Lý do chọn đề tài - Dân tộc Khmer đóng vai trò rất quan trọng về nhiều mặt ở khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.Việc nghiên cứu tiếng Khmer và song ngữ KV đóng góp nhất định cho sự phát
Trang 1ĐINH LƯ GIANG
TÌNH HÌNH SONG NGỮ KHMER-VIỆT TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: GS.TS BÙI KHÁNH THẾ
LUẬN ÁN TIẾN SỸ NGÔN NGỮ HỌC
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 21 Lý do chọn đề tài
- Dân tộc Khmer đóng vai trò rất quan trọng về nhiều mặt ở khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.Việc nghiên cứu tiếng Khmer và song ngữ KV đóng góp nhất định cho sự phát triển của cộng đồng và sự ổn định văn hoá, xã hội và chính trị trong vùng
- Vấn đề song ngữ thuộc lĩnh vực NNH Xã hội, cần được phát triển ở Việt Nam, đặc biệt là giữa tiếng Việt với ngôn ngữ dân tộc thiểu số, là lĩnh vực thú vị và có tính ứng dụng trong nghề nghiệp của chúng tôi
- Luận án này được phát triển từ luận văn cao học về đề tài song ngữ KV, vì vậy có thể tận dụng được một số kết quả nghiên cứu trước đó và khai thác được khía cạnh
so sánh mô tả lịch đại
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là mô tả các đặc điểm môi trường, đặc điểm cộng đồng, đặc điểm ngôn ngữ học, cung cấp một bức tranh toàn cảnh về tình hình song ngữ KV hiện nay của đồng bào Khmer ĐBSCL
Nhiệm vụ nghiên cứu là hệ thống hoá và giới thiệu các lý thuyết liên quan đến nội dung luận án; giới thiệu về ĐBSCL và các địa bàn nghiên cứu; miêu tả và chỉ ra các đặc điểm của cộng đồng song ngữ KV; mô tả và phân tích các hệ quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ KV; và, tổng thuật, phân tích, đánh giá cũng như gợi ý những chính sách ngôn ngữ, chính sách giáo dục song ngữ và giáo dục ngôn ngữ cho người Khmer vùng song ngữ
3 Tính cấp bách, cần thiết, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Hiện nay, tình hình song ngữ KV ở ĐBSCL tương đối đa dạng và phức tạp: một
bộ phận người Khmer chưa thông thạo tiếng Việt và cả tiếng Khmer, tỷ lệ mù chữ Khmer còn cao, vì vậy cần phải có những nghiên cứu, mô tả và từ đó đưa ra những gợi ý về mặt chính sách
Ý nghĩa khoa học của luận án là góp phần củng cố các lý thuyết về Ngôn ngữ
học Tiếp xúc (NNHTX); gợi ý các hướng nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu song ngữ trên cơ sở liên ngành giữa ngôn ngữ học, xã hội học và dân tộc học: giữa định lượng và định tính, giữa ngôn ngữ học điền dã và dân tộc học; làm nổi bật các giá trị khoa học qua việc nghiên cứu sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ có đặc thù đơn lập; cung cấp các tư liệu phục vụ cho các đề tài tương tự Về ý nghĩa thực tiễn, luận
Trang 3án cung cấp thêm sự hiểu biết về tình hình sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng Khmer
ở ĐBSCL, cung cấp các kết quả khoa học cho việc hoạch định các chính sách dân
