Giải pháp phát triển dịch vụ giao nhận vận tải hàng không tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI
1.1 Khái quát về nghiệp vụ giao nhận vận tải hàng không 1
1.1.1 Quá trình hình thành hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu 1
1.1.2 Sự phát triển của hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường hàng không 3
1.2 Tìm hiểu về nghiệp vụ giao nhận vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu 4
1.2.1 Bàn về khái niệm giao nhận hàng hóa 4
1.2.2 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế 4
1.2.2.1 Đối với nghiệp vụ giao nhận truyền thống 8
1.2.2.2 Đối với nghiệp vụ giao nhận vận tải quốc tế 8
1.2.3 Tầm quan trọng của hoạt động giao nhận vận tải 10
1.2.3.1 Đối với nền kinh tế quốc dân 10
1.2.3.2 Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu 11
1.3 Xu hướng phát triển của nghiệp vụ giao nhận vận tải trong tương lai 12
1.3.1 Xu hướng phát triển hoạt động giao nhận vận tải trên thế giới 12
1.3.2 Xu hướng phát triển của hoạt động giao nhận tại Việt Nam 16
1.4 Kinh nghiệm phát triển ngành dịch vụ giao nhận vận tải 18
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ giao nhận vận tải trong khu vực 18
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ giao nhận vận tải tại Việt Nam 19
Tóm tắt chương 20
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG TẠI TP.HCM 2.1 Phân tích sơ lược quá trình hình thành dịch vụ giao nhận tại TP.HCM 21
2.2 Thực trạng hoạt động dịch vụ giao nhận vận tải hàng không tại TP.HCM 26
2.2.1 Sơ lược về các loại hình hàng hóa giao nhận vận tải 26
Trang 22.2.1.1 Hàng phi mậu dịch 26
2.2.1.2 Hàng kinh doanh .26
2.2.1.3 Hàng đầu tư 27
2.2.1.4 Hàng gia công xuất khẩu 27
2.2.1.5 Hàng vào, ra khu chế xuất 28
2.2.2 Thực trạng hoạt động dịch vụ giao nhận vận tải hàng không tại Việt Nam .28
2.2.2.1 Dịch vụ giao nhận – kho vận truyền thống 30
2.2.2.2 Dịch vụ gom hàng lẽ đường hàng không 31
2.2.2.3 Các dịch vụ giao nhận khác 33
2.2.3 Hiện trạng cơ sở hạ tầng ở TP.HCM ảnh hưởng đến dịch vụ giao nhận vận tải đường hàng không 33
2.2.4 Tiềm năng phát triển của các công ty giao nhận vận tải hàng không tại TP.HCM 34
2.3 So sánh vận tải hàng không với các hình thức vận tải khác 36
2.4 Đánh giá chung về hoạt động giao nhận vận tải hàng không tại TP.HCM 38
2.4.1 Điểm mạnh – thuận lợi 38
2.4.2 Điểm yếu – khó khăn 40
Tóm tắt chương 43
CHƯƠNG III : CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG TẠI TP.HCM 3.1 Căn cứ để xây dựng giải pháp 44
3.1.1 Những mục tiêu chiến lược vá chính sách phát triển ngành giao nhận vận tải quốc tế .44
3.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế tại TP.HCM 45
3.1.3 Dự báo nhu cầu dịch vụ giao nhận hàng không tại TP.HCM 45
3.2 Những giải pháp chiến lược nhằm phát triển dịch vụ giao nhận hàng không 46
3.2.1 Nhóm giải pháp 1: Hoàn thiện công tác xây dựng cơ sở hạ tầng giao nhận vận tải hàng không 46
Trang 33.2.1.1 Mở rộng và nâng cấp hệ thống kho bãi 46
3.2.1.2 Tham gia và ứng dụng thương mại điện tử 47
3.2.2 Nhóm giải pháp 2: Phát triển và nâng cao hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải 49
3.2.2.1 Phát triển kỹ thuật gom hàng lẻ gửi bằng đường hàng không 49
3.2.2.2 Thực hiện các phương thức giao nhận tiên tiến 50
3.2.2.3 Định hướng phát triển thị trường dịch vụ giao nhận vận tải 51
3.2.2.4 Phát triển loại hình giao nhận vận tải đa phương thức 53
3.2.2.5 Đẩy mạnh kinh doanh dịch vụ hậu cần 55
3.2.2.6 Gia tăng thị phần vận chuyển quốc tế của ngành hàng không trong nước .56
3.2.3 Nhóm giải pháp 3: Tăng cường tiếp thị – quảng bá dịch vụ giao nhận hàng không 57
3.2.3.1 Đẩy mạnh nghiệp vụ Sales – Maketing .57
3.2.3.2 Xây dựng và thiết lập các mối quan hệ ngoại giao .58
3.2.3.3 Thành lập chi nhánh – văn phòng đại diện công ty 59
3.2.4 Nhóm giải pháp 4: Hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 59
3.3 Kiến nghị 61
3.3.1 Đối với Nhà nước và Chính phủ 61
3.3.2 Đối với Hiệp hội giao nhận Việt Nam (VIFFAS) 62
Tóm tắt chương 63
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤC LỤC
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong tiến trình đi lên và hội nhập toàn cầu, Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng đã không ngừng củng cố và đổi mới về mọi mặt, mọi lĩnh vực để phù hợp với xu thế của thời đại Trong bước hội nhập đó, các loại hình kinh doanh cũng ra sức tìm tòi và ứng dụng những tiến bộ, những đổi mới của khoa học và xã hội nhằm đuổi kịp đà phát triển chung ấy Và sự xuất hiện của mô hình dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa là một cuộc cách mạng điển hình về lĩnh vực ngoại thương Thật vậy, giao nhận kho vận đã được đánh giá là ngành tạo ra giá trị gia tăng cao đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các ngành sản xuất, hoạt động xuất nhập khẩu phát triển Trong một vài năm gần đây, tuy đã có những bước tiến bộ đáng kể nhưng cũng như bao ngành dịch vụ khác của Việt Nam, giao nhận kho vận vẫn còn ở giai đoạn sơ khai Thế nhưng không thể phủ nhận rằng dịch vụ giao nhận vận tải là một lĩnh vực đầy tiềm năng Nắm bắt được đặc điểm đó, tôi đã chọn đề tài:
“Giải pháp phát triển dịch vụ giao nhận vận tải hàng không tại TP.HCM”
Đề tài này được chọn với mục tiêu nghiên cứu ở nhiều khía cạnh: từ tổng quát đến tình hình hoạt động thực tế của nghiệp vụ chuyên môn chỉ nhằm mục đích có được cái nhìn thấu đáo về hoạt động giao nhận vận tải nói chung và giao nhận hàng không nói riêng để từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện lĩnh vực giao nhận vận tải hàng không tại TP.HCM
2 Mục đích nghiên cứu:
¾ Về phương pháp luận: Trình bày tóm tắt, có hệ thống để nhận thức đúng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu Qua các số liệu thu thập được từ một vài công ty giao nhận vận tải và những tài liệu tham khảo đã cho
Trang 5phép rút ra được môït số chiến lược góp phần thúc đẩy các công ty hoạt động giao nhận vận tải có hiệu quả hơn trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ giao nhận
¾ Về thực tiễn: Đánh giá thực trạng hoạt động đồng thời nghiên cứu quy trình hoạt động giao nhận hàng hóa của công ty giao nhận vận tải hàng không tại TP.HCM Từ đó nắm bắt được ưu điểm, thuận lợi cùng những nhược điểm, thách thức mà công ty cần phải đối mặt Đưa ra những kiến nghị để tạo điều kiện cho các chiến lược khả thi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ngành giao nhận
vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường hàng không tại TP.HCM
Phạm vi nghiên cứu: Nội dung của đề tài được tập trung vào việc nghiên cứu
nghiệp vụ giao nhận vận tải hàng không trong kinh tế thị trường hiện đại Các dẫn chứng, số liệu trong đề tài được lấy từ thực tế hoạt động của một vài công ty giao nhận vận tải hàng không tại TP.HCM và số liệu thống kê của sở kế hoạch và đầu tư
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Thông qua luận văn của mình, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành giao nhận vận tải quốc tế nói chung và của ngành giao nhận vận tải hàng không nói riêng, đưa ra một số giải pháp phát triển dịch vụ giao nhận vận tải hàng không tại TP.HCM với hy vọng sẽ là tài liệu tham khảo để giúp các doanh nghiệp tìm
ra phương hướng đúng đắn trên con đường phát triển, để tồn tại và đứng vững trên thị trường
5 Kết cấu đề tài:
Luận văn được chia làm 3 chương
Trang 6CHƯƠNG I:
CHƯƠNG I:NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI ĐƯỜNG HÀNG
KHÔNG TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG 1.1.1 Quá trình hình thành hoạt động giao nhận vận tải hàng hoá xuất nhập
