mở rộng, hoạt ñộng bồi tụ là chủ yếu ñã bồi ñắp và san bằng ñịa hình tạo nên các bậc ñịa hình ở miền núi
Hoạt ñộng ñứt gẫy phát triển hình thành các hệ thống sông lớn như sông Hồng, sông Đà, sông
Mê Kông hình thành các bậc ñịa hình và mở rộng các thung lũng sông ñã hình thành nên các ñồng bằng châu thổ rộng lớn (ñồng bằng sông Hồng, ñồng bằng sông Cửu Long)
Các hoạt ñộng tân kiến tạo là cơ sở hình thành hình thái ñịa hình và mạng lưới thuỷ văn, tạo ñiều kiện cho các quá trình phong hoá phát triển Tuỳ thuộc kiện ñịa hình và mạng lưới thuỷ văn
mà sự tích tụ vật liệu có sự khác nhau về thành phần khoáng vật cũng như cấu trúc vật liệu dẫn ñến việc hình thành các mỏ khoáng sản khác nhau
Tóm lại, trải qua các chu kỳ kiến tạo của vỏ Trái Đất ñã hình thành các ñá phun trào, xâm nhập có nguồn gốc mac ma ñược lộ ra ngoài mặt ñất là ñiều kiện thuận lợi cho sự phong hoá, bào mòn tạo các vật liệu vụn Đây là cơ sở cho sự hình thành các loại khoáng sản nói chung, khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa nói riêng
Trang 62 Đá
Đá là tập hợp có quy luật của một hay nhiều khoáng vật, tạo thành một thể ñịa chất ñộc lập và là bộ phận chủ yếu tạo nên vỏ Trái Đất
Dựa vào nguồn gốc ñá ñược phân ra ba nhóm là ñá macma, ñá trầm tích và ñá biến chất Cả
ba loại ñá gốc này ñều có liên quan tới quá trình hình thành các khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam
2.1 Đá macma
Được thành tạo do sự ñông cứng của nhiều khối hợp chất silicat nóng chảy trong vỏ hoặc trên
bề mặt Trái Đất Những khối silicat nóng chảy ñó ñược gọi là macma
Đá macma xâm nhập là các ñá macma ñược thành tạo trong vỏ Trái Đất khi macma chưa lên mặt ñất, lộ ra trên mặt ñất do chịu tác ñộng của quá trình xâm thực lâu dài Đó là ñá granit ở Phia Uăc, Thái nguyên, Móng cái (Quảng ninh), ñá xâm nhập bazơ là gabro, peridotit ở Cao bằng, dải Trường sơn Bắc, dải Trường sơn Nam có những ngọn núi cấu tạo bằng granit, ryolit
Đá macma dưới tác dụng của quá trình phong hoá phun trào là các ñá macma ñược tạo từ bên trong, ñược ñưa ra ngoài mặt ñất và ñông cứng lại Đó là ñá macma phun trào axit (ryolit) ở Cao bằng, Lạng sơn, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Quảng Ninh và vòm sông Chảy Đá macma phun trào bazan phân bố ở Thanh Hoá, Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh ñặc biệt là miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
Đá macma chính là nguồn gốc cho việc hình thành các tụ khoáng như tụ khoáng sét gốm Đông Gianh, Núi Hồng, tụ khoáng felspat Minh tân, Phú toản, Núi Bà ñất, các tụ khoáng kaolin
ở Phú thọ, tụ khoáng kaolin Trực bình, Tân thịnh, Trại Mát, Đatala
2.3 Đá biến chất
Là kết quả của quá trình biến ñổi sâu sắc ở trạng thái cứng của các ñá có trước dưới tác ñộng của các quá trình ñịa chất
Đại ña số các khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta ñược hình thành
từ các ñá biến chất Đó là các tụ khoáng ñolomit Sa Pa hình thành từ cacbonat xen trầm tích lục nguyên biến chất, hay tụ khoáng kaolin Đất Cuốc, Chánh Lưu hình thành do tái trầm tích Đệ
Tứ, kaolin Tấn Mài, Bình Liêu, Ba Chẽ hình thành do biến chất trao ñổi giữa các dung dịch nhiệt dịch với các ñá phun trào a xit
Cùng với các yếu tố kiến tạo thì ñá cũng là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành khoáng sản Tuỳ thuộc vào tuổi ñịa chất, các ñá có trước và ñiều kiện môi trường mà tạo ra các