tộc, chính sách giáo dục, chính sách ngôn ngữ, cũng như cơ sở cho công tác quản lý
giáo dục, quản lý chính quyền tại các địa phương ở góc độ song ngữ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tiếng Việt Nam Bộ và tiếng Khmer ở ĐBSCL Đề tài nghiên cứu giới hạn trong việc nghiên cứu người Việt gốc Khmer và không nghiên cứu đối tượng song ngữ là người Việt Về mặt thời gian, đề tài này được thực hiện trong 3 năm 2007 đến 2010 với các dữ liệu, vấn đề song ngữ trong thời gian 10 năm trở lại đây (2000 – 2010) Về mặt không gian địa lý, luận án chỉ nghiên cứu ở khu vực ĐBSCL, thuộc lãnh thổ Việt Nam, trong đó tập trung ở Trà Vinh, Sóc Trăng,
An Giang
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số được thống kê từ những năm 1990 cho đến 2002 qua cuốn “Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam từ những năm 90” của Viện Thông tin Khoa học Xã hội (Trung tâm KHXH & NV Quốc gia) với 58 công trình (sách, bài viết) về vấn đề chung và 235 công trình về các ngôn ngữ dân tộc khác nhau Mảng đề tài tiếp xúc ngôn ngữ và song ngữ cũng được thể hiện qua thư mục nghiên cứu khá đầy đủ của Lý Tùng Hiếu (“Thư mục
chọn lọc về tiếp xúc ngôn ngữ”, trong Tiếp xúc ngôn ngữ ở Việt Nam, NXB Khoa
học Xã hội, tr 289-305) với 169 tài liệu
Việc nghiên cứu tiếng Khmer, ngoài những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đối với tiếng Khmer ở CPC được công bố ở tạp chí Mon-Khmer Studies, JSEALS và một số tạp chí quốc tế khác, ngoài các công trình nghiên cứu về dân tộc học và ngôn ngữ học về các đặc điểm của tiếng Khmer, còn có các bộ từ điển, sách giáo khoa tiếng Khmer của bộ phận trí thức Khmer Việc nghiên cứu về tiếng Khmer Nam Bộ còn được một số các khoá sinh viên thuộc khoa Văn hóa học (Đại học Trà Vinh), khoa Ngữ văn và Báo chí (trước đây) và khoa Văn học và Ngôn ngữ (bây giờ) (ĐHKHXH và NV – ĐHQG TP Hồ Chí Minh), Trung tâm nghiên cứu giáo dục (ĐHSP TP HCM)… thực hiện
Riêng việc nghiên cứu song ngữ KV còn ít, khá sơ lược trong các cuốn địa chí, trong phần mở đầu của các nghiên cứu xã hội học, nhân học, lịch sử về ĐBSCL và
Trang 4về cộng đồng Khmer Ngoài luận văn thạc sĩ của chúng tôi (2003), còn có một vài nghiên cứu của một số tác giả khác ở các góc độ từ chính sách ngôn ngữ, đến giáo dục song ngữ, đến các vấn đề cấu trúc ngôn ngữ
Luận án được bắt đầu từ năm 2001 khi thu thập tài liệu cho luận văn thạc sĩ và đến nay, khoảng 12 đợt điền dã đã được thực hiện, mỗi đợt kéo dài từ 1 tuần đến hơn 1 tháng, với khoảng 1,2 Gb dữ liệu âm thanh dạng wav, khoảng 300 hình ảnh
và tiếp xúc gần 60 CTV (ngoài số 300 đối tượng được phỏng vấn bằng bảng hỏi)
6 Cơ sở lý luận
Về mặt lý luận, luận án được nghiên cứu trên hai cơ sở lý thuyết, đó là Ngôn
ngữ học tiếp xúc (Contact Linguistics), trước đây được gọi là Lý thuyết Tiếp xúc ngôn ngữ (Theory of Language Contact), và lý thuyết Ngôn ngữ học đối chiếu (Theory of Contrastive Linguistics)