khẩu
Dịch vụ giao nhận vận tải đã có từ rất lâu trên thế giới Theo thời gian, cùng với sự phát triển của những mối quan hệ giao dịch quốc tế trong lĩnh vực thương mại và sự tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật mà dịch vụ này đã không ngừng phong phú hóa về mặt hình thức và đa dạng hóa về mặt nội dung Trước thế kỷ XVI, nền sản xuất xã hội trên thế giới lúc bấy giờ chủ yếu là nông nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, chịu ảnh hưởng rõ rệt của môi trường địa lý Phân công lao động quốc tế chưa có, vùng kinh tế chưa hình thành Do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử khác nhau giữa các khu vực trên trái đất nên đã hình thành những khu vực sản xuất đặc thù Đó là ba khu vực:
¾ Khu vực Hoàng Hà – Dương Tử (Trung Quốc ngày nay) và Hằng Hà (Aán Độ) với sản vật chủ yếu là nông sản, tơ lụa, đá quý và hương liệu…
¾ Khu vực Bắc Địa Trung Hải (có Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Hy Lạp): sản vật chính là lúa mì, khoai tây, nho, táo, rượu, …
¾ Khu vực hạ lưu sông Nil và Lưỡng Hà (nay thuộc địa phận các nước Trung Đông): sản vật chính là chà là, bông, cừu, len, thảm dệt…
Sức sản xuất ở các khu vực bấy giờ chưa lớn, giao thông vận tải chưa phát triển, tình trạng cát cứ phong kiến nặng nề, không cho phép phía Đông và phía Tây bán cầu trao đổi hàng hóa với nhau
Trang 7Cuối thế kỷ XV – đầu thế kỷ XVI, giao thông vận tải phát triển mạnh, sự phát minh ra đầu máy hơi nước, kỹ thuật hàng hải phát triển giúp cho hoạt động vận tải biển có điều kiện phát triển ở Anh Quốc với những đội thương thuyền có khả năng vượt biển
Sang thế kỷ XVI – XVII, trường phái chủ nghĩa trọng thương xuất hiện Vận tải viễn dương phát triển mạnh đã thúc đẩy giao lưu thương mại, văn hóa giữa các châu lục Aâu – Á, Aâu – Mỹ Vào thời kỳ này có nhiều ngành nghề mới
ra đời trong đó có ngành giao nhận hàng hóa và các nước Thụy Sỹ, Đức, Anh được xem là chiếc nôi đầu tiên của ngành giao nhận
Từ lúc ban đầu, các đơn vị giao nhận chỉ có vài ba người cùng nhau góp vốn chung để kinh doanh, quy mô không lớn, thường đặt các hội sở ở những thành phố cảng biển lớn ở Pháp, Anh, Đức Công việc chính của họ chỉ là đại lý ủy thác thay mặt nhà xuất nhập khẩu thực hiện những công việc bình thường như: bốc dỡ hàng hóa, lưu kho hàng, thu xếp chuyên chở nội địa bằng đường bộ, thanh toán tiền hàng cho khách hàng của mình, một số khách hàng thương mại thông qua đơn vị giao nhận để đặt mua hàng từ nước ngoài Hãng giao nhận đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1522 ở Badilay – Thụy Sỹ, dưới tên gọi E.Vansai
Đến những năm đầu thế kỷ XX, sản xuất công nghiệp phát triển mạnh, nhất là ngành sản xuất xe hơi, máy móc công nghiệp Lượng trao đổi những mặt hàng này giữa Bắc Mỹ và Châu Aâu rất lớn, từ đó đã phát sinh ra nhu cầu cần phải có một tổ chức chuyên biệt luôn đứng ra lo việc giao nhận hàng hóa ở bến cảng Và sau đó, các đơn vị giao nhận đã đứng ra ký kết hợp đồng với các nhà sản xuất để cung cấp hoạt động đóng gói, chèn lót hàng thật kỹ lưỡng, đưa xuống tàu biển xuất đi Trải qua hàng trăm năm, quan hệ buôn bán quốc tế ngày càng mở rộng và việc phát triển các phương thức vận tải ngày càng tiên tiến,
Trang 8thông qua đó thì phạm vi hoạt động của các đơn vị giao nhận cũng ngày càng được mở rộng về quy mô lẫn tầm hoạt động, khai trương thêm văn phòng ở sâu trong đất liền để thu xếp việc vận chuyển hàng kỹ lưỡng hơn, mua sắm xe tải để tham gia việc vận chuyển đường bộ, đường sắt Các đơn vị giao nhận có quy mô lớn mua lại các đơn vị có quy mô nhỏ, dần dần hình thành công ty giao nhận vận tải lớn, có tầm hoạt động trên nhiều lãnh thổ khác nhau với đa dạng các loại hình dịch vụ
1.1.2 Sự phát triển của ngành giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường hàng
không
Từ thời xa xưa, giao nhận, vận tải đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Qua nhiều thập kỷ, cơ cấu các ngành công thương nghiệp – dịch vụ đã trải qua những biến đổi sâu sắc, nói chung người bán hàng hóa không nhất thiết phải là người sản xuất và người mua cũng không nhất thiết là người tiêu dùng cuối cùng Quá trình hàng hóa đi từ người sản xuất đến người tiêu dùng phải đi qua khá nhiều nhà trung gian, họ lần lượt đóng vai trò người bán, người mua và là một bộ phận của quá trình lưu thông hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng Tính chất phong phú của hàng hóa và sự vận động phức tạp của chúng đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra những yêu cầu mới đối với vận tải Kết quả là hoạt động vận tải nói riêng và lưu thông phân phối nói chung luôn phải đảm bảo được yêu cầu đúng lúc, đúng địa chỉ Và vận tải hàng không đã là một trong những phương tiện vận tải đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết của khách hàng một cách tốt nhất
Tuy vận tải hàng không vẫn còn là một ngành vận tải non trẻ Cuối thế kỷ
19 đầu thế kỷ 20, vận tải hàng không mới bắt đầu phát triển và nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật mà ngành vận tải hàng không ngày càng được phát triển nhanh chóng Trước đây nó chủ yếu phục vụ chuyên chở hàng khách Về sau
Trang 9vận tải hàng không đã được sử dụng rộng rãi vào việc chuyên chở hàng hóa trong phạm vi nội địa cũng như quốc tế Đến ngày nay thì việc chuyên chở hàng hóa bằng đường hàng không đã đóng một vai trò rất lớn trong hoạt động thương mại quốc tế Trong những thập kỷ gần đây, việc vận tải hàng hóa bằng đường hàng không giữa các quốc gia trên thế giới phát triển vô cùng mạnh mẽ Năm
1998 hàng không thế giới đã thực hiện được 61,2 triệu tấn hàng hóa và vận chuyển 2,9 tỷ hành khách
Vận tải hàng không thích hợp với chuyên chở hàng hóa trên khoảng cách
xa, ở những nơi mà các ngành vận tải khác không có khả năng thực hiện hoặc thực hiện được nhưng sẽ gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên mức cước của vận tải hàng không lại khá đắt (cao gấp 5 lần so với vận tải biển), thường thì khách hàng chỉ lựa chọn phương thức này khi không còn cách nào khác Bên cạnh đó thì thủ tục xuất nhập hàng lại phức tạp, đòi hỏi nhiều loại giấy tờ, chứng nhận và
bị hạn chế về sức chở Tuy có những điểm yếu như vậy nhưng vận tải hàng không lại có hai ưu điểm lớn đó là tốc độ vận chuyển nhanh và độ an toàn lại cao Vì vậy, vận tải hàng không rất thích hợp với chuyên chở hàng lẻ, có giá trị cao (như ngân phiếu, nữ trang, kim cương, đá quý, vàng, đồng đen, …); Hàng có tính hư hỏng cao (như rau quả, hải sản đông lạnh); Hàng hóa mang tính cấp bách, thời vụ hay theo mùa (như hàng phục vụ lễ hội, hàng dự hội chợ, triển lãm, áo len cho mùa đông, linh kiện lắp ráp vô tuyến cho mùa World Cup, quần áo cho ngày Tết… ); Hàng hóa có tính thời sự như sách báo, tạp chí… ; Các loại động vật sống…
Trang 101.2 TÌM HIỂU VỀ NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG HÓA
1.2.1 Bàn về khái niệm giao nhận vận tải hàng hóa
Đặc điểm của buôn bán quốc tế là người mua và người bán ở những nước khác nhau Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán thực hiện việc giao hàng, tức là hàng hóa được vận chuyển từ người bán sang người mua Để cho quá trình vận chuyển đó bắt đầu được, tức là hàng hóa đến tay người mua, cần phải thực hiện hàng loạt các các công việc khác liên quan đến quá trình chuyên chở như bao bì, đóng gói, lưu kho, đưa hàng ra cảng, làm các thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, vận tải hàng hóa đến cảng đích, dỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận hàng… Đó có phải là nghiệp vụ giao nhận vận tải hàng hóa hay không?