tụ khoáng khác nhau về thành phần và trữ lượng
II Các yếu tố tự nhiên
1 Yếu tố ñịa hình
Ta thấy rằng các mỏ khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta chủ yếu là các mỏ ngoại sinh ñặc biệt là các mỏ có nguồn gốc trầm tích Do vậy ñịa hình là một trong những yếu tố quan trọng ñối với sự hình thành và phân bố nhóm khoáng sản quý giá này
Đại bộ phận ñịa hình nước ta là ñồi núi (chiếm 3/4 diện tích), có xu hướng thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Khu vực núi cao phân bố sâu trong nội ñịa chủ yếu ở hướng Tây với một số ñỉnh có ñộ cao lớn hơn 2000 mét Tiếp ñến là khu vực sườn núi, ñồi thấp, trung du
Trang 7và thấp dần xuống khu vực ñồng bằng và duyên hải Mặt khác, mạng lưới sông ngòi dày ñặc bắt nguồn từ các dãy núi cao ñổ ra biển là ñiều kiện thuận lợi cho việc phá huỷ, vận chuyển và tích
Yếu tố ñịa hình có ảnh hưởng mang tính chất cục bộ ñối với sự hình thành các mỏ khoáng sản Ở vùng trũng ñặc biệt là các vùng trũng giữa núi rất thuận lợi cho các sản phẩm phong hoá ñọng lại Các tụ khoáng sét gốm (Đông Quan, Việt Dân), sét chịu lửa (Trúc Thôn, Yên Sơn), chính là ñược hình thành ở trong những vung trũng sét như vậy
2 Yếu tố khí hậu
Khí hậu là cơ sở cho quá trình phong hoá ñá gốc ñể tạo các tụ khoáng nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta Việt Nam có khí hậu nhiệt ñới ẩm gió mùa là ñiều kiện thuận cho quá trình phong hoá phát triển
Do vị trí ñịa lý của Việt Nam nằm trong vùng nội chí tuyến của bán cầu Bắc từ 8030’ B -
23022’ B ñồng thời lại nằm gọn trong vùng hoạt ñộng của gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu Việt Nam mang ñặc ñiểm chung nhất là nội chí tuyến gió mùa ẩm, thể hiện:
Nhiệt ñộ trung bình cả năm trong toàn quốc cao trên 230 C, mỗi năm có trên 1200 giờ nắng Cán cân bức xạ quanh năm dương: 75 kcal/cm2/năm
Tổng nhiệt ñộ hoạt ñộng 8.0000C -:- 10.0000C
Tổng xạ quanh năm cao: 120 kcal/cm2/năm
Do vậy ta có thể nói rằng Việt Nam có khí hậu nhiệt ñới gió mùa ẩm với lượng mưa hàng năm cao từ 1500 á 2000 mm, có nơi trên 3000 mm, lượng ẩm trong năm 80%
Trong một năm nước ta có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, ngoài ra còn có các mùa phụ chuyển tiếp giữa hai mùa chính Mùa khô kéo dài từ tháng X ñến tháng IV ứng với sự hoạt ñộng của gió mùa Đông Bắc Mùa mưa kéo dài 6 tháng từ tháng V ñến tháng XI trùng hợp với gió mùa thổi theo hướng Đông Nam và Tây Nam (gió mùa mưa) Với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều theo mùa và các loại vi sinh, ñộng thực vật phong phú tạo ñiều kiện cho quá trình phong hoá xảy ra sâu sắc và triệt ñể nhất
Phong hoá là quá trình phân huỷ và làm biến ñổi các loại ñá do tác ñộng của các nhân tố ngoại lực (bức xạ mặt trời, khí quyển, sinh vật ) Ngoại lực có thể phá huỷ toàn bộ các khu vực
có ñá hoặc chỉ phá huỷ một phần nhất ñịnh nào ñó Đó là quá trình phong hoá chọn lọc Tuỳ thuộc vào nguồn gốc ngoại lực có thể phân ra ba loại phong hoá chủ yếu:
Phong hoá lý học (phong hoá cơ giới, cơ học) là sự phá huỷ ñá ra thành các khối vụn có kích thước to, nhỏ khác nhau Thành phần hoá học của ñá và các khoáng vật không thay ñổi Các nhân tố chủ yếu của loại phong hoá này là sự thay ñổi ñột ngột về nhiệt ñộ, tác ñộng ma sát hoặc