7 Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp, luận án có sự kết hợp giữa định lượng và định tính
7.1 Hướng tiếp cận định lượng: dữ liệu được thu thập qua phương pháp thống
kê xã hội học như là phương pháp chủ đạo, lấy cơ sở trên việc chọn mẫu phân tầng,
sử dụng bảng hỏi tổng hợp và việc xử lý số liệu bằng phần mềm MS Excel
Chọn mẫu: Mẫu được chọn theo từng phân tầng, với tỷ lệ lấy từ cơ cấu toàn ĐBSCL (trên cơ sở Niên giám thống kê năm 2007 của 3 tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng
và An Giang) Ba phân tầng được sắp xếp theo thứ tự như sau:
- Phân tầng thứ nhất – giới tính, có hai biến độc lập là nam và nữ
- Phân tầng thứ hai – nghề nghiệp Ở phân tầng này có sự phân biệt nhỏ giữa nam – nữ bởi tính chất hoạt động nghề nghiệp khác nhau Đối với nam, các biến được chọn là nông dân; người buôn bán; cán bộ địa phương; sư sãi, giáo viên; lái xe
ôm, xe ba gác và người làm thuê làm mướn Đối với nữ, đó là các biến nông dân; người buôn bán; cán bộ địa phương; giáo viên; làm thuê làm mướn; nội trợ
- Phân tầng thứ ba – độ tuổi Phân tầng này bao gồm 3 biến tố, thể hiện ở 3 nhóm: 1 – 30 tuổi; 31 – 60 tuổi, trên 60 tuổi
Nghiên cứu đa trường hợp: 3 huyện được chọn nghiên cứu điển hình, đó là các huyện Trà Cú (tỉnh Trà Vinh), huyện Vĩnh Châu (tỉnh Sóc Trăng) và huyện Tri Tôn (tỉnh An Giang), là các huyện đông đồng bào Khmer nhất ở ĐBSCL
Trang 57.2 Hướng tiếp cận định tính: được sử dụng trong luận án để đi sâu vào chi tiết
và kiểm chứng, mô tả thêm về kết quả định lượng
Nghiên cứu tư liệu: được sử dụng trong việc tham khảo các công trình
nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn trước đó về tiếng Việt, tiếng Khmer cũng như
song ngữ nói chung
Nghiên cứu hồi cố (lịch sử lời kể): được sử dụng ở các cuộc phỏng vấn sâu nhằm tìm lại những thông tin trong quá khứ
6.3 Các phần mềm xử lý thông tin: Phần mềm xử lý ngữ âm Praat: PRAAT và Speech Tools; phần mềm thống kê MS Excel, phần mềm bản đồ MapInfo
8 Bố cục luận án
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận án được cấu trúc thành 4 chương Chương 1: Bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ Khmer-Việt ở ĐBSCL Chương 2: Một số đặc điểm của cộng đồng song ngữ Khmer-Việt ở ĐBSCL Chương 3: Một số hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ Khmer-Việt ở ĐBSCL Chương 4: Một số vấn đề chính sách và giáo dục song ngữ KV ở ĐBSCL Luận án còn có 188 tài liệu tham khảo và
15 phụ lục
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ Khmer-Việt ở ĐBSCL
1.1 Ngôn ngữ học tiếp xúc
1.1.1 Các định nghĩa và khái niệm
NNHTX hay Lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ khởi phát từ cuối thế kỷ XIX với
