1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA TỈNH QUẢNG NAM ppt

95 613 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Luận giải có cơ sở khoa học của yêu cầu phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam trong ñiều kiện kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận ñộng theo cơ chế thị t

Trang 1

NGHIÊN CỨU NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH

TẾ HÀNG HÓA

TỈNH QUẢNG NAM

Trang 2

NGHIÊN CỨU NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA

Ở TỈNH QUẢNG NAM

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tỉnh Quảng Nam nằm trên trục giao thông Bắc Nam, về ñường bộ có quốc lộ 1A và ñường sắt thống nhất, trong tương lai gần cảng Kỳ Hà xây dựng xong và sân bay Chu Lai cũng như hình thành khu kinh tế mở Chu Lai ñược ñưa vào khai thác thì Quảng Nam có nhiều ñiều kiện thuận lợi cho việc phát triển hàng hóa, mở rộng giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới

Quảng Nam là một tỉnh có tiềm năng, thế mạnh về nông nghiệp, ngoài lợi thế

về ñịa lý ảnh hưởng tích cực ñến phát triển ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên ñịa bàn Quảng Nam ñược chia thành nhiều vùng kinh tế cho sự phát triển kinh tế hàng hóa; vùng thị xã ven biển gồm có thị xã Tam Kỳ, thị xã Hội An; vùng ñồng bằng ven biển có 4 huyện: Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành; vùng ñồng bằng, trung du có hai huyện Đại Lộc, Quế Sơn; vùng trung du miền núi có

6 huyện: Hiên, Nam Giang, Tiên Phước, Hiệp Đức, Phước Sơn, Trà My Với một tỉnh duyên hải miền Trung có nhiều huyện miền núi và nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Các huyện miền núi Quảng Nam ñất còn rộng, dân cư thưa thớt, còn nhiều tiềm năng kinh tế chưa ñược khai thác hết ñể phát triển kinh tế hàng hóa Hiện nay một bộ phận dân cư ñồng bào các dân tộc còn sống du canh, du cư phá rừng làm rẫy Vì thế cuộc sống của ñồng bào ở các huyện miền núi Quảng Nam còn nhiều khó khăn, trình

ñộ dân trí và chất lượng cuộc sống còn rất thấp, nhiều hủ tục, tập tục lạc hậu ñã kìm hãm sự phát triển kinh tế hàng hóa, những tiến bộ của ñời sống vật chất và tinh thần ñến với ñồng bào chưa nhiều Để thực hiện ñược mục tiêu xóa ñói giảm nghèo ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, một mặt Nhà nước hỗ trợ kinh phí ñể tạo ñiều kiện cho nơi ñây phát triển, mặt khác phải tìm ra những giải pháp thích hợp ñể phát triển kinh tế hàng hóa Đây là vấn ñề ñược ñặt ra rất cấp thiết cho sự nghiệp công nghiệp (CNH), hiện ñại hóa (HĐH) nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh Quảng Nam, nhằm từng bước cải thiện ñời sống vật chất và tinh thần cho ñồng bào các dân tộc ñồng thời ñưa các huyện miền núi của tỉnh phát triển nhanh hơn trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu ñề tài

Nghiên cứu những giải pháp ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở tỉnh Quảng Nam ñã có nhiều ñề tài, nhiều bài viết của các nhà khoa học; nhiều luận văn, tiểu luận tốt nghiệp của học viên và sinh viên Song việc nghiên cứu những giải pháp ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam dưới góc ñộ kinh tế chính trị học thì chưa có ñề tài nào viết có hệ thống trong những năm gần ñây

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của ñề tài

a Mục tiêu

- Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình phát triển sản xuất hàng hóa, vai trò của kinh tế hàng hóa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Trang 3

nông thôn miền núi, trong công cuộc xóa ñói giảm nghèo cho ñồng bào các dân tộc thiểu số

- Nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân làm cho kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam chậm phát triển, trên cơ sở ñó xác ñịnh phương hướng và ñề xuất những những giải pháp chủ yếu ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi của tỉnh

- Luận giải có cơ sở khoa học của yêu cầu phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam trong ñiều kiện kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận ñộng theo cơ chế thị trường ñịnh hướng XHCN, mà trước mắt là thực hiện công nghiệp hóa hiện ñại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn

- Đánh giá ñúng thực trạng của kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam và làm rõ sự hình thành, vận ñộng của kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh

tế hợp tác

- Xác ñịnh phương hướng và ñề xuất những giải pháp khả thi, sát thực tế nông thôn miền núi của tỉnh Quảng Nam trong ñiều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN trong thời kỳ quá ñộ

4 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài những phương pháp chung, phổ biến trong nghiên cứu lý luận, nghiên cứu kinh tế hàng hóa, ñề tài còn coi trọng phương pháp phân tích, thống kê, ñiều tra, khảo sát thực tế và kế thừa các công trình ñã nghiên cứu có liên quan ñể làm rõ những vấn ñề mới ñặt ra trong nông nghiệp hàng hóa của cơ chế thị trường

5 Kết cấu và phân công chuyên ñề nghiên cứu

5.1.Kinh tế hàng hóa và vai trò của nó ñối với việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và ở nông thôn nói miền núi nói riêng

Ths Phạm Ngọc Giới 5.2 Thực trạng và phương hướng phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Ths Đặng Văn Chu 5.3 Hoàn thiện công tác quy hoạch ñất ñai, cấp quyền sử dụng ñất ổn ñịnh

ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Ths Lê Trung Hưng 5.4 Củng cố và ñầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Ts Đỗ Thanh Phương 5.5 Nâng cao dân trí, bồi dưỡng kiến thức kinh tế ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi Quảng Nam

Ths Phạm Tiến Lực

Trang 4

5.6 Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Cử nhân: Lê Thị Thanh Huyền 5.7 Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất ñể phát triển kinh

tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Cử nhân: Nguyễn Hữu Tuấn Trên cơ sở cơ cấu các chuyên ñề nghiên cứu, ñề tài ñược tổng hợp thành 3 chương như sau:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển kinh tế hàng hóa (trong ñó nghiên cứu sâu về kinh tế hàng hóa ở nông thôn miền núi)

Chương II: Thực trạng của qúa trình phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Chương III: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam hiện nay

ra sự phân công lao ñộng xã hội ngày càng chuyên môn hóa cao Hàng hóa ñem trao dổi, mua bán mang một sắc thái mới ñó là xã hội hàng hóa ngày càng cao

1.1 Kinh tế hàng hóa và vai trò của nó ñối với việc phát triển kinh tế - xã hội

Quá trình phát triển của xã hội loại người ñã khẳng ñịnh nơi nào tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau thì ở ñó có sản xuất hàng hóa Lịch sử sản xuất hàng hóa ra ñời trên cơ sở phân công lao ñộng xã hội và chế ñộ tư nhân về tư liệu sản xuất Trong thời ñại ngày nay xu hướng quốc tế hóa trên tất cả các lĩnh vực ñời sống kinh tế - xã hội ñã trở thành hiện thực, thì sản xuất hàng hóa không những tiếp tục ñược khẳng ñịnh mà còn tạo ñiều kiện thúc ñẩy nền nền kinh tế phát triển, kể cả những nước có trình ñộ kinh tế phát triển cao

Vấn ñề ñặt ra với mỗi nước, ñặc biệt là nước quá ñộ lên CNXH là phải nhận thức ñúng ñắn tính chất, mức ñộ và ñặc ñiểm của nền kinh tế hàng hóa của ñất nước mình ñể ñề ra những chính sách, biện pháp sử dụng, cải tạo thích hợp và ñịnh hướng ñúng nhằm thúc ñẩy sản xuất hàng hóa phát triển, tạo công ăn việc làm ổn ñịnh cho người lao ñộng Đúng như Lê nin ñã khẳng ñịnh: Đối với các nước kém phát triển quá ñộ lên CNXH bỏ qua chế ñộ phát triển TBCN, không những phải tôn trọng thực tại khách quan của nền kinh tế hàng hóa, mà còn phải tạo ñiều kiện thuận lợi ñể thúc ñẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, làm cho lực lượng sản xuất ngày càng ñược tăng cường, ñưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, tăng nhanh sản phẩm cung ứng cho xã hội, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao, ña dạng của ñời sống và sản xuất, mở ộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các ngành, các ñịa

Trang 5

phương và vùng lãnh thổ, giữa kinh tế trong nước với kinh tế nước ngoài, góp phần khắc phục sự mất cân ñối hàng - tiền, thu - chi tài chính

Đối với nước ta, quá ñộ lên CNXH bỏ qua chế ñộ TBCN từ một nước với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trình ñộ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp, phân công lao ñộng xã hội chưa phát triển, lại phải gánh chịu hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh ñể lại, hàng năm luôn bị thiên tai, các thế lực thù ñịch trong và ngoài nước thường xuyên cấu kết tìm mọi cách phá hoại nhằm lật ñổ chế ñộ XHCN ở nước ta Dưới sự lãnh ñạo của Đảng nhân dân ta quyết tâm thi ñua sản xuất ñưa nước

ta vượt qua khó khăn, thách thức Vấn ñề quan trọng nhất là chúng ta phải nhận thức ñúng ñắn con ñường ñi của cách mạng XHCN nước ta, nhận thức ñúng tính tất yếu khách quan và bản chất của kinh tế hàng hóa Bài học ñắt giá trong nhiều thập kỷ qua với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và nhận thức giản ñơn về CNXH, chúng ta chưa hiểu ñúng và ñầy ñủ về ñặc ñiểm của nền kinh tế quá ñộ, về sản xuất hàng hóa

và vai trò của nó trong nền kinh tế - xã hội, trong cơ chế thị trường cho rằng sản xuất hàng hóa chỉ là hình thức tổ chức sản xuất của CNTB, ñồng nhất hình thức sở hữu với tổ chức kinh tế và thành phần kinh tế, coi nhẹ quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu , chỉ thấy mặt tiêu cực mà không thấy mặt tích cực của cơ chế thị trường Trong một thời gian dài nhiều chính sách kinh tế của chúng ta ñã làm hạn chế, thủ tiêu ñộng lực sản xuất hàng hóa, không phát huy ñược mọi nguồn lực của các thành phàn kinh tế trong xã hội, dẫn ñến nền kinh tế dơi vào khủng hoảng ở cuối thập

kỷ 70 và những năm ñầu của thập kỷ 80

Tình trạng trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nguyên nhân khách quan chủ yếu là nền sản xuất nhỏ và bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến tranh kéo dài Nhưng quan trọng là nguyên nhân chủ quan, do tư tưởng chủ quan, nóng vội, ñốt cháy giai ñoạn, nhận thức giản ñơn muốn có nhanh CNXH

1.2 Vai trò và quan ñiểm của Đảng ta về phát triển kinh tế hàng hóa trong thời kỳ quá ñộ lên CNXH

Xuất phát từ thực tiễn và thực trạng của nền kinh tế lúc bấy giờ, Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng ta (12/1986) ñã ñề ra ñường lối ñổi mới một cách toàn diện, coi ñổi mới kinh tế là vấn ñề có ý nghĩa sống còn của cách mạng XHCN ở nước ta Đại hội ñã ñề ra chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, sử dụng ñúng ñắn quan hệ hàng - tiền, coi ñó là giải pháp có ý nghĩa chiến lược quyết ñịnh giải phóng sức sản xuất và khai thác mọi tiềm năng ñể phát triển lực lượng sản xuất Đây là bước ñổi mới quan trọng trong tư duy kinh tế của Đảng và nhà nước ta

Quan ñiểm Đại hội VI của Đảng ñã ñược hội nghị Ban chấp hành TW lần thứ VI (3/1989) cụ thể hóa: Thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, ñổi mới cơ chế qủan lý kinh tế, chuyển nhanh các ñơn

vị sang hạch toán kinh doanh theo quan ñiểm phát triển kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần kinh tế ñi lên CNXH Coi ñó là vấn ñề có ý nghĩa chiến lược lâu dài và có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN ở nước ta

Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) Đảng ta tiếp tục khẳng ñịnh ñường lối ñổi mới phát triển kinh tế ở nước ta do Đại hội VI ñã ñề ra là hoàn toàn ñúng ñắn, hợp quy luật và Nghị quyết Đại hội VII cụ thể thêm một bước cho phù hợp

Trang 6

với tình hình mới: phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là hoàn toàn cần thiết ñể giải phóng và phát huy ñược các tiềm năng sản xuất trong xã hội Đây là chủ trương ñúng, phù hợp với ñặc ñiểm nền kinh tế nước ta và xu thế của thời ñại ngày nay Chủ trương này là chiến lược mới của công cuộc xây dựng CNXH, mang tính tất yếu từ yêu cầu giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, xây dựng quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình ñộ phát triển của lực lượng sản xuất, thực hiện quyền tự làm ăn sinh sống hợp pháp của ñông ñảo quần chúng ở các thành phần kinh tế; phấn ñấu vì mục tiêu dan giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ñưa cả nước quá ñộ lên CNXH

Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) trong ñiều kiện kinh tế mở

và hội nhập ñể ñẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH ñất nước mà trước mắt là thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn Đảng ta xác ñịnh: Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường phải ñi ñôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo ñịnh hướng XHCN trên cơ sở ñường lối kinh tế của Đảng, Nhà nước ñã ban hành nhiều luật kinh tế quan trọng tạo

ra môi trường pháp lý thuận lợi ñể thu hút ngoại lực và khai thác nội lực tạo ra sức mạnh tổng lực ñưa nước ta nhanh chóng vượt ra khỏi khủng hoảng và tiếp tục phát triển Bước vào thế kỷ XXI Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) của Đảng lại diễn ra trong bối cảnh lịch sử ñặc biệt, (kết thúc kỷ nguyên củ bước sang kỷ nguyên mới) lần nữa Đảng ta tiếp tục xác ñịnh và nêu rõ quan ñiểm: Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận ñộng theo cơ chế thị trường có dự quản lý của Nhà nước,

ñó chính là nền kinh tế thị trường ñịnh hướng XHCN, với chủ trương ñẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH bằng con ñường rất ngắn

Đánh giá một cách nghiêm túc và khách quan là tất cả những quan ñiểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ñược ban hành từ ñại hội VI ñến nay ñã mở ra một giai ñoạn mới hợp quy luật, một bước ngoặt quan trọng ñưa toàn bộ ñời sống kinh tế - xã hội nước ta vào môi trường phát triển - môi trường hợp tác và cạnh tranh làm cho nền kinh tế hàng hóa ngày càng năng ñộng, minh chứng ñược vai trò quan trọng của nền kinh tế hàng hóa trong ñời sống kinh tế - xã hội của nhân dân ta nhất là trong công cuộc xóa ñói, giảm nghèo, trong việc giàu mạnh của ñất nước và hội nhập quốc tế, ñể chúng ta ñủ sức và lực bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ ñẩy tới một bước CNH, HĐH ñất nước mà trước mắt là CNH, HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn, ñặc biệt là nông thôn miền núi ñể thực hiện một bước công bằng, văn minh xã hội Phát triển nền sản xuất hàng hóa làm cho cuộc sống toàn dân ñược cải thiện ñó là ñiều kiện quan trọng nhất giữ vững ñộc lập, tự chủ và chủ ñộng hội nhập quốc tế, ñưa vị thế Việt nam ñược khẳng ñịnh trên trường quốc tế

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA

Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Miền núi Quảng Nam và tiềm năng

Trang 7

Cũng như các ñịa phương trong cả nước, tinh Quảng Nam luôn xác ñịnh: phát triển kinh tế hàng hóa là nhu cầu tất yếu, là nhân tố quyết ñịnh ñến tốc ñộ tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn ñề bức xúc của xã hội; ñồng thời coi vùng núi của tỉnh, nới sinh sống của các dân tộc thiểu số là ñịa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng của tỉnh, là một bộ phận cùng với ñồng bằng, trung du, vùng cát, vùng ven biển tạo thành một thể thống nhất hoàn chỉnh trên mọi phương diện cho sự phát triển

Miền núi Quảng Nam là vùng có nhiều ñồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh sinh sống với tổng diện tích tự nhiên 7.281 km2 (chiếm khoảng 70% diện tích của tỉnh) ñược phân chia thành 4 huyện vùng núi cao: Hiên, Nam Giang, Phước Sơn, Trà

My và hai huyện miền núi: Tiên Phước, Hiệp Đức; toàn tỉnh có 109/217 xã ñược chính phủ công nhận là miền núi, trong ñó có 55 xã thuộc khu vực III, có 60 xã nằm trong diện ñặc biệt khó khăn Tỷ lệ ñói, nghèo toàn vùng còn khá cao (hơn 50%) Dân

số toàn vùng miền núi có hơn 385.000 người, trong ñó có 4 dân tộc thiểu số với 9,4 vạn người chiếm khoảng 7,2% dân số toàn tỉnh Cụ thể có dân tộc Cà Tu gồm 38.000 người; Cor trên 4.000 người; Giẻ Triêng gần 20.000 người và Xê Đăng gần 30.000 người Các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam có nhiều tiềm năng lớn nhưng việc sử dụng, khai thác còn nhiều hạn chế Đất lâm nghiệp chiếm 62,04% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong ñó ñất có rừng chiếm 54,66% diện tích ñất lâm nghiệp Tài nguyên rừng và ñất rừng phong phú, ña dạng tổng diện tích ñất lâm nghiệp 647.362 ha, trong

ñó ñất cso rừng 353.887 ha ngoài ra còn có nhiều lâm sản phụ như song mây, nhiều loại ñộng, thực vật quý hiếm (nhất là cây dược liệu), trữ lượng gỗ trên 40 triệu m3

Độ che phủ ở 6 huyện là 48,6%, dưới lòng ñất có nhiều nguồn tài nguyên quý giá

2.2 Quá trình phát triển kinh tế hàng hóa

Để tiện cho việc phân tích, phần này ñề tài chia thành hai giai ñoạn chính và

ñề tài tập trung vào giai ñoạn II

2.2.1 Giai ñoạn I (1975 - 1986)

- Phát triển kinh tế trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp (1975 - 1977) Sau khi miền Nam ñược hoàn toàn giải phóng, nước nhà thống nhất nhân dân Quảng Nam- Đà Nẵng nói chung, các huyện miền núi Quảng Nam nói riêng, bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, nhân dân các dân tộc tin theo Đảng hăng hái thi ñua lao ñộng sản xuất với phong trào khai hoang, phục hóa sôi nổi khắp vùng nhờ ñó mà diện tích sản xuất ñược mở rộng, sản lượng tăng nhanh, trong một thời gian ngắn ñời sống nhân dân ñược ổn ñịnh và từng bước ñược cải thiện