Cho đến ngày nay, đã có khá nhiều các khái niệm được nêu ra để khái quát về những chức năng của hoạt động dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa như:
¾ “Hoạt động giao nhận có thể được định nghĩa là tổ chức vận chuyển hàng hóa và thực hiện tất cả các công việc có liên quan đến việc vận chuyển đó“ (sách “ kinh tế và tổ chức vận tải quốc tế” – nhà kinh tế Salan Tarski)
¾ “Người giao nhận là người trung gian giữa người gửi hàng hay người nhận hàng với người vận chuyển Vị thế trung gian của người giao nhận thể hiện ở chỗ thực hiện rất nhiều hoạt động và công việc vận chuyển Họ hoạt động từ quy mô nhỏ là những văn phòng đơn lẻ, lo liệu chứng từ, sắp xếp việc vận chuyển cho đến quy mô lớn là trở thành những công ty quốc tế, cung cấp hàng loạt các hoạt động hỗ trợ bao gồm cả việc vận chuyển” ( Sách “ Kinh tế, tiếp thị và điều hành trong vận tải hàng không” của Peter S.Smith )
¾ “Người giao giao nhận vận tải là đại lý ủy thác thay mặt nhà xuất nhập khẩu thực hiện những nhiệm vụ từ đơn giản như lưu cước, làm thủ tục thuế cho
Trang 11đến làm trọn gói các dịch vụ của toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng (Định nghĩa về giao nhận vận tải do Uûy ban kinh tế xã hội Châu Á Thái Bình Dương – ESCAP)
¾ Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA) về dịch vụ giao nhận, dịch vụ giao nhận được định nghĩa là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu nhập chứng từ liên quan đến hàng hóa Việc thực hiện các dịch vụ giao nhận được gọi là nghiệp vụ giao nhận – Forwarding, người giao nhận là kiến trúc sư vận tải Định nghĩa trên cũng nhấn mạnh giao nhận vận tải chính là người thiết kế, tổ chức vận tải, là người đóng vai trò trung gian
¾ Theo luật thương mại Việt Nam, dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác
Mặc dù có khá nhiều các định nghĩa, mỗi định nghĩa lại nhấn mạnh về một chức năng, phạm vi, trách nhiệm của hoạt động giao nhận nhưng nói một cách chính xác thì hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa phải bao quát được hai yếu tố: các dịch vụ hậu cần trên đất liền; Các phương tiện vận tải và tổ chức vận tải Người giao nhận không chỉ là một kiến trúc sư vận tải mà còn là nhà cung cấp các dịch vụ có giá trị nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng như cung cấp các dịch vụ hậu cần cho khách hàng Người giao nhận thực hiện đầy đủ các dịch vụ ở phía người nhận trong quá trình thực hiện việc gửi hàng đến việc nhận hàng
Trang 12với vai trò là một đại lý kinh doanh trung gian hoặc với vai trò là một công ty được toàn quyền ủy thác chuyên chở của khách hàng
Từ những định nghĩa trên, hoạt động giao nhận quốc tế có những đặc điểm sau:
¾ Đối tượng dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế là sản phẩm hàng hoá, nhưng hoạt động này không làm thay đổi trạng thái ban đầu như hình dáng, kích thước, số lượng, chất lượng nếu có chỉ là tăng thêm giá trị của hàng hoá mà làm thay đổi trong không gian bằng việc sử dụng các phương tiện vận chuyển
¾ Hoạt động giao nhận vận tải quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào đường lối phát triển kinh tế, chủ trương của mở cửa và kinh tế đối ngoại của Nhà nước
¾ Sản phẩm của dịch vụ giao nhận vận tải không có hình dáng kích thước cụ thể, không tồn tại độc lập với quá trình tạo ra nó, sản phẩm của dịch vụ giao nhận vận tải thể hiện chất lượng dịch vụ vận tải và các dịch vụ đi kèm trong quá trình thỏa mãn những nhu cầu của người gửi (người cung cấp) và người nhận hàng
1.2.2 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế
Vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không đóng một vai trò rất quan trọng trong buôn bán quốc tế Càng ngày càng có nhiều hàng hoá được vận chuyển bằng phương thức vận tải hàng không Hiện nay theo thống kê của liên hiệp quốc thì lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường hàng không chiếm khoảng 1/3 giá trị hàng hoá buôn bán trên thế giới Số hàng hoá này chủ yếu được luân chuyển qua các đại lý hàng không (là người đại diện cho người gửi hàng và cho cả hãng hàng không) Mạng lưới hàng không bao phủ khắp địa cầu và hoạt động rất nhộn nhịp Các đại lý hàng không cũng tạo thành một mạng lưới tương tự ở khắp các sân bay, các thành phố và đảm nhận hơn 9/10 số lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường hàng không
Trang 13Với một quốc gia phát triển thì chỉ tiêu về ngành hàng không là một chỉ tiêu vô cùng quan trọng vì :
¾ Nó đánh giá được năng lực quản lý của nhà nước
¾ Trình độ kỹ thuật
¾ Khả năng kinh tế của quốc gia đó
¾ Cũng như lượng hàng hoá lưu chuyển bằng đường hàng không so với các phương thức khác như thế nào
Khi mà giao nhận vận tải hàng không ngày càng phát triển thì vai trò của người giao nhận được thể hiện qua các chức năng sau :
1.2.2.1 Đối với nghiệp vụ giao nhận truyền thống
Kinh doanh giao nhận hàng hóa đơn thuần chính là giao nhận truyền thống đã có từ thời xa xưa và chủ yếu là diễn ra trong nội địa một nước Nghiệp vụ giao nhận truyền thống chủ yếu bao gồm các khâu như:
¾ Tổ chức chuyên chở hàng hóa từ nơi sản xuất đến các điểm đầu mối vận tải và ngược lại
¾ Tổ chức xếp dỡ hàng hóa lên xuống các phương tiện vận tải tại các điểm đầu mối vận tải
¾ Lập các chứng từ trong quá trình gửi hàng, nhận hàng nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ hàng
¾ Theo dõi và giải quyết những khiếu nại về hàng hóa trong quá trình giao nhận, vận chuyển đồng thời thanh toán các chi phí có liên quan đến giao nhận
1.2.2.2 Đối với nghiệp vụ giao nhận vận tải quốc tế:
Khi mà vai trò của người giao nhận ngày càng được nâng cao trong thương mại và vận tải quốc tế thì đồng thời phạm vi, chức năng của họ cũng ngày càng được mở rộng:
¾ Môi giới hải quan (Custom Broker):
Trang 14Thuở ban đầu, người giao nhận chỉ hoạt động ở trong nước Nhiệm vụ của người giao nhận lúc bấy giờ là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu Sau đó họ đã mở rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khẩu và dành chỗ chở hàng trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàu, hãng hàng không theo sự ủy thác của người xuất khẩu hoặc nhập khẩu tùy thuộc vào quy định của hợp đồng mua bán Trên cơ sở được Nhà Nước cho phép, người giao nhận thay mặt người xuất khẩu, nhập khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan hay môi giới hải quan
¾ Làm đại lý (Agent):
Với chức năng là một đại lý, người giao nhận nhận ủy thác từ một người chủ hàng để lo những công việc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, làm việc để bảo vệ lợi ích của chủ hàng, làm trung gian giữa người gửi hàng với người vận tải, người vận tảivới người nhận hàng, người bán với người mua Họ hưởng hoa hồng và không chịu trách nhiệm về tổn thất của hàng hóa, chỉ chịu trách nhiệm về hành vi của mình chứ không chịu trách nhiệm về hành vi của người làm thuê cho mình hoặc cho chủ hàng
¾ Lo liệu chuyển tải và tiếp gửi hàng hóa (Transhipment and on – carriage): Khi hàng hóa phải chuyển tải hoặc quá cảnh qua nước thứ ba, người giao nhận sẽ lo liệu thủ tục quá cảnh hoặc tổ chức chuyển tải hàng hóa từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác hoặc giao hàng đến tay người nhận
¾ Lưu kho hàng hóa (Warehousing):
Trong trường hợp phải lưu kho hàng hóa trước khi xuất khẩu hoặc sau khi nhập khẩu, người giao nhận sẽ lo liệu việc đó bằng phương tiện của mình hoặc thuê người khác và phân phối hàng hóa nếu cần
¾ Người gom hàng (Cargo Consolidator):
