1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Hầm Hồ Treo - Dạng thức mới của phương pháp đào đá cơ giới hóa pptx

6 328 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 273,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Đức Toản Bài đã đăng trên Tạp chí Cầu Đường Việt Nam tháng 6 năm 2001 Tóm tắt: Công ty Atlas Copco đang có các máy khoan tạo nên một thế hệ mới của thiết bị khoan đá thủy lực c

Trang 1

Hầm Hồ Treo - Dạng thức mới của phương

pháp đào đá cơ giới hóa

H Hamrin

Tập đoàn Xây dựng Hầm và Khai mỏ Atlas Copco AB, Thụy Điển

Biên dịch: KS CN Nguyễn Đức Toản

Bài đã đăng trên Tạp chí Cầu Đường Việt Nam tháng 6 năm 2001

Tóm tắt:

Công ty Atlas Copco đang có các máy khoan tạo

nên một thế hệ mới của thiết bị khoan đá thủy lực có

khả năng vận hành cao hơn 50% Cùng với thiết bị

khoan đá mới, các hệ thống kiểm soát tinh tế cũng

được thiết kế gắn với vận hành khoan, nhằm có được

năng suất khoan cao hơn và duy trì tính kinh tế của cả

giàn khoan và các bộ phận cột cần khoan của nó

Các giàn khoan hiệu suất cao và kiểm soát tự động

là các đặc trưng nổi bật của máy khoan Rocket

Boomer, dùng cho các nhà thầu thi công hầm Hai

giàn Rocket Boomer đã được sử dụng thành công

trong xây dựng Hầm Hồ Treo (Hanging Lake) tại dự

án mở rộng đường I 70 của Mỹ Bài viết này sẽ trình

bày các kinh nghiệm về khoan đào đá tại Hồ Treo

Thói quen truyền thống ở Mỹ từ lâu là hỗ trợ đào

dưới ngầm bằng các vòm thép và kết cấu chống bằng

gỗ Hồ Treo là một trong những dự án áp dụng

Phương pháp Xây dựng Hầm mới của Áo (NATM -

New Austrian Tunneling Method), một kỹ thuật kết

hợp đào đá và gia cường đá theo một cách thức có hệ

thống Kỹ thuật NATM áp dụng rất dễ cho các thiết bị

cơ giới hóa, như các máy để khoan đá và neo bulông

vào đá Kỹ thuật này cho ta tiến trình làm hầm hiệu

quả, an toàn, việc đào đá hoàn thành 4 tháng trước quy

định

1 MÁY KHOAN HẦM

Máy khoan là một thiết bị quan trọng nhất cho nhà

thầu nào cần phải tiến hành đào đá làm hầm bằng

khoan - nổ mìn Có rất nhiều loại máy khoan hầm của

nhiều nhà sản xuất khác nhau, để đáp ứng yêu cầu về

khả năng và năng suất tại một dự án nhất định Máy khoan phải có khả năng khoan được các lỗ đặt mìn khi yêu cầu trong phạm vị tiết diện hầm, trong một thời gian ngắn, nhằm đẩy nhanh tiến độ làm hầm

Sự phát triển liên tục của kỹ thuật đem lại một máy khoan hầm mới và tiên tiến Bài viết này nói về máy

khoan đá thủy lực tốc độ cao COP 1440, và máy

khoan Rocket Boomer, các ưu điểm của chúng được lợi dụng như thế nào tại dự án hầm Hồ Treo

Các phương pháp đào hầm đang phát triển rất nhanh, đồng thời nâng cao độ an toàn đối với các tai nạn truyền thống khi đào đá dưới ngầm

2 MÁY KHOAN THỦY LỰC MỚI

2.1 Máy khoan Rocket Boomer Các máy khoan hầm của công ty Atlas Copco có tên là Boomer Loại máy khoan Rocket Boomer mới được giới thiệu cho các nhà thầu xây hầm vào năm