“Sự pha trộn ngôn ngữ” của H Schuchardt (1842-1927) Sau đó, các tác giả Boudouin de Courtenay (1845-1929) với “Bàn về tính chất pha trộn của tất cả các ngôn ngữ” (1900), “Bàn về khái niệm pha trộn ngôn ngữ” (1926 và 1958), rồi L.V Scerba (1880-1940) với “Thổ ngữ Đông Lugits” (1915) đã phát triển lý thuyết này Tuy nhiên, sự mở đầu đích thực của nó là cuốn “Language in contact: Findings and Problems” (1953) của U Weinreich Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng NNHTX được hiểu chung nhất là sự tác động qua lại giữa hai hay nhiều ngôn ngữ cận kề về mặt địa lý hay về mặt xã hội
1.1.2 Các lĩnh vực nghiên cứu của NNHTX
Trang 6NNHTX nghiên cứu 3 địa hạt chính là nghiên cứu môi trường, nghiên cứu biến đổi và nghiên cứu hoạch định
1.1.3 Các hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ
Hai ngôn ngữ tiếp xúc với nhau có thể có các hệ quả là sự phát triển quy tụ giữa các ngôn ngữ trong một liên minh ngôn ngữ, giao thoa ngôn ngữ nghĩa như là
sự biến đổi của các ngôn ngữ, và song ngữ như là tình hình hay trạng thái diễn ra trong một cộng đồng hay trong mỗi cá nhân
1.2.1.2 Lịch sử tiếp xúc ngôn ngữ KV ở ĐBSCL
Lịch sử tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Khmer cũng theo tiến trình lịch sử trên, bao gồm các thời kỳ yếu (cho đến thập kỷ 1620), thời kỳ tự phát (đến 1698), thời kỳ mạnh mẽ (đến cuối thập kỷ 1950), thời kỳ mạnh mẽ, có định hướng và toàn diện (cho đến nay)
1.2.1.3 Vài nét về người Khmer ở ĐBSCL
Người Khmer ở Việt Nam có số dân khoảng 1,2 triệu, tập trung ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang và Kiên Giang Họ sống thành các phum, sóc, lấy Phật giáo Nam tông làm tín ngưỡng Văn hoá lễ hội của người Khmer gồm có các dạng Phật giáo, Bà la môn giáo hay tín ngưỡng nông nghiệp Cơ cấu kinh tế chủ yếu
là nông nghiệp và có chỉ số phát triển thấp
1.2.2 Các trường hợp nghiên cứu điển hình
Luận án chọn 3 xã có những tương đồng về nhiều mặt là các xã Tập Sơn (huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh), xã Vĩnh Châu (huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng) và
Trang 7xã Cô Tô (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) là những xã đông người Khmer nhất để nghiên cứu điển hình Các xã được mô tả trong luận án một cách tỉ mỉ ở các mục 1.2.2.1 đến 1.2.2.3 với các thông tin về vị trí địa l , dân số và dân tộc, tổ chức hành chính, cơ sở tôn giáo, hoạt động kinh tế và nghề nghiệp
1.2.3 Tiếng Việt, tiếng Khmer và sự phát triển quy tụ của các ngôn ngữ Đông Nam
Á
1.2.3.1 Tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của Việt Nam, thuộc vào loại hình ngôn ngữ đơn lập, đơn tiết tính, không biến hình, bao gồm các lớp từ thuần Việt, gốc Hán, gốc Ấn-Âu Tiếng Việt có 6 thanh điệu Ở góc độ ngữ pháp, tiếng Việt là một ngôn ngữ phân tích tính (analytic), không có hình thái; có trật tự các thành tố trong câu là SVO và trong danh ngữ là trung tâm trước, bổ ngữ sau Tiếng Việt có hệ thống danh từ chỉ loại, có hệ thống chuỗi động từ; là một ngôn ngữ thiên đề thuyết hơn là chủ vị; có hệ thống từ tình thái; có các loại câu đơn, câu ghép và câu đặc biệt v.v…Về mặt phương ngữ, có ba phương ngữ chính là Bắc Bộ (cho đến Thanh Hoá), Trung Bộ (từ Thanh Hoá đến đèo Hải Vân), Nam Bộ (từ Quảng Nam – Đà Nẵng đến TP Hồ Chí Minh và khu vực miền Tây)
1.2.3.2 Tiếng Khmer
Tiếng Khmer là ngôn ngữ đơn lập, nhưng không đơn tiết tính mà cận âm tiết, được phát triển từ hệ thống ký tự Pallava của miền Nam Ấn độ Tiếng Khmer là ngôn ngữ không có thanh điệu Với 30 nguyên âm đơn và đôi và với 33 phụ âm thuộc hai giọng o và ô, tiếng Khmer là ngôn ngữ có nhiều âm vị nhất Từ vựng gồm lớp từ cơ bản gốc Nam Á, từ gốc Pali, Sanskrit, gốc Pháp, Việt và Thái Tiếng Khmer được cho rằng có 4 phương ngữ chính: Battambang (ở khu vực phía Bắc); Phnôm Pênh, Surin (phía đông bắc Thái Lan) và Nam Bộ (vùng ĐBSCL, Việt Nam) Một đặc điểm quan trọng là tính chất song thể ngữ ở khu vực ĐBSCL
Qua việc mô tả hai ngôn ngữ trên, có thể thấy những điểm tương đồng và khác biệt như đã đề cập trong luận án
1.2.3.4 Sự phát triển hội tụ của các ngôn ngữ Mon-Khmer và của hai ngôn ngữ KV
Hai ngôn ngữ này, trong tiếp xúc có khuynh hướng phát triển hội tụ, trong đó chủ yếu là theo hướng tiếng Khmer phát triển xích lại tiếng Việt Đều chịu sự tác động của quá trình đơn tiết hoá, tuy nhiên, mức độ và sự “phản ứng” của các ngôn
Trang 8ngữ này đối với xu hướng đơn tiết hoá là khác nhau: Tiếng Việt hình thành thanh điệu, còn tiếng Khmer nhân đôi hệ thống nguyên âm Sự phát triển hội tụ ở góc độ
từ vựng là vay mượn lẫn nhau và góc độ ngữ pháp là sự mô phỏng một số cấu trúc danh ngữ
1.3 Xác định cảnh huống tiếng Khmer ở ĐBSCL
1.3.1 Tiêu chí phân loại
Xác định cảnh huống ngôn ngữ dân tộc nói chung được đặt cơ sở trên 3 tiêu
chí là tính duy nhất, tính tiếp giáp địa lý và tính kết dính của John White
1.3.2 Các loại hình cảnh huống ngôn ngữ
Sau khi bỏ đi những tiêu chí loại trừ lẫn nhau, các cảnh huống ngôn ngữ bao gồm 10 nhóm:
Nhóm 1: THIỂU SỐ DUY NHẤT (duy nhất + kết dính) [+DN] [+KD]
Nhóm 2: THIỂU SỐ DUY NHẤT RỜI RẠC (duy nhất + không kết dính) [+DN]
Nhóm 9: THIỂU SỐ ĐỊA PHƯƠNG KẾT DÍNH [+ĐP] [-TG] [+KD]
Nhóm 10: THIỂU SỐ ĐỊA PHƯƠNG RỜI RẠC (thiểu số địa phương + không tiếp
giáp + không kết dính) [+ĐP] [-TG] [-KD]
1.3.3 Loại hình của cảnh huống tiếng Khmer
Từ 10 nhóm trên, chúng tôi xác định tiếng Khmer thuộc nhóm 7 ([+ĐP] [+TG] [+KD]) với những đặc điểm như:
Trang 9[+ĐP]: Tiếng Khmer là ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam, Thái Lan và Mỹ, nhưng lại
ngôn ngữ đa số ở CPC
[+TG]: Cộng đồng người Việt Nam gốc Khmer sống cận kề với CPC
[+KD]: Mức độ kết dính giữa các cộng đồng Khmer tại ĐBSCL là tương đối chặt
- Song ngữ KV là song ngữ chiều sâu
- Song ngữ KV là song ngữ có song thể ngữ
Chương 2: Một số đặc điểm của cộng đồng song ngữ Khmer-Việt ở ĐBSCL 2.1 Các môi trường song ngữ ở ĐBSCL
2.1.1 Môi trường song ngữ về mặt địa lý
Môi trường tiếp xúc ở CPC: Sự cận kề địa lý giữa Việt Nam và CPC cũng như sự cộng cư đan xen giữa người Khmer Nam Bộ và người Việt (và cả người Hoa) đã tạo điều kiện cho các ngôn ngữ tiếp xúc với nhau ở CPC Hiện nay, số lượng người Việt ở CPC lên đến 130 000 người, tập trung ở Phnôm Pênh, 5 tỉnh quanh khu vực biển Hồ, 5 tỉnh ở phía nam và tây nam, vùng đông nam, chủ yếu là tỉnh Prey Veng
Môi trường tiếp xúc ở ĐBSCL: Môi trường này được nhận thấy ở 3 góc độ:
tỷ lệ đồng bào Khmer ở các địa phương, mức độ cộng cư đan xen, đặc điểm hoạt động kinh tế
2.1.2 Môi trường song ngữ về mặt xã hội
Sự tiếp xúc ngôn ngữ KV diễn ra ở nhiều môi trường kinh tế xã hội như: 2.1.2.1 Môi trường gia đình, cộng đồng hàng xóm
2.1.2.2 Môi trường giáo dục
2.1.2.3 Môi trường hoạt động nghề nghiệp
2.1.2.4 Môi trường giao tiếp chính quyền
2.1.2.5 Môi trường văn hoá lễ hội
2.1.2.6 Môi trường thông tin truyền thông đại chúng
Trang 102.1.2.7 Môi trường văn bản tài liệu
Có thể thấy các môi trường tiếp xúc ngôn ngữ KV rất đa dạng và toàn diện Đây là sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ của hai dân tộc cùng là chủ nhân của một vùng đất, và là sự tiếp xúc tình cảm, tự nguyện và bình đẳng
2.2 Phân loại người Khmer về mặt song ngữ
2.2.1 Phương pháp và tiêu chí phân loại
2.2.1.1 Lựa chọn phương án nghiên cứu và lập bảng hỏi
Do quy mô cá nhân, phương pháp được chọn ở đây là phỏng vấn dựa trên bảng hỏi, với các hướng: (1) kết hợp điều tra năng lực và việc sử dụng ngôn ngữ; (2) xác định mục tiêu điều tra là phân bố (distributive); (3) xây dựng theo hướng kiểm tra theo quy chiếu chuẩn mực Từ đó bảng hỏi nhằm vào 4 mục đích chính: (1) cảm nhận của bản thân đối tượng về trình độ song ngữ; (2) tình hình sử dụng song ngữ; (3) đánh giá trình độ các ngôn ngữ qua 4 kỹ năng và (4) đánh giá mức độ chênh lệch giữa các ngôn ngữ
2.2.1.2 Các tiêu chí phân loại và các bước tiến hành:
- Tiêu chí thứ nhất - Sự chênh lệch giữa các ngôn ngữ
- Tiêu chí thứ hai - Trình độ của ngôn ngữ
- Tiêu chí thứ ba - Sự chênh lệch giữa các nhóm kỹ năng
Việc phân loại tiến hành trên 300 mẫu được thực hiện theo các bước sau: Bước 1: Lập bảng câu hỏi dựa trên các mục đích và tiêu chí đã nêu trên
Bước 2: Điều tra thí điểm
Bước 3: Điều chỉnh bảng hỏi
Bước 4: Chọn mẫu theo phương pháp phân tầng
Bước 5: Chọn và tập huấn phỏng vấn viên
Bước 6: Triển khai cho phỏng vấn viên tiến hành phỏng vấn theo bảng hỏi
Bước 7: Nhập dữ liệu trên máy tính
Bước 8: Xử lý dữ liệu bằng phần mềm thống kê
Bước 9: Phân chia các kiểu loại người song ngữ dựa trên kết quả nghiên cứu
Bước 10: Kết hợp một số kiểu loại người song ngữ thành các nhóm người song ngữ Bước 11: Chọn ngẫu nhiên một số trường hợp trong mỗi nhóm để phỏng vấn sâu 2.2.2 Kết quả phân loại
2.2.2.1 Các kiểu loại người Khmer về mặt song ngữ