va ñập của gió, của sóng, của nước chảy
Phong hoá hoá học: là sự phá huỷ, làm biến ñổi ñá và các khoáng vật của nó do tác ñộng của không khí và các loại dung dịch (oxy hoá, hoà tan do axit cacbonic ) tức là do tác dụng hoá học của khí quyển Nước mưa khi rơi qua các lớp khí quyển thường hoà tan O2, CO2, HCl, SO2,
Trang 8SO3, N2O3 và các chất hoá học khác trong không khí của khí quyển tạo ra các dung dịch axit
và kiềm có khả năng hoà tan khoáng vật và ñá Trong loại phong hoá này, ñá và các khoáng vật của nó bị biến ñổi chủ yếu về mặt thành phần hoá học (ví dụ felspat bị phong hoá thành sét kaolin)
K(AlSi5O8) + mH2O + nH2O → Al(OH)8(Si4O10) + SiO2 + K2CO3 + nH2O
(octola) (kaolin) (thạch anh)
Phong hoá sinh học: là sự phá huỷ ñá và các khoáng vật của nó dưới tác ñộng của các sinh vật, vi khuẩn, nấm mốc, rêu, rễ cây Các sinh vật này len lỏi vào các kẽ ñá, tiết ra dung dịch làm cho ñá vừa bị phá huỷ về mặt cơ giới, vừa bị phá huỷ về mặt hoá học
Sự phân biệt ra 3 loại phong hoá nói trên chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết Trong thực tế, quá trình phong hoá ñồng thời diễn ra ở cả ba mặt lý - hoá - sinh học Tuy nhiên trong từng trường hợp sẽ có quá trình này ưu thế hơn các quá trình khác Trong việc hình thành các khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta thì phong hoá hoá học có ưu thế hơn so với các quá trình phong hoá khác
Quá trình phong hoá vật lý: là giai ñoạn ñầu tiên trong việc phá huỷ ñá và khoáng vật từ vật
to thành vật liệu nhỏ, vụn, thuận lợi cho quá trình phong hoá hoá học ñược dễ dàng hơn Do vậy, phong hoá vật lý có thể ñược coi là cơ sở ñầu tiên cho việc hình thành các tụ khoáng khoáng sản, là tiền ñề cho các quá trình phong hoá sau
Quá trình phong hoá hoá học phá huỷ khoáng vật và ñá bằng các phản ứng hoá học Đá và khoáng vật sẽ bị biến ñổi sâu sắc về tính chất vật lý, cấu tạo, kiến trúc và thành phần hoá học của chúng, kể cả những sản phẩm bền vững cũng sẽ bị phong hoá Một số khoáng vật và ñá dưới tác dụng của nước trên mặt bị hoà tan và chuyển một số thành phần vào dung dịch nước trên mặt Các dung dịch nước giàu thành phần hoà tan này, dưới tác dụng tuần hoàn, lắng ñọng thành một số tụ khoáng Phong hoá hoá hoá học có thể ăn sâu tới tầng nước ngầm nên có vỏ phong hoá dày hàng trăm mét Các sản phẩm phong hoá một phần bị dòng nước cuốn trôi, phần còn lại nằm trong lớp vỏ phong hoá trong ñó có nhiều khoáng vật nặng
Phong hoá sinh học tuy không mạnh song cũng có vai trò ñáng kể trong việc phân huỷ ñá gốc
và khoáng vật Khí hậu Việt Nam có ñộ nóng ẩm cao, sinh vật rất phát triển Trong quá trình phát triển, rễ cây thường bám vào lỗ hổng, khe nứt của ñá ñể hút nước và các chất khoáng Rễ cây lớn dần gây sức ép vào thành khe phá huỷ ñá thành những mảnh vụn Ở nơi thực vật phát triển thì thường có ñộ ẩm, hàm lượng khí CO2, O2 cao tạo ñiều kiện cho quá trình phong hoá hoá học phát triển Ngoài ra, do quá trình phân huỷ các xác ñộng, thực vật ở ñây tạo ra các mùn hữu cơ làm cho tính axit trong môi trường tăng cao, là ñiều kiện thuận lợi cho việc kết tủa các thành phần sét
Quá trình phong hoá ñá, khoáng vật xảy ra ở mọi nơi, mọi ñiều kiện song ở những vùng nhiệt ñới có khí hậu nóng ẩm thì quá trình phong hoá xảy ra triệt ñể nhất
Al4(Si10O8) + CO2 + H2O → Al4(OH)8(Si4O10) + SiO2 + K2CO3 + H2O