1987 Hai máy Rocket Boomer tại Hồ Treo là những chiếc đầu tiên làm việc tại Mỹ

Từ "Rocket" (Tên lửa) ngụ ý một năng lực khoan cao hơn một máy khoan Boomer bình thường Rocket Boomer được trang bị hai búa khoan năng suất cao loại COP 1440, chúng hoạt động bằng một bộ nguồn

55 kW Có thể so sánh: loại Boomer thường chỉ có

nguồn 45 kW cho búa khoan COP 1238 mà thôi

Rocket Boomer được giới thiệu năm 1987 và từ đó trở thành một công cụ phổ biến cho các nhà thi công hầm trên khắp thế giới

Trang 2

Ban đầu Rocket Boomer được thiết kế để trở thành

một mỏy khoan 2 cần (dầm/tay với - boom) Người ta

nghĩ rằng năng suất của 2 bỳa khoan nhanh COP 1440

cú thể thỏa món được thậm chớ cỏc yờu cầu cao nhất

về năng suất Nhưng khụng lõu sau, cỏc nhà thầu nhận

thấy rằng, nếu lắp thờm một cần COP 1440 khỏc cú

thể khiến năng suất cao hơn nữa, do đú loại Rocket

Boomer 3 cần khoan trở nờn thụng dụng hơn Phiờn

bản mới nhất của loại Rocket là "Pocket Rocket", một

mỏy khoan gọn nhẹ năng suất siờu cao

Hiện nay loại Rocket Boomer 50 đang làm việc tại

cỏc cụng trỡnh hầm trờn khắp thế giới Và số lượng

loại Rocket Boomer 2 cần ban đầu đó bị vượt qua

nhiều bởi loại Rocket Boomer 3 cần hiệu suất cao hơn

Cho đến nay Rocket Boomer đó được cỏc nhà thầu

ở Italy, Na Uy, Áo và Đức ưa chuộng Hai mỏy

Rocket Boomer tại Hồ Treo là hai chiếc duy nhất

thuộc loại này trờn đất Mỹ

Rocket Boomer khụng chỉ tạo nờn năng suất khoan

lớn mà cũn cú độ tin cậy cao và dễ sử dụng Đú là lời

nhận xột của chớnh cỏc nhà thầu và thợ khoan tại cỏc

cụng trường nơi mà Rocket Boomer được sử dụng

2.2 Năng lượng khoan và Độ xuyờn đỏ

Năng lượng cho bỳa khoan COP 1440 được cấp từ

một may bơm, chạy bằng một mụtơ điện 55 kW Dũng

dầu thủy lực ỏp lực cao sau đú kớch động cơ cấu va

đập, cơ cấu này là bớ quyết cho khả năng xuyờn đỏ

Mũi khoan xuyờn vào đỏ nhanh đến đõu phụ thuộc

vào sự làm việc của cơ cấu va đập và vào độ cứng của

đỏ, thường được biểu thị bằng cường độ nộn Loại sa

thạch mềm cú thể khoan với tốc độ 4 m/phỳt trong khi

đú với loại granit cứng là 2,5 m/ph

Trong mỏy khoan, piston chạy lờn xuống với tốc độ

50 đến 60 lần một giõy Mỗi khi piston chạm vào đỏy

ống xilanh, nú tạo ra một năng lượng chấn động dạng

súng xung kớch, truyền qua cột cần khoan tới mũi

khoan Tại đõy, cỳ đập gõy ra ứng suất trong khối đỏ

rồi phỏ đỏ ra từng mảnh

Việc đập liờn hồi tớch luỹ cụng suất tới 1 kW, là

năng lượng khoan của một mỏy khoan đỏ nhất định

Theo định luật vật lý, cụng suất là một hàm số của

khối lượng piston và vận tốc của nú tại thời điểm va

chạm Một ỏp suất thủy lực lớn hơn sẽ làm tăng vận

tốc của piston và do đú tăng cao năng suất khoan đỏ

Ngoài ra, tốc độ va đập nhanh hơn cũng làm tăng cụng

suất kW của mỏy khoan

2.3 Năng lượng lớn hơn cho mũi khoan Năng lượng mỏy khoan là nhằm nghiền nỏt đỏ Nếu năng lượng nghiền tăng lờn sẽ sản sinh ra tốc độ khoan nhanh hơn Khi năng lượng sinh ra bởi cơ cấu va đập tăng lờn, bản thõn mỏy khoan đỏ, và cột cần khoan sẽ chịu lực tỏc dụng ngày càng lớn hơn Khi năng lượng truyền được hết qua mũi khoan, mọi sự đều tốt đẹp