Trang 15Là tập trung một số lô hàng nhỏ, lẻ thành một số lô hàng lớn gửi đi cùng mộ địa điểm theo cùng một vận đơn hàng không Khi hàng đến địa điểm đích, đại lý của anh ta lo liệu nhận lô hàng đó, dỡ ra và chia lẽ
Thực hiện dịch vụ gom hàng, người lao động có lợi là thu được khoản chênh lệch đáng kể do hãng hàng không dành cho những lô hàng lớn
¾ Người chuyên chở (Carrier):
Khi đóng vai trò là người chuyên chở, người giao nhận sẽ trực tiếp ký hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ nơi này đến nơi khác Người giao nhận sẽ là người thầu chuyên chở (contracting carrier) nếu họ ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở Hoặc họ sẽ là người chuyên chở thực tế trong trường hợp họ trực tiếp chuyên chở Nhưng dù là ở hình thức nào đi chăng nữa thì họ vẫn phải là người chịu trách nhiệm chính về hàng hóa trong suốt cuộc hành trình và họ có thể phát hành vận đơn
¾ Người kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport Operator – MTO):
Trong trường hợp người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt hoặc còn gọi là “vận tải từ cửa đến cửa“ (door to door) thì người giao nhận đã đóng vai trò là người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO) Họ sẽ tổ chức toàn bộ quá trình vận tải một cách tốt nhất, an toàn nhất, tiết kiệm nhất và cũng sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn về hàng hóa
1.2.3 Tầm quan trọng của hoạt động giao nhận vận tải ngoại thương
1.2.3.1 Đối với nền kinh tế quốc dân
Từ những điều đã trình bày cho thấy hoạt động giao nhận là một chức năng kinh tế có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn xã hội Trong thời đại ngày nay người ta luôn mong muốn những dịch vụ hoàn hảo và điều đó sẽ đạt được khi phát triển hoạt động giao nhận Giao nhận là một chuỗi hoạt động liên tục, có
Trang 16liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Nếu xem xét ở góc độ tổng thể ta thấy giao nhận là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa Một nghiên cứu gần đây của trường đại học Quốc Gia Michigan (Hoa Kỳ) cho thấy, chỉ riêng hoạt động giao nhận đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của hầu hết các nước lớn ở Châu Aâu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (Theo Rushton Oxley & Croucher, 2000 ) Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành giao nhận kho vận thì hiệu quả kinh tế xã hội ngày càng được nâng cao là một điều tất yếu Thật vậy, ngành giao nhận vận tải phát triển tất yếu kéo theo sự phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở, đặc biệt là các công trình kết cấu hạ tầng trực tiếp phục vụ cho giao nhận vận tải như: bến cảng, hệ thống đường giao thông (đường quốc lộ trên bộ, đường sông, đường sắt, các bến cảng, sân bay…) Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, cùng với sự tác động của tự
do hóa thương mại quốc tế, các hoạt động giao nhận vận tải ngày càng tăng trưởng mạnh và có một vai trò vô cùng to lớn Nó góp phần thúc đẩy tốc độ giao lưu hàng hóa xuất nhập khẩu với các nước trên thế giới, tạo điều kiện đơn giản hóa chứng từ, thủ tục thương mại, hải quan và các thủ tục pháp lý khác, hấp dẫn các bạn hàng nước ngoài có quan hệ kinh doanh với các doanh nghiệp trong nước, làm tăng sức cạnh tranh hàng hóa ở nước ta Từ đó giúp giải quyết công ăn việc làm thêm, thu thêm nguồn ngoại tệ, cải thiện một phần cán cân tài chính đất nước Có thể nói việc phát triển dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế sẽ gắn liền với sự phát triển kinh tế của quốc gia đó
1.2.3.2 Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Đối với các doanh nghiệp, hoạt động giao nhận có vai trò rất to lớn Giao nhận giúp giải quyết đầu vào hoặc đầu ra của doanh nghiệp một cách hiệu quả Người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa vừa là một nhà vận tải đa phương thức,
Trang 17vừa là nhà tổ chức, nhà “kiến trúc sư vận tải“ Họ sẽ lựa chọn phương tiện, người vận tải thích hợp, tuyến đường thích hợp có hiệu quả kinh tế nhất và đứng
ra trực tiếp vận tải hay tổ chức thu xếp quá trình vận tải của toàn chặng với nhiều loại phương tiện vận tải khác nhau như tàu thủy, máy bay… vận chuyển qua nhiều nước và trực tiếp chịu trách nhiệm với chủ hàng Vì vậy doanh nghiệp chỉ cần ký một hợp đồng vận tải với người giao nhận nhưng hàng hóa được vận chuyển kịp thời, an toàn với giá cước hợp lý từ cửa kho nhà xuất khẩu tới cửa kho nhà nhập khẩu (door to door service) Dịch vụ này đã giúp các doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Ngoài
ra hoạt động giao nhận còn hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện chiến lược Marketing Mix (4P – Product, Price, Promotion, Place) Chính giao nhận đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp Sản phẩm/dịch vụ chỉ có thể làm thỏa mãn khách hàng đúng thời hạn và địa điểm quy định
1.3 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG TRONG TƯƠNG LAI
1.3.1 Xu hướng phát triển của hoạt động giao nhận trên thế giới và khu vực
Một xu thế tất yếu của thời đại ngày nay là toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới Bất kỳ một quốc gia hay ngành nghề nào, không phân biệt lớn nhỏ, mới hay cũ, muốn tồn tại và phát triển thì đều phải chấp nhận và tích cực tham gia vào xu thế mới này; Bên cạnh những nhược điểm thì cũng không thể phủ nhận toàn cầu hóa có một ưu điểm rất lớn là làm cho giao thương giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới phát triển mạnh mẽ Xu thế mới của thời đại sẽ dẫn đến bước phát triển tất yếu của hoạt động giao nhận kho vận ngoại thương Toàn cầu hóa nền kinh tế càng sâu rộng thì tính cạnh tranh lại càng gây gắt trong mọi
Trang 18lĩnh vực của cuộc sống Trong lĩnh vực giao nhận cũng vậy, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, thì ngày càng có nhiều nhà cung cấp dịch vụ giao nhận ra đời và cạnh tranh quyết liệt với nhau Bên cạnh những nhà sản xuất có uy tín đã gặt hái được những thành quả to lớn trong hoạt động kinh doanh nhờ khai thác tốt hệ thống giao nhận của chính mình, như: Procter & Gamble, Ladner Building, Hawlett – Packerd… thì tất cả các công ty vận tải, giao nhận cũng nhanh chóng chớp thời cơ phát triển và trở thành những nhà cung cấp dịch vụ giao nhận hàng đầu thế giới như: DHL, Kunhe Nagel, Nippon Express, Panapina… Sử dụng nhà cung cấp dịch vụ giao nhận là một xu hướng khá thịnh hành vì họ không chỉ đơn thuần là người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức mà còn là người tổ chức các dịch vụ khác như: quản lý kho hàng, bảo quản hàng trong kho, tạo thêm giá trị gia tăng cho hàng hóa bằng cách lắp ráp, kiểm tra chất lượng trước khi gửi đi, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, dán nhãn, phân phối đến các địa điểm tiêu thụ, làm thủ tục xuất nhập khẩu…
Các công ty giao nhận vận tải thường thiết lập hệ thống các trung tâm hàng hóa ở các trung tâm kinh tế chính trên thế giới Hàng hóa từ các vùng phụ cận được các chi nhánh gửi dồn về trung tâm hàng hóa để gom chung thành lô hàng lớn sau đó chuyển tải đến các trung tâm nhận hàngở điểm đến thuộc các châu lục khác trên thế giới Tại đây, hàng hóa tiếp tục được phân tán tới các đích đến sau cùng Chẳng hạn ở Châu Aâu các tuyến bay được thiết kế dựa trên các trung tâm hàng hóa chính như: Luxembourg, Frankfurt, Glassgow, Paris .ở Mỹ là Los Angeles, Miama, Huntsville, Brandley để chuyển tiếp hàng đi Trung Mỹ, vùng vịnh Caribe.Ở các nước Đông Aâu và Liên Xô cũ trung tâm hàng hóa là sân bay Domodedovo gần Moscow và Yuzho – Sakhalinsk để giao nhận hàng hóa vùng phía Tây và Viễn Đông Việc thiết lập các trung tâm hàng hóa này