Tuy nhiên, sau chiến tranh ñã ñể lại cho tỉnh cơ sở vật chất bị tàn phá nặng

nề, công cụ sản xuất chủ yếu là thủ công, ñể phát triển sản xuất Đảng ta chủ trương từng bước xây dựng cơ sở vật chất, tiến hành các hình thức hiệp tác lao ñộng giản ñơn, hình thành những tổ chức sản xuất như: “tổ ñổi công”, “tổ hợp tác sản xuất ” Sản phẩm làm ra ñảm bảo ñời sống gia ñình, chỉ trích một phần nhỏ nộp thuế cho Nhà nước Nhờ có chủ trương, chính sách ñúng ñắn của Đảng và Nhà nước với sự chỉ ñạo kịp thời của Đảng bộ và chính quyền của tỉnh Quảng Nam nền kinh tế ở các huyện miền núi trong giai ñoạn này tăng trưởng ñáng kể, chủ yếu là sản phẩm của ngành trồng trọt: thóc, ngô, khoai, sắn, và chăn nuôi: trâu, bò, heo, gà, nhiều vùng sản xuất ra ñủ trang trải và có sản phẩm trao ñổi trên thị trường, mua bán hàng hóa

Trang 8

ngày càng mở rộng, bộ mặt kinh tế - xã hội dần dần thay ñổi theo hướng tích cực, nhân dân các dân tộc vô cùng phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh ñạo của Đảng càng hăng hái tăng gia sản xuất, xây dựng cuộc sống mới

- Đẩy mạnh công cuộc cải tạo XHCN, xây dựng quan hệ sản xuất mới trong nông thôn miền núi (1977 - 1979) Cũng như cả nước mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp ñược tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng triển khai rộng khắp những năm 1978 - 1979 cơ bản hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN ở các huyện miền núi của tỉnh trong thời kỳ này ñã vận ñộng 95% nông dân và 90% diện tích ñất canh tác ñược ñưa vào hợp tác xã (HTX)

Với cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, thực chất là xóa bỏ ñiều kiện và tiền ñề của việc hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hóa Trong nông nghiệp với chủ trương “tự cấp, tự túc lương thực bằng mọi giá”, “tự cân ñối lương thực trong từng ñịa phương” Các huyện miền núi Quảng Nam càng ra sức khai hoang tăng diện tích gieo trồng ñể ñảm bảo lương thực, tỉnh ñã ñiều ñộng cả lao ñộng miền xuôi, công nhân viên chức ở các cơ quan trường học lên khai hoang phát triển kinh tế, mà chủ yếu là trồng khoai, sắn ñiều này dẫn ñến việc phá rừng ñây là nguyên nhân sâu xa làm cho rừng ñầu nguồn bị tàn phá nặng nề Việc xây dựng các hình thức kinh tế hợp tác, mà chủ yếu là HTX nông nghiệp với quy mô lớn ñối với các huyện miền núi Quảng Nam trong thời kỳ này không phù hợp với tính chất và trình ñộ phát triển của lực lượng sản xuất ñã làm cho nền kinh tế lún sâu vào khó khăn gay gắt

Rõ ràng trong thời kỳ này các huyện miền núi của tỉnh tập trung xây dựng HTX, nên kinh tế cá thể, tư nhân không ñược quan tâm, ngăn cấm việc giao lưu hàng hóa, triệt tiêu ñộng lực của sản xuất hàng hóa tất cả những vấn ñề trên ñã vi phạm nghiêm trọng lợi ích của người lao ñộng, dẫn ñến hậu quả là ñời sống ñồng bào các dân tộc nơi ñây vô cùng khó khăn, ñất ñai bị bỏ hoang hoa, nợ nần chồng chất, nạn ñói lan rộng, HTX tan rã

2.2.2.Giai ñoạn II (1986 - ñến nay)

Dưới ánh sáng của ñường lối ñổi mới tại Đại hội VI của Đảng các huyện miền núi của tỉnh từng bước chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung, tự túc sang kinh tế hàng hóa trong lĩnh vực nông nghiệp

Trước sự bế tắc của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp ñã làm cho hệ thống HTX nhanh chóng tan rã Chỉ thị 100 của Ban bí thư (1/1991) ra ñời thưc hiện khoán ñến nhóm và người lao ñộng ñã cứu nguy cho phong trào HTX - sản phẩm dư thừa ñược tự do trao ñổi mua bán trên thị trường Đây là tiền ñề ñể thúc ñẩy kinh tế hàng hóa phát triển Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, công khai thừa nhận nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ñã thật sự tạo ra ñộng lực mới cho nền kinh tế ñặc biệt Nghị quyết 10 của bộ chính (10/ 1988) về ñổi mới

cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, ñất ñai ñược giao quyền sử dụng lâu dài cho người lao ñộng, hộ nông dân là ñơn vị kinh tế tự chủ sản xuất, tự do lưu thông hàng hóa

Những chủ trương, chính sách ñúng ñắn trên ñây ñã tạo ñiều kiện xuất hiện các nhân tố tích cực của nền kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam,

Trang 9

nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc từng bước chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa Trong nông nghiệp cả dích tích, năng suất, sản lượng ñều tăng ñáng kể, sản phẩm hàng hóa ngày càng nhiều và ña dạng, trong sản xuất nông nghiệp dịch vụ “ñầu vào”

và “ñầu ra” ñược quan tâm hơn trước

- Sự hình thành và từng bước phát triển nền kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi Quảng Nam từ Nghị quyết 10, Nghị quyết 16 của Bộ chính trị ñặc biệt là từ khi chia tách tỉnh 1997 ñến nay Đây là giai ñoạn ñánh dấu bước ngoặt quan trọng của nền kinh tế nước ta, các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước

từ TW ñến tỉnh, cùng với sự nỗ lực của ñồng bào các dân tộc miền núi Quảng Nam

ñã làm cho kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển và ñem lại hiệu quả cao Trong giai ñoạn nông nghiệp (cả chăn nuôi và trồng trọt) ñều tăng trưởng khá như:

Huyện Trà My, sản xuất nông, lâm gắn liền với ñịnh canh, ñịnh cư ñã có bước tiến mới, tổng diện tích khai hoang làm ruộng nước (1996 - 2000) ñã ñạt trên

100 ha Sản lượng lượng thực quy thóc ñạt bình quân mỗi năm 13.800 tấn, trong ñó thóc chiếm tỷ trên 52%

Huyện Tiên Phước, sản xuất nông lâm ñạt kết quả khá, giá trị bình quân hàng năm tăng 3,5%; cơ cấu cây trồng; con vật nuôi, cơ cấu mùa vụ có bước chuyển tích cực theo sản xuất hàng hóa; cây tiêu, cây quế chiếm vị trí chủ lực trong cơ cấu cây trồng Huyện Hiệp Đức sản lượng lương thực có hạt năm 1996 mới ñạt 6.378 tấn thì năm 2001 ñã tăng lên 9.081 tấn

Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi các huyện miền núi ñều có mức tăng trưởng cao Huyện Trà My chăn nuôi tiếp tục phát triển So với năm 1996 thì năm 2000 tổng ñàn trâu tăng 16,5%, ñàn bò tăng 49%, ñàn heo tăng 17% và gia cầm tăng 34% Huyện Tiên Phước chăn nuôi ñại gia súc ñược xác ñịnh là thế mạnh của huyện, tổng ñàn gia súc (1996 - 2000) ñạt 67.000 con Riêng năm 1999 sản lượng thịt bán ra thị trường là 1.730 tấn trong thịt bò là 640 tấn, heo 1.090 tấn, các loại cây trồng, vật nuôi khác cũng phát triển nhanh

Về lâm nghiệp: Việc chăm sóc, bảo vệ, trồng rừng và phát triển rừng ngày càng dược quan tâm ñúng mức Ở Trà My, tổng ñầu tư phát triển lâm nghiệp (1996 - 2000) là 8.150 triệu ñồng, trồng mới mỗi năm ñạt 324 ha rừng tập trung, ñã giao khoán khoanh nuôi, quản lý, bảo vệ 6.642 ha / 72.242 ha rừng tự nhiên Huyện Tiên Phước (1996 - 2000) ñã trồng mới 1.699 ha, nâng ñộ che phủ từ 39% năm 1996 lên 43% năm 2000

Trên các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mạng lưới thương mại, dịch vụ tuy với quy mô còn nhỏ chủ yếu là hộ gia ñình nhưng cũng phát triển khá mạnh, nhiều hình thức dịch vụ sản xuất, dịch vụ thương mại, sửa chữa xe máy, các HTX ô tô vận tải hàng hóa, vận tải khách cũng phát triển ñã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các huyện miền núi từ chỗ là các huyện thuần nông, nay cơ cấu kinh tế của huyện ñều xác ñịnh: nông, lâm, công, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ Các huyện ñã hình thành vùng chuyên canh trồng công nghiệp tập trung, hộ hàng hóa, kinh tế trang trại cũng phát triển mạnh, trong vài năm gần ñây tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP có xu hướng giảm dần, tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tăng lên

Trang 10

Phải khẳng ñịnh rằng khi chia tách tỉnh năm 1997 Quảng Nam lúc ñó còn nhiều khó khăn số hộ thiếu ñói khoảng 40%, 6 huyện miền núi tỷ lệ hộ ñói, nghèo còn cao hơn Năm 1997 các huyện vùng cao chỉ có 1.200 ha ñến nay ñã có 2.020 ha diện tích ñất canh tác Hầu hết ở các xã vùng cao ñều có ruộng lúa nước hai vụ, công tác ñịnh canh ñịnh cư ngày càng ổn ñịnh, hộ hàng hóa theo mô hình VAC, VACR ngày càng nhiều kinh tế hàng hóa, kinh tế trang trại ngày càng tăng ñã xất hiện nhiều ñiểm sáng làm ăn có hiệu quả trong thời kinh tế thị trường tạo thành ñộng lực cho toàn vùng phát triển

Biểu 1:

2001 2002 2001 2002 2001 2002 2001 2002 Sản lương thực có hạt (tấn) 8570 9.000 12.010 14.900 13.400 14.190 5000 6000

Gieo ươm cây quế bản ñịa (cây) 306.000 500.000 400.000 510.000 4000 5000

Thu ngân sáh tại ñịa bàn (triệu) 2.100 1500 2500 3000 3400 4200

Số hộ ñói nghèo (%-chuẩn cũ) 27% 22% 15% 10% 19,7% 10,7% 29% 25%

Trồng rừng hàng năm (ha) 250 300 280 320 190 320 200 200

Khoanh nuôi rừng hàng năm 370 400 500 600 200 250 3200 3000

Cây tiêu bản ñịa (cây) 35.000 40.000 50.000 60.000 44.000 50.000 10.000 15.000

Cây dó bầu (cây) 1.000 1.000 1250 1500 1.700 2.000

Cải tạo vườn tạp hàng năm (ha) 50 70 100 150 120 170 90 130

Chăn nuôi trâu bò (con) 15.000 18.500 45000 50.000 6000

- heo (con) 10.000 11.000 23.000 25.000 13.399

Ở các huyện Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Phước Sơn có nhiều hộ ñã ñầu

tư hàng trăm triệu ñồng ñể phát triển kinh tế trang trại giải quyết ñược nhiều việc làm cho người ñịa phương, góp phần xóa ñói giảm nghèo Điển hình là huyện Hiệp Đức, năm 2001 và 2002 ñã hỗ trợ bà con gần 100.000 bầu tiêu giống, hơn 2.000 cây dó bầu, với tổng số tiền mỗi năm trên 280 triệu dồng, ñó là chưa kể hơn 50.000 keo lá tràm ñể chắn gió cho các vườn quế, vườn tiêu Tính ñến cuối năm 2001 toàn huyện Hiệp Đức có 809 ha diện tích vườn nhà, bình quân 1.000 m2/ hộ, ñã cải tạo 3.436 vườn tạp thành vườn hàng hóa trong tổng số 8.085 vuờn, trong ñó có 2.500 vườn thu

từ 8 triệu ñến 10 triệu ñồng/ năm Hiện nay trên ñịa bàn Hiệp Đức có 30 trang trại với tổng diện tích 436 ha, trong ñó có 15 ha trang trại thu nhập trên 60 triệu ñồng / năm

Như vậy từ khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, các hộ hàng hóa của nông dân tỉnh Quảng Nam ñã phát triển mạnh, xuất hiện mô hình kinh

tế mới liên doanh, liên kết Thực chất ñó là mô hình kinh tế hợp tác, hình thành HTX kiểu mới ñúng theo nguyên tắc: tự nguyện, cùng có lợi và dần dần từ thấp ñến cao trên tất cả các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ Thấy ñược vị trí, vai trò và ñặc ñiểm của vùng này, lãnh ñạo của tỉnh cũng như các huyện miền núi ñã có chủ trương ñề án và giải pháp cụ thể ñể phát triển kinh tế hàng

Trang 11

hóa, ñẩy nhanh tốc ñộ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh miền núi, nhằm từng bước rút ngắn khoảng cách chệnh lệch kinh tế - xã hội do ñiều kiện tự nhiên và lịch sử ñể lại

Kết quả của chủ trương, ñề án, giảp pháp ñó ñã làm cho sản xuất hàng hóa nông, lâm nghiệp có bước phát triển tích cực, diện tích khai hoang làm lúa nước ñược

mở rộng; năng suất, sản lượng cây lương thực tăng lên Bình quân lương thực ñầu người từ 163 kg (1997) tăng lên 193 kg (2001) Các công trình thủy lợi vừa và nhỏ ñược quan tâm xây dựng, giải quyết nước tưới cho gần 30% diện tích canh tác hiện

có Chăn nuôi hộ gia ñình ở các huyện tiếp tục phát triển ñàn gia súc, gia cầm tăng từ 15% lên 20% Diện tích trồng quế ñược mở rộng, hàng năm trồng mới từ 300 - 400

ha Rừng và tài nguyên rừng dần ñược phục hồi, công tác quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng ngày một tốt hơn Đời sống vật chất và văn hóa của ñồng bào từng bước ñược cải thiện Bộ mặt xã hội ñược thay ñổi theo hướng tích cực

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả trong việc phát triển kinh tế hàng hóa thì thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp trong vùng ñồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn Phần lớn trồng trọt vẫn còn ñộc canh lúa rẫy, diện tích lúa nước còn ít, manh mún, phân tán; kỹ thuật canh tác còn nhiều hạn chế; cán bộ khuyến nông, khuyến lâm ở xã còn yều và thiếu Chăn nuôi phần lớn còn ở dạng thả tự nhiên, không quản lý ñược dịch bệnh Công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng chưa tốt, sự gắn bó giữa ñồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với rừng, ñất rừng chưa ñược giải quyết tốt, chưa thực sự coi ñó là nhu càu tất yếu cho sự phát triển bền vững về mọi mặt ñối với ñịa phương

Công nghiệp, thiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ ở miền núi có phát triển nhưng còn chậm, một số ngành nghề truyền thống của ñồng bào Xê Đăng, Giẻ Triêng, Cor hầu như không còn nghề ñan mây tre, rèn bị mai một; hoạt ñộng mua bán ở chợưa nhiều, không ổn ñịnh, nhiều xã cho ñến nay vẫn chưa có chợ ñể giao lưu hàng hóa; hoạt ñộng thương mại dịch vụ chuyên nghiệp của ñồng bào thiểu số chưa hình thành Kết cấu hạ tầng trọng yếu như: giao thông, thủy lợi nhỏ, ñến sản xuất và sinh hoạt, trạm xá, trwòng học, nước sinh hoạt và các công trình phúc lợi khác ñã ñược ưu tiên ñầu tư xây dựng, bước ñầu ñã phát huy tác dụng thúc ñẩy kinh tế hàng hóa phát triển; nhưng so với yêu cầu, chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế, bất cập; một số tập quán cũ, lạc hậu cản trở ñến sản xuất, ñến ñời sống ñồng bào còn tồn tại dai dẳng, thậm chí có nơi còn cực ñoan hơn

Nguyên nhân yếu kém, hạn chế làm chậm phát triển kinh tế hàng hóa

Thứ nhất: Các huyện miền núi Quảng Nam với ñặc trưng là nền kinh tế dựa

vào tự nhiên, cho ñến nay số hộ du canh, du cư cộng với tái du canh, du cư vẫn còn nhiều Theo ñiều tra vào tháng 2/2002 ở huyện Hiệp Đức cho thấy: trong tổng số 149 thôn thì mới có 9 thôn hoàn thành ñịnh canh, ñịnh cư; 63 thôn có một số hộ ñịnh canh, ñịnh cư; còn 77 thôn ñã ñịnh cư nhưng còn du canh Ở các huyện khác như Trà

My, Phước Sơn, Hiên, Nam Giang cũng tương tự thực trạng này Nhiều nơi người dân thiếu kinh nghiệm làm ăn, chưa biết cách tổ chức sản xuất, còn xa lạ với việc chọn, xử lý giống, phân bón du canh, du cư chừng nào chưa kết thúc thì rừng vẫn còn tiếp tục tàn phá

Trang 12

Thứ hai: Lực lượng sản xuất thấp kém, lao ñộng giản ñơn, sản xuất dựa vào

kinh nghiệm cổ truyền, phân công lao ñộng xã hội chưa phát triển, năng suất lao ñộng thấp, có nơi sản xuất không ñủ tiêu dùng ở mức tối thiểu

Thứ ba: Phải tự túc lương thực trong ñiều kiện canh tác ñịa hình dốc, khí hậu

khắc nghiệt, do ñó việc phá rừng làm rẫy ñược xem như là biện pháp chue yếu trong cuộc sống của một bộ phận ñồng bào Hậu quả là tài nguyên rừng bị cạn kiệt, môi trường sinh thái có nơi ngày càng xấu hơn

Thứ tư: sự quan tâm của Đảng và Nhà nước từ TW ñến tỉnh, huyện ñối với

ñồng bào miền núi ngày càng nhiều, nhưng do việc tổ chức thực hiện và quản lý chưa tốt do ñó nhiều dự án, chất lượng công trình không ñảm bảo dẫn ñến chưa ñáp ứng nhu cầu sản xuất và ñời sống của nhân dân

Thứ năm: sản xuất chậm phát triển, nhiều vùng làm chưa ñủ ăn, lại thêm cơ

sở vật chất hạ tầng kinh tế - xã hội vốn yếu kém Giao lưu hàng hóa còn ở trình ñộ quá thấp, thị trường còn sơ khai, hoang dã Sức mua thấp nhiều hạn chế, sản phẩm làm ra (tiêu, quế ) thiếu sự quan tâm của tổ chức thương mại Nhà nước nên tư thương thao túng, ép giá, ép cấp làm cho người dân bị thiệt thòi kéo dài

Thứ sáu: Thiếu vốn ñể phát triển kinh tế việc vay vốn làm ăn còn nhiều thủ

tục phiền hà do ñó người sản xuất rất ngại ñi vay, nhiều khi phải vay lại của “cò” với lãi suất thực tế rất cao Nhiều chương trình ñầu tư của Nhà nước như: ñiện, ñường, thủy lợi, giao thông, chợ chưa thật sự phù hợp với từng thôn, nóc; chất lượng công trình thấp Trên ñây là những vấn ñề cơ bản kìm hãm sự phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi Quảng Nam

Những vấn ñề ñặt ra ñối với kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam cần quan tâm giải quyết

Thứ nhất: Mục ñích của việc ñẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa là tiến tới

phá vở phương thức canh tác cổ truyền lạc hậu của nền kinh tế tự nhiên khép kín Do

ñó phát triển kinh tế hàng hóa là yêu cầu phải mở rộng mối quan hệ kinh tế với các vùng trong cả nước kể cả các nước trong khu vực và quốc tế Trên cơ sở phương thức canh tác tiến bộ, tạo ra những sản phẩm mới ñáp ứng nhu cầu của thị trường Điều này muâu thuẫn với phương thức canh tác lạc hậu của bà con dân tộc các huyện miền núi của tỉnh ñã kéo dài trong lịch sử

Thứ hai: Muốn thoát khỏi cảnh ñói nghèo triền miên của nông dân miền núi

phải ñẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa Tình trạng ñói nghèo ñược coi là mục tiêu kiên quyết Nghèo ñói của ñồng bào các huyện miền núi của tỉnh là do tập quán canh tác lạc hậu, dân trí thấp, thiếu vốn, cơ sở hạ tầng thấp, núi ñèo cách trở, thời tiết khắc nghiệt Phát triển kinh tế hàng hóa cần phải phát triển các nhân tố: nhân lực, tài nguyên, vốn, khoa học công nghệ, thị trường, quy hoạch ñất ñai, nhưng các huyện miền núi của tỉnh lại ñang thiếu rất lớn các nhân tố trên

Thứ ba: phát triển kinh tế hàng hóa yêu cầu phải có hệ thống kết cấu hạ tầng

ñồng bộ, hoàn chỉnh, nhất là giao thông vận tải, thông tin liên lạc, công nghệ chế biến, hệ thống chợ v.v

Trang 13

Với những vấn đề đặt ra trên đây là thực tê bức xúc, các cấp, các ngành cần quan tâm cụ thể tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế hàng hĩa miền núi của tỉnh Quảng Nam phát triển đúng hướng và bền vững

CHƯƠNG III

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

HÀNG HĨA Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NAM

3.1 Những quan điểm cơ bản

Để phát huy những thành quả đạt được và khắc phục được những hạn chế khĩ khăn nêu trên, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam trong tương lai, cần nhận thức đúng những quan điểm sau đây:

Một là: quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội đại biểu tồn quốc lần

thứ IX của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ XVIII của tỉnh Đảng bộ, Nghị quyết hội nghị lần thứ V của BCH TW Đảng khĩa IX về đẩy mạnh CNH, HĐH nơng nghiệp nơng thơn cùng với các chủ trương, chính sách khác về dân tộc và miền núi của Đảng, Chính phủ, với quan điểm “Đồn kết - Bình đẳng - Tương trợ - giúp đỡ nhau cùng phát triển”

Hai là: Coi trọng mục tiêu phát triển tồn diện con người tại chỗ, kết hợp

khai thác nội lực với tranh thủ sự giúp đỡ nhiều mặt của TW, của các ngành, các cấp, các địa phương

Ba là: Khác với kinh tế tự cấp, tự túc, kinh tế hàng hĩa phải lấy thị trường

làm căn cứ, làm cơ sở cho kinh tế gia đình, kinh tế trang trại của từng thơn, từng xã

Bốn là: Phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, thực hiện

nhất quán chính sách phát triển kinh tế hàng hĩa nhiều thành phần, phát triển kinh tế

đi đơi với phát triển xã hội bảo vệ mơi trường sinh thái, giữ vững an ninh quốc phịng, tăng cường đồn kết dân tộc, tơn giáo

Năm là: Phát triển kinh tế hàng hĩa phải gắn liền với việc hình thành cơ cấu

kinh tế hợp lý, nhằm khai thác cĩ hiệu qủa kinh tế, thế mạnh từng vùng của từng huyện miền núi như: quế, tiêu, cao su cho xuất khẩu; mía, dứa, sắn tạo vùng nguyên liệu ổn định cho các nhà máy chế biến; trâu, bị, heo cho các nhà máy súc sản v.v

Sáu là: Phát triển kinh tế hàng hĩa gắn liền với việc từng bước xây dựng

quan hệ sản xuất mới trong nơng thơn các huyện miền núi Củng cố các thơn, lâm trường hiện cĩ để tạo ra sức mạnh liên kết, hỗ trợ làm dịch vụ cho kinh tế gia đình, kinh tế trang trại, kinh tế tập thể ở các buơn, làng phát triển

Bảy là: Phát triển kinh tế hàng hĩa gắn liền với việc bảo tồn và phát huy bản

sắc văn hĩa của các dân tộc ở các huyện miền núi của huyện Yếu tố văn hĩa tinh thần được xem là động lực để phát triển kinh tế - xã hội Coi việc phát triển kinh tế hàng hĩa ở các huyện miền núi khơng chỉ là sự nghiệp của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong vùng mà cịn là sự nghiệp của nhân dân Quảng Nam và nhân dân cả nước trên con đường quá độ lên CNXH ở nước ta

3.2 Phương hướng và mục tiêu

Trang 14

Xuất phát từ ñặc ñiểm thực kinh tế - xã hội của các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam cũng như các quan ñiểm về phát triển kinh tế hàng hóa trong thời gian tới, ñề tài xác ñịnh phương hướng và mục tiêu như sau:

3.2.1 Phương hướng

Thứ nhất: Tranh thủ sự hỗ trợ của TW và tỉnh với sự nổ lực, quyết tâm của

các cấp, các ngành và nhân dân sinh sống trên ñịa bàn các huyện miền núi của tỉnh ñẩy mạnh sản xuất, kinh doanh ñể sớm từ bỏ kinh tế tự cấp, tự túc, tập tục lạc hậu Chuyển dịch và xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của miền núi Ra sức chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng, hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả tập trung gắn liền với phát triển công nghiệp chế biến Đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm Phục hồi và phát triển mới các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, mở rộng mạng lưới dịch vụ, thương mại

Thứ hai: Tận dụng mọi nguồn lực tại chỗ của tỉnh và của cả nước ñi ñôi với

tranh thủ viện trợ của các tổ chức kinh tế, xã hội quốc tế, thu hút và sử dụng có hiệu quả các dòng vốn ñầu tư nước ngoài nhằm sử dụng triệt ñể và khai thác ñúng mức ñất trống, ñồi trọc; lồng ghép các chương trình, dự án 120, 327, 135 với các chương trình văn hóa, giáo dục, nước sạch nông thôn Khai thác ñi ñôi với bảo vệ, tái tạo lại các nguồn tài nguyên, bảo vệ rừng, bảo vệ mội trường sinh thái

Thứ ba: Hình thành những trung tâm ñô thị mới (thị trấn, thị tứ ) xây dựng

nông thôn mơi, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, chú ý các vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng ñặc biệt khó khăn nhằm từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa miền núi và miền xuôi Tất cả ñều vì xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân các dân tộc miền núi của tỉnh

3.2.2 Các chỉ tiêu chủ yếu của một số huyện ñến 2005

Khai hoang ruộng nước

Quế bản ñịa trồng mới

mỗi năm

500.000- 700.000 cây

Thu ngân sách trên ñịa

Giá trị công nghiệp -

Trang 15

Trồng rừng 300ha 2500ha 300ha 300

Tổng ñàn gia súc:

- trâu

- bò

Tăng 10%/năm Tăng 15%/năm

Tăng 5%/năm Tăng 20%/năm

Tăng 1-2%/năm Tăng 17-20%/năm Tổng ñàn gia cầm Tăng 20%/năm Tăng 20%/năm Trên 20%

Để thực hiện có hiệu quả phương hướng và các chỉ tiêu quan trọng trên ñây các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam cần phải phấn ñấu cao, chỉ ñạo kịp thời, nhất là xác lập một hệ thống giải pháp ñồng bộ thiết thực ñể khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng ñẩy mạnh kinh tế hàng hóa phát triển bền vững

3.3 Những giải pháp chủ yếu ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam hiện nay

3.3.1 Hoàn thiện phân vùng quy hoạch, cấp quyền sử dụng ñất ñể ổn ñịnh phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Đất ñai là nguồn tài nguyên, là cơ sở chủ yếu nhất của mọi quá trình sản xuất, phát triển kinh tế, phát triển hệ sinh thái và là thành phần quan trọng cảu môi trường sống khác với kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong nền kinh tế hàng hóa cần phải phân vùng, quy hoạch và hoàn tất các thủ tục như cấp quyền sử dụng ñất ñể mọi công dân, tổ chức an tâm ñầu tư sản xuất và ñảm bảo tính pháp lý Trong những năm qua các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam ñã tiến hành phân vùng quy hoạch cấp quyền sử dụng ñất ñể ổn ñịnh sản xuất, nhưng việc làm còn nhiều bất cập, hiệu quả ñem lại chưa cao, do ñó ảnh hưởng ñến sản xuất hàng hóa Để nâng cao tính khả thi của việc phân vùng, quy hoạch ñất ñai và sớm hoàn thiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ñất lâu dài ñể phát triển kinh tế hàng hóa các huyện miền núi của tỉnh cần phải:

Thứ nhất: Cụ thể hóa quy hoạch tổng thể về ñất ñai trên ñịa bàn từng huyện, từng vùng, quy hoạch cụ thể ñến từng xã

Việc quy hoạch ñất ñai trên ñịa bàn tỉnh Quảng Nam trong những năm qua ñược tiến hành mạnh song cụ thể hóa ở các huyện miền núi còn chậm và có nơi chưa phù hợp, thiếu tính cụ thể của lợi thế ñất từng vùng Do vậy, việc bố trí tập trung trồng cây gây rừng, xây dựng các công trình không ổn ñịnh dẫn ñến việc cấp giấy quyền sử dụng ñất sản xuất cũng xúc tiến chậm làm mất những cơ hội quan trọng ñể ñầu tư phát triển kinh tế hàng hóa Vì vậy, trước mắt cần phải

- Khẩn trương tổ chức ñiều tra lại một cách cơ bản ñất ñai từng vùng, nghiên cứu phân tích từng loại ñất, ñiều kiện tự nhiên ñể xác ñịnh vùng phát triển hàng hóa,

từ ñó quy hoạch cụ thể cây, con cho phù hợ

- Kết hợp những tài liệu có tính pháp lý và ñộ tin cậy cao với ñiều tra, chỉnh

lý thu thập ngoài thực ñịa ñể giảm bớt chi phí và ñảm bảo tính khoa học của quy hoạch

- Có biện pháp tích cực ñể tạo vốn ñầu tư cho việc ñiều tra, ño ñạc, vẻ bản

ñồ ñất ñai Có thể kết hợp giữa vốn ngân sách cấp với biện pháp huy ñộng vốn từ ñất, lấy ñất ñể tạo vốn quy hoạch ở những nơi có ñiều kiện

Trang 16

Thứ hai: Xử lý tốt mối quan hệ quy hoạch ñất ñai ñể khai thác và sử dụng

có hiệu quả cao lâu dài, bền vững

Các huyện miền núi Quảng Nam có diện tích ñất tự nhiên rộng lớn với 594.600 ha ñất rừng, 2.053 ha ñất trống ñồi núi trọc, khoảng 6.000 ha ñất tái tạo số lượng diện tích các loại ñất này ñã ñược chính phủ phê duyệt ñể ñầu tư sản xuất Do

ñó các huyện phải tiến hành phân vùng cụ thể, xúc tién quy hoạch một cách ổn ñịnh bền vững, vấn ñề quan trọng là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các ñịa phương

có ñất giáp ranh, giữa buôn làng và hộ gia ñình ñồng bào các dân tộc; giải quyết mối quan hệ ñất chuyên dùng với ñất sản xuất, ñất ở, ñất quy hoạch xây dựng các công trình công cộng; giải quyết mối quan hệ các loại ñất cho vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực, thực phẩm ñể có phương án ñầu tư lâu dài và thâm canh tăng năng suất cây trồng ñưa lại hiệu quả kinh tế cao trên một ñơn vị diện tích gieo trồng; phải có phương án quy hoạch cụ thể ñể khai thác và sử dụng vùng ñất trống, trồi núi trọc và các vùng ñất chưa sử dụng ñang còn nhiều ở các huyện nhất là vùng III

Thứ ba: Đẩy mạnh việc giao ñất và hoàn thiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ñất trên toàn bộ diện tích ñất sử dụng

Giao ñất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ñất là tăng cường việc quản

lý Nhà nước, xác lập mối quan hệ pháp lý ñối với các chủ thể sử dụng ñất ñể ñất ñược

sử dụng ñúng mục ñích, có hiệu quả Trong những năm vừa qua các huyện miền núi Quảng Nam ñã có nhiều cố gắng tiến hành giao 87,4% diện tích ñất và 95,5% số hộ ñược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ñất ñã thúc ñẩy sản xuất phát triển Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều sai sót, ñã phát sinh kiện tụng và phức tạp cho nhân dân, hiện nay vẫn còn tồn ñọng hơn 60.000 trường hợp chưa ñược giải quyết Đặc biệt ñất lâm nghiệp việc giao ñất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ñất còn nhiều khó khăn, vướng mắc

Vì vậy, các huyện miền núi cần tiếp tục và thận trọng trong việc giao ñất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ñất ñối với tất cả các loại ñất, ñồng thời khẩn trương xử lý triệt ñể những vụ việc khiếu kiện, những hồ sơ còn tồn ñọng ñể các chủ thể sản xuất an tâm ñầu tư phát triển kinh tế hàng hóa Giải quyết tốt vấn ñề ñất ñai ngoài ý nghĩa kinh tế, pháp lý còn có ý nghĩa quan trọng về chính trị, xã hội

Thứ tư: Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện phân vùng quy hoạch ñất ñai, kịp thời phát hiện những sai phạm trong quản lý sử dụng ñất ñai

Việc tăng cường kiểm tra, phát hiện kịp thời những sai phậm trong sử dụng ñất ñai là giải pháp quan trọng trong quản lý ñất ñai ñể quy hoạch không bị phá vở Ở các huyện Trà My, Tiên Phước, Phước Sơn tình trạng sử dụng ñất trái phép như “bán ñất, chuyển nhượng, thừa kế ” diễn ra khá phức tạp ở những vùng ñất ñã quy hoạch

và chưa quy hoạch giữa ñồng bào kinh và ñồng bào dân tộc làm ảnh hưởng ñến việc

ổn ñịnh của phát triển kinh tế Vì vậy, phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên, xử lý kịp thời những vụ việc ñể giữ kỷ cương phép nước, ñồng thời tăng cường lực lượng có trình ñộ nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra ở cấp huyện, cấp xã ñể làm việc có hiệu quả cao

Trang 17

Thứ năm: Đào tạo và bồi dưỡng dội ngũ cán bộ ñủ năng lực cho nhu cầu quản lý Nhà nước về ñất ñai

Đất ñai luôn là vấn ñề nhạy cảm và phức tạp, thực tế ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam cán bộ nhân viên ñang làm trong lĩnh vực quản lý ñất ñai còn nhiều bất cập, chưa ñủ khả năng xử lý những vụ việc và quản lý ñất ñai trong nền kinh tế thị trường hiện nay Vì vậy, phải tăng cường ñào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho ñội ngũ cán bộ, nhân viên ở các huyện mà cụ thể là cán bộ nhân viên phòng ñịa chính cấp huyện, cán bộ làm ñịa chính cấp xã ñặc biệt là xã có nhiều ñồng bào các dân tộc

Thứ sáu: Tăng cường vai trò lãnh ñạo của các cấp ủy ñảng ñối với việc quy họach ñất ñai và cấp giấy quyền sử dụng ñất ñúng mục ñích ñể phát triển kinh tế hàng hóa

Các cấp ủy ñảng là những tổ chức sát cơ sở, sát việc, sát dân lãnh ñạo chính quyền quản lý tốt ñất ñai ñúng ñường lối, chủ trương của Đảng ñem lại sự công bằng của các ñối oọng sử dụng ñất ở các huyện miền núi của tỉnh Vì vậy, các cấp ủy ñảng

cụ thể là huyện ủy, ñảng ủy xã cấp ủy chi bộ thôn, buôn phải tăng cường sự lãnh ñạo, giám sát việc quản lý của chính quyền ñịa phương và việc sử dụng ñất của người sản xuất ñúng quy ñịnh của pháp luật và chính sách ñất ñai của Nhà nước ta ñối với miền núi, ñối với ñồng bào các dân tộc trong vùng ñể bảo ñảm sản xuất ổn ñịnh ñời sống nhân dân luôn ñược cải thiện, thực hiện ñược mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

3.3.2 Củng cố và ñầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Kết cấu hạ tầng là vấn ñề rất quan trọng cho việc phát triển kinh tê, xã hội của mỗi quốc gia Đối với nước ta ñặc biệt là các ñịa phương miền núi thì việc ñầu tư củng cố, xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng ñược ñặt ra trở thành chiến lược quan trọng ñể tạo tiền ñề cho việc phát triển kinh tế - xã hội Quảng Nam là một tỉnh có vùng miền núi rộng lớn, vì vậy việc nghiên cứu ñánh giá, tìm ra các giải pháp ñể phát triển kết cấu hạ tầng cho các huyện miền núi trở nên vô cùng cấp thiết, có ý nghĩa to lớn cho sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh Trong chiến tranh tỉnh Quảng Nam bị tàn phá nặng nề, sau ngày ñất nước giải phóng hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh từng bước ñưọc xây dựng, mãi cho ñến lúc chia tách tỉnh 1997 kết cấu hạ tầng của tỉnh chưa ñược cải thiện bao nhiêu ñiều này làm cản trở ñến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhất là ở các huyện miền núi

Nhận thức ñúng ñắn vai trò và tầm quan trọng cảu kết cấu hạ tầng trong những năm gần ñây Quảng Nam ñã có những nỗ lực rất lớn có những quyết sách táo bạo trong việc tập trung ñầu tư củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn ñể thuc ñẩy kinh tế hàng hóa phát triển, nhất là các huyện miền núi Đơn cử như huyện Tiên Phước từ năm 1997 ñến 2001 ñã huy ñộng ñược 510.000 ngày công, 12 tỷ ñồng ñể ñầu tư nâng cấp các tuyến ñường ñến trung tâm xã, xây dựng kiên cố 143 cầu cống, sửa chữa 88 cầu cống, mở mới 38 km ñường xã, duy tu bảo dướng 375 km ñường ñáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa, giao lưu văn hóa giữa các vùng trong huyện Điện lưới quốc gia ñã ñến trung tâm 15/15 xã , thị trấn Mạng lưới thông tin liên lạc mở rộng ñến cơ sở 11/15 xã có ñiện thoại, 8/15 xã có ñiểm bưu ñiện văn hóa Huyện ñã ñầu tư xây dựng mới nhiều công trình thủy lợi, nâng diện tích ruộng chủ ñộng nước

Trang 18

từ 1.453 ha (1996) lên 1.772 ha (2000) nhờ kết cấu hạ tầng ñảm bảo ñã phục vụ ñắc lực cho phát triển kinh tế hàng hóa, do ñó tổng thu ngân sách trên ñịa bàn tăng bình quân hàng năm gần 20%, các huyện miền núi khác cũng phát triển tương tự

Sự quyết tâm của tỉnh hợp với lòng dân ñã tạo ra sức mạnh tổ hợp, ñặc biệt ñáng ghi nhận là phong trào làm ñường giao thông nông thôn ở 6 huyện miền núi gần ñây phát triển mạnh, ngoài nguồn vốn ñầu tư của Nhà nước và các tổ chức kinh tế khác ñồng bào còn tham gia hàng chục nghìn ngày công ñể san ủi, cải tạo mặt bằng Các huyện Tiên Phước ñạt gần 400 km, Trà My 200 km, Nam Giang 100 km, Hiệp Đức gần 200 km, Hiên 300 km, Phước Sơn 310 km ñường giao thông liên huyện, liên

xã, liên thôn góp phần quan trọng thúc ñẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển Trong năm 2002 tổng vốn ñầu tư ñể củng cố, xây dựng kết cấu hạ tầng ở 6 huyện miền núi cụ thể như sau: Tiên Phước 10.274 triệu ñồng, Hiệp Đức 18.317 triệu ñồng, Hiên 19.064 triệu ñồng, Nam Giang 13.086 triệu ñồng, Phước Sơn 9.134 triệu ñồng, Trà My 17.050 triệu ñồng

Quá trình củng cố, ñầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở các huyện miền núi của tỉnh cũng bộc lộ nhiều mặt yếu kém, cần phải có giải pháp ñể khắc phục và tiếp tục ñầu tư ñể hệ thống kết cấu hạ tầng của các huyện miền núi ñủ mạnh tạo ñiều kiện cho kinh tế hàng hóa phát triển năng ñộng hơn

Thứ nhất: Phải ña dạng hóa việc thu hút vốn ñầu tư nhiều

Tiếp tục huy ñộng vốn ñầu tư từ nhiều nguồn, trước hết là nguồn vốn từ nhân dân, từ các thành phần kinh tế, tranh thủ kịp thời sự ñầu tư cử tỉnh và trung ương, vốn từ các dự án phát triển ñể củng cố, nâng cấp và xây dựng mới những công trình phục vụ phát triển kinh tế, ñẩy mạnh sản xuất hàng hóa và dân sinh Trên cơ sở vốn ñầu tư ñó phải hoàn tất cơ bản những việc như sau:

Một là: Xây dựng hệ thống ñiện lưới quốc gia ñến trung tâm xã, thị trấn

Tiếp tục ñộng viên nhân dân góp vốn, mở rộng mạng lưới ñiện hạ thế, phấn ñấu ñến hết năm 2005 nâng số hộ sử dụng ñiện lên 80%

Hai là: Tiếp tục thực hiện ñề án phát triển giao thông nông thôn coi ñó là

giải pháp tiên quyết ñể ñẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát triển kinh tế - xã hội miền núi của tỉnh, từng bước thoát ñói, nghèo và lạc hậu, kiên trì thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, tích cực huy ñộng nhân dân ñóng góp quỹ phát triển giao thông nông thôn, tạo nguồn vốn tại chỗ cùng với vốn hỗ trợ của tỉnh và trung ương ñầu tư kiên cố hóa cầu, cống, cấp phối mặt ñường các huyện Mở rộng các tuyến ñường liên thôn, liên xóm gắn với duy tu bảo dưỡng, ñảm bảo giao thông thông suốt từ huyện ñến trung tâm các xã trong mọi thời ñiểm

Ba là: Củng cố, bảo dưỡng, sử dụng tốt các công trình thủy lợi hiện có, tiếp

tục ñầu tư xây dựng các công trình có quy mô vừa và nhỏ, từng bước kiên cố hóa mạng lưới kênh mương nhằm khai thác tối ña năng lực tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nông nghiệp Tranh thủ kịp thời các nguồn vốn, trước hết là vốn của Nhà nước cấp trên ñầu tư xây dựng một số công trình thủy lợi cấp thiết Phấn ñấu ñến cuối năm

2005 ñạt trên 50% diện tích giao trồng chủ ñộng nước tưới, tạo cơ sở thâm canh tăng năng xuất cây trồng ñẩy mạnh sản xuất hàng hóa Phát triển mô hình “giếng ñào + bơm ñiện” như ở huyện Tiên Phước và nhân rộng mô hình này ở các vùng núi khác

Trang 19

trong tỉnh, nhất là những nới có ñiều kiện ñể khai thác nguồn nước ngầm phục vụ cho phát triển kinh tế vườn hàng hóa, giải quyết cơ bản nước sạch cho nhân dân bằng các hình thức giếng ñào + bơm ñiện + nước tự chảy

Bốn là: Phấn ñấu ñầu tư ñể nâng cao công suất, thời lượng tiếp sóng truyền

hình, mở rộng mạng lưới truyền thanh cơ sở ñể ñưa tin và phổ biến kịp thời những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội miền núi Hoàn thành chương trình xây dựng bưu ñiện văn hóa, phấn ñấu 100% xã có ñiện thoại và ñạt 1,3 máy / 100 dânvào năm 2005 tiếp tục nâng cấp và xây dựng các

di tích lịch sử, cảnh quan du lịch tạo nguồn thu ổn ñịnh ñể phát triển kinh tế bền vững

Thứ hai: Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước trong quá trình sử dụng vốn phát triển kết cấu hạ tầng, tăng cường giám sát, thẩm ñịnh, nghiệm thu những công trình ñã hoàn thành một cách có hiệu quả

Một là: Để tăng cường quản lý nhà nước, các huyện miền núi của tỉnh

Quảng Nam phải hoàn thiện cơ bản công tác quy hoạch ổn ñịnh thì mới xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng bền vững ñược, ñó là tiền ñề quan trọng cho cho việc phát triển kinh tế hàng hóa Những năm trước mắt, các huyện miền núi cần cải tạo xây dựng mới một số công trình như triển khai phương án quy hoạch mở rộng và chỉnh trang các thị trấn, thị tứ Quản lý chặt chẽ ñúng pháp luật những công trình ñẫ sử dụng

Hai là: Củng cố và xây dựng mới hệ thống cấp thoát nước, xây dựng các

chợ trung tâm, phát triển ít nhất mỗi xã có từ một ñến hai chợ xây dựng tại thị tứ, nơi tập trung nhiều hàng hóa ñể tạo ñiều kiện giao lưu hàng hóa, nối kết người sản xuất với người sản xuất, người sản xuất với người tiêu dùng và nối kết giữa các ñịa phương thôn, buôn với nhau Tiếp tục củng cố, cải tạo và làm mới hệ luới ñiện ñể phục sản xuất và sinh hoạt của nhân dân cũng như phục vụ công tác bảo vệ an ninh quốc phòng Xây mới, chỉnh trang một số khu dân cư nội thị, thị trấn, thị tứ ở các huyện, các xã, thiết lập hệ thống liên lạc, từng bước xây dựng thị trấn của các huyện tiến tới làm ñược vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của các huyện

Ba là: Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trong quá trình triển khai

thực hiện hoàn thành các hạng mục công trình trong dự án trung tâm xã, hình thành các tụ ñiểm dân cư, tạo ñộng lực sản xuất và sức mua bán lớn tập trung ñể thúac ñẩy kinh tế xã hội từng vùng phát triển

Tóm lại: Để thực hiện các giải pháp trên có hiệu quả vấn ñề ñặt ra khá bức xúc là phải quản lý chặt chẽ các nguồn thu ngân sách, các nguồn vốn khác, chống thất thu ñi ñôi với tạo nguồn thu mới, tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra Động viên cán bộ, ñảng viên và nhân dân các huyện miền núi của tỉnh tiết kiệm chi tiêu, tập trung ñầu tư củng cố, phát triển kết cấu hạ tầng làm tiền ñề quan trọng cho việc phát triển kinh tế hàng hóa, phát triển kinh tế hàng hóa của tỉnh ñúng hướng CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng

3.3.3 Nâng cao trình ñộ dân trí và kiến thức kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Trang 20

Dân trí là trình độ học vấn, trình độ hiểu biết trên các lĩnh vực của nhân dân, hiện nay mặt bằng dân trí ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam cịn quá thấp, nhất là đồng bào các dân tộc, điều này làm hạn chế nghiêm trọng việc phát triển kinh

tế hàng hĩa của vùng Theo số liệu thống kê của ban tổ chức huyện Trà My về cơng tác quy hoạch cán bộ giai đoạn 1997 - 2002 cho biết: Ban chấp hành huyện ủy cĩ 33 đồng chí Về trình độ học vấn cấp I: 01 đồng chí, cấp II: 14 đồng chí; cấp III: 18 đồng chí Trình độ lý luận chính trị cử nhân: 01 đồng chí; cao cấp 01 đồng chí; trung cấp

14 đồng chí và sơ cấp 01 đồng chí Trình độ chuyên mơn nghiệp vụ, đại học: 11 đồng chí; cao đẳng 05 đồng chí, trung cấp 3 đồng chí; chưa qua đào tạo 14 đồng chí

Cán bộ cấp trưởng, phĩ, chuyên viên các phịng, ban, ngành, đồn thể của huyện và tương đương là 87 người Trong đĩ trình độ học vấn cấp I: 01; cấp II: 23; cấp III: 63 Trình độ lý luận chính trị cử nhân: 01; cao cấp 22; trung cấp: 34; sơ cấp: 03; chưa qua đào tạo: 31 Bồi dưỡng về kiến thức quản lý kinh tế: 06 và quản lý Nhà nước: 18 đồng chí

Cán bộ cấp ủy xã, thị trấn cĩ 543 người.Trong đĩ trình độ học vấn cấp I: 271; cấp II: 190; cấp III: 82 Trình độ lý luận chính trị cao cấp: 05; trung cấp:115; sơ cấp: 79; chưa qua đào tạo: 344 người Trình độ chuyên mơn đại học: 02; cao đẳng:04; trung cấp: 48; chưa qua đào tạo: 489 người Bồi dưỡng quản lý kinh tế: 07; quản lý nhà nước: 42 người Các huyện miền núi khác cũng cĩ trình độ cán bộ các cấp gần như Trà My

Qua số liệu trên cho thấy trình độ của cán bộ vè học vấn và chuyên mơn nghiệp vụ cịn rất thấp do vậy đối với nhân dân mà nhất là đồng bào các dân tộc ở miền núi của tỉnh thì mặt bằng dân trí càng thấp hơn phổ biến là cấp I Vì vậy, muốn phát triển kinh tế hàng hĩa và nâng cao nhận thức cho nhân dân ở các huyện miền núi chúng tơi tập trung đề xuất những giải pháp như sau:

Thứ nhất: Coi trọng đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục – đào tạo nahừm nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực cho miền núi

Về lâu dài miền núi Quảng Nam phải là nơi phát triển kinh tế hàng hĩa mạnh, đa dạng khơng chỉ tạo ra của cải đủ nuơi sống người dân nơi đây mà cịn tạo ra nguồn hàng hĩa, vùng nguyên liệu gĩp phần làm giàu cho tỉnh, vấn đề này phù thuộc rất lớin vào trình độ dân trí Do vậy, ngay từ bây giờ phải tập trung đầu tư cho đào tạo - giáo dục vùng nơng thơn miền núi của tỉnh, chú trọng đến giáo dục mầm non đảm bảo cho trẻ em trong độ tuổi tất cả được đi học Cần cĩ biện pháp hạn chế đi đến xĩa bỏ các lớp ghép làm hạn chế đến chất lượng gioo dục, phát hiện và ngăn chặn kịp thời hiện tượng tái mù chữ đối với người lớn, nhất là đối tượng thanh thiếu niên

Tỉnh cần triển khai mạnh các dự án xây dựng trường phổ thơng trung học, trường dạy nghề, trường dân tộc nội trú Sớm phát hiện những học sinh giỏi để cĩ kế hoạch tuyển chọn, cử tuyển đi đào tạo chính quy lâu dài; đặc biệt chú ý đến cán bộ con em đồng bào các dân tộc tại chỗ Về lâu dài tỉnh cần chỉ đạo ngành giáo dục tập trung sưu tầm, biên soạn giáo trình và tổ chức giảng dạy tiếng dân tộc cho học sinh các huyện miền núi của tỉnh, cĩ vậy mới nhanh chĩng nâng cao mặt banừg dân trí để

họ hiểu được pháp luật, hiểu được thị trường, nắm bắt được khoa học kỹ thuật trong quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hĩa sớm khắc phục được đĩi, nghèo triên miên, ngay trên mảnh đất giàu tài nguyên của họ

Trang 21

Thứ hai: Đẩy mạnh các hoạt ñộng thông tin, văn hóa, giáo dục thể chất ở cơ

ăn giỏi ñến tận thôn bản ñể báo cáo, tổ chức các hoạt ñộng văn nghệ ñể tuyên dương người tốt việc tốt trong làm ăn kinh tế, trong trồng và bảo vệ rừng thông qua các loại hình văn hóa nghệ thuật ñể giáo dục ñậy là cách làm có hiệu quả, dễ tiếp thu ñối với người dân nông thôn miền núi

Phát triển thêm nhiều ñiểm văn hóa xã hoặc theo cụm xã; phủ sóng phát thanh, truyền hình của tỉnh ñến những vùng sâu, vùng xa, níu cao, vùng căn cứ cách mạng, tăng cường phát nhiều bản tin thực tế của việc sản xuất kinh doanh ở các ñài phát thanh, trạm phát thanh, phát lại trên truyền hình của huyện; dành nhiều thời lượng cho các chuyên mục phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc ñể tuyên truyền ñường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước từng bước nâng cao trình ñộ dân trí trên mọi mặt của ñời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn miền núi của tỉnh

Thứ ba: Đẩy mạnh công tác quy hoạch, ñào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp trên ñịa bàn huyện miền núi của tỉnh

Các ñịa phương cần có kế hoạch ñào tạo, bồi dưỡng và ñào tạo lại ñội ngũ cán bộ ñương chức, trong ñó cần chú ý về lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, quản

lý kinh tế, kiến thức thị trường, pháp luật cho cán bộ cấp huyện và cấp xã Cần phải

có tầm nhìn chiến lược trong việc quy hoạch, ñào tạo ñội ngũ cán bộ kế cận nhằm ñáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi của tỉnh trong sự nghiệp CNH, HĐH ñất nước Thực trạng trình ñộ của cán bộ cấp huyện và cấp xã ở 6 huyện miền núi của tỉnh hiện nay thật sự không ñáp ứng ñược ñòi hỏi của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong ñiều kiện kinh tế hội nhập hiện nay Phải tích cực bồi dưỡng, ñào tạo tiến tới chuẩn hóa cán bộ theo tinh thần NQ TW 3 khóa VII và NQ

TW 7 khóa VIII Bên cạnh ñó phải chú trọng triển khai chủ trương của tỉnh về việc dạy tiếng dân tộc như tiếng dân tộc Cà Tu, Cor, Giẻ Triêng, Xê Đăng cho cán bộ người kinh ñang công tác tại các huyện miền núi của tỉnh giúp họ hiểu biết các luật tục, tập quán, giá trị bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ñể hoạt ñộng của họ có hiệu quả Ngoài ra còn tuyên truyền những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà

Trang 22

nước bằng tiếng dân tộc ñể ñồng bào hiểu về Đảng, pháp luật hơn, tin tưởng vào ñường lối ñổi mới kinh tế của Đảng, chống lại những luận ñiệu xuyên tạc chia rẽ dân tộc của các tổ chức phản ñộng

3.3.4 Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ñể sản xuất hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Trong nền kinh tế tự nhiên, tự sản, tự tiêu ở các vùng núi của tỉnh Quảng Nam trước ñây chỉ gắn với thị trường chật hẹp, mua bán giản ñơn, từ khi có ñường lối ñổi mới của Đảng, kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi ñã phát triển, nhất là các mặt hàng nông sản ngày càng nhiều, cần phải có thị trường tiêu thụ Tính ra riêng năm 2002 sản lượng lương thực có hạt ở các huyện tăng lên ñáng kể so với năm 2001 như huyện Trà My ñạt 900 tấn, Tiên Phước ñạt 14.900 tấn, Hiệp Đức ñạt 14.190 tấn, Nam Giang 6.000 tấn các vùng chuyên canh cây công nghiệp như quế, tiêu, cây dó bầu ở Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Nam Giang, mà cụ thể là ở Phước sơn sản lượng khai thác hằng năm ñạt ñạt bình quân có từ 25 - 30 tấn quế ñược chế biến và xất khẩu vào giai ñoạn (1996 - 2000) Nhưng do thị trường tiêu thụ không ổn ñịnh, giá cả biến ñộng bất thường, các ñiều kiện về khoa học kỹ thuật, về giống, canh tác, công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch còn nhiều hạn chế, nên các loại sản phẩm ở các huyện miền núi của tỉnh thường bị hao hụt lớn, chi phí cao, khả năng cạnh tranh thấp

Mặt káhc, ñiều kiện tự nhiên, ñịa hình ơ các huyện miền núi của tỉnh cũng rất phức tạp ñèo sâu, núi cao, dốc lớn, thời tiết khắc nghiệt, cơ sở giao lưu hàng hóa rất ít và hoang sơ, mỗi huyện chỉ có một chợ buôn bán tập trung tại thị trấn, các xã thì

có chợ phiên mỗi tuần họp chợ một ñến hai lần và vẫn còn nhiều xã chưa có chợ Vai trò thương mại Nhà nước rất mờ nhạt tất cả những vấn ñề nêu trên ñã ảnh hưởng làm cho nền kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi phát triển chậm và không ổn ñịnh Vì vậy muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ñể ñẩy nhanh kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi của tỉnh, trước mắt cần tập trung giải quyết các vấn ñề sau ñây:

Thứ nhất: Cần ñiều chỉnh lại cơ cấu sản xuất cả trong nông nghiệp, công nghiệp phục vụ sản xuất và ñời sống nhân dân nông thôn miền núi của tỉnh

Trong những năm vừa qua phát triển kinh tế hàng hóa ở cá huyện miền núi của tỉnh có những bước thay dổi tích cực, song bên cạnh ñó cũng bộc lộ những hạn chế khi chuểy dịch cơ cấu sản xuất Điều dễ thấy này ñã xẩy ra khi giá cả hàng hóa tăng thì sản xuất ồ ạt, khi giá cả hàng hóa thấp lại chặt phá ñể trồng lại cây khác dẫn ñến thiệt hại cho người nông dân Do vậy, các huyện cần có kế hoạch nghiên cứu thông tin thị trường và lợi thế so sánh của từng vùng, từng ñịa phương, ñiều chỉnh lại

cơ cấu sản xuất một cách hợp lý ổn ñịnh Nhất là ñịa hình các vùng nguyên liệu, ký kết hợp ñồng với các nhà máy chế biến tinh bột sắn, nhà máy ñường của tỉnh, ñể các sản phẩm của nông dân làm ra có chỗ tiêu thụ ổn ñịnh; tránh tình trạng dư thừa và rớt giá thiệt hại ñến người sản xuất, khi giá cao thì bán cho tư thương, lúc giá thấp thì dồn ép bán cho nhà máy

Điều chỉnh cơ cấu sản xuất ể ñẩy mạnh kinh tế hàng hóa, phải phổ biến, giải thích ñến từng chủ thể sản xuất hiểu rõ quan ñiểm, chủ trương của chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa theo hợp ñồng với các doanh nghiệp,

Trang 23

làm cho người sản xuất hiểu rõ lợi ích vàg gắn trách nhiệm với phương thức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo hợp ñồng kể cả các doanh nghiệp ñầu tư vốn ngay từ ñầu cho sản xuất nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho doanh nghiệp và nông dân vùng miền núi ñẻ nông dân ñồng tình, an tâm chuyển dịch cây trồng, vật nuôi theo phương thức mới trong cơ chế thị trường

Thứ hai: Quy hoạch, phát triển mạng lưới chợ nông thôn miền núi của tỉnh phù hợp với ñiều kiện từng ñịa phương

Chợ là một bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng, ở ñâu cso phát triển sản xuất hàng hóa thì ở ñó có chợ phát triển trong quá trình mở rộng phát triển thị trường

ở nông thôn miền núi của tỉnh Quảng Nam, chợ có vai trò quan trọng trong giao lưu hàng hóa, nhưng hiện nay ở các huyện miền núi của tỉnh nhiều xã chưa có chợ, mỗi huyện cũng chỉ có một chợ tại trung tâm thị trấn Để phát triển kinh tế hàng hóa các huyện miền núi cần sớm quy hoạch, phát triển mạng lưới chợ, tùy theo mật ñộ dân cư

và khả năng Kinh tế từng vùng mà phát triển chợ tạo ra sự giao lưu hàng hóa giữa các ñịa phương trong vùng, trong huyện, ñể hàng hóa các nơi về miền núi của tỉnh và hàng hóa ở các huyện miền núi ñi ñến các nơi trong và ngoài tỉnh

Vì vậy, trong quy hoạch mạng lưới chợ ở nông thôn miền núi của tỉnh cần phân bố một cách hợp lý giữa các chợ chuyên doanh là ñầu mối hàng nông sản, thực phẩm cung cấp cho ñô thị và cũng là nơi thu mua, tập kết hàng hóa ñể chế biến hoặc xuất khẩu Đồng thời bố trí xây dựng chợ tổng hợp ñể bán và mua các loại hàng hóa phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Cần nhận thức trong nền kinh tế thị trường coi việc ñầu tư xây dựng chợ cũng như ñầu tư xây dựng các công trình kinh tế văn hóa khác, với phương châm lấy chợ ñể nuôi chợ và phát triển chợ

Thứ ba: Tăng cường vai trò thương mại Nhà nước trên ñịa bàn nông thôn miền núi của tỉnh

Khi chuyển sang cơ chế thị trường nhiều nơi thương mại nhà nước làm ăn thua lỗ, dẫn ñến bỏ trống trận ñịa, nhất là ở các huyện miền núi, mặc sức ñể tư thương thao túng, thực tế này ñã ảnh hưởng ñến phát triển kinh tế ở các huyện miền núi của tỉnh trong nhiều năm qua Làm mờ nhạt vai trò chủ ñạo của kinh tế nhà nước của tỉnh ñến các ñịa phương miền núi, tổ chức các hình thức bán sĩ và bán lẻ những mặt hàng mà nhân dân miền núi bán Tăng cường tổ chức tốt mạng lưới dịch vụ cho các nhà máy chế biến và phân phối hàng công nghiệp ñến từng người tiêu dùng Tỉnh cần có chính sách ưu ñãi nhằm khuyến khích thương amị ở các huyện miền núi phát triển, bảo hộ ở mức ñộ hợp lý ñối với hàng nông sản ở những thời ñiểm cần thiết Làm tốt công tác này sẽ hạn chế ñược tư thương thao túng ép giá, ép cấp khi mua,; nâng cấp, nâng giá khi bán ñể nông dân miền núi nhất là ñối với ñồng bào dân tộc khỏi bị “thiệt ñơn, thiệt kép” và kích thích sức mua, bán làm cho thị trường nông thôn miền núi ñược mỏq rộng không ngừng ñẩy mạnh kinh tế hàng hóa phát triển ñúng hướng

Thứ tư: tiếp tục ñổi mới hoàn thiện các chính sách nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa ở nông thôn miền núi

Một là, chính sách ñất ñai: Nhà nước cho phép hộ nông dân miền núi ñược

sử dụng quyền sử dụng ñất ñai ñược giao ñể góp vốn kinh doanh với doanh nghiệp

Trang 24

như góp cổ phần, liên doanh, cho thuê ñất từng bước xác lập và hình thành hệ thống thị trường ñất ñai ở nông thôn miền núi của tỉnh tạo ñiều kiện cho quá trình tích tụ và tập trung ñất nhằm chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, tạo ra sự phân công mới ñẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong cơ chế thị trường hiện nay

Hai là, chính sách giá cả: cần có chính sách giá cả hợp lý ñối với các loại

vật tư nông nghiệp cho miền núi, vùng sâu, vàng xa của tỉnh Nghiên cứu xây dựng quỹ bình ổn giá cả ñối với sản phẩm xuất khẩu, ñồng thời phải công bố mức giá mua lương thực, thực phẩm cây công nghiệp tối thiểu ngay từ ñàu vụ thu hoạch ñể khuyến khích và bảo ñảm lợi ích cho người lao ñộng miền núi của tỉnh

Ba là, chính sách thuế: ñể tạo ñiều kiện cho phát triển sản xuất hàng hóa

nông sản ở các huyện miền núi của tỉnh, khuyến khích nông dân ñầu tư sản xuất hàng hóa xuất khẩu ñể khai thác và sử dụng có hiệu quả lợi thế từng vùng, nhất là vùng ñồng bào các dân tộc, nơi căn cứ cách mạng, nơi ñất trống, ñồi trọc Tỉnh cần có chính sách thuế linh hoạt miễn giảm cơ thời hạn, thời ñiểm ñể nông dân các huyện miền núi an tâm khai thác hết quỹ ñất ñể ñưa vào sản xuất phát triển nông sản hàng hóa, mở rộng thị trường

Bốn là, chính sách tạo vốn mua nông sản: tỉnh cần có chính sách tạo ñiều

kiện cho các doanh nghiệp ñược vay vốn từ quỹ hỗ trợ phát triển ñể mua nông sản xuất khẩu ở các huyện miền núi của tỉnh và ñược vay vốn ñể mua vật tư ứng trước cho hộ nông dân, cho trang trại như: phân bón, giống, thuốc trừ sâu, công cụ sản xuất Đối với các doanh nghiệp, công ty tiêu thụ noong sản xuất khẩu mang tính thời

vụ cần ñược vay vốn từ quỹ hỗ trợ phát triển theo hình thức tín dụng hoặc thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay ñể vay vôn Cần tạo ñiều kiện cho các doanh nghiệp, công ty lương thực và các nhà máy chế biến như: quế, tiêu, dứa, mía, sắn vay với lãi suất ưu ñãi (giảm 10 - 15% lãi suất chung) ñể tập trung mua các sản phẩm ñồng thời khuyến khích cầu ñầu ra, hạn chế tình trạng rớt giá một số hàng nông sản thiết yếu như hiện nay

3.3.5 Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

Khoa học công nghệ là một nhân tố rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa Nghị quyết Hội nghị ban chấp hành TW lần thứ hai khóa VIII Đảng

ta xác ñịnh: phát triển khoa học công nghệ là “quốc sách”, là “ñộng lực” của phát triển kinh tế xã hội ở nước ta Ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, do sự thống trị lâu ñời của kinh tế tự nhiên, nên nhận thức và triển khai ứng dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật vào sản xuất rất hạn chế, khoa học kỹ thuật chưa gắn với sản xuất ñiều này làm cho kinh tế hàng hóa chậm phát triển Vì vậy, ñể kinh tế hàng hóa phát triển, phải tăng cường phát triển khoa học kỹ thuật, kịp thời ứng dụng vào sản xuất ñể tăng năng suất lao ñộng tạo ra nhiều hàng hóa cho xã hội Vừa qua tỉnh chỉ ñạo các huyện ñưa giống mới vào sản xuất ñã ñưa lại hiệu quả rõ rệt như: ñưa giống lúa mới IR 3566, IR 29723, 13/2, CH5 vào sản xuất, năng suất trung bình ñạt 47,5 tạ/ha, giống sắn H34 ñưa năng suất bình quân 144 tạ/ha/vụ và ñang trồng thí ñiểm giống sắn KM 94 và nhiều chương trình như cải tạo ñàn trâu, bò, nạc hóa ñàn lợn; chương trình nuôi cá nước ngọt, phát triển chăn nuôi gia cầm, phong trào cải tạo

Trang 25

vườn tạp ñưa các giống mới có năng suất cao, hiệu qủa kinh tế lớn vào phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại Song việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất vẫn chậm và cũng mới dừng lại ở vùng I, còn vùng II, vùng III có tính chất thí ñiểm nhiều nơi ñồng bào chưa hiểu tác dụng của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vẫn còn làm theo lối canh tác cổ truyền Do vậy cần phải:

Thứ nhất: trước mắt cần tổ chức mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm ñến

tận xã; thôn, bản và từng hộ gia ñình; sử dụng các trưởng bản, già làng làm nòng cốt

ñể thục hiện công tác khuyến nông, khuyến lâm ñể ñưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ñể tăng năng suất lao ñộng, tạo ra nhiều hàng hóa cải thiện ñời sống nhân dân vùng núi Tỉnh cần sớm ñầu tư tổ chức nghiên cứu các giống ñưa vào sản xuất như lúa lai F1 và các giống ngô lai ñảm bảo chất lượng cao, giá thành hạ nhằm khuyến khích nông dân hăng hái ñưa các loại giống mới vào sản xuất ñại trà Đối với các loại cây công nghiệp ñặc sản như: quế, tiêu, cần quy hoạch phát triển mạnh thành các vùng chuyên canh tập trung, ñể tạo ra nguồn nguyên liệu ổn ñịnh cho các

cơ sở chế biến vừa tăng giá trị, vừa tạo việc làm mới cho nông thôn miền núi

Thứ hai: Cần tuyên truyền giác ngộ cho cán bộ và nhân dân nhận thức ñầy

ñủ về vai trò của khoa học kỹ thuật công nghệ là “ñộng lực’, là “then chốt” của quá trình phát triển kinh tế hàng hóa Các huyện tiến hành xây dựng kế hoạch phát triển khoa học kỹ thuật phù hợp với từng vùng, từng loại cây, con Để ứng dụng khoa học

kỹ thuật vào sản xuất ñạt hiệu qủa cao; cần phải thực hiện tốt việc ñiều tra, khảo sát

cụ thể các dự án kinh tế, tiềm năng, ñiều kiện tự nhiên ở từng huyện, từng vùng Ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất phải gắn liền với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện ña dạng hóa ngành nghề, dịch vụ, ña dạng vật nuôi, cây trồng theo hướng phát huy tiềm năng thế mạnh của từng vùng với mục ñích là năng suất, chất lượng và hiệu qủa cây trồng, con vật nuôi trên một ñơn vị diện tích

Thứ ba: Đẩy mạnh việc ñào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học kỹ thuật nhất

là chú trọng ñến con em ñồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ Đây là vấn ñề rất quan trọng ñối với các huyện miền núi, bởi lẽ ñội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật ở các huyện miền núi của tỉnh hiện nay vừa thiếu, vừa yếu về chuyên môn nghiệp vụ Cần phải khẩn trương ñào tạo thế hệ trẻ một cách cơ bản chính quy Chú trọng hơn vừa ñào tạo cán bộ nghiên cứu khoa học kỹ thuật, vừa ñào tạo ñội ngũ công nhân kỹ thuật

có trình ñộ tay nghề cao; gắn công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học công nghệ với quá trình phát triển kinh tế hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn ở miền núi của tỉnh hiện nay

KẾT LUẬN Các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam là ñịa bàn chiến lược quan trọng của tỉnh và của cả miền Trung Qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, ñặc biệt là kháng chiến chống Mỹ, chúng ta ñã lấy nơi ñây làm căn cứ cách mạng ñể chỉ huy kháng chiến và từ vùng núi này làm khâu ñột phá nhanh chóng giải phóng các vùng ñồng bằng của tỉnh và tỉnh trong khu vực Ngày nay, trong sự nghiệp dổi mới của ñất nước ñể quá ñộ lên CNXH, việc xây dựng các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam giàu mạnh sẽ là sự bảo ñảm an toàn giàu mạnh vững chắc cho tỉnh xây dựng vùng núi Quảng Nam giàu mạnh Ngoài ý nghĩa kinh tế, xã hội còn cả vấn ñề tình cảm và trách

Trang 26

nhiệm của thế hệ hôm nay ñối với vùng ñất chịu nhiều ñau thương mất mát trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Vùng ñất “hứa” miền núi Quảng Nam giàu tài nguyên, hiện còn gặp rất nhiều khó khăn, một bộ phận ñồng bào các dân tộc chưa ổn ñịnh cuộc sống còn du canh, du cư Những năm qua chịu sự tác ñộng của cơ chế thị trường, khoảng cách giàu nghèo giữa các hộ, các vùng ngày càng xa Với 7 chuyên ñề sắp xếp thành 3 chương, ñề tài ñã trình bày và khẳng ñịnh: phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam là con ñường phát triển hợp quy luật nhanh chóng rút ngắn

sự ñói nghèo - ñây là chủ trương mà các bài viết ñã tập trung luận giải Bởi lẽ, chỉ có

sự tập trung lãnh ñạo Đảng và chính quyền các cấp của tỉnh Quảng Nam nhanh chóng ñẩy mạnh sản xuất mới ñem lại ñời sống kinh tế, văn hóa tốt ñẹp cho ñồng bào các dân tộc nơi miền núi này, mà bao ñời họ bị ngập chìm trong lạc hậu

Những quan ñiểm của Mác, Ănghen, Lê nin, Hồ Chí Minh, của Đảng ñược trình bày khái quát trong ñề tài, làm cơ sở khoa học quá trình phân tích thực tiễn phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam Những nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội tác ñộng trực tiếp ñến sự hình thành ñặc ñiểm, quá trình phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi dược giải trình trong ñề tài là sự lựa chọn cách tiếp cận mới; gắn lịch sử với lô gíc, hiện ñại; gắn dân tộc, tôn giáo, biên giới trong quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất hỗn hợp

Đề tài tổng kết: sau 1975 cùng với tỉnh và cả nước, các huyện miền núi Quảng Nam ñã thiết lập chế ñộ HTX nông, lâm trường ñã mang lại những thành tựu kinh tế, xã hội to lớn Song cũng chính kéo dài quá lâu mô hình này ñã dẫn ñến trì trệ trong sản xuất Qua thực tiễn này, tỉnh ñã vận dụng quan ñiểm, chính sách phát triển kinh tế xã hội ở miền núi của Đảng và Nhà nước, từ ñó ñề ra những quyết sách ñúng ñắn, vạch ra hướng ñi phù hợp, kinh tế hàng hóa ở vùng núi của tỉnh từng nước phát triển trong môi trường mới Quá trình vận ñộng phát triển, kinh tế hàng hóa miền núi Quảng Nam càng ña dạng với hình thức và bước ñi hợp quy luật Minh chứng ñược sức sống và vai trò quan trọng của kinh tế hàng hóa trong chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh Ảnh hưởng vai trò của kinh tế hàng hóa một mặt nói lên tính ñặc thù của vùng, mặt khác nói lên sức mạnh khai thác các nguồn lực có hiệu qủa và sức ñóng góp to lớn cho sự tiến bộ xã hội ở miền núi Con ñường ñi ñúng này ñã chắp cánh cho kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam phát triển mạnh hơn, vững bền hơn trong sự nghiệp CNH, HĐH ñất nước trong nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường

Trước ñây việc xóa bỏ kinh tế hộ, kinh tế trang trại ñể thực hiện hợp tác, xây dựng nông - lâm trường quốc doanh ở các huyện miền núi của tỉnh Bây giờ, xác lập lại kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh tế hàng hóa ñể củng cố và phát triển kinh tế

ở các nông, lâm trường của tỉnh Đây là những ñặc thái mới riêng có của các huyện miền núi của tỉnh

Sự nghiệp CNH, HĐH ñất nước là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá ñộ,

mà trước mắt là CNH, HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn, mà ñặc biệt là nông thôn miền núi là con ñường không thay ñổi ñể ñưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm năm 2020 Với ñặc thù vùng núi của Quảng Nam trong giai ñoạn hiện nay ñề tài tập trung ñề ra các giải phap ñẩy mạnh phát triển kinh tế hàng

Trang 27

hóa ñược khẳng ñịnh là tất yếu, cấp thiết, hợp quy luật Điều khẳng ñịnh này có các căn cứ khoa học, ngay cả các nước nông nghiệp phát triển trên thế giới có vùng núi rộng lớn, sản xuất chuyên môn hóa cao, khả năng liên doanh hợp tác lớn ña dạng có năng suất lao ñộng cao; thì thuở ban ñầu họ vẫn phải tiến hành tổ chức phát triển kinh

tế hàng hóa Kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi Quảng Nam sẽ phát triển mạnh, bền vững khi các quan ñiểm, phương hướng và hệ thống giải pháp ñược các cấp, các ngành và người sản xuất ñược nhận thức ñúng, triển khai ñồng bộ và có trọng ñiểm

KINH TẾ HÀNG HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI NÓI CHUNG

VÀ NÔNG THÔN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NAM NÓI RIÊNG

Ths Phạm Ngọc Giới

1 Kinh tế hàng hóa và vai trò của nó ñối với việc phát triển kinh tế - xã hội

Sản xuất hàng hóa và kinh tế hàng hóa là những phạm trù kinh tế nhăm chỉ quá trình tái sản xuất của nhân loại từ giai ñoạn sản xuất mang tính tự cấp tự túc sang giai ñoạn kinh tế cao hơn mà ở ñó giao lưu, trao ñổi sản phẩm ñã phát triển, tạo ra sự phân công lao ñộng xã hội và tính chuyên môn hóa ngày càng cao, hàng hóa ñem trao ñổi, mua bán mang một sắc thái mới với tính xã hội cộng ñồng sâu sắc

Quá trình phát triển của xã hội loài người ñã khẳng ñịnh nơi nào còn tồn tại nhiều loại hình sỡ hữu khác nhau thì ở ñó có sản xuất hàng hóa Lịch sử sản xuất hàng hóa ra ñời trên cơ sở chế ñộ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và phân công lao ñộng xã hội Nó là thành tựu văn minh của nhân loại phát triển qua quá trình lâu dài, nối tiếp nhau của các phương thức sản xuất ñi từ thấp ñến cao Theo tiến trình ñó sản xuất hàng hóa ngày càng ñược bổ sung những nội dung mới hiện ñại hơn và hoàn thiện hơn

Trong thời ñại ngày nay khi xu hướng quốc tế hóa trên tất cả các lĩnh vực của ñời sống kinh tế - xã hội thì sản xuất hàng hóa không những tiếp tục ñược khẳng ñịnh mà còn tạo ñiều kiện, thúc ñẩy nền kinh tế phát triển, kể cả những nước có trình

ñộ phát triển cao, cũng như những nước chậm phát triển

Về ñặc ñiểm kinh tế thời kỳ quá ñộ lên CNXH Lênin ñã chỉ rõ: nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều loại hình sở hữu và sản xuất hàng hóa khác nhau Mỗi một thành phần, một loại hình sở hữu và loại sản xuất hàng hóa khác nhau ñó ñều có bản chất riêng, quy luật vận ñộng riêng, mục ñích riêng, song chúng tồn tại và vận ñộng ñan xen vào nhau, vừa thống nhất với nhau, vừa ñấu tranh tác ñộng lẫn nhau tạo nên một kinh tế quá ñộ Vấn ñè ñặt ra với mỗi nước khi bước vào thời kỳ quá ñộ lên CNXH là phải nhận thức ñúng ñắn, ñầy ñủ tính chất, mức ñộ và ñặc ñiểm của nền kinh tế ấy có những chính sách biện pháp sử dụng, cải tạo thích hợp và ñịnh hướng ñúng ñắn nhằm thúc ñẩy sản xuất hàng hóa phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao ñộng

Trang 28

Đúng như Lênin ñã khẳng ñịnh: Đối với các nước kém phát triển quá ñộ lên CNXH bỏ quá chế ñộ phát triển TBCN không những phải tổn trọng thức tại khách quan của nền kinh tế hàng hóa mà còn phải tạo ñiều kiện thuận lợi ñể thúc ñẩy mạnh

mẽ sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, làm cho lực lượng sản xuất ngày càng ñược tăng cường, ñưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, tăng nhanh sản phẩm cung ứng cho xã hội, thỏa mãn nhu cầu ña dạng, phức tạp của ñời sống và sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các ngành, các ñịa phương và vùng lãnh thổ giữa kinh tế trong nước với kinh tế nước ngoài, góp phần khắc phục sự mất cân ñối hàng - tiền, thu chi tài chính

Suy cho cùng tính tất yếu khách quan của kinh tế hàng hóa trong thời kỳ quá

ñộ lên CNXH là do sự phân công lao ñộng xã hội, sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu khác nhau, nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh với trình ñộ kỹ thuật, quản ly, lợi ích kinh tế khác nhau Hay nói cách khác là do mức ñộ phát triển của lực lượng sản xuất và tính chất xã hội hóa nền sản xuất

Đối với nước ta quá ñộ lên CNXH bỏ qua chế ñộ TBCN từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ tự cung, tự cấp là phổ biến, trình ñộ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp, phân công lao ñộng chưa phát triển, hậu quả nặng nề của cuộc hiến tranh ñể lại chưa khắc phục xong; thiên tai xẩy ra liên tiếp vùng này ñến vùng khác, hết nắng hạn ñến bão lụt; các thế lực thù ñịch thường xuyên tìm cách phá hoại, lật ñổ chế ñộ XHCN mà Đảng và nhân dân ta ñã lựa chọn

Để khắc phục ñược những khó khăn lớn trong nền kinh tế, ñưa nước ta vượt qua khó kăn, thử thách lớn như hiện nay, vấn ñề duy nhất, ñúng ñắn nhất là chúng ta phải nhận thức ñầy ñủ con ñường ñi của cách mạng XHCN ở nước ta là con ñường phù hợp với quy luật tiến hóa của lịch sử ñể từ ñó có chiến lược, sách lược, những hình thức, biện pháp kinh tế xã hội thích hợp

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, tiến trình lên XHCN thuận lợi hay khó khăn, nhịp ñộ tiến nhanh hay chậm phụ thuộc trước hết vào việc xác ñịnh quan ñiểm phát triển của cách mạng XHCN Nếu quan ñiểm ñúng thì mục tiêu ñã ñược xác ñịnh sẽ ñược thực hiện một cach trọn vẹn - ngược lại, nếu quan ñiểm không ñúng sẽ dẫn ñến những hậu quả không lường hết ñược

Đáng tiếc là trong nhiều thập kỷ qua, với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp

và nhận thức ñơn giản về CNXH, chúng ta chưa hiểu một cách ñầy ñủ về ñặc ñiểm của nền kinh tế quá ñộ, về sản xuất hàng hóa ñiều kiện cần thiết của cơ chế thị trường Cho rằng sản xuất hàng hóa chỉ là hình thức tổ chức sản xuất tư bản chủ nghiã, ñồng nhất hình thức sở hữu với tổ chức kinh tế và thành phần kinh tế; coi nhẹ quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu; chỉ thấy mặt tiêu cực chứ không thấy mặt tích cực của thị trường, các phạm trù của kinh tế hàng hóa Hàng hóa

- tiền tệ, giá trị, giá cả, hoạch toán kinh tế vẫn ñược sử dụng nhưng mang tính hình thức

Với nguyện vọng chủ quan của chúng ta muốn nhanh chóng xóa bỏ các hình thức sở hữu tư nhân, cá thể, thiết lập nền kinh tế XHCN với hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể ñã dẫn tới tình trạng coi sản xuất hàng hóa là sản phẩm của nền kinh tế TBCN, tìm mọi cách xóa bỏ nó Bên cạnh ñó chúng ta không quan tâm ñến

lưu thông hàng hóa như hiện tượng "ngăn sông, cấm chợ", "cát cứ"v.v

Trang 29

Trong một thời gian dài nhiều chính sách của chúng ta ñã làm hạn chế, thủ tiêu ñộng lực sản xuất hàng hóa như vậy việc ñịnh giá không ñúng kéo dài ở nhiều mặt hàng làm cho giá cả không phản ánh ñúng giá trị và các ñiều kiện hao phí lao ñộng xã hội, quan hệ cung cầu, quan hệ hàng - tiền Chính vì thế trong suốt thời gian này, mọi sản phẩm sản xuất ra ñều tập trung vào tay Nhà nước, do Nhà nước cấp Với

cơ chế "giao nộp, cấp phát" này ñã làm mất tính năng ñộng, sáng tạo, tính tự chủ của

các cơ sở sản xuất kinh doanh, làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội, gây nhiều tác hịa cho nền kinh tế: kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, hạn chế việc ứng dụng ác thành tựu khoa học và công nghệ mới vào sản xuất, không thúc ñẩy việc tăng năng suất lao ñộng, sáng kiến cải tiến kỹ thuật dẫn ñến nền kinh tế rơi voan tình trạng gò bó, cứng nahức, không linh hoạt và cuối cùng ñã lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế trong nhiều năm liền

Tình trạng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nguyên nhân khách quan chủ yếu là sản xuất nhỏ, thuần nông, phân tán, manh mún, lao ñộng cơ bản là thủ công, lại bị ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh Nhưng về nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân quan trọng vẫn là do tư tưởng chủ quan, nóng vội, nhận thức ñơn giản về CNXH

Xuất phát từ thưc tiễn ấy Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng ta ( tháng 12/1986) ñã ñề ra ñường lối ñổi mới trên các lĩnh vực của ñời sống kinh tế - xã hội, coi ñổi mới là yêu cầu bức thiết, có ý nghĩa sống còn của cách mạng XHCN nước ta Đại hội lần này ñánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp lãnh ñạo xây dựng CNXH của Đảng ta Đại hội ñã ñề ra chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp,

sử dụng ñúng ñắn quan hệ hàng - tiền, coi ñó là giải pháp có ý nghĩa chiến lược góp phần giải phóng và khai thác mọi tiềm năng ñể phát triển lực lượng sản xuất Đây là bước ñổi mới quan trọng trong tư duy kinh tế của Đảng ta

Quan ñiểm Đại hội VI của Đảng ta ñã ñược Hội nghị ban chấp hành TW lần thứ VI (thảng 3/1989) cụ thể hóa: Thực hiện chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, ñổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển nhanh các ñơn vị sang hạch toán kinh doanh theo quan ñiểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần ñi lên CNXH

Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 /1991) Đảng ta khẳng ñịnh ñường lối phát triển kinh tế nước ta do Đại hội VI ñề ra là ñúng ñắn và cụ thể thêm

một bước, "phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là hoàn toàn cần thiết ñể giải phóng và phát huy ñược các tiềm năng sản xuất trong xã hội" Sự khẳng ñịnh về ñường lối kinh tế này là

hết sức quan trọng, nó thể hiện sự ñổi mới mạnh mẽ về tư duy kinh tế của Đảng ta trong giai ñoạn mới của ñất nước Đây là một chủ trương ñúng, phù hợp với ñặc ñiểm nền kinh tế nước ta và xu thế của thopừi ñại ngày nay Chủ trương này không phải là bước lùi về chiến lược, cũng không phải là sách lược tạm thời, càng không phải là sự

từ bỏ con ñường XHCN, mà ñó là chiến lược mới của công cuộc xây dựng CNXH mang tính tất yếu từ yêu cầu giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện quyền tự do, làm ăn sinh sống hợp pháp của ñông ñảo quần chúng vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trang 30

Đại hội Đại biểu tồn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996) Đảng ta lại tiếp tục khẳng định đường lối phát triển kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hĩa, hiện

đại háo đất nước, "xây dựng nền kinh tế hàng hĩa nhiều thành phần vận hành theo cơ

chế thị trường phải đi đơi với tăng cường vai trị quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN"

Đến Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ IX (tháng 4/ 2001) của Đảng ta diễn ra trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt (kết thúc kỷ nguyên cũ, bước sang kỷ nguyên mới), đại hội của trí tuệ, đổi mới, dân chủ và đồn kết Đại hội này một lần nữa xác

định: "Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách

phát triển nền kinh tế hàng hĩa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường cĩ

sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, đĩ chính là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN"

Đường lối phát triển kinh tế hàng hĩa nhiều thành phần mà Đảng đã được nhân dân hưởng ứng rộng rãi, nĩ đã nhanh chĩng đi vào cuộc sống, đã khơi dậy được nhiều tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất, dịch vụ, tạo nhiều sản phẩm cĩ chất lượng cho xã hội, thu hút việc làm đối với người lao động, làm cho nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển năng động hơn trên cả thị trường trong nước và thị trường thế giới

Bên cạnh những thuận lợi và thời cơ mới, những thành tựu đã đạt được trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hĩa nhiều thành phần, từ cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, chúng ta phải đương đầu với những thách thức lớn, những khĩ khăn và hạn chế nhất định Đĩ àl nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so vĩi các nước đặc biệt là các nước trong khu vực;

tệ lừa đảo, hối lộ, làm hàng giả, buơn lậu, trốn thuế, tham nhũng, xâm phạm nghiêm trọng tài sản XHCN và của cơng dân; nợ nần dây dưa, chiếm dụng vốn lẫn nhau nhiều trường hợp khơng cĩ khả năng thanh tốn Xu hướng chạy theo buơn bán nhiều hơn sản xuất, thươn mại hĩa tràn lan; kỷ cương và pháp luật khơng nghiêm, cơng bằng xã hội cịn nhiều vấn đề bức xúc; cộng thêm vào đĩ là những biến động phức tạp của tình hình thế giới cùng những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch ngày càng gây thêm những khĩ khăn mới cho sự phát triển đất nước

Kết quả đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với những thành tựu và hạn chế trên thể hiện ở những mức độ khác nhau trong các thành phần kinh tế, song chúng ta phải khẳng định rằng: phát triển nền kinh tế hàng hĩa nhiều thành phần khơng những chỉ phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế ở nước ta mà đĩ cịn là sự phù hợp với quy luật khách quan và xu thế phát triển kinh tế của thời đại Vấn đề là chúng ta cần phải nhận thức đầy đủ bản chất, vai trị, tác động của mỗi loại hình sản xuất hàng hĩa trong thời kỳ quá độ để cĩ định hướng đúng vừa đảm bảo mơi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát huy tác động trong sản xuất, dịch vụ, đồng thời vừa đảm bảo tính định hướng XHCN, khắc phục được những mặt hạn chế và tính tự phát của mỗi loại hình sản xuất hàng hĩa trong cơ chế thị trường, làm cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh chĩng, sớm thốt ra khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu và từng bước hịa mình vào nền kinh tế năng động của thế giới Tất nhiên do bản chất lợi ích của mỗi thành phần kinh tế, mỗi lạo hình sở hữu và sản xuất hàng hĩa khác nhau, cho nên Đảng và Nhà nước phải cĩ chính sách, biện pháp xử lý khác nhau, nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế đi đến xĩa bỏ căn bản mặt tiêu cực của nĩ Đúng như nguyên lý

Trang 31

của chủ nghĩa Mác - Lê nin: mỗi loại hình sản xuất hàng hóa tồn tại có vai trò, vị trí

và tác dụng nhất ñịnh, chúng vận ñộng theo quy luật vốn có của nó, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, ñan xen với nhau, trong ñó loại hình sản xuất hàng hóa XHCN giữ vai trò chủ ñạo, chi phối

Đánh gái một cách nghiêm túc nhất, khái quát nhất thì tất cả những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ñược ban hành từ Đại hội VI cho ñến nay

ñã mở ra một giai ñoạn mới, một bước ngoặt quan trọng ñưa toàn bộ ñời sống kinh tế nước ta vào môi trường khác hẳn trước - môi trường hợp tác và cạnh tranh, làm cho nền kinh tế càng sống ñộng hơn ñã và ñang tạo ra thế và lực mới, cả ở bên trong và bên ngoài ñể chúng ta thật sự bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ ñầy tới một bước CNH, HĐH ñất nước, quan hệ với các nước không ngừng ñược mở rộng, khả năng giữ ñộc lập tự chủ và hội nhập với cộng ñồng thế giới tăng thêm

Từ nhận thức và chỉ ñạo hoạt ñộng thực tiễn nêu trên, chúng ta có thể kết luận rằng: ñẩy mạnh sản xuất hàng hóa là vấn ñề có ý nghĩa, vai trò quyết ñịnh nhằm xóa

bỏ dần nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp, Thúc ñẩy phân công lao ñộng xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướn CNH, HĐH tạo ra nhiều sản phẩm ñáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, phục vụ xuất khẩu và nâng cao ñời sống của nhân dân Đẩy mạnh sản xuất hàng hóa không chỉ là mục tiêu trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài, là ñộng lực ñể phát triển và giải phóng lực lượng sản xuất, khai thác tốt các tiềm năng nguồn lực xã hội chi cho mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Đẩy mạnh sản xuất hàng hóa ngoài việc tạo ñiều kiện cho sự ra ñời, phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và ñời sống, nó còn thúc ñẩy giao lưu văn hóa giữa các vùng, giữa các quốc gia, làm tăng nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu thị hiếu thẩm mỹ, văn học, nghệ thuật, xuất hiện văn minh trong kinh doanh, mua bán, quảng bá, giao tiếp , giáo dục, ñào tạo theo ñó cũng phát triển; kiến thức, trình

ñộ và khả năng của từng cá nhân ñược phát huy cao ñộ, tạo ra một lực lượng lao ñộng với chất lượng cao, ngày càng làm chủ ñược bản thân, xã hội và tự nhiên

2 Kinh tế hàng hóa ñối với sự phát triển nông thôn miền núi tỉnh Quảng Nam

Cũng như trong phạm vi cả nước, tỉnh Quảng Nam luôn xác ñịnh: phát triển kinh tế hàng hóa là nhu cầu tất yếu, là nhân tố quyết ñịnh ñến tốc ñộ tăng trưởng kinh

tế và giải quyết những vấn ñề bức xúc của xã hội; ñồng thời coi vùng miền núi, nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số là ñịa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, kinh

tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của tỉnh, là một bộ phận cùng với ñồng bằng, trung

du, vùng cát, ven biển tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh trên mọi phương diện cho sự phát triển

Vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam gồm 4 huyện vùng cao: Hiên, Nam Giang, Phước Sơn, Trà My Hai huyện miền núi: Tiên Phước, Hiệp Đức Toàn tỉnh có 109/ 217 xã ñược Chính phủ công nhận là miền núi, trong ñó có

55 xã thuộc khu vực III; 60 xã nằm trong diện ñặc biệt khó khăn Tỷ lệ ñói nghèo hơn

385 ngàn người, trong ñó ñồng bào dân tộc thiểu số có 9,4 vạn chiếm khoảng 7,2% dân số toàn tỉnh Diện tích tự nhiên toàn vùng cao, miền núi chiếm 82,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh

Trang 32

Do kiến tạo ñịa hình cao từ Đông sang tây, ñộ dốc lớn, núi non hiểm trở, dạng ñất bằng ít, phân tán, manh mún, thung lung hẹp ñã tạo nên ñặc thù tự nhiên khó khăn, tác ñộng ñến sản xuất và ñời sống

Vùng miền núi tỉnh Quảng Nam nói chung, vùng dân tộc thiểu số nói riêng có tiềm năng lớn nhưng chưa ñược sử dụng, khai thác bao nhiêu Đất lâm nghiệp chiếm 62,09% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong ñó có ñất rừng chiếm 54,66% diện tích ñất lâm nghiệp Tài nguyên rừng và ñất rừng phong phú, ña dạng Tổng diện tích ñất lâm nghiệp 647.362 ha, trong ñó ñất có rừng 353.887 ha Ngoài ra còn có các loại lâm sản phụ như song mây, nhiều loại ñộng vật, thực vật quý hiếm (nhất là cây dược liệu) Trữ lượng gỗ trên 40 triệu m3, ñộ che phủ 6 huyện vùng cao, miền núi 48,6% Tài nguyên rừng và ñất rừng hiện có là ñiều kiện thuận lợi ñể người dân tại chỗ phát triển nghề rừng, cây ñặc sản như: quế, dược liệu, Ngọc Linh, các loại cây nông - lâm nghiệp ngắn, dài ngày khác

Thấy ñược vai trò, vị trí, ñặc ñiểm của vùng này, lãnh ñạo của tỉnh, cũng như lãnh ñạo các huyện miền núi ở Quảng Nam ñã có chủ trương, ñề án và giải pháp cụ thể ñể phát triển kinh tế hàng hóa ñẩy nhanh tốc ñộ phát triển kinh tế - xã hội, cũng

cố quốc phòng - an ninh chằm rút ngắn khoảng cách chênh lệnh do ñiều kiện tự nhiên và lịch sử ñể lại

Kết quả chủ trương, ñề án và giải pháp ñó ñã làm cho sản xuất hàng hóa nông, lâm nghiệp có bước phát triển ñáng kể; diện tích khai hoang làm lúa nước ñược mở rộng; năng suất sản lượng cây lương thực tăng lên Bình quân lương thực ñầu người

từ 163 kg (1997) tăng lên 193 kg (2001) Các công trình thủy lợi nhỏ ñược quan tâm xây dựng, giải quyết, nước tưới gần 30% diện tích canh thiện có Chăn nuôi phát triển, ñàn gia súc, gia cầm tăng lên từ 15% lên 20% Diện tích trồng quế ñược mở rộng, hàng năm trồng mới từ 300 - 400 ha Rừng và tài nguyên rừng dần dần ñược phục hồi Công tác quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng thực hiện tích cực và ngày một tốt hơn Đời sống vật chất văn hóa của nhân dân trong vùng từng bước ñược nâng lên, ñược cải thiện Bộ mặt xã hội ngày càng ñược thay ñổi theo chiều hướng tích cực

Tuy nhiên, thực trạng sản xuất nông - lâm nghiệp vùng ñồng bào dân tộc thiểu

số miền núi vẫn còn nhiều khó khăn: phần lớn trồng trọt vẫn còn ñộc canh cây lúa rẫy, diện tích lúa nước còn ít, manh mún, phân tán; kỹ thuật canh tác còn nhiều hạn chế, cán bộ khuyến nông, khuyến lâm ở xã còn yếu và thiếu, chăn nuôi phần lớn còn

ở dạng chăn thả tự nhiên, không quản lý ñược dịch bệnh Công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng chưa tốt Sự gắn bó giữa ñồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với rừng, ñất rừng chưa ñược giải quyết tốt, chưa thật sự coi ñó là nhu cầu tất yếu cho sự phát triển bền vững về mọi mặt ñối với ñịa phương

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở miền núi phát triển còn chậm, một số ngành nghề truyền thống của ñồng bào Xu Đăng, Giẻ Triêng, Cor hầu như không còn; nghề ñan lát mây tre, rèn bị mai một; hoạt ñộng thương mại, dịch

vụ chuyên nghiệp cả ñồng bào thiểu số chưa hình thành

Cơ sở hạ tầng trọng yếu như: giao thông, thủy lợi nhỏ, ñiện thắp sáng, trường học, trạm xá, nước sinh hoạt và các công trình phúc lợi khác ñã ñược ưu tiên ñầu tư xây dựng, bước ñầu ñã phát huy tác dụng tích cực ñến sự phát triển của ñịa phương,

Trang 33

nhưng so với yêu cầu, chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế, chưa cao; một số tập quán cũ, lạc hậu có hại ñến sản xuất, ñời sống vẫn còn tồn tại

Có thể khẳng ñịnh rằng trong mấy năm vừa qua, ñặc biệt là thời gian gần ñây Đảng và Nhà nước ta nói chung, lãnh ñạo ở Quảng Nam nói riêng, từ tỉnh ñến huyện hết sức quan tâm ñầu tư cho vùng núi, vùng ñồng bào dân tộc thiểu số, kể cả vật chất lẫn tinh thần, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, thúc ñẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, tạo sự chuyển biến thật sự

về kinh tế - xã hội cho vùng này Kết quả của sự quan tâm ñó ñã ñem lại những thành quả bước ñầu hết sức quan trọng trong việc phát triển sản xuất hàng hóa và nâng cao ñời sống của nhân dân: lực lượng sản xuất có bước phát triển ñáng kể; cơ sở vật chất

- kỹ thuật ngày ñược tăng cường; nhận thức về vai trò sản xuất hàng hóa và tỉnh phấn ñấu vươn lên bằng nguồn lực tại chỗ của ñịa phương, ñúng ñắn hơn, cao hơn; ñời sống của nhân dân từng bước ñược cải thiện; bộ mặt xã hội nông thôn miền núi ñã có bước biến ñổi tích cực trình ñộ chênh lệnh và khoảng cách về kinh tế - xã hội do ñiều kiện tự nhiên lịch sử ñể lại dần dần ñược khắc phục

Bên cạnh ñó phải thấy thực tế là kinh tế - xã hội vùng ñồng bào dân tộc thiểu

số miền núi vẫn còn gặp không ít khó khăn, thử thách, vướng mắc: sản xuất hàng hóa nói chung và sản xuất hàng hóa lương thực nói riêng chưa ñảm bảo giải quyết nhu cầu tại chỗ; rừng và tài nguyên rừng vẫn bị tàn phá chưa có giải pháp hữu hiệu ñể người dân phát triển nghề rừng; cơ sở hạ tầng chưa ñồng bộ, chưa ñáp ứng ñược yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhu cầu phát triển sản xuất, nâng cao ñời sống của nhân dân, khôi phục và phát những giá trị văn hóa truyền thống của dân tôc; ñội ngũ cán bộ chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ mới ñặt ra và tính tự lực vươn lên ñể giải quyết những khó khăn của bản thân và của ñịa phương vẫn còn hạn chế Để phát huy những thành quả ñã ñạt ñược và khắc phục những hạn chế, khó khăn nêu trên, tạo ñiều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội vùng này trong tương lai, trong thời gian trước mắt lãnh ñạo ñịa phương có thể tập trung vào mấy quan ñiểm sau ñây:

- Quán triệt và thực hiện tốt nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ IX của Đảng, nghị quyết lần thứ XVIII của Đảng bộ tỉnh, nghị quyết hội nghị lần thứ V của BCH

TW Đảng khóa IX về ñẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệpnông thôn miền núi của Đảng, Chính phủ, với sự quan ñiểm: "Đoàn kết - bình ñẳng - tương trợ - giúp ñỡ nhau cùng phát triển"

- Coi trọng và tập trung cho mục tiêu phát triển toàn diện con người tại chỗ, kết hợp khai thác thế mạnh tại chỗ với sự tranh thủ sự giúp ñỡ nhiều mặt của Trung ương, của các ngành, các cấp, các ñịa phương

- Giải quyết tốt mối quan hệ rừng, ñất rừng với chủ thể sinh sống tại chỗ, ñồng thời ñẩy mạnh ñầu tư, hỗ trợ, giúp ñỡ ñồng bào dân tộc thiểu số chuyển dịch mạnh, rõ nét cơ cấu sản xuất cây trồng, vật nuôi theo hướng kinh tế hàng hóa phù hợp với ñiều kiện tự nhiên, khả năng lao ñộng, vốn ñầu tư, thị trường tiêu thụ

- Tăng cường và ñầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ cho sản xuất và ñời sống vùng ñồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, ñặc biệt là hệ thống giao thông nông thôn và thị trường tiêu thụ sản phẩm

Trang 34

- Cũng cố hệ thống chính trị cơ sở, ñẩy mạnh công tác vận ñộng quần chúng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, ñề phòng và xử lý kịp thời, có hiệu quả những tình huống xấu có thể xảy ra do kẻ ñịch lợi dụng chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng, phá hoại chúng ta

Tóm lại, việc ñẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng trong giai ñoạn cách mạng hiện nay là hết sức cần thiết, phù hợp với quy luật Nó ñảm bảo cho ñất nước, cho ñịa phương tận dùng phát huy mọi khả năng hiện có nhằm giải phóng năng lực sản xuất, thúc ñẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn ñề bức xúc của xã hội Đối với tỉnh Quảng Nam nói chung và các huyện miền núi nói riêng ñiều ñó càng quan trọng hơn bao giờ hết Vì vậy, cần xóa bỏ những ñịnh kiến không ñúng và phân biệt ñối xử không bình ñẳng với các thành phần kinh tế, với các loại hình sản xuất hàng hóa, tạo ñiều kiện thuận lợi hơn nữa cho vùng này phát triển nhanh trong tương lai

THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NAM

Ths Đặng Văn Chu

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung, kinh tế hàng hóa nói riêng ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam (Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Phước Sơn, Nam Giang, Hiên), từ khi thống nhất tổ quốc năm 1975 ñến nay, luôn gắn với những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong từng thời kỳ khác nhau Để tiện cho việc phân tích chúng tôi tạm chia thành các giai ñoạn như sau:

- Giai ñoạn I: từ 30 / 4/ 1975 ñến trước ñại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, là

thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu, bao cấp

- Giai ñoạn II: Từ Đại hội VI ñến nay, là thời kỳ chuyển dần sang nền kinh tế

hàng hóa nhiều thành phần theo ñịnh hướng XHCN

Tuy nhiên bài viết chỉ tập trung trong giai ñoạn thứ II, nhất là từ năm 1997

ñến nay (thời kỳ tái lập tỉnh Quảng Nam), sản xuất hàng hóa ở miền núi nên chỉ ñi

vào phân tích lĩnh vực nông - lâm nghiệp

I GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG CƠ CHẾ KẾ HOẠCH

HÓA TẬP TRUNG QUAN LIÊU, BAO CẤP

1 Khôi phục kinh tế sau chiến tranh

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ñất nước thống nhất (30/4/1975) Nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng nói chung, các huyện miền núi nói riêng, bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, ổn ñịnh ñời sống nhân dân (1975 - 1977) trong ñiều kiện gặp khó khăn, thiếu thốn

Sau chiến tranh ñất nước thống nhất, dưới sự lãnh ñạo của Đảng, sự quản lý của chính quyền ñịa phương nhân dân vô cùng phấn khởi, hăng hái thi ñua sản xuất với phong trào khai hoang, phục hóa sôi nổi khắp vùng nhờ ñó mà diện tích sản xuất ñược mở rộng, sản lượng tăng nhanh, trong một thời kỳ ngắn ñời sống nhân dân ñược

ổn ñịnh và từng bước ñược cải thiện

Trang 35

Sau chiến tranh cơ sở vật chất bị tàn phá nặng nề công cụ sản xuất chủ yếu là thủ công, ñể phát triển sản xuất, Đảng chủ trương tiến hành các hình thức hiệp tác lao ñộng giản ñơn, hình thành những tổ chức sản xuất mới như "tổ vần công, ñổi công", "tổ hợp tác sản xuất" Sản phẩm làm ra ñảm bảo ñời sống gia ñình, chỉ trích một phần như nộp thuế cho Nhà nước

Nhờ có chủ trương chính sách ñúng ñắn và kịp thời, nên kinh tế trong giai ñoạn này tăng trưởng với tốc ñộ cao, chủ yếu là sản phẩm của ngành trồng trọt: thóc, ngô, khoai, sắn , và chăn nuôi: trâu, bò, lợn, gà Sản phẩm dư thừa, trao ñổi mở rộng, bộ mặt kinh tế - xã hội thay ñổi nhanh, nhân dân vô cùng phấn khởi, càng hăng hái tăng gia sản xuất

2 Đẩy nhanh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới trong nông thôn (1977 - 1979)

Đất nước thống nhất cả nước ñi lên CNXH, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp ñược triển khai trong cả nước Những năm 1978 - 1979, Quảng Nam - Đà Nẵng ñã cơ bản hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN Ở các huyện miền núi của tỉnh trong thời kỳ này ñã vận ñộng 95% nông dân và trên 90% diện tích ñất canh tác ñược ñưa vào hợp tác xã

Với cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, thực chất là xóa bỏ ñiều kiện và tiền ñề của việc hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa Cơ chế này ñã kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế: sản xuất ñình ñốn, năng suất thấp, ñời sống nhân dân vô cùng khó khăn, cộng thêm việc “ngăn sông, cấm chợ”, lập nên các trạm kiểm soát khắp nơi, cảnh “ñói cơm, lạt muối” càng lan rộng

Trong nông nghiệp với chủ trương “tự cấp, tự túc lương thực bằng mọi giá”,

“tự cân ñối lương thực trong từng ñịa phương” Các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam càng ra sức khai hoang tăng diện tích gieo trồng lương thực, tỉnh ñã ñiều ñộng cả lao ñộng miền xuôi, công nhân viên chức lên khai hoang phát triển kinh tế, mà chủ yếu là trồng khoai, trồng sắn Điều ñó ñồng nghĩa với việc chặt phá rừng, làm cho diện tích rừng bị giảm, ñây là nguyên nhân sâu xa làm cho rừng ñầu nguồn bị tàn phá nặng nề

Việc hình thành các hình thức kinh tế hợp tác xã (tập trung tư liệu sản xuất, sức lao ñộng vào làm chung, phân phối theo công ñiểm) Đối với các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, hình thức hợp tác xã trong giai ñoạn này là không phù hợp với tính chất

và trình ñộ của lực lượng sản xuất

Trong thời kỳ này, kinh tế cá thể, tư nhân không ñược thừa nhận, ngăn cấm việc trao ñổi giao lưu hàng hóa, triệt tiêu ñộng lực của nền sản xuất hàng hóa Tất cả những vấn ñề trên làm vi phạm lợi ích của người lao ñộng, nên năng suất lao ñộng, sản lượng (lúa, ngô, khoai, sắn ) giảm dần, thu nhập giảm sút, ñời sống nhân dân vô cùng khó khăn, ñất ñai bị bỏ hoang hóa, nợ nần chồng chất, nạn ñói lan rộng, hợp tác

xã ñứng trước nguy cơ tan rã

II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NAM

1 Chuyển dần nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa trong lĩnh vực nông nghiệp

Trang 36

Trước sự bế tắc của phong trào hợp tác hóa trong nông nghiệp, ñã làm cho hệ thống hợp tác xã tan rã ñã làm cho hệ thống hợp tác xã Chỉ thị 100 của Ban bí thư (tháng 1/1981) ra ñời ñã cứu nguy cho phong trào hợp tác hóa, chỉ thị về khoán sản phẩm trong nông nghiệp: người lao ñộng chịu trách nhiệm 3 khâu (cấy, chăm sóc, thu hoạch) còn hợp tác xã chịu trách nhiệm 5 khâu (làm ñất, tưới tiêu, giống, phân bón, phòng trừ sâu bệnh) Sản phẩm dư thừa ñược tự do trao ñổi mua bán trên thị trường Đây là tiền ñề quan trọng thúc ñẩy hàng hóa phát triển Nông dân phấn khởi hăng hái ñầu tư với hy vộng vượt khoán, một chính sách phù hợp lòng dân lúc bấy giờ

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, thừa nhận nền kinh tế nước ta

là nền kinh tế nhiều thành phần, nhưng vẫn xác ñịnh ở nước ta có hai loại thị trường:

là thị trường có tổ chức và thị trường tự do còn tồn tại song song với cơ chế hai giá của sản phẩm hàng hóa mà chủ yếu là do Nhà nước quản lý

Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (4/1988), về hoàn thiện cơ chế khoán trong nông nghiệp, ñất ñai ñược quyền sử dụng lâu dài cho người lao ñộng, hộ nông dân là ñơn vị kinh tế tự chủ

Những chủ trương chính sách của ñúng ñắn trên ñây ñã tạo ñiều kiện xuất hiện các nhân tố của nền kinh tế hàng hóa Ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, từ nền kinh tế tự cấp, tự túc, dựa vào tự nhiên là chính chuyển dần sang sản xuất hàng hóa, trong nông nghiệp cả diện tích, năng suất, sản lượng ñều tăng, sản phẩm dưa thừa ngày càng nhiều, phạm vi trao ñổi ñược mở rộng, trong sản xuất nông nghiệp, dịch vụ "ñầu vào", "ñầu ra" ñược quan tâm hơn trước

2 Sự hình thành và từng bước phát triển nền kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, từ sau nghị quyết 10 BCT - ñặc biệt là từ khi chia tách tỉnh năm 1997 ñến nay

Đây là giai ñoạn ñánh dấu bước ngoặt của nền kinh tế nước ta nói chung, tỉnh Quảng Nam và các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam nói riêng Bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường Bước chuyển quan trọng ñược thể hiện từ Hội nghị BCH TW lần thứ VI (khóa VI) tháng 3/1989, tại Hội nghị Đảng ta chủ trương: xóa bỏ cơ chế hai giá, cả nước là một thị trường thống nhất, có nhiều lực lượng thuộc các thành phần kinh tế tham gia, thực hiện cơ chế thỏa thuận, giá kinh doanh Tại các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII,

IX Đảng ta ñều khẳng ñịnh: thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận ñộng theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo ñịnh hướng XHCN

Để thực hiện chủ trương, ñường lối của Đảng, Nhà nước ñã ban hành nhiều chính sách cụ thể tạo ñiều kiện cho kinh tế hàng hóa phát triển, trong ñó có các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam Ở các huyện này tác ñộng của chính sách tài chính, thuế giữ vai trò quan trọn thúc ñẩy sản xuất hàng hóa phát triển

Qua thực hiện chính sách ñiều tiết ngân sách, trơh cấp ngân sách của trung ương, tỉnh cho các huyện miền núi ưu ñãi về thuế lợi tức cho các tổ chức, các doanh nghiệp, các cá nhân kinh doanh ở miền núi; ñầu tư vốn thực hiện các chương trình mục tiêu: y tế, giáo dục, trồng rừng, chính sách trợ cước, trợ giá cho miền núi,

Trang 37

chương trình 135 v.v thể hiện vai trò ñiều tiết vi mô của Nhà nước ñể phát triển kinh tế, nâng cao ñời sống nhân dân

Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước từ trung ương ñến tỉnh, cùng với sự nổ lực của ñồng bào các dân tộc miền núi tỉnh Quảng Nam ñã làm cho kinh tế hàng hóa có bước tăng trưởng ñáng khích lệ

Nông nghiệp trong giai ñoạn này tăng trưởng khá cả trồng trọt và chăn nuôi Trồng trọt ñã phát triển cây lương thực (ñặc biệt là lúa nước), cây thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày

- Ở huyện Trà My, sản xuất nông, lâm nghiệp gắn liền với ñịnh canh ñịnh cư

ñã có bước phát triển mới, diện tích lúa nước ñược mở rộng, tổng diện tích khai hoang làm ruộng nước (1996 - 2000) ñạt trên 100 ha Sản lượng lương thực quy thóc ñạt bình quân mỗi năm 13.800 tấn, trong ñó thóc chiếm tỷ trọng trên 52%

- Huyện Tiên Phước, sản xuất nông, lâm ñạt kết quả khá, giá trị bình quần hàng năm tăng 3,5%; Cơ cấu cây trồng, con vật nuôi, cơ cấu mùa vụ có bước chuyển biến tích cực; cây tiêu, cây quê chiếm vị trí chủ lực trong cơ cấu cây trồng Huyện Hiệp Đức sản lượng lương thực có hạt năm 1996 mới ñạt 6378 tấn thì năm 2001 ñã ñạt 9081 tấn

Về chăn nuôi: Đều có bước tăng trưởng cao, như ở Trà My chăn tiếp tục phát triển, nhất là chương trình sind hóa ñàn bò ñược triển khai trên diện rộng So với năm

1996 thì năm 2000 tổng ñàn trâu tăng 16,5%, ñàn bò tăng 49%, ñàn heo tăng 17% và gia cầm tăng 34% Huyện Tiên Phước chăn nuôi ñại gia súc ñược xác ñịnh là thế mạnh của huyện nên ñược huyện quan tâm và chỉ ñạo chặt chẽ Nhờ vậy tổng ñàn gia súc trong 5 năm (1996 - 2000) ñạt 67.000 con Chỉ tính riêng trong năm 1999 sản lượng thịt bán ra thị trường là 1730 tấn, trong ñó thịt bò 640 tấn, thịt heo 1090 tấn; các loại gia cầm ñược phát triển mạnh như vịt ñàn, gà Tam Hoàng

Về lâm nghiệp: các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam ñều quan tâm ñến việc chăm sóc, bảo vệ, trồng rừng và phát triển rừng ñể tăng tỷ lệ che phủ ngày càng cao

Ở Trà My, trong mấy năm gần ñây ñã ñầu tư ñúng mức nên ñã ñạt ñược những kết quả nhất ñịnh, mô hình canh tác trên ñất dốc ñã cho kinh nghiệm hay ñể nhân rộng Tổng ñầu tư phát triển lâm nghiệp trong 5 năm qua (1996 - 2000) là 8.100 triệu ñồng, chủ yếu là bảo vệ và chăm sóc rừng; trồng mới mỗi năm ñạt 324 ha rừng tập trung, ñã giao khoán khoanh nuôi quản lý, bảo vệ 6642 ha / 72.242 ha rừng tự nhiên Ở Tiên Phước trong 5 năm ñã trồng mới 1.699 ha, nâng ñộ che phủ từ 39% năm 1996 lên 43% năm 2000

Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở tất cả các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, nhiều cơ sở mới ra ñời, tuy quy mô nhỏ và chủ yếu là ở từng hộ gia ñình, nhưng ñã từng bước thích nghi với cơ chế thị trường, sản xuất kinh doanh có hiệu quả như: nông cụ, gia công chế biến lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, sửa chữa ñiện dân dụng, hàng mộc Giá trị hàng năm tăng bình quân 11%

Mạng lưới thương mại dịch vụ ñược mở rộng, nhiều hình thức dịch vụ sản xuất, dịch vụ thương mại, sửa chữa xe máy, các hợp tác xã ô tô vận tải hàng hóa, vận tải khách ñã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các huyện miền núi, từ

Trang 38

chỗ là các huyện thuần nông nay cơ cấu kinh tế của các huyện miền núi ñều xác ñịnh: nông, lâm - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ và trong vài năm gần ñây tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP có xu hướng giảm dần, tỷ trọng ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ dần tăng lên

Bước tiến của huyện miền núi tỉnh Quảng Nam là sự chuyển mình quan trọng

từ kinh tế tự tuc, tự cấp lên kinh tế hàng hóa Chúng ta nên nhớ rằng năm 1997, khi tách tỉnh khỏi Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Nam là tỉnh nghèo Số hộ thiếu ñói ñói tính ñến thời ñiểm này khoảng 40% Đối với 6 huyện miền núi tỷ lệ thiếu ñói còn cao hơn Nông dân thiếu lương thực từ 3 - 4 tháng trong năm, ñó là chưa kể các xã vùng sâu, vàng xa thường xuyên thiếu ñói 6 tháng / năm

Từ khi tái lập tỉnh ñến nay, ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, diện tích lúa nước tăng khá, năm 1997 các huyện vùng cao chỉ có 1.200 ha ñến nay ñã có 2.020

ha diện tích canh tác Hầu hết các xã vùng cao ñều có ruộng lúa nước làm hai vụ, ñồng bào ñã thay ñổi một bước về tập quán canh tác, ứng dụng ñược một số tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất như ñưa giống mới, dùng phân bón, các biện pháp chăm sóc Thực tế này cho thấy rằng ở vùng cao tỉnh Quảng Nam làng nào có ruộng lúa nước thì làng ñó cơ bản giải quyết ñược vấn ñề lương thực tại chỗ và ổn ñịnh ñịnh canh ñịnh cư

Đi ñôi với việc phát triển cây lúa nước ở vùng cao, một số giống cây trồng vật nuôi như cây quế (trừ Tiên Phước, Trà My ñã có từ lâu ñời), cây dó, bò lai sind, gà Tam Hoàng cũng ñược ñưa vào cơ cấu cây trồng, vật nuôi Một số mô hình sản xuất trên ñất dốc bước ñầu có hiệu qủa như ở huyện Hiên, Trà My, Nam Giang Đặc biệt

mô hình kinh tế VAC, VACR, kinh tế trang trại ñã khẳng ñịnh xu thế phát triển kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp - sản xuất hàng hóa lớn phải bắt ñầu bằng kinh tế trang trại

Ở miền núi tỉnh Quảng Nam, những năm gần ñây kinh tế trang trại mới khởi sắc, nhưng ñã giải quyết ñược nhiều lao ñộng tại chỗ, góp phần xóa ñói giảm nghèo, tăng thêm thu nhập cho nhiều gia ñình Ở các huyện Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Phước Sơn, có nhiều hộ ñã ñầu tư hàng trăm triệu ñồng ñể phát triển kinh tế trang trại Điển hình là huyện Hiệp Đức, năm 2001 và 2002 huyện ñã hỗ trợ cho bà con gần 100.000 bầu tiêu giống, 2000 cây dó bầu, với tổng số tiền mỗi năm 280 triệu ñồng, ñó

là chưa kể 50.000 cây keo lá tràm ñể chắn ggió cho các vườn quế, tiêu Theo số liệu khảo sát của phòng nông nghiệp huyện (tháng 12/2001) toàn huyện Hiệp Đức có 809

ha diện tích vườn nhà, bình quân khoảng 1.000 m2/ hộ, ñã cải tạo 3.436 vườn trong tổng số 8.085 vườn (trong ñó có 2.500 vườn thu từ 8 - 10 triệu ñồng / năm)

Dù ngân sách của ñịa phương còn hạn hẹp, nhưng năm nào Huyện Hiệp Đức cũng dành một khoản kinh phí nhất ñịnh ñể hỗ trợ cho kinh tế vườn, kinh tế trang trại Sau khi có NĐ 02, NĐ 163 của Chính phủ, nhiều hộ ñã mạnh dạn ñầu tư vốn, xây dựng các trang trại quy mô lớn Theo tiêu chí mới, hiện trên ñịa bàn Hiệp Đức có

30 trang trại, tổng diện tích 60 triệu ñồng / năm

Bên cạnh những kết quả ñạt ñược, phải thừa nhận rằng lưu thông hàng hóa, kinh tế trang trại ở miền núi tỉnh Quảng Nam chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh vốn có Hiệu quả mang lại từ kinh tế vườn, kinh tế trang trại còn nhiều vướng mắc, thường bị ñộng trong khâu sản xuất tiêu thụ sản phẩm Cần quy hoạch hợp lý

Trang 39

kinh tế trang trại, vốn ñầu tư cho từng dự án phù hợp với yêu cầu của thị trường, lồng ghép các chương trình mục tiêu thống nhất không chồng chéo lên nhau, hướng dẫn nhân dân ñầu tư ñể phát triển kinh tế trang trại, vì ñây là hình thức chủ yếu ñể phát triển kinh tế hàng hóa ở miền núi

Như vậy, từ khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Các hộ nông dân nông nghiệp tỉnh Quảng Nam ñược giao ñất, giao rừng, ñược sử dụng ruộng ñất lâu dài, hộ là ñơn vị kinh tế tự chủ Các chính sách ñó ñã tao ñộng lực thúc ñẩy mạnh mẽ kinh tế xã hội phát triển Từ ñó làm xuất hiện mô hình kinh tế mới là liên doanh liên kết giữa vài hộ gia ñình cùng hùn vốn và sức lao ñộng ñể kinh doanh một loại sản phẩm nào ñó hoặc mua sắm máy móc làm dịch vụ cày bừa, xay xát, bơm nước, vận chuyển, cung ứng phân bón, thuốc trừ sâu, cung ứng cây giống, con vật nuôi Thực chất ñó là mô hình hợp tác, hình thành hợp tác xã kiểu mới, ñúng theo nguyên tắc: tự nguyện cùng có lợi và dần dần từ thấp ñến cao, trên tất cả mọi lĩnh vực sản xuất nông, lâm, công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ

3 Qua trình phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

a Khái quát quá trình phát triển kinh tế hàng hóa

Sáu huyện miền núi tỉnh Quảng Nam có 106 xã có 51 xã xếp vào khu II, diện ñặc biệt khó khăn, tập trung vào 4 huyện: Hiên, Nam Giang, Trà My và Phước Sơn Quảng Nam ñược Chính phủ chọn 50 xã ñặc biệt khó khăn ñể thực hiện chỉ thị 135,

về xây dựng cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, các dự án về phát triển kinh tế, xã hội v.v Cho nên, vài năm gần ñây, cùng với sự phát triển của tỉnh Quảng Nam, các huyện miền núi ñã có những bước tiến tích cực về kinh tế - xã hội; xuất hiện những nhân tố mới, những mô hình tốt cần duy trì và mở rộng

Nhờ ña dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia hoạt ñộng thương mại, tập trung xây dựng các thị trấn huyện lỵ; các trung tâm cụm xã nên ñã tạo ra ñược các trục ñộng lực thúc ñẩy kinh tế - xã hội trong từng vùng phát triển Trước mắt, ñã tạo

ra thị trường tiêu thụ, rõ nhất là các ñồng bào các dân tộc thiểu số trao ñổi; mua, bán ñược các sản phẩm do mình sản xuất ra; cung ứng tương ñối ñầy ñủ các dịch vụ cho ñồng bào trong vùng như: (may mặc, cắt tóc, mộc dân dung, xây dựng, chế biến, lương thực, sửa chữa máy móc ) góp phần thiết thực thúc ñẩy thị trường nông thôn

ra ñời, làm cho sản xuất ở miền núi ña dạng và phong phú hơn, tăng thu nhập, cải thiện ñời sống cho ñồng bào dân tộc thiểu số ñã biết mở các cửa hàng, của hiệu ñể buôn bán nhỏ, chế biến lương thực, ñi xe thồ, sửa chữa xe máy, thiết bị

Những chuyển biến tích cực về mọi mặt ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua là rất quan trọng Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng các huyện miền núi vẫn ñang còn ñối mặt với nhiều thách thức lớn Đời sống của nhân dân quá thấp, tỷ lệ trong diện ñối nghèo còn cao hơn 45% (so với chuẩn mới)

b Nguyên nhân yếu kém của nền kinh tế hàng hóa

- Các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam với ñặc trưng là nền kinh tế dựa vào tự nhiên từ ñời này sang ñời khác, chủ yếu là du canh, du cư Theo ñiều tra cvào ngày 4/2001 ở huyện Hiên cho thấy: trong tổng số 149 thôn thì mới có 9 thôn hoàn thành ñịnh canh ñịnh cư; 63 thôn có một số hộ ñịnh canh ñịnh cư; còn 77 thônñịnh cư, du canh nhiều người dân thiếu kinh nghiệm làm ăn, chưa biết cách tổ chức sản xuất,

Trang 40

nhiều người còn xa lạ với việc xử lý giống, bón phân du canh du cư còn tồn tại thì rừng tiếp tục bị tàn phá

- Lực lượng sản xuất thấp kém, lao ñộng giản ñơn, sản xuất dựa vào kinh nghiệm cổ truyền, phân công lao ñộng xã hội chưa phát triển, năng suất lao ñộng thấp, sản xuất không ñủ tiêu dùng ở mức tối thiểu

- Phải tự túc lương thực trong ñiều kiện canh tác ñịa hình dốc, khí hậu khắc nghiệt, nên phá rừng làm nương rẫy ñược xem như là biện pháp chủ yếu Hậu quả là tài nguyên rừng bị cạn kiệt, môi trường sinh thái ñe dọa

- Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước từ trung ương ñến tỉnh, huyện ñến ñồng bào miền núi ngày càng nhiều, nhưng chưa ñáp ứng nhu cầu cho sản xuất và ñời sống của nhân dân

- Sản xuất chưa phát triển, làm chưa ñủ ăn, lại thêm cơ sở vật chất yếu kém, nên giao lưu hàng hóa còn ở trình ñộ thấp kém, thị trường còn sơ khai, hoang dã Sức mua quá thấp, sản phẩm làm ra (tiêu, quế ) thiếu sự quan tâm của Nhà nước, nên tư thương thao túng, ép giá

- Thiếu vốn ñể phát triển kinh tế, ít cơ hội ñược vay vốn, với lãi suất ưu ñãi Nhiều chương trình ñầu tư của Nhà nước "ñiện, ñường, trường, trạm, trại, chợ" chưa thật phù hợp vói từng thôn, nóc; chất lượng công trình quá thấp Đây là những vấn

ñề kìm hãm sự phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam

c Những vấn ñề mới ñặt ra cần quan tâm giải quyết

Quá trình phát triển kinh tế hàng hóa ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, cần quan tâm giải quyết các vấn ñề sau:

- Đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa cần phải phá vở phương thức canh tác

cổ truyền lạc hậu của nền kinh tế tự nhiên, khép kín

Kinh tế hàng hóa yêu cầu pahỉ mở rộng mối quan hệ kinh tế với các vùng, khu vực và quốc tế, trên cơ sở phương thức canh tác tiến bộ, năng suất cao Tạo ra những sản phẩm ñáp ứng nhu cầu thị trường Điều này mâu thuẫn với phương thức canh tác lạc hậu của bà con dân tộc miền núi

- Muốn thoát khỏi ñói nghèo triền miên phải ñẩy nhanh phát triển kinh tế hàng hóa Tình trạng ñói nghèo ñược coi là mục tiêu cần xóa bỏ, "xóa ñói, giảm nghèo"

Nghèo ñói là do tập quán canh tác lạc hậu, thiếu vốn, thiếu kiến thức phát triển kinh tế hàng hóa cần phải phát triển các nhân tố (nhân lực, tài nguyên, vốn, khoa học - cộng nghệ) nhưng các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam lại ñang thiếu các nhân

tố trên

- Phát triển kinh tế hàng hóa yêu cầu hệ thống kết cấu hạ tầng ñồng bộ, hoàn chỉnh, nhất là giao thông vận tải, ở miền núi tỉnh Quảng Nam cơ sở hạ tầng lại quá yếu kém Với những vấn ñề ñặt ra trên ñây các cấp, các ngành cần quan tâm tạo ñiều kiện cho kinh tế hàng hóa miền núi tỉnh Quảng Nam phát triển

III PHƯƠNG HƯỚNG MỤC TIÊU CƠ BẢN ĐẺ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NAM

Ngày đăng: 12/07/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w