Những cố gắng đầu tiờn của việc khoan Rocket được thực hiện với một bỳa khoan đỏ COP 1440 cú cơ cấu xung kớch được điều chỉnh để tạo cụng suất 20

kW Mỏy khoan này đó đạt được độ xuyờn sõu đầy ấn tượng 3,6 m/ph qua đỏ cứng sơ khai (kỷ tiền Cambri)

Và trong đỏ mềm thỡ nhanh, nhanh hơn rất nhiều

Loại "turbo" COP 1440 này sớm thể hiện nhược điểm Cỏc bộ phận cần cột khoan bị hỏng chỉ sau một thời gian ngắn sử dụng, cú cỏc vấn đề về duy trỡ tớnh làm việc liờn tục của Rocket Boomer Năng lượng xung kớch 20 kW là quỏ lớn đối với cả bỳa khoan và cần khoan

Những kinh nghiệm ban đầu về tuổi thọ thộp bỳa khoan kộm và cỏc vấn đề cơ khớ đó khiến cho mỏy Rocket Boomer cú một khởi đầu tồi tệ Và cỏc nhà thiết kế khoan đỏ cú một bài toỏn khú khăn phải giải quyết trước khi Rocket Boomer thực sự cú thể đem ra giới thiệu với khỏch hàng

May sao, thủy lực là một phương tiện truyền năng lượng linh hoạt Cụng suất khoan đầu ra được quy định đơn giản thụng qua ỏp suất thủy lực Một bộ nguồn 55 kW và ỏp lực thủy lực được giảm đi để cú được loại bỳa khoan COP 1440 với năng lượng xung kớch 17 kW