Trang 19dẫn đến tập trung cao độ hàng hóa, từ đó cho phép các công ty giao nhận vận tải
đi thuê toàn bộ máy bay của các hãng hàng không để chở hàng cho mình
Sau bước nhảy vọt đáng kể về lượng hàng vận chuyển năm ngoái do tác động một phần của việc trễ hàng tại cảng bờ tây nước Mỹ dẫn đến việc chuyển hàng từ đường biển sang đường hàng không, năm nay đã có những dấu hiệu chậm lại Theo Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA), khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không toàn cầu giảm 1,6% trong tháng năm so với cùng thời điểm năm 2004 Tính theo số tấn cước/km, lượng hàng vận chuyển trong tháng năm thậm chí giảm 2,8% tại khu vực Bắc Mỹ và 6,6% tại khu vực Mỹ Latinh Theo IATA, trong năm tháng đầu năm 2005, tăng trưởng hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không toàn cầu là 3,1%, trong đó khu vực Bắc Mỹ tăng 6,9% và ghi nhận sự tăng trưởng hàng hóa toàn cầu khoảng 13% trong năm
2004 so với năm 2003 (phục lục 1.1) Theo một vài công ty giao nhận, có một cơ hội vận chuyển hàng hóa xuyên Thái Bình Dương về hướng Đông sẽ đẩy mạnh tăng trưởng nếu việc tắt nghẽn cảng bờ tây nước Mỹ buộc các chủ hàng chuyển sang vận chuyển bằng đường hàng không bởi vì họ sợ hàng hóa bị chậm trễ Năm ngoái, IATA thông báo một dự án “hàng hóa điện tử” để loại bỏ càng nhiều chứng từ bằng giấy ra khỏi ngành vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không như nó đã được áp dụng phần lớn trong vận chuyển hành khách bằng đường hàng không Mục đích là để tiến đến hoàn toàn những giao dịch điện tử trước năm 2007 cho “những công ty chấp nhận sớm” và năm 2010 cho toàn bộ ngành vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không để tránh tình trạng những lô hàng mất “một ngày bay, năm ngày chờ chứng từ”
Cargo 2000, một nhóm những hãng hàng không và công ty giao nhận hàng không đã đưa ra những kết quả chất lượng đầu tiên (phục lục 1.2) – một nỗ lực mới của vấn đề minh bạch trong ngành công nghiệp này
Trang 20Nhóm Cargo 2000 nói rằng dữ liệu này phản ánh việc thực hiện liên doanh giữa hãng hàng không và công ty giao nhận trong việc tuân theo chuẩn
“bay theo hoạch định”
Theo nghiên cứu của JPMorgan – tập đoàn tài chính Mỹ - về xu hướng giao nhận vận tải trên nước Mỹ, họ dự đoán từ năm 2005 đến 2009 các chủ hàng dự kiến giảm ngân sách cho vận tải nội địa và tăng ngân sách cho vận tải quốc tế (bảng 1.1) Họ cũng dự đoán xu hướng phân bổ ngân sách dành cho các phương thức vận tải (bảng 1.2), trong đó vận tải hàng không không thay đổi và vận tải đa phương thức tăng từ 3% lên 4% Và họ cũng đưa ra dự đoán, việc sử dụng nhà cung cấp dịch vụ giao nhận sẽ tăng trong vòng 5 năm tới (bảng 1.3) Bảng 1.1 Ngân sách của chủ hàng cho vận tải nội địa và vận tải quốc tế
(Nguồn n/c của JPMorgan 2004 / tạp chí VN Shipper tháng 05/2005)
Bảng 1.2 Phân bổ ngân sách dành cho các phương thức vận tải
(Nguồn n/c của JPMorgan 2004 / tạp chí VN Shipper tháng 05/2005)
Bảng 1.3 Nghiên cứu việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài
Trang 21Today In five years
small size shipper medium size shipper large size shipper
(Nguồn n/c của JPMorgan 2004 / tạp chí VN Shipper tháng 05/2005)
1.3.2 Xu hướng phát triển của hoạt động giao nhận tại Việt Nam
Mặc dù hoạt động giao nhận đã và đang diễn ra khá mạnh mẽ trên thế giới, nhưng ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ Trong những năm gần đây ngành vận chuyển hàng hóa đường hàng không và ngành giao nhận hàng không phát triển rất nhanh (bình quân tăng trưởng 10-15% năm) Hiện nay có trên 25 hãng hàng không đang hoạt động tại Việt Nam cùng với khoảng trên 800 công ty giao nhận chính thức đang hoạt động trong lĩnh vực này Trong đó có khoảng 18% là công ty Nhà Nước; 70% là công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân; 10% là các doanh nghiệp giao nhận chưa có giấy phép và 2% là các công ty có vốn đầu tư nước ngoài Tính đến tháng 7/2000 có 80 công ty là thành viên của Hiệp Hội giao nhận Việt Nam (VIFFAS), trong đó một nửa được công nhận là thành viên của Hiệp hội giao nhận quốc te (FIATA) Đa số các công ty đều có quy mô vừa và nhỏ Chỉ có vài công ty Nhà nước là tương đối lớn như: Vinatrans, Viconship,
Có thể nói TP.HCM có vị trí rất thuận lợi của Đông Nam Á và sân bay Tân Sơn Nhất là đầu mối quan trọng cho việc xuất nhập khẩu hàng hoá trong cả nước, hàng hoá qua cửa khẩu này chiếm trên 85% lượng hàng hoá của cả nước Ngoài ra, TP.HCM còn là trung tâm cho việc chuyển tải hàng đi các nơi trong cả
Trang 22nước Như vậy có tạo ra rất nhiều triển vọng cho các công ty giao nhận vận tải quốc tế
Ngoài ra, Việt Nam cũng là thành viên của Hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA), tổ chức này có nhiệm vụ nâng cao công tác tổ chức, giúp các thành viên đào tạo và nâng cao tay nghề chuyên môn, nâng cao uy tín góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển Việt Nam cũng thành lập hiệp hội giao nhận (VIFFAS) nhằm để bảo vệ quyền lợi các công ty giao nhận vận tải Như vậy, ngoài những tiềm năng như vị trí địa lý rất thuận lợi, có nguồn nhân lực rất dồi dào, các công ty giao nhận vận tải TP.HCM còn có một môi trường hoạt động rất thuận lợi cho sự phát triển
Trong thời gian tới, với xu hướng phát triển nhanh chóng nền kinh tế thị trường cùng với sự đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, vai trò ngoại thương trong xuất nhập khẩu hàng hóa giữ vị trí rất quan trọng, tiếp tục thực hiện chủ trương “Hướng mạnh vào xuất khẩu” Thực vậy, hiện tại và trong những năm sắp đến, nhu cầu về lượng hàng hóa nước ta sẽ xuất khẩu sang các nước ngày càng nhiều, tiềm năng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam thuộc về các ngành hàng: may mặc, giày dép, dầu lửa, thủy hải sản, đồ gỗ, đồ gia dụng, đồ chơi, máy móc nông nghiệp và cà phê đồng thới nhu cầu lượng hàng nhập khẩu như: vật tư, máy móc thiết bị và một số hàng tiêu dùng mà trong nước chưa sản xuất được ngày càng tăng (phục lục 1.3) Theo đánh giá của VIFFAS, trong tương lai việc giao nhận hàng hóa quốc tế đòi hỏi phải có một nghiệp vụ chuyên môn thành thạo và có mạng lưới đại lý rộng khắp thì mới đáp ứng được yêu cầu
Do vậy, các khách hàng xuất nhập khẩu sẽ lựa chọn con đường ủy thác việc xuất nhập hàng, ủy thác vận tải là mang tính kinh tế hơn là tự đứng ra làm công việc giao nhận
Trang 23Các hãng giao nhận vận tải nước ngoài sẽ từ bỏ các đại lý địa phương, mở chi nhánh tại Việt Nam để giảm phí hoạt động, trực tiếp quản lý nhân lực để nâng cao chất lượng phục vụ Khi đó, mức độ cạng tranh gây gắt buộc doanh nghiệp trong nước phải củng cố để tồn tại và phát triển hoặc xóa sổ hoặc bị mua lại để trở thành chi nhánh của họ Từ đó cho thấy dịch vụ giao nhận vận tải với
xu hướng phát triển có quy mô ngày càng rộng lớn, và nhu cầu về dịch vụ này rất cao, đòi hỏi cần phải có những giải pháp chiến lược thúc đẩy sự phát triển trên phạm vi cả nước nói chung và ở TP.HCM nói riêng
Dự báo thị trường vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường hàng không:
Bảng 1.5: Dự báo thị trường vận tải hàng hóa quốc tế đến 2010
2005 2006 2007 2008 2009 2010
(Nguồn Vietnam Airlines)
1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ giao nhận vận tải của các công ty
trong khu vực ASEAN