Tóm lại khí hậu có vai trò quan trọng trong quá trình phong hoá Nó giữ vai trò phá huỷ các khoáng vật và ñá gốc tạo ñiều kiện cho các quá trình tích tụ hình thành các tụ khoáng nguồn gốc ngoại sinh có giá trị
3 Yếu tố thuỷ văn
Khí hậu ñóng vai trò phong hoá, phân huỷ các ñá gốc tạo các vật liệu vụn thì ngay sau ñó nhân tố thuỷ văn sẽ thực hiện quá trình vận chuyển và tích tụ ñể hình thành các mỏ, tụ khoáng, ñiểm quặng
Vào cuối Neogen, ñầu Pleistocen, lãnh thổ Việt Nam có sự thay ñổi lớn: Các miền núi ñược nâng cao, ñịa hình chia cắt sâu và phức tạp, sông ngòi ñược trẻ hoá, trong khi ñó khối thềm lục ñịa và biển Đông có xu hướng hạ xuống Do ñó, ở nhiều nơi lớp vỏ phong hoá bị phá huỷ và trầm tích hạt thô ñược tích tụ dưới chân núi dưới dạng nón phóng vật Các sản phẩm phong hoá
Trang 9có thành phần mịn hơn ñược vận chuyển xa hơn Tuy vậy, sự tích tụ sản phẩm phong hoá ở gần vùng lộ ñá gốc có hàm lượng khoáng vật tăng cao và hình thành các tầng chứa khoáng vật Trong ñiều kiện phá huỷ mạnh, các khoáng vật quặng ñược giải phóng từ ñá gốc và ñược vận chuyển ra vùng ven biển nhờ các dòng chảy khác nhau
Hệ thống thuỷ văn của nước ta dày ñặc với 3260 con sông lớn nhỏ Nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt ñới ẩm, mưa nhiều nên sông luôn có nước quanh năm Đây là ñiều kiện thuận lợi cho quá trình vận chuyển các sản phẩm phong hoá ñể tạo thành các mỏ khoáng sản
Hệ thống thuỷ văn phản ánh sự phân bố của ñịa hình nên hướng chính của sông ngòi nước ta
là hướng Tây Bắc - Đông Nam và hướng vòng cung, ñổ ra biển Đông qua các cửa sông Đi dọc
bờ biển, trung bình cứ 20 km ta lại gặp một cửa sông Vì vậy ven biển là nơi tích tụ một phần các sản phẩm ñã ñược chọn lọc của sông ngòi mang ra
Đối với dòng lũ và các dòng chảy không thường xuyên thì việc vận chuyển vật liệu phụ thuộc vào lưu lượng nước của nó Đặc biệt trong mùa mưa lũ thì các sản phẩm phá huỷ ñược vận chuyển theo dòng nước là rất lớn với thành phần phức tạp tạo các mỏ khoáng sản khác nhau Đối với dòng chảy thường xuyên, trong quá trình vận chuyển ñã diễn ra hai quá trình phân dị: hoá học và cơ học Trong quá trình vận chuyển, tuỳ thuộc ñộng lực dòng chảy và trọng lượng vật liệu có sự phân bố trầm tích khác nhau Các vật liệu có tỷ trọng nặng, kích thước hạt thô (ñá tảng, cuội, sỏi ) thường ñược phân bố ở gần ñá gốc Các vật liệu có tỷ trọng nhẹ, kích thước hạt nhỏ, mịn (cát, bột, sét ) thường ñược cuốn ñi xa, phân bố xa ñá gốc Mặt khác, trong dòng nước thường có chứa các chất hoà tan khác nhau nên trong quá trình vận chuyển thì có một số chất bị hoà tan số còn lại thì ñược cuốn trôi theo dòng nước, gặp ñiều kiện thuận lợi thì sẽ tích tụ lại Quá trình tích tụ là giai ñoạn cuối cùng trong quá trình thành tạo các trần tích khoáng sản Tuỳ thuộc vào ñiều kiện tự nhiên mà hình thành nên sa khoáng tàn tích, sườn tích, lũ tích hay trầm tích sông
Hầu hết các tụ khoáng nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta là các mỏ ngoại sinh
có nguồn gốc hình thành là trầm tích và sa khoáng nên phân bố chủ yếu dọc theo các sông và ven biển Còn lại ñược phân bố trên các khu vực khác nhau song chủ yếu là khu vực ñồi núi, ñịa hình có sự cắt xẻ mạnh Từ ñó, ta thấy rõ ñược vai trò của yếu tố thuỷ văn trong việc hình thành các tụ khoáng nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở nước ta
4 Yếu tố hải văn
Tóm lại, tiền ñề lý thuyết cho sự thành tạo các mỏ khoáng sản ngoại sinh nói chung, khoáng sản nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa nói riêng ñó là thời kỳ thành tạo vỏ phong hoá hoá học dày của khí hậu, và thời kỳ rửa trôi, chọn lọc và tích tụ của hệ thống sông ngòi Đây chính
là cơ sở cho việc hình thành các mỏ, tụ khoáng, ñiểm quặng có giá trị công nghiệp ở nước ta
Chương II Đặc ñiểm và phân bố nhóm khoáng sản nguyên liệu
sứ gốm, thuỷ tinh, chịu lửa ở Việt Nam
1 SÉT GỐM
I Đặc ñiểm, thành phần
Sét gốm là loại sét gồm các khoáng vật nhóm hyñroalumosilicat có ñộ hạt nhỏ (0,01mm), lúc
ẩm dễ tạo hình, ñến lúc khô vẫn giữ nguyên hình thể và sau khi nung ñến nhiệt ñộ thích hợp thì trở nên rắn, không trở lại ñặc tính ban ñầu do các khoáng vật sét mất nước trong mạng lưới kết tinh khi bị sứ hoá
Các khoáng vật của sét bao gồm kaolinit, haloysit, monmorionit, alophan, beiñelit, monothermit, hyñromica, palygorskit
II Ứng dụng
Sét gốm dùng ñể sản xuất ñồ gốm chịu axit, ñồ gốm mỏng, ñĩa mài, ñồ sành và các vật liệu xây dựng thông thường (gạch lát, gạch xây, ngói …)
Trang 10III Đặc ñiểm hình thành và phân bố
Sét gốm ở nước ta hiện nay có ñược là do sự bồi lắng trong các lớp trầm tích và do sự phong hoá các lớp ñá gốc tạo lên Do ñó thành phần ñá gốc và môi trường thành tạo có ý nghĩa lớn trong việc hình thành các mỏ khoáng sản sét gốm ở Việt Nam
1 Sét gốm thành tạo trong trầm tích:
Đây là loại sét ñược hình thành trong khoảng từ 26 triệu năm trở lại ñây, tức là trong vận ñộng tân kiến tạo bắt ñầu từ kỷ Neogen Vận ñộng tân kiến ở nước ta diễn ra rất mạnh biểu hiện chủ yếu bằng các vận ñộng tạo lục với các quá trình nâng lên kèm theo quá trình ñứt gãy là chính Các vận ñộng nâng lên không diễn ra không liên tục mà thành từng ñợt theo các chu kỳ khác nhau, xen kẽ giữa chúng là các pha yên tĩnh Đi cùng với các hoạt ñộng ñịa chất ñó là sự xâm thực, phá huỷ, chia cắt bề mặt ñịa hình tạo các lớp trầm tích còn lại ñến ngày nay Từ ñó người ta có thể chia ra 4 loại sét gốm thành tạo trong trầm tích với 4 thời kỳ hình thành khác nhau song vẫn tuân theo quy luật: lớp trầm tích có tuổi trẻ hơn nằm ở khu vực có ñịa hình trũng, thấp, càng lên cao tuổi ñịa chất của lớp ñịa chất càng lớn
1.1 Sét gốm thành tạo trong trầm tích Đệ Tứ (Q)
Đây là trầm tích trẻ nhất nên chủ yếu các lớp sét công nghiệp ñược phân bố khá nông, ở ngay dưới lớp ñất trồng hay lớp sạn cát nên khai thác khá dễ dàng và ñược khai thác từ rất lâu bởi các làng nghề truyền thống Nói chung, các mỏ sét gốm ngoại sinh hình thành trong thời kỳ Đệ Tứ phân bố chủ yếu ở Đông Bắc Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ, Việt Bắc, Bắc Trung Bộ
Các tụ khoáng sét gốm Đệ Tứ thường có cấu trúc dạng thấu kính dày 1m ñến vài mét, chiều dài từ vài chục ñến vài trăm mét
Thành phần hoá học của các o xyt (%): Al2O3 = 19 ÷ 20%, Fe2O3 = 2÷ 4% Độ thu hồi qua rây 0,21 mm là 70 ÷ 90%
Nhìn chung các tụ khoáng sét gốm kiểu này thường có quy mô nhỏ với trữ lượng từ 100 ÷
1000 ngàn tấn
1.2 Sét gốm trong trầm tích Pleistocen trung - thượng (Q II-III )
Được thành tạo thành tạo cách ñây 1,5÷2 triệu năm chủ yếu phân bố ở ven châu thổ các sông lớn, các thềm bậc 2, 3 và thềm biển có ñộ cao 5÷10 m
Do khí hậu nước ta thời kì này còn tương ñối lạnh nên ngoài thành phần Al2O3= 17%, Fe2O3= 2,7% thì tích tụ silic khá phát triển với thành phần SiO2=70% Độ hạt nhỏ dần khi thu hồi qua rây 0,05 mm là 68÷80%
Các tụ khoáng có quy mô từ nhỏ ñến lớn với trữ lượng mỗi tụ khoáng từ 300 ÷ 100 000 ngàn tấn, phân bố rải rác từ Bắc vào Nam với các tụ khoáng như Thị Cầu ( Hà Bắc), Định Trung (Phú Yên), Đại Mỹ (Quảng Ngãi), Blao (Lâm Đồng), Suối Đôi (Bình Dương) và Đức Tu (Thành phố
Hồ Chí Minh)
1.3 Sét gốm trong trầm tích Pliocen - Pleistocen hạ (N 2 -Q 1 )
Chủ yếu phân bố trên phần ñịa hình cao của các tỉnh Tây Ninh - Đồng Nai - Bình Dương với các tụ khoáng Tân Uyên (Đồng Nai), Bến Cát (Bình Dương), Đông Ba, Khiên Hạnh, Thuận Giao… với quy mô mỗi tụ khoáng từ trung bình ñến lớn (trữ lượng 1 000÷100 000 ngàn tấn) Khí hậu vào Pliocen có xu hướng lạnh dần do sự xâm nhập của không khí lạnh phương Bắc
và tính chất ñai cao của vùng núi nên tích tụ silic khá phát triển với thành phần SiO2= 72%, ngoài ra còn có các oxyt khác như Al2O3= 7%, Fe2O3=2÷4% Độ hạt tương ñối mịn, lọc qua rây 0,005mm là 23÷68%
1.4 Sét gốm trong trầm tích Miocen (N 1 )
Vào Miocen sớm, ñại bộ phận lãnh thổ nước ta ñược nâng cao bởi tạo sơn Himalaya Các vùng sụt nứt dọc các thung lũng sông Hồng, sông Chảy, sông Lô tái sinh và tăng cường, ñược bồi trầm tích Miocen có nham tướng lục ñịa nguồn gốc sông hồ miền núi Sau ñó ñịa hào sông
Trang 11Hồng lại ñược bồi tích sông ñồng bằng và trầm tích hồ Sang Miocen muộn, do biển tiến sâu vào ñất liền, nên trầm tích sông Hồng có tướng vũng vịnh và ven biển
Các tụ khoáng sét gốm hình thành trong thời kì này chủ yếu ở khu vực bồn trũng Nà Dương
và quanh rìa châu thổ sông Hồng… Do trong Miocen, các quá trình ñịa chất diễn ra mạnh mẽ nên trữ lượng các tụ khoáng không lớn Hầu hết các tụ khoáng có trữ lượng nhỏ như Đông quan (43 ngàn tấn), Việt dân (350 ngàn tấn)
2 Sét gốm thành tạo trong vỏ phong hoá tàn dư
Gồm có 2 loại, ñược hình thành do phong hoá ñá macma xâm nhập và ñá trầm tích
2.1 Sét gốm thành tạo trong vỏ phong hoá ñá gabro
Gabro là một nhóm các ñá macma xâm nhập gồm các ñá như gabropyroxenit, gabronorit, gabro phức hệ Núi Chúa… Việc phong hoá các ñá này ñã tạo các tụ khoáng sét gốm có giá trị ở nước ta như Đồng Gianh (Tuyên Quang), Núi Hồng (Thái Nguyên)
Khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt ñới gió mùa, lượng nhiệt, ẩm lớn là ñiều kiện thuận lợi cho quá trình phong hóa phát triển (phong hóa lý - hóa - sinh học) phá hủy các ñá tạo các lớp trầm tích Do ñó các tụ khoáng thành tạo trong vỏ phong hóa ñá gabro thường có trữ lượng lớn như Đồng Gianh (5026 ngàn tấn), Núi Hồng (7680 ngàn tấn)
2.2 Sét gồm thành tạo trong vỏ phong hóa ñá trầm tích lục nguyên:
Sang T1-2 chế ñộ ñịa máng hồi sinh ñiển hình là sự mở rộng sụt lún ở Lạng Sơn, An Châu, sông Hiến và việc tạo ra các miền vòng Mường Tè – Sầm Nưa Đây là ñiều kiện thuận lợi của việc hình thành các trầm tích lục nguyên Sang T3 vận ñộng tạo núi Inñôxini làm cho những khu vực này nâng cao thành lục ñịa Các trầm tích lực nguyên là các tập sét, bột kết, sét kết của hệ tầng Mẫu Sơn và Quy Lăng với thành phần khoáng vật chủ yếu là hyñrômica, kaolinit, haloysit, monmorilonit ñã bị phong hóa (vật lý - hóa học) tạo thành các tụ khoáng sét gốm Các tụ khoáng Hợp Thành (Lạng Sơn), Rú Rồng (Nghệ An) chính là sản phẩm phong hóa tàn dư của các tập sét, bột kết, sét kết này
Nói chung trữ lượng của các tụ khoáng kiểu này thường không lớn
Việc xác ñịnh thành phần % của Fe2O3 trong các tụ khoáng sét gốm có ý nghĩa rất quan trọng, quyết ñịnh việc khai thác và sử dụng nguồn khoáng sản này Với hàm lượng Fe2O3 thấp thì khoáng sản sét gốm này có thể sử dụng ñể sản xuất các vật liệu cao cấp Ngược lại thì chỉ ñể sản xuất các vật liệu xây dựng thông thường Qua ñánh giá chung thì chất lượng sét gốm thành tạo trong trầm tích tốt hơn sét gốm tạo trong vỏ phong hóa tàn dư
IV Trữ lượng:
Hiện nay trên cả nước ta ñã có hơn 29 mỏ, tụ khoáng, ñiểm quặng sét gốm ñược ñánh giá và thăm dò trữ lượng các cấp A + B + C1 + C2 của các tụ khoáng ñã thăm dò là 81.775 ngàn tấn và tài nguyên cấp C2 + P1 là trên 137.334 ngàn tấn
⁄⁄⁄⁄.2 ĐOLOMIT
I Đặc ñiểm thành phần
Đolomit là ñá carbonat có thành phần khoáng vật chủ yếu là ñolomit Đolomit thường cứng rắn, quánh chặt, có khi bở rời, màu trắng hoặc xám sáng lẫn sắc vàng nhạt, vết vỡ dạng ñất, dạng sứ, dạng tinh thể
Đá ñolomit chứa không dưới 17% MgO (77,7% khoáng vật ñolomit)
II Ứng dụng:
Đolomit ñược sử dụng làm chất trợ dung, sản xuất chất liệu chịu lửa trong luyện kim ñen, sản xuất magesi kim loại, chất liệu gắn kết, chất liệu cách nóng, công nghiệp thủy tinh, công nghiệp hóa chất và dược liệu, vật liệu xây dựng và giao thông
III Đặc ñiểm hình thành và phân bố
Trang 12Đolomit là loại ñá tương ñối phổ biến trên thế giới Ở nước ta ñolomit chủ yếu ñược thành tạo trong trầm tích do các quá trình hóa học gồm hai loại là ñolomit trầm tích nguyên sinh và ñolomit trầm tích biến chât
1 Đolomit trầm tích nguyên sinh
Đolomit nguyên sinh ñược thành tạo từ con ñường vô cơ Điều kiện quan trọng nhất cho kết tủa ñolomit là áp suất CO2 mà trong ñiều kiện ñịa chất xa xưa thì khí quyển rất giầu CO2 ñủ khả năng cho kết tủa ñolomit
Ở nước ta ñolomit trầm tích nguyên sinh chủ yếu trong trầm tích carbonat tuổi từ Trias ñến Đevon
Hình thành sớm nhất là vào D1-2 có tụ khoáng Ba Bể ( thuộc hệ tầng Đại Thị), D2-3 có tụ khoáng La Khê (hệ tầng Cù Bai), Sơn Lâm, Suối Ba, Núi Han (hệ tầng Dưỡng Động) Tới C-P
có các tụ khoáng La Giang, Làng Lai, Mật Sơn, La Khê (hệ tầng Bắc Sơn) Gần ñây nhất là vào
T2 ñã hình thành các tụ khoáng Thạch Bình, Mật Sơn, Yên Động, Hạnh Lâm (hệ tầng Đồng Dao)
Do có nhiều ñiều kiện thuận lợi nên các tụ khoáng ñolomit trong các trầm tích nguyên sinh thường có trữ lượng lớn Ví dụ tụ khoáng Thạch Bình ( Ninh Binh ) có trữ lượng 95 000 ngàn tấn
2 Đolomit trong trầm tích biến chất
Được thành tạo sớm hơn ñolomit trầm tích nguyên sinh tức là có tuổi từ Proterozoi (PR) ñến Paleozoi giữa (O-S) do ñolomit hóa các ñá vôi thành ñá hoa, ñolomit bị tái kết tinh
Vào ñại nguyên sinh (PR) ñến ∈1 có các tụ khoáng và ñiểm khoáng như Ngầm Bà Huỳnh (hệ tầng Núi Vú), Sa Pa (hệ tầng Sa Pa) Kon Ton Klack (hệ tấng Đắc Uy) Cốc San (hệ tầng Cam Đường) Đến kỉ O-S có tụ khoáng Ngọc Lập, Làng Doi (hệ tầng Sinh Vinh)
Các tụ khoáng ñolomit này thường có dạng thấu kính và dạng dải nằm kẹp trong ñá phiến hoặc quarzit có quy mô lớn, chất lượng quặng tốt với thành phần MgO =1621%, CaO=30 ÷ 50%, Fe2O3 = 0,1÷0,7 % Đáng kể nhất ở ñây là tụ khoáng ñolomit Sa Pa (huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai) với trữ lượng gần 400 000 ngàn tấn
Thành phần chủ yếu của felspat là muối của axit silic với canxi, kali Felspat không hoà tan trong nước nhưng khi lộ ra ngoài mặt ñất chịu tác ñộng của không khí và nước felspat cũng bị phân giải, sau một thời gian sẽ trở thành ñất sét trắng
II Ứng dụng
Felspat dùng ñể làm giảm nhiệt ñộ nóng chảy, kéo dài khoảng nhiệt biến mềm và tăng ñộ sệt của phối liệu sản phẩm là nguyên liệu của các ngành sứ gốm, thuỷ tinh, sản xuất xà phòng, bột mài, làm răng giả, chế tạo thuỷ tinh opal, xi măng, thuốc nhuộm, gạch tráng men
III Đặc ñiểm hình thành và phân bố
Nguồn cung cấp các khoáng vật felspat vụn ñể hình thành các tụ khoáng là granit và gơnai
1 Felspat trong pegmatit granit
Trang 13Pegmatit granit là ñá macma xâm nhập các sản phẩm phong hoá từ pegmatit granit thường cho felspat sạch với chất lượng cao Cấu trúc của pegmatit granit thành tạo lên felspat gồm có 2 loại chính:
Thể pegmatit xuyên cắt: thường gặp trong các trầm tích biến chất tuổi Proterozoi, Proterozoi muộn - Paleozoi sớm Các mạch có phương trùng với phương cấu tạo của ñá thường có kích thước lớn còn loại có xuyên cắt có ñá vây quanh thì có kích thước nhỏ hơn Chủ yếu phân bố ở Vĩnh Phú, Lào Cai, Yên Bái
Mạch pegmatit dạng thấu kính: thấy ở tụ khoáng Đầm Du (Bình Thuận), Ea Knop (Đắc Lắc) Khi bị lộ ra khỏi mặt ñất felspat bị phong hoá thành kaolin song vỏ phong hoá này phân bố không ñều mà có xu hướng giảm từ Nam ñến Bắc
2 Felspat của các ñá macma khác
Thường thì felspat có trong các tụ khoáng kiểu này bao gồm các ñá có thành phần chủ yếu là felspat và thạch anh như keratophyr thạch anh, felsit, aplit… có dạng thấu kính, dạng mạch cắm dốc từ 70÷800 Song ở từng tụ khoáng lại có thành phần khoáng vật, màu sắc của ñá và trữ lượng khác nhau, thay ñổi từ Bắc vào Nam
Keratophyr Minh Tân (Hải Dương) ñá có màu xám xanh gồm các khoáng vật felspat, thạch anh, khoáng vật phụ turmalin, apatit, zircon, magnetit Phần trên bị phân hoá thành kaolin với chiều dày 15÷30 m Keratophyr Minh Tân chủ yếu ñược dùng ñể sản xuất xi măng
Felsit Phú Toản (Quảng Nam), ñá có màu trắng xám phớt xanh Các khoáng vật bao gồm felspat và thạch anh, một ít sericit và khoáng vật quặng Phần trên bị phong hoá thành kaolin với chiều dày 10÷15 m
Aplit Núi Bà Đất (An Giang), ñá có cấu tạo khối ñồng nhất màu xám, xám trắng, kiến trúc porphyr với ban tinh thạch anh dạng hạt, tụ hình Các khoáng vật gồm orthoclas, plagioclas, thạch anh, muscovit, quặng ít
Nhìn chung các tụ khoáng felspat hình thành từ các loại ñá macma thường có trữ lượng lớn,
từ vài trăm ngàn cho tới hàng triệu tấn là ñiều kiện thuận lợi cho việc sản xuất các loại vật liệu xây dựng
III Đặc ñiểm hình thành và phân bố
Quarzit ở nước ta hiện nay tồn tại dưới 2 hình thức là quarzit nằm xen trong ñá phiến thạch anh - mica và cát kết dạng quarzit Cát kết dạng quarzit là cát kết thạch anh xi măng silit có bộ phận lớn hạt vụn, thạch anh bị tái sinh Loại này thường tiêu biểu cho giai ñoạn hậu sinh (catagenese) Khi toàn bộ xi măng silit thành thạch anh tái sinh lúc này không còn xi măng nữa
mà các hạt thạch anh tiếp xúc trực tiếp với nhau tạo thành quarzit trầm tích
Các tụ khoáng quarzit ở nước ta chủ yếu là các mỏ ngoại sinh, hình thành trong các trầm tích biến chất