Hình 3 - Công suất khoan đá vμ tốc độ xuyên

0 1 2 3 4

Năng l−ợng xung kích, kW

Tốc độ xuyên, m/ph Bỳa khớ nộn COP 900

Thủy lực nhẹ COP 1032

5.0 10.0 15.0 20.0 25.0

Lỗ khoan 45mm, Granit, 220 MPa Bỳa thủy lực Turbo

COP 1440

Thủy lực CS cao COP 1440

Thủy lực tiờu chuẩn COP 1238

Trang 3

Tính năng xuyên bị giảm đi chút ít Nhưng với tốc

độ 2,4 m/ph trong đá 220 MPa, búa COP 1440 khoan

nhanh hơn hầu hết các máy khoan đá đào hầm khác

Tên của máy khoan vẫn được giữ là Rocket Boomer

Tuy nhiên, vẫn còn có điều phải nói về cách xử trí

năng lượng xung kích

2.4 Hệ thống kiểm soát khoan tự động

Nếu mũi khoan không được đặt chặt chắc vào đá,

sóng xung kích sẽ dội lại Vì năng lượng không thể

triệt tiêu, nó truyền vào các cơ cấu cơ khí của hệ

khoan Tại đó nó gây mài mòn các bộ phận khoan và

gây ứng suất mỏi cho thép máy khoan Với một giàn

khoan đá công suất cao như COP 1440, việc chế ngự

công suất va đập trở thành một vấn đề không dễ

Cùng với bộ nguồn mới, một hệ thống mới gọi là

Kiểm soát Cung cấp Áp lực Quay (RPCF, Rotation

Pressure Feed Control) cũng được áp dụng vào hệ

thống thủy lực của Rocket Boomer Những kinh

nghiệm tốt đẹp đã dẫn tới một cải tiến xa hơn, gọi là

Kiểm soát Va đập Áp lực Quay (RPCI, Rotation

Pressure Control Impact), cũng được đưa vào cùng

hệ thống đó

Các hệ thống này cùng tạo ra sự kiểm soát tự động

đối với cơ cấu va đập, nó đảm bảo rằng năng lượng

xung kích được truyền tới mũi khoan, mà không bị

mất đi lãng phí vào những cú đập và rung động không

tải Đói với một máy khoan công suất cao như COP

1440, sự mất mát năng lượng có thể là rất có hại cho

tuổi thọ của cột cần khoan

2.5 Mômen xoắn không đổi giữ cho cột cần khoan

được khít chặt

Điều quan trọng trong việc truyền năng lượng va

đập là luôn luôn giữ cho cần khoan tì chặt vào mặt đá

Cần khoan có một số bộ phận có các liên kết bằng ren

Bất kỳ sự xộc xệch nào tại các mối nối ấy đều gây ra

mất mát năng lượng, giảm tốc độ xuyên Năng lượng

mất mát này gây nóng và mài mòn cho các mối nối

này Cách duy nhất để chống lỏng ren là duy trì một

mômen xoắn không đổi trên cột cần khoan Và mômen

này sẽ quyết định áp suất của dòng dầu thủy lực trong

chu trình kín

Hệ thống Kiểm soát Cung cấp Áp lực Quay (RPCF) sẽ đảm trách áp lực của dòng dầu thủy lực cấp cho môtơ quay Khi khoan vào đá cứng, mỗi xung động chỉ gây ra một lượng xuyên nhỏ vào đá Lực kháng chống lại sự quay của mũi khoan là bé, và được đảm nhận bởi RPCF Điều này sẽ làm tăng áp lực lên mạch cung cấp, ép mũi khoan vào đá mạnh hơn, nâng cao sự truyền năng lượng Đồng thời, Kiểm soát Va đập Áp lực Quay (RPCI) làm tăng cường áp lực va đập, do vậy năng lượng của mỗi cú đập sẽ lớn hơn Trong các thành hệ đá mềm, mỗi cú đập sẽ xuyên sâu vào đá, và sức kháng quay là lớn Lúc này áp lực đầu vào được giảm đi, đồng thời áp lực va đập giảm xuống, để thực hiện các cú đập nhẹ hơn

RPCF và RPCI hiện nay được đưa vào hệ thống điều khiển khoan cho mọi máy khoan Boomer của Atlas Copco Người vận hành máy thực hiện việc định

vị và khoan mở lỗ trên gương hầm, sau đó hệ thống tự động tiến hành điều khiển việc khoan đá, khiến thợ máy có thể tự do làm việc khác

2.6 Thế hệ máy khoan thủy lực thứ ba Các kết quả tốt đẹp của điều khiển RPCF đã kích thích các nghiên cứu đào sâu hơn, và đẩy tới sự phát

minh ra một hệ thống tinh vi hơn, ECS 18, trong đó

dòng điện đảm nhiệm vai trò dầu thủy lực Các cảm biến điện và các linh kiện điện tử, bao gồm cả các bộ

vi xử lý, cho ta phương tiện điều khiển khoan tiến tiến

và phong phú Thợ khoan chỉ cần định vị lỗ khoan, sau đó hệ thống tự động sẽ tiến hành khoan mở lỗ và tiếp tục khoan sâu, bất kể điều kiện đá là gì Tuy vậy, việc giải thích chi tiết về hệ thống điều khiển mới

Áp lực xoắn Áp lực va đập

Áp lực nén

Hình 4 - Kiểm soát quay, năng lượng va đập và lực ép

Mômen xoắn Lực ép

Cần khoan

Trang 4

bằng điện ECS khá phức tạp và phải giành cho một tài

liệu riêng

3 CÁC HẦM TẠI HỒ TREO (HANGING

LAKE)

3.1 Dự án Hanging Lake

Việc đào đá của hai hầm đường bộ là phần việc

chính của dự án xây dựng 13 km đường ở Glenwood

Canyon (Hẽm núi Glenwood), bang Colorado - Mỹ,

một trong những đoạn cuối cùng của dự án I 70 Công

việc đào đá cho hai hầm đường bộ song song có tổng

chiều dài là 1190 m Cái tên "Hồ Treo - Hanging

Lake" lấy theo tên của một cái hồ cổ gần đó nằm trên

sườn đá, phía trên hẻm núi

Dự án Glenwood Canyon được coi là dự án đường

tốn kém nhất từng được biết đến, do vấn đề môi

trường và không gian quá hạn hẹp

Các đoạn tuyến được thiết kế trên quan điểm bảo

vệ vẻ đẹp của Glenwood Canyon với sự tác động nhỏ

nhất tới thiên nhiên hoang sơ Việc đào đá bị hạn chế

đến mức nhỏ nhất để không làm suy yếu chân vách

hẽm núi Con đường I 70 băng qua các hầm núi đá và

qua các cây cầu, đặt trên các cột tháp, ở những vị trí

mà làn xe này nằm phía trên làn xe kia

Hiện nay đã hoàn thành, đường I 70 Glenwood

Canyon là một đường 4 làn mới thay thế cho Đường 6

cũ chạy quanh co xung quanh chân hẽm núi sâu 300m

Dự án Hanging Lake có tính hấp dẫn đặc biệt do

những hạn chế đặt ra cho một dự án xây dựng lớn

trong một không gian rất nhỏ hẹp

Công việc đào của hai hầm ở Hanging Lake bắt

đầu năm 1989 Công tác khoan nổ mìn kết thúc cuối

tháng 11/1990, bốn tháng trước thời hạn, tuyến hầm

đôi này được thông xe giữa năm 1991

3.2 Nhà thầu, Liên doanh Hanging Lake

Hợp đồng Hanging Lake được đảm nhận bởi một

tổ hợp có tên Liên Doanh Hanging Lake Liên doanh

này gồm công ty Frontier Kemper và Traylor

Brothers, cả hai đóng tại Evansville, Ấn Độ; Wayss &

Freitag của Đức; Beton & Monierbau của Áo Tư vấn

Kỹ thuật và Địa chất là Woodward-Clyde và Parsons

Brinkerhoff

3.3 Các hầm Đường bộ Hanging Lake Các hầm đường bộ có một mặt cắt dạng vòm có chiều rộng 12,2 m và cao 9,8 m Tuyến hầm lượn qua núi đá về phía nam của hẽm núi theo một đường cong mềm mại

Cả hai hầm đều nổi trên mặt đất một đoạn ngắn tại

nơi mà Suối Quế (Cinnamon Creek) cắt qua Hẽm núi

Glenwood Tại đây là nơi đóng trại của nhà thầu Từ

vị trí được lựa chọn mang tính chiến lược này, bốn cổng hầm được khai mở

3.4 NATM, Phương pháp Xây dựng Hầm Mới của

Áo Khác với truyền thống cũ ở Mỹ, tại dự án Hầm Hanging Lake người ta không dùng các vòm thép để chống đỡ hang đào Thay vào đó, một dạng Mỹ hóa

của NATM (New Austrian Tunnelling Method) nổi

tiếng đã được áp dụng

Lý thuyết của NATM có từ những năm 1930, và hiện nay từ "Mới" là không còn thích hợp nữa Tuy nhiên, chúng ta ghi công người Áo vì đã phát minh ra một kỹ thuật mà nó thích hợp tốt cho bất kỳ loại đá nào và kích cỡ hầm nào, và hiện nay được ứng dụng trên khắp thế giới

NATM lợi dụng cường độ vốn có của khối đá gốc

và nhằm tối thiểu hóa chuyển vị ngay sau khi đào Một vòm chống được tạo thành trong khối đá bao quanh hầm, bằng các bulông thép được ấn vào đá, giữ cho các khe nứt càng sít nhau càng tốt Các bulông neo

vào đá được kết hợp với bêtông phun (shotcrete) để

tạo thành một gương đào hầm ổn định và an toàn Ngược lại, các vòm thép tạo ra sự chống đỡ bên ngoài Các vòm này chỉ làm việc sau khi khối đá đã bắt đầu suy thoái, và chuyển vị bên trong khối đá đã truyền tải trọng lên vòm thép

NATM tạo cho hang hầm một sự ổn định cao Hơn nữa, cách thức làm việc của NATM, neo bulông vào

đá và phun bêtông, đều được tiến hành đồng thời với quá trình đào hầm Điều này tăng cường khả năng sử dụng các thiết bị cơ giới hoá, hiện đại, và tăng tốc sự tiến bộ trong kỹ thuật làm hầm Tóm lại, NATM rất thích hợp với các kỹ thuật hiện đại khiến cho kỹ thuật làm hầm tốt hơn, an toàn hơn và nhanh hơn

Trang 5

3.5 NATM tại Hanging Lake

NATM là một lý thuyết khá rộng để có thể thảo

luận kỹ trong bài viết này Một cách vắn tắt, NATM

dựa trên một sự phân loại đá thành các cấp hạng đào,

theo chất lượng và yêu cầu dự tính đối với việc gia

cường đá Mỗi cấp hạng được gán cho các thông số về

kích thước lớn nhất của lỗ hang nổ phá, số lượng

bulông neo cần thiết, bề dày lớp bêtông phun, v.v

Tại hầm Hanging Lake, tất cả các thông số được mô

tả tỉ mỉ trong tài liệu hợp đồng, để lại rất ít khoảng

trống cho một sự ứng biến thiếu chuẩn bị

Các đoạn chủ yếu của đá núi dọc theo hầm

Hanging Lake được phân loại là tốt, 71%, trung bình

20% và chỉ có 9% xấu

Hai hầm được đào với mặt cắt phân nhỏ, phía trên

được tạo lò ngang và có bậc, theo như quy định kỹ

thuật Lò ngang phía trên được phân tách nhỏ hơn

thành một lò khảo sát và các vệt rạch bên, men về phía

sau với các khoảng cách đều đặn Bậc thềm tiến sâu

vào phía trong hầm, cũng có hai vệt rạch dọc theo

tường hầm Mỗi hầm được chia thành 6 gương đào

Với hơn 90% đá là tốt và trung bình, ai đó có thể

thắc mắc về sự cần thiết của việc chia tách sự đào hầm

thành 6 gương đào riêng biệt

Vòm hầm gia cố bằng bulông neo đá, được lắp đặt

theo cách thông thường Thanh thép Dywidag dài

4,2m được sử dụng làm neo và gắn chặt vào lỗ khoan

bằng vữa ximăng

3.6 Các máy khoan Rocket Boomer và Boltec

Để khoan hầm nhà thầu Frontier Kemper dã dùng

hai giàn khoan của công ty Atlas Copco loại Rocket

Boomer H245 Cả hai máy khoan được trang bị hai

tay với thủy lực, có cần khoan mạnh loại COP 1440 và

một tay với thứ ba có thùng dụng cụ dùng cho công

việc công cộng Các giàn khoan, theo quy định của

Mỹ, được vận hành bởi 3 người, mỗi người một dầm

khoan

Ngoài ra tại hiện trường còn có hai máy khoan

khác để cơ giới hóa việc neo blông vào đá, loại Boltec

351, mỗi máy khoan được trang bị một tay với, có lắp

cần khoan đá loại nhẹ COP 1032, và một thùng dụng

cụ để tạo thuận lợi cho việc lắp đặt bulông

Để đảm bảo tính sẵn sàng tối đa của các giàn

khoan, Atlas Copco có một xưởng dạng côngtennơ

ngay tại công trường, quản lý bởi một nhân viên sửa

chữa được thuê dài hạn Các phụ tùng được dự trữ ngay tại công trường, và các giàn khoan được bảo dưỡng theo dịnh kỳ

Đá là một hỗn hợp của các khoáng vật quartz, điorit và granit nứt nẻ, có cường độ nén nói chung bé hơn 155 Mpa Tốc độ khoan xuyên trung bình trong loại đá này với búa khoan COP 1440 và lỗ khoan 51mm là 2,74 m/phút

3.7 Khoan bằng máy Rocket Boomer

Cả hai giàn Rocket Boomer đều được trang bị dẫn tiến cho thanh thép khoan dài 5,2 m Thanh thép khoan dẫn hướng được chọn bởi Nhà thầu với mục đích lợi dụng cơ hội để nổ phá các bước đào dài làm bậc thềm, nơi mà hồ sơ đấu thầu không có hạn chế nào

về chiều dài nổ phá

Các thợ máy đã đánh máy cao các giàn khoan tại Hanging Lake “Rất dễ học và vận hành”, thợ khoan Phil Romero nói Đồng nghiệp của anh ta tán thành:

“Là giàn khoan tốt nhất cho tới nay”

3.8 Các kết quả: hệ số sử dụng cao, giá thành hạ Bằng cách đào hầm phân chia gương đào NATM, rất khó xác định tốc độ tiến lên Tuy nhiên, nhiều dự

án và công trường đã góp phần vào việc sử dụng rộng rãi cả hai loại máy khoan Boomer và Boltec Hợp đồng sửa chữa cùng với một lịch trình bảo dưỡng đã giữ cho các thiết bị luôn hoạt động, tới hơn 90%

Sự tiếp tục bảo trì cẩn thận cho các bộ phận thép của máy khoan đã được thực hiện Mục đích là nhằm

so sánh sự tiêu hao thép của cần khoan COP 1440 với COP 1238

Kết quả cho thấy giá thành cần khoan của COP

1440 hoàn toàn cạnh tranh với bất kỳ loại máy khoan thủy lực nào khác Đã ghi nhận đươc giá trị trung bình 0,48 USD/m khoan (~7.000 VND/m - N.D) Tuổi thọ của bệ xilanh trung bình khoảng 3.800 mét khoan Một con số tương tự, 0,40 USD/mkhoan, áp dụng cho chi phí phụ tùng của Rocket Boomer, bao gồm cả COP

1440

Không nghi ngờ gì nữa, việc ứng dụng kỹ thuật NATM tại dự án Hanging Lake là một thành công, việc đào đá hoàn thành tháng 11/1990 trước thời hạn 4 tháng

Trang 6

Với hơn 500.000 mét khoan, hai máy Rocket

Boomer được được nhà thầu Frontier Kemper chuyển

tới một dự án hầm khác ở đảo Hawaii Sau khi hoàn

thành công trình đó Rocket Boomer đã trở về lục địa,

để khoan một hầm rất ngắn ở Minnesota

Đã một thời tham gia sâu vào các dự án hầm trên

khắp thế giới, tác giả chỉ có thể biểu thị sự cảm thông

của mình đối với các nhà thầu đang tìm kiếm tương lai

xây dựng hầm ở Hoa Kỳ

4 MÁY KHOAN BOOMER VÀ

ROCKET BOOMER

4.1 Năng suất khoan nghĩa là tiết kiệm tiền

Rõ ràng là, Rocket Boomer đem lại một phần

thưởng khi so sánh với một Boomer thông thường

Cần khoan COP 1440 xuyên qua đá cứng, 220 Mpa,

với tốc độ 2,4 m/ph, trong khi đó COP 1238 chỉ đạt

1,7 m/ph

Tuy nhiên, tốc độ xuyên đơn thuần ít được quan

tâm, vì chu trình làm hầm có nhiều sự gián đoạn trong

thao tác khoan Cái thực sự có ý nghĩa là năng suất

đầu ra thực tế của Rocket Boomer so với loại Boomer

thông thường Còn đối với một nhà thầu, có thể tiết

kiệm được bao nhiêu thời gian khi khoan với Rocket

Boomer?

Sẽ không thể trình bày một sự so sánh các môđen

Boomer mang tính hiệu lực chung, vì có một số nhân

tố ảnh hưởng đến kết quả Nhưng hiển nhiên có những

nhà thầu coi Rocket Boomer là rất đáng bỏ vốn để đầu

Trong đá cứng cường độ nén 220 Mpa, COP 1440

khoan với tốc độ 2,4 m/ph, so với COP 1238 là

1,6m/ph Độ xuyên tính toán là cao hơn 50%, nhưng

sẽ có sai khác 25% về năng suất thực tế khi áp dụng

vào khoan tại một hầm thật sự

Theo quy tắc, trong đá cứng, mỗi cần khoan COP

1440 có thể tạo ra 100 m lỗ khoan nổ mìn trong một

giờ, trong khi đó kết quả của cần khoan COP 1238 là

80 m/h

Loại Rocket Boomer 2 tay với do vậy có khả năng

khoan 200 m/h, trong khi đó loại Boomer thông

thường 2 tay với là 160 m/h Kết quả cho loại Rocket

Boomer 3 tay với: 300 m/h, loại Boomer thường 3 tay

với: 180 m/h

4.2 Mỗi giờ tiết kiệm trong một ca làm việc sẽ tích lũy thành nhiều tháng

Một hầm với giả thiết mặt cắt ngang 60,0 m2 sẽ có dạng thức khoan 96 lỗ mìn Lỗ sâu 5,2 m và và chiều dài tổng cộng các lỗ khoan nổ mìn là 500 mkhoan Rocket Boomer sẽ hoàn tất công việc trong 2,5 giờ, và loại Boomer thường cần 3,2 giờ Như vậy Rocket Boomer tiết kiệm được khoảng 40 phút trong một chu

kỳ làm việc Đối với một chu kỳ khoan phá nổ đầy đủ,

mà nó thường đòi hỏi hơn ca làm việc 8,0 giờ, thì 40 phút rút ngắn có thể là không đáng kể

Nhưng khi xét một hầm dài 5,0 km, tổng thời gian tiết kiệm sẽ là 40.000 phút hay 83 ca làm việc, mỗi ca

8 giờ Lượng thời gian rút ngắn này hoàn toàn là do kết quả khoan nhanh hơn, là đặc tính của Rocket Boomer, chứ không phải do sự nỗ lực của nhân công

thao tác Điều này giúp nhà thầu có thể rút ngắn thời

gian thi công vài tháng

Về một so sánh tin cậy hơn và thực tế hơn, lời khuyên của chúng tôi là tiến hành sự đánh giá này phối hợp với một đại diện có kinh nghiệm của Atlas Copco Có thể Rocket Boomer cũng giúp ích cho bạn chăng?

5 KẾT LUẬN

Sự phát triển của các kỹ thuật và các phương pháp

là một quá trình liên tục, sự đào hầm cũng như vậy Hai máy khoan Rocket Boomer tại dự án Hanging Lake vào năm 1988 là hai trong số những máy đầu tiên của một thế hệ mới những máy khoan năng suất cao Trong khi các máy khoan Rocket đã chứng tỏ máy trị của chúng về tính năng hoạt động và độ tin cậy, kỹ thuật làm hầm NATM trở thành nhân tố chính tạo nên thành công cho dự án, khiến cho việc đào đá tại hầm Hanging Lake trở thành một công việc đầy hiệu quả, hoàn toàn cơ giới hoá và an toàn./

Nguyễn Đức Toản

Theo "Transportation Facilities through Difficult

ĐC hiện nay: Viện KHCN GTVT

Tel: 091-262 3597 Email: ngdtoanhanoi@yahoo.com

Ngày đăng: 12/07/2014, 02:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3 - Công suất khoan đá vμ tốc độ xuyên - Hầm Hồ Treo - Dạng thức mới của phương pháp đào đá cơ giới hóa pptx
Hình 3 Công suất khoan đá vμ tốc độ xuyên (Trang 2)
Hình 4 - Kiểm soát quay, năng lượng va  đập và lực ép - Hầm Hồ Treo - Dạng thức mới của phương pháp đào đá cơ giới hóa pptx
Hình 4 Kiểm soát quay, năng lượng va đập và lực ép (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w