Trong khu vực ASEAN, nhiều công ty giao nhận vận tải quốc tế đã và đang di chuyển đến Singapore và Philippines để thiết lập các kho phân phối riêng, đồng thời sử dụng các hệ thống công nghệ thông tin tiên tiến nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu đang thay đổi của người tiêu dùng khu vực Châu Á do sự phát triển vượt bậc của thương mại điện tử mang lại Nhiều công ty giao nhận vận tải nội địa đã phải thành lập liên minh, hiệp hội hoặc sáp nhập với các công
ty giao nhận vận tải đa quốc gia để có thể cung cấp dịch vụ giao nhận toàn diện cho thị trường Xu hướng này sẽ còn tiếp tục phát triển trong những năm tới đây Chính vì thế, đối với các công ty giao nhận và các công ty gom hàng với quy mô nhỏ hơn, họ đang đua nhau giảm giá cước để giành giật thị phần trong dịch vụ
Trang 24gom hàng Tuy nhiên, việc cạnh tranh về giá sẽ không tồn tại lâu dài được Khả năng tốt hơn cho các công ty này là sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau để cùng gia tăng lượng hàng lẻ, đồng thời sử dụng chung các phương tiện, công cụ đóng hàng để chia sẻ các chi phí, cùng nhau phát triển dịch vụ, cải tiến các cách thức, quy trình kinh doanh và cung cấp nhiều hơn nữa các dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng
Các công ty giao nhận có quy mô lớn hơn có nhiều cơ hội trở thành đối tác trực tiếp của các hãng vận tải hàng không và họ có thể cung cấp các dịch vụ giao nhận với chi phí thấp hơn cho khách hàng, thậm chí cho cả các công ty giao nhận khác có cùng dịch vụ nhưng kém năng lực cạnh tranh hơn Liên minh giữa các công ty giao nhận sẽ tiếp tục hình thành trong tương lai để đảm bảo rằng họ có thể cung cấp một hệ thống quản trị dây chuyền cung ứng hoàn chỉnh cho các khách hàng của mình
Các công ty trong khu vực đang mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động để mang lại nhiều giá trị gia tăng cho khách hàng So với các nước Aâu –Mỹ, các nước ASEAN lạc hậu từ 10-15 năm trong việc thiết kế và ứng dụng các công nghệ tiên tiến Tuy vậy, hiện nay trong khu vực đã có nhiều công
ty vận hành được các chương trình phức tạp về quản trị kho-bãi, phân phối hàng hoá nhưng việc sử dụng chỉ mang tính nội bộ, chưa gắn kết với các hệ thống khác để thông tin được thông suốt trong toàn chuỗi cung ứng Đối với các công
ty giao nhận vừa và nhỏ, hầu hết họ chưa sẵn sàng cho việc trang bị những công
nghệ tiên tiến này
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ giao nhận vận tải tại Việt Nam
Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển dịch vụ giao nhận vận tải tại các nước, từ đó ứng dụng vào Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng phù hợp với điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế –xã hội thực tế
Chúng ta phải nhận thức rằng phát triển vận tải là tiền đề thúc đẩy kinh tế tăng trưởng Nhà nước cần phải ưu tiên đầu tư vào những công trình trọng điểm sau :
Trang 25¾ Phát triển cơ sở hạ tầng bao gồm hiện đại hoá sân bay, cảng biển, nâng cấp mở rộng mạng lưới đường bộ, đường thủy, phát triển hệ thống thông tin liên lạc viễn thông,
¾ Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, qui định Hải quan và các ban ngành có liên quan tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ cho việc phát triển dịch vụ giao nhận vận tải
Kinh nghiệm các nước phát triển cho thấy để đạt được kết quả kinh doanh tốt nhất và giữ thế mạnh trong cạnh tranh, các công ty cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế phải đảm bảo :
¾ Chuyên môn hóa trong từng lĩnh vực, từng khâu phục vụ Đầu tư tăng hệ thống kho bãi, phương tiện cả về lượng và chất, triển khai công nghệ thông tin phục vụ thiết thực quản lý
¾ Trình độ tổ chức, quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng nguyên liệu, bảo quản, phân phối, sử dụng thông tin điện tử vào theo dõi quản lý,
¾ Trình độ tổ chức và phối hợp cao giữa các chi nhánh ở các nước cho phép thực hiện hoàn hảo một chu trình vận tải đa phương thức từ quốc gia này sang quốc gia khác dưới nhiều hình thức
Song song đó cũng cần nhấn mạnh đến vai trò của Hiệp hội giao nhận đã góp phần rất lớn trong việc hỗ trợ vào quá trình phát triển dịch vụ giao nhận
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Thông qua những tài liệu đã nghiên cứu thì hoạt động giao nhận vận tải là một hoạt động phải thỏa mãn được hai yếu tố: Các dịch vụ hậu cần trên đất liền; Các phương tiện vận tải và tổ chức vận tải Người giao nhận không chỉ là một kiến trúc sư vận tải mà còn là nhà quản trị về hoạt động hậu cần cho khách hàng
Hoạt động giao nhận vận tải đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới Hoạt động đó ngày càng được củng cố và hoàn thiện, trở thành một nhu cầu cấp thiết không thể thiếu nhất là trong nền kinh tế thị trường ngày nay Vai trò, chức năng của nghiệp vụ giao nhận vận tải hàng hóa ngày càng được mở rộng, phát triển theo hướng hiện đại hóa cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc tế Đồng thời điểm qua kinh nghiệm phát triển dịch vụ giao nhận ở các nước trong khu vực, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm phát triển dịch vụ giao nhận tại Việt Nam
Trang 26CHƯƠNG II :
CHƯƠNG II :THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ GIAO
2.1 PHÂN TÍCH SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH DỊCH VỤ
GIAO NHẬN TẠI TP.HCM
Dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không tại Việt Nam được hình thành và phát triển qua một chặng đường khá dài Bắt đầu từ những năm
1954 – 1975 là giai đoạn đất nước đang xây dựng hòa bình, miền Bắc đang khôi phục và phát triển kinh tế theo chiều hướng nội thương và ngoại thương Công tác giao nhận lúc bấy giờ do tổng công ty giao nhận Viettrans đảm trách, hàng hóa chủ yếu phục vụ cho chiến đấu sản xuất và đời sống như: thiết bị máy móc đơn giản, hàng hóa nhập khẩu để phục vụ chiến tranh chống Mỹ từ các nước thuộc khối Xã Hội Chủ Nghĩa, được vận chuyển bằng đường bộ và đường ven biển Ở miền Nam thì có ba công ty làm đại lý cho các hãng giao nhận nước ngoài với nhiệm vụ chính là dịch vụ quan thuế đường bộ, cung cấp dịch vụ từ tàu, cảng, kho và giao hàng cho khách Tuy nhiên phạm vi hoạt động chỉ là cảng nội địa Hàng nhập là chủ yếu là công nghệ phẩm, hàng tiêu dùng, máy móc trang thiết bị phục vụ chiến tranh… Số lượng xuất rất ít hầu hết là nguyên vật liệu nông sản
Có thể điểm lại những nét lớn các thời kỳ tạm phân ra như sau:
¾ Giai đoạn 1975 – 1985: Xây dựng và hoạt động theo cơ chế tập trung Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đầu tiên được thành lập bởi Công ty Giao nhận Kho vận Ngoại thương Miền Nam ngày 14/07/1975, đây là đơn vị duy nhất làm công tác giao nhận ở khu vực miền Nam, sau đó đổi tên thành Công ty Giao nhận Kho
Trang 27vận Ngoại thương TP.HCM Nền kinh tế nước nhà trong giai đoạn này là kinh tế tập trung và bao cấp Công việc giao nhận vận tải trong đầu năm 80 còn theo cơ chế tập trung bao cấp, hàng hóa xuất nhập khẩu chủ yếu thực hiện theo Nghị định thư hàng năm ký giữa các nước, được độc quyền tiến hành các hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu theo chỉ tiêu do Bộ ngoại thương giao hàng năm, theo mức giá phí được Bộ phê duyệt Các công ty xuất nhập khẩu chuyên
lo việc chuẩn bị hàng hóa xuất nhập khẩu theo từng mặt hàng đã được phân công, còn mọi việc vận chuyển, lưu kho, bảo quản, tái chế, phân loại, làm các thủ tục giao nhận, chuyên chở đều tập trung cho một công ty giao nhận theo hợp đồng ủy thác hàng năm ký giữa các công ty xuất nhập khẩu và công ty giao nhận Do vậy, công việc giao nhận hàng hóa tạo ra thủ tục rườm rà, lề thói quan liêu bao cấp đã làm các khâu công việc thêm phức tạp, lãng phí, Chính vì vậy, nhiều công ty xuất nhập khẩu đã tự tổ chức khâu giao nhận vận tải, không ủy thác qua công ty giao nhận nữa Hoạt động kinh doanh giao nhận trong những năm 80 ở vào tình trạng cực kỳ khó khăn, sản lượng giao nhận giảm sút chỉ bằng 10% cùng kỳ các năm trước đó
Bảng 2.1 : Biểu đồ sản lượng giao nhận từ 1975-1986
70000
200000 140000 115000 190000
125000 115000 112000
230000 180000 270000 950000
1940000 2050000 1850000 1750000
1300000 1150000 1270000
600000
1470000 1600000 1850000
( Nguồn : số liệu tổng hợp của công ty Vinatrans )
Trang 28¾ Giai đoạn 1985 – 1995: Đổi mới toàn diện, phát triển và cạnh tranh có hiệu quả
Năm năm đầu 1985-1990 đất nước bước vào thời kỳ thực hiện đổi mới theo đường lối của Đảng cũng là bắt đầu một thời kỳ chuyển tiếp hết sức khó khăn trong hoạt động giao nhận Do thay đổi cơ chế quản lý, các công ty giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu không theo chỉ tiêu nữa mà là theo sự ủy thác của chủ hàng, trong khi hầu hết các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu đều tự tổ chức giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu Để thoát khỏi tình trạng khó khăn, bế tắc các công ty giao nhận chuyển từ hoạt động giao nhận đơn thuần trong phạm
vi cửa khẩu sang thực hiện các dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế bằng phương thức vận tải tiên tiến như: vận tải đa phương thức, vận chuyển bằng container, vận chuyển “door to door – từ cửa đến cửa”, chuyển phát nhanh, .thông qua việc tiếp xúc thiết lập các quan hệ đại lý với các hãng giao nhận vận tải quốc tế Có thể nói, đây là giai đoạn mà sự tồn tại của các công ty giao nhận bị đe dọa nhâùt, nhưng cũng chính là giai đoạn tìm ra hướng đi mới phù hợp với tình hình thực tế đó là từ công ty chuyên làm các dịch vụ giao nhận trong phạm vi nội địa xung quanh cửa khẩu thành công ty giao nhận vận chuyển quốc tế Vào những năm 1990-1991 do thị trường truyền thống Liên Xô và Đông Âu tan rã nên vì vậy mà hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu bị giảm sút Đến năm 1992, nền kinh tế trong nước dần hồi phục, mạng lưới tiêu thụ được mở rộng sang các nước Tây Âu, Đông Á và Đông Nam Á Giai đoạn 1991-1995 là giai đoạn tập trung phát triển kinh doanh theo hướng mới, mở rộn gnghiệp vụ giao nhận quốc tế và tiếp tục duy trì giao nhận truyền thống, triển khai đa dạng hóa các loại hình dịch vụ Các dịch vụ giao nhận vận chuyển quốc tế đóng vai trò chủ lực Cùng với thời gian, môi trường pháp lý của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện
Trang 29cho các doanh nghiệp trong nước có điều kiện mở rộng quy mô hoạt động đồng thời thu hút được các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
¾ Giai đoạn 1995 – 2005: Giai đoạn các công ty giao nhận vận tải chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp
Như phần trên đã nêu, giai đoạn 1990-1995 là giai đoạn các công ty giao nhận đã có một bước chuyển mạnh mẽ từ công ty chuyên làm các dịch vụ giao nhận trong phạm vi cảng, sân bay sang công ty làm dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế thực thụ với các phương thức vận tải quốc tế đa dạng Đây cũng là giai đoạn thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của chính phủ và cùng với đối tác nước ngoài và các đơn vị trực thuộc thành lập công ty liên doanh nhà nước Quan hệ hợp tác đại lý với các Hãng giao nhận, Hãng tàu biển, Hãng hàng không nước ngoài vẫn tiếp tục được giữ vững, hệ thống mạng lưới dịch vụ có thể cung cấp đến mọi nơi trên thế giới bằng phương thức vận tải khác nhau, hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ không ngừng được hoàn thiện nâng cao với mục tiêu “không sai sót”, “liên tục cải tiến” theo tiêu chuẩn quốc tế Điển hình là các cty như: Vinatrans, Sotrans, Safi, Transimex, Germadept, Viconship,
Dạng công ty kinh doanh giao nhận vận tải bán chuyên nghiệp: các công
ty này vừa kinh doanh vận tải vừa làm đại lý cho các hãng giao nhận, mức độ cung cấp dịch vụ trong nội địa cho khách rất hạn chế hoặc đi thuê lại dịch vụ từ công ty khác Đó là các công ty như: Vosa, Vietfrach, Falcon, Saigonship,
Như vậy, trong 10 năm 1990-2000, cùng với quá trình đổi mới hội nhập quốc tế, lĩnh vực giao nhận vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng xảy
ra tình hình cạnh tranh quyết liệt giữa các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, giữa các đơn vị trong nước với các tổ chức nước ngoài, số lượng đơn
vị kinh doanh giao nhận vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu năm 1986-1987 chỉ có
Trang 30khoảng 5 công ty nhưng đến những năm 1998-1999 đã tăng lên hơn 400 công ty Các công ty giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đã thiết lập hệ thống mạng lưới đại lý rộng khắp trên toàn cầu, là hội viên của Hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA), đại lý hàng hóa của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA) và các Hiệp hội ngành nghề trong nước như: VCCI, VIFFAS,VISABA
Bảng 2.2: Doanh thu và kết quả 10 năm
(Nguồn : số liệu tổng hợp của công ty Vinatrans)
Bảng 2.3: Tổng trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
Trị giá xuất khẩu, nhập khẩu (
Năm
Trang 31(Nguồn: Cục thống kê TP.HCM)
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI
HÀNG KHÔNG TẠI VIỆT NAM
2.2.1 Sơ lược các loại hình hàng hóa giao nhận vận tải
2.2.1.1 Hàng phi mậu dịch:
Là các loại hàng hóa được phép xuất nhập khẩu thuộc loại hình quà, biếu tặng; Hành lý vượt tiêu chuẩn miễn thuế của hàng khách xuất nhập cảnh; Tài sản di chuyển; Viện trợ nhân đạo; Đồ dùng/ vật dụng của cơ quan đại diện ngoại giao/ tổ chức quốc tế; Hàng mẫu, quảng cáo;…
Đặc điểm của loại hình này là không có hợp đồng ngoại thương và không thanh toán qua ngân hàng tiền trao đổi, mua bán hàng hóa Đồng thời phải nộp thuế ngay khi nhận hàng
2.2.1.2 Hàng kinh doanh:
Hàng hóa kinh doanh xuất nhập khẩu là hàng hóa mua bán của thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài theo các hợp đồng ngoại thương Hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu có điều kiện là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải có giấy phép của Bộ thương mại hoặc Bộ quản lý chuyên ngành
Có thể hiểu cụ thể hơn là:
¾ Hàng hóa nhập khẩu nói chung là hàng hóa được phép đưa từ nước ngoài vào lãnh thổ hải quan của một quốc gia, theo pháp luật hải quan và các pháp luật có liên quan của quốc gia đó
¾ Hàng xuất khẩu đối với một quốc gia là hàng không thuộc danh mục hàng cấm hay hạn chế xuất khẩu, được phép rời khỏi lãnh thổ hải quan, nơi xuất phát của hàng hóa, sau khi đã hoàn thành những thủ tục quản lý của Nhà Nước và thủ tục hải quan liên quan đến hàng hóa đó
Trang 32¾ Thiết bị máy móc, phụ tùng, các phương tiện sản xuất kinh doanh (gồm cả phương tiện vận tải) và các vật tư nhập khẩu vào Việt Nam để đầu tư xây dựng
cơ bản hình thành xí nghiệp hoặc để tạo tài sản cố định thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh
¾ Bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật…
do bên nước ngoài dùng để góp vốn pháp định của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc dùng làm vốn ban đầu để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh
2.2.1.4 Hàng gia công xuất nhập khẩu:
Gia công hàng xuất nhập khẩu là một phương thức sản xuất hàng hóa trong đó người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước Người nhận gia công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách Toàn bộ sản phẩm làm ra, người nhận gia công sẽ giao cho người đặt gia công để nhận tiền công Các máy móc thiết bị phục vụ cho hợp đồng gia công sẽ được làm thủ tục giống như đối với lô hàng tạm nhập tái xuất Sau khi kết thúc hợp đồng gia công thì toàn bộ các máy móc thiết bị đó phải được tái xuất trả cho bên đặt gia công
Trang 332.2.1.5 Hàng hóa đưa vào, ra khu chế xuất:
Khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Tất cả hàng hóa ra vào khu chế xuất đều phải có giấy phép đầu tư do Bộ Thương Mại hay ban quản lý khu chế xuất (HEPZA) cấp Hàng hóa ra vào khu chế xuất được miễn thuế xuất nhập khẩu Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các doanh nghiệp trong thị trường nội địa với các doanh nghiệp chế xuất được coi là quan hệ xuất nhập khẩu
Nguyên liệu, vật tư, phụ tùng doanh nghiệp chế xuất mua tại thị trường nội địa phục vụ cho sản xuất phải có văn bản phê duyệt của Ban quản lý khu chế xuất, phải nộp thuế xuất khẩu và các loại thuế, lệ phí liên quan
Phế liệu, phế phẩm có giá trị thương mại của Khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất được tiêu thụ vào thị trường nội địa phải nộp thuế nhập khẩu và các các loại thuế, lệ phí có liên quan
Đối với hàng hóa do doanh nghiệp chế xuất sản xuất ra nếu bán vào thị trường nội địa được coi như hàng nhập khẩu, phải có hợp đồng mua bán và phải nộp thuế như hàng nhập khẩu Quan hệ mua bán hàng hóa giữa các doanh nghiệp trong cùng một khu chế xuất được tiến hành bình thường, phải được Ban quản lý cho phép và phải làm thủ tục hải quan
2.2.2 Thực trạng hoạt động dịch vụ giao nhận vận tải hàng không tại
Việt Nam
Vận chuyển hàng hóa đường hàng không ở Việt Nam trong thời gian qua tập trung chủ yếu vào một số thị trường chính như Châu Aâu (chủ yếu ở Tây Aâu), Bắc Mỹ (chủ yếu Hoa Kỳ và Canada) và Đông Bắc Á (chủ yếu là Nhật Bản) Xuất khẩu vào thị trường Bắc Mỹ và Châu Aâu chủ lực là các mặt hàng dệt may,
Trang 34giày dép, thủ công mỹ nghệ và thủy hải sản Tuy nhiên mức tăng trưởng vào thị trường Châu Aâu ổn định nhưng không cao so với các năm 2002 và 2003 do hàng hóa của chúng ta chưa đáp ứng một số yêu cầu về kỹ thuật do các nước Châu Aâu đặt ra Ngoài ra một số đơn hàng lớn trong ngành may mặc đã bị chuyển sang Trung Quốc Hàng tôm xuất khẩu vào thị trường Mỹ bị áp luật chống bán phá giá Mặt hàng cá ngừ của chúng ta xuất vào thị trường Nhật chỉ được xếp chất lượng thấp so với trước đây Còn các mặt hàng như điện tử, giày dép xuất vào thị trường Nhật khá ổn định
Bảng 2.4: Hàng hóa xuất bằng đường hàng không đi các vùng lân cận
( 1998-2004 )
5,000.00
4 tháng đầu năm 2005
2,000.00 4,000.00 6,000.00 8,000.00 10,000.00
-Tây Aâu Nhật Bắc Mỹ Khác
(Nguồn: Công ty Vinafreight)
Trang 35Hiện nay các công ty giao nhận tại TP.HCM đang cung cấp các loại hình dịch vụ giao nhận chủ yếu sau:
2.2.2.1 Dịch vụ giao nhận – kho vận truyền thống
Dịch vụ giao nhận – kho vận bao gồm các dịch vụ cụ thể sau:
¾ Dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bao gồm khai thê hải quan, làm thủ tục xuất nhập khẩu, giao nhận hàng hóa từ nhà máy hay cơ sở của chủ hàng đến sân bay đối với hàng xuất khẩu hoặc ngược lại đối với hàng nhập khẩu
Với sự cải tiến đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu và qui định hải quan theo chính sách một cửa trong thời gian gần đây, làm cho công tác giao nhận được tiến hành nhanh chóng hơn Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp giao nhận trong nước tham gia vào lĩnh vực này và cạnh tranh gây gắt về giá cả
¾ Dịch vụ kho bãi và đóng gói bao bì : các công ty Gemadept, Transimex, Safi, Sotrans và Vinatrans đạt được hiệu quả cao trong việc kinh doanh kho bãi trong thời gian qua, với tỷ lệ tăng trưởng hành năm bình quân khoảng 70% Trong đó Gemadept đạt hiệu quả cao nhất từ kinh doanh kho, đứng đầu về doanh thu Tuy nhiên nói chung dịch vụ kho bãi còn gặp nhiều khó khăn do đa số kho bãi xuống cấp, trang thiết bị nghèo nàn lạc hậu, sử dụng lao động thủ công trong xếp dỡ là chính, năng suất thấp, công tác bảo quản hàng hóa chưa tốt Dịch vụ đóng gói bao bì hiện nay chỉ dừng lại ở mức độ đóng thùng đơn giản với phương pháp lao động thủ công là chính Còn thiếu nhiều máy móc thiết bị tiên tiến và chưa có đội ngũ công nhân viên lành nghề có trình độ kỹ thuật hiện đại để cung cấp dịch vụ đóng gói cao cấp
¾ Dịch vụ vận tải và kinh doanh bán cước: Trong hoạt động giao nhận quốc tế, các công ty giao nhận đóng vai trò là người môi giới để cung cấp các dịch vụ vận tải thông qua việc kinh doanh mua bán cước Bằng mối quan hệ đại lý và
Trang 36kinh nghiệm về các tuyến luồng vận chuyển, họ thương lượng với các hãng vận tải để đạt được giá cước ưu đãi rồi bán lại cho chủ hàng với giá cước cao hơn để kiếm lợi nhuận
2.2.2.2 Dịch vụ gom hàng lẻ đường hàng không
Kinh doanh dịch vụ gom hàng lẻ là một trong những thế mạnh của các công ty giao nhận vận tải khi cạnh tranh với các hãng hàng không, tại vì các hãng vận chuyển chỉ chú tâm khai thác công nghệ vận tải và bán chỗ lại cho công ty giao nhận vận tải Các công ty giao nhận tập trung một số lô hàng nhỏ, lẻ của nhiều chủ để đóng chung thành lô hàng lớn hơn gửi đi cùng một địa điểm theo cùng một vận đơn hàng không Khi hàng đến địa điểm đích, đại lý của công
ty giao nhận lo liệu nhận lô hàng đó, dỡ ra và chia lẻ Thực hiện dịch vụ gom hàng, doanh nghiệp có lợi là thu được khoản chênh lệch đáng kể do hãng hàng không dành giá thấp hơn cho những lô hàng lớn (bảng giá cước hàng không của các Hãng hàng không)
Việc khách hàng gom hàng lẻ đường hàng không vẫn còn chưa phát triển
vì số lượng hàng lẻ nhiều, nhưng phân bố rải rác ở các công ty giao nhận vận tải khác nhau, các công ty giao nhận vận tải chưa tổ chức được kho hàng tại sân bay Tân Sơn Nhất
Để khuyến khích việc gửi hàng bằng đường hàng không, thường người ta dùng đòn bẩy cước phí để thu hút khách hàng theo nguyên tắc: mức giá cước sẽ tỷ lệ nghịch với khối lượng vận chuyển Cụ thể là với một khối lượng hàng càng lớn thì sẽ nhận được một mức giá cước càng thấp cho mỗi kg hàng
Ví dụ: Đây là mức cước của tuyến đường từ SGN – CDG đối với hàng hóa thông
thường của Vietnam Airlines áp dụng cho đại lý
Trang 37Mức trọng lượng tính cước (kg) dành cho
loại hàng thông thường
Giá cước (USD/Kg) Giá cước tối thiểu tính trên một lô hàng 75 USD/ shipment
Giá cước cho lô hàng có trọng lượng dưới 45 kg 5.50/ Kg
Giá cước cho lô hàng có trọng lượng trên 45 kg 3.60/ Kg
Giá cước cho lô hàng có trọng lượng trên 100 kg 3.20/ Kg
Giá cước cho lô hàng có trọng lượng trên 300 kg 2.75/ Kg
Giá cước cho lô hàng có trọng lượng trên 500 kg 2.55/ Kg
Giá cước cho lô hàng có trọng lượng trên 1000 kg 2.35/ Kg
• Khách hàng A có 280 kg ; Khách hàng B có 230 kg hàng đi Pháp
• Công ty giao nhận chào cho khách hàng A và B với giá cước cho lô hàng trên 100kg: USD 3.50/kg
• Công ty giao nhận trả cho hãng hàng không Vietnam Airlines:
9 Trên 100 kg : USD 3.20
9 Trên 500kg : USD 2.55
Hai khách hàng phải trả cho công ty giao nhận số tiền là: USD 1785 Trong đó:
9 Khách hàng A: 280kg x USD 3.50 = USD 980
9 Khách hàng B: 230kg x USD 3.50 = USD 805
• Về phía công ty giao nhận thì sẽ phải trả cho hãng hàng không số tiền: Công ty giao nhận : 510 kg x USD 2.55 = USD 1300.50
• Mức lợi nhuận công ty có thể thu được từ việc gom hàng là:
USD 1785 - USD 1300.5 = USD 484.5
Nghiệp vụ gom hàng sẽ giúp người giao nhận hưởng chênh lệch giữa tổng tiền cước thu được ở những người gửi hàng lẻ và tiền cước phải trả cho hãng hàng không thấp hơn Người gom hàng cũng thường được hưởng giá cước ưu đãi mà các hãng hàng không dành cho vì họ luôn có khối lượng hàng hóa lớn và thường xuyên để gửi