1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây -Thực trạng và giải pháp.DOC

106 832 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Thuế Khu Vực Kinh Tế Ngoài Quốc Doanh Ở Hà Tây - Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Vũ Công Nhĩ, Nguyễn Thị Hiền, Vũ Thị Toản
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 644 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây -Thực trạng và giải pháp.

Trang 1

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1 GTGT : Giá trị gia tăng

2 KTNQD : Kinh tế ngoài quốc doanh

3 NQD : Ngoài quốc doanh

4 NSNN : Ngân sách Nhà nước

5 TNCT : Thu nhập chịu thuế

6 TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế do Nhà nước tổ chức và thực hiện Đó là sự chuyển dịch một chiềuthu nhập từ phía doanh nghiệp và dân cư (khu vực tư) vào khu vực công Phíasau quá trình chuyển dịch này gồm nhiều vấn đề đặt ra như: tương quan giữa sốthuế thu được trong hiện tại và tương lai, ảnh hưởng của thuế đến hành vi kinhdoanh, đến động thái tiêu dùng xã hội, thuế và tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xãhội…

Do đó, thuế là một lĩnh vực phức tạp, bởi lẽ thuế không chỉ thể hiện ra

là những vấn đề kinh tế mà còn chứa đựng nhiều vấn đề xã hội sâu sắc Thuếkhông những đòi hỏi tính khoa học về mặt lý luận, sự chính xác trong luậtđịnh mà còn cần đến nghệ thuật tinh tế trong hành thu

Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN - hàng năm số thu về thuế chiếmkhoảng 80% đến 90% tổng thu NSNN Điều đó đòi hỏi Nhà nước cần tuchỉnh các Luật thuế, các văn bản pháp lý khác về thuế nhằm hoàn thiện hệthống thuế, đưa thuế ngày càng tiếp cận thực tiễn Để phản ánh và theo kịpbước chuyển của nền kinh tế thì công tác quản lý thuế cần phải thay đổi vàhoàn thiện nhằm đáp ứng tình hình phát triển kinh tế của đất nước cũng nhưcác cam kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay Qua đó khai thác tối đa những

uy lực vốn có của thuế để kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triểnsản xuất kinh doanh của mọi đơn vị thuộc các thành phần kinh tế và đảm bảothực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước

Ở Việt Nam, hoạt động của khu vực KTNQG đã và đang ngày càng mởrộng trên khắp các địa bàn trong từng địa phương và cả nước Song chế độ sổsách kế toán, chứng từ hoá đơn còn thực hiện tùy tiện, chưa đúng chế độ, hiệntượng khai man trốn thuế, lậu thuế còn nhiều từ đó tạo ra sự bất bình đẳng và

sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các thành phần kinh tế Vì vậy quản lýthu thuế đối với khu vực KTNQG phải tiếp tục cải tiến và hoàn thiện nhằmthực hiện được mục tiêu, yêu cầu của hệ thống thuế đặt ra

Hà Tây là một tỉnh thuộc đồng bằng - trung du Bắc bộ, số thu về thuếkhông nhiều, chưa đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu của địa phương, nhưng trong

đó KTNQG đã đóng góp một phần không nhỏ vào số thu hàng năm của ngânsách địa phương Nhiều năm qua ngành thuế tỉnh Hà Tây nói chung, thuếNQD nói riêng đã hoàn thành kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước giao Nhưng

Trang 3

với tính chất đa dạng và phức tạp của khu vực kinh tế này, công tác quản lýthuế ở tỉnh Hà Tây cần được khắc phục những mặt hạn chế và tồn tại, đảmbảo nuôi dưỡng nguồn thu, thu đúng, thu đủ theo quy định của pháp luật.

Xuất phát từ tình hình trên, luận văn với đề tài “Quản lý thuế khu vực

kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây -Thực trạng và giải pháp” hy vọng đưa

ra được một số giải pháp đáp ứng những yêu cầu bức xúc của đời sống kinhtế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay đã có không ít đề tài nghiên cứu xung quanh vấn đề vềthuế và công tác quản lý thu thuế Mỗi đề tài nghiên cứu đều có mục đích, đốitượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và mục tiêu cụ thể khác nhau

- Vũ Công Nhĩ: "Thất thu thuế ở Việt Nam Thực trạng, nguyên nhân

và giải pháp" Luận án PTS khoa học kinh tế - 1995

- Nguyễn Thị Hiền: "Một số vấn đề về hoàn thiện hệ thống thuế ở ViệtNam" Luận án thạc sĩ khoa học kinh tế - 1997

- Vũ Thị Toản: "Công tác quản lý thu thuế NQD trên địa bàn Hà Nội".Luận án thạc sĩ khoa học kinh tế - 1996

Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết thiết thực,nhiều cuộc hội thảo đã được tổ chức

Tuy nhiên, chưa có một tác giả nào nghiên cứu bàn về quản lý thuếNQD trên địa bàn tỉnh Hà Tây.Vì vậy, luận văn nghiên cứu là cần thiết, qua

đó chỉ những nguyên nhân còn hạn chế trong quản lý thu thuế NQD, trên cơ

sở đó đề xuất những giải pháp khả thi ở địa bàn tỉnh Hà Tây, nhằm thực hiệnđược mục tiêu của hệ thống thuế tại địa phương

3 Mục đích và nhiệm vụ.

- Mục đích: Làm rõ những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý thu thuế khu

vực kinh tế NQD ở Hà Tây; đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm tăng cường,hoàn thiện quản lý thu thuế NQD trên địa bàn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh

tế – xã hội của Hà Tây

- Nhiệm vụ của luận văn:

+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về thuế và quản lý thu thuế đốivới khu vực KTNQD

+ Phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh

Hà Tây

Trang 4

+ Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện vàtăng cường quản lý thu thuế NQD tại tỉnh Hà Tây

4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu:

Ở Việt Nam KTNQD là một khu vực kinh tế đang hình thành và pháttriển, cách hiểu về nó cũng còn nhiều vấn đề chưa thống nhất Vì vậy, nghiêncứu về quản lý thu thuế khu vực KTNQD, đề tài chỉ tập trung tìm hiểu côngtác quản lý thuế đối với các đơn vị trong các hoạt động sản xuất kinh doanh -dịch vụ gồm: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp

tư nhân, Hộ kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ

Cũng do điều kiện và mục đích nghiên cứu, luận văn chỉ giới hạn việckhảo sát, đánh giá khu vực KTNQD trên địa bàn tỉnh Hà Tây trong một sốnăm gần đây- chủ yếu là từ năm 2000, khi Luật doanh nghiệp được thực hiệnđến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn kết hợp sử dụng nhiềuphương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương phápthống kê, so sánh để rút ra những kết luận cần thiết

6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

- Chỉ ra thực trạng, những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của nhữngtồn tại trong công tác quản lý thuế đối với khu vực KTNQD ở tỉnh Hà Tây

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện công tácquản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Hà Tây hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo,luận văn gồm 3 chương, 7 tiết

Chương 1: Tổng quan về thuế và quản lý thuế ngoài quốc doanh

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài

quốc doanh ở Hà Tây

Trang 5

Chương 3: Những quan điểm định hướng và giải pháp hoàn thiện công

tác quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tâynhững năm tới

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH

để duy trì sự sống của mình, chưa có Nhà nước lúc đó xã hội chưa biết thuế là

gì Cùng với sự phát triển của sản xuất xã hội, xã hội loài người có sự phânchia thành giai cấp và đấu tranh giữa các giai cấp, Nhà nước ra đời Để duy trì

bộ máy Nhà nước, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, quốc phòng – anninh , đòi hỏi Nhà nước phải có nguồn tài chính để chi tiêu Nguồn tài chínhnày có được là do sự đóng góp của mọi thành viên trong xã hội và sự đóng

góp này mang tính bắt buộc Theo Ph.Ăngghen: “Để duy trì quyền lực công

cộng cần phải có sự đóng góp của những người công dân cho Nhà nước, đó thuế má” (14, tr.552) Với tiến trình phát triển của xã hội loài người, Nhà

nước xuất hiện, thuế cũng từ đó ra đời, tồn tại và phát triển

Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, một khi Nhà nước chỉlàm nhiệm vụ quản lý hành chính đơn thuần thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

ở chừng mực nhất định, xã hội ngày càng phát triển hơn nên Nhà nước cóthêm nhiệm vụ điều hành, quản lý nền kinh tế thì chi tiêu của Nhà nước ngàycàng nhiều hơn Đến khi Nhà nước đảm nhận thêm công việc chăm lo đời

Trang 6

sống, văn hoá, xã hội của cộng đồng thì thuế lại được động viên càng lớn vớinhiều sắc thuế và ở tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế

Như vậy, khi vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước ngày càng được mởrộng, đòi hỏi nguồn tài chính phục vụ cho việc chi tiêu ngày càng tănglên Điều đó, không thể thiếu sự đóng góp của người dân và các tổ chứckinh tế, đó là thuế

Theo phân tích trên, thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước

và thuế ra đời khi hoạt động lao động sản xuất của xã hội loài người tạo rasản phẩm thặng dư Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, sự chuyểndịch giá trị sản phẩm thặng dư từ thành phần kinh tế này sang thành phầnkinh tế khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác rất đa dạng và phức tạp Chonên, đứng trên giác độ toàn xã hội, đòi hỏi phải có hệ thống thuế để điều tiếtthoả đang số sản phẩm thặng dư xã hội tạo ra sao cho hợp lý và công bằng.Vìvậy, khi xã hội càng văn minh thì thuế khoá lại càng đa dạng và phát triển

Tóm lại, quá trình phát triển của Nhà nước và thuế cho chúng ta thấy,thuế và Nhà nước là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau Nhà nước tồn tạitất yếu phải có thuế Thuế là cơ sở vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và pháttriển của Nhà nước

Trên các sách báo kinh tế, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệtđối khái niệm về thuế Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ramới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chưa phản ánhđầy đủ bản chất chung của phạm trù này Chẳng hạn, theo các nhà kinh điểnthì thuế được quan niệm rất đơn giản: “Thuế khoá là cái vú sữa của Chínhphủ” [13, tr317]

Sau này khái niệm về thuế được bổ sung và hoàn thiện hơn Trong cuốn

Từ điển Kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowescho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải

và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việcchi tiêu hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”

Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn

“Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ như sau:

Thuế nhà nước là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc hàng hoá, dịch vụ) của các Công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hoá

Trang 7

hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp thuế đó không phải là tiền phạt mà toà

án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật” [31, tr.10].

Ở nước ta cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế Theomột số nhà nghiên cứu: Thuế là hình thức động viên, phân phối và phânphối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo pháp luật củaNhà nước quy định, nhằm đáp ứng những khoản chi tiêu cần thiết củaNhà nước Đó là khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức (chủ yếu là

tổ chức kinh tế) và mọi thành viên trong xã hội; khoản thu này mang tínhbắt buộc không hoàn trả trực tiếp [11, tr.1]

Gần đây, trong một số công trình nghiên cứu về thuế, các nhà kinh tếcho rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật cáckhía cạnh sau đây: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệtiền tệ giữa Nhà nước với pháp nhân và thể nhân; những mối quan hệ dướidạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặcbiệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh Nhànước, xét theo khía cạnh luật pháp thuế là khoản nộp cho Nhà nước đượcpháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định

Kết hợp những hạt nhân hợp lý của những quan niệm về thuế kểtrên có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là mộtkhoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân choNhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sửdụng cho mục đích công cộng [31, tr.11]

- Đặc điểm của thuế:

Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn cócủa thuế Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển.Nghiên cứu về thuế người ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệtvới các công cụ tài chính khác

+ Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong

xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự:

Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nóphân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN Đặcđiểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, đượchình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việcđộng viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước mà kết quả của quá trình

Trang 8

đó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhànước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào kháctrực tiếp cho người nộp thuế.

Tính chất cưỡng chế bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn

từ những lý do sau:

Thứ nhất: hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không

gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phươngpháp tự nguyện trong việc chuyển giao Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu côngcộng, Nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đốitượng có thu nhập phải chuyển giao

Thứ hai: trong xã hội văn minh nhu cầu của các thành viên cộng đồng

về hàng hoá công cộng ngày càng tăng cao Để duy trì hoạt động đó thì thunhập về hàng hoá công cộng từ những người thụ hưởng phải bù đắp đủ cácchi phí bỏ ra Nhưng hàng hoá công cộng lại có tính chất đặc biệt, nó khôngthể phân bổ theo “khẩu phần” để sử dụng và người thụ hưởng cũng khôngmuốn sử dụng theo “khẩu phần” Mặt khác, hàng hoá công cộng không cótính cạnh tranh và không thể đem trao đổi trực tiếp trên thị trường để bù đắpcác chi phí Chính vì vậy trong việc cung cấp hàng hoá công cộng đã xuấthiện những “người ăn không”, nghĩa là không ai tự nguyện trả tiền cho việcthụ hưởng hàng hoá công cộng Do đó, để đảm bảo cung cấp hàng hoá côngcộng, Nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp thuế để buộc “người ănkhông” phải chuyển giao thu nhập từ khu vực tư sang khu vực công

Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa làhành động đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi cóbiểu hiện phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa

vụ của người công dân

Từ đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tàichính khác của NSNN như: lệ phí, công trái hoặc hình thức phạt bằng tiền.Hình thức phạt bằng tiền cũng là hình thức bắt buộc, song việc phạt tiền chỉxảy ra đối với người nộp phạt khi có hành vi vi phạm luật lệ làm phương hạiđến lợi ích Nhà nước hoặc cộng đồng Hình thức phí, lệ phí, công trái nóichung mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá Tính bắt buộc của phí và

lệ phí chỉ xảy ra khi người trả phí, lệ phí thụ hưởng trực tiếp những dịch vụ doNhà nước cung cấp

Trang 9

+ Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp:

Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được biểu hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính

chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp xã hội chuyển giao cho Nhànước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thụ hưởng những dịch

vụ hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp Người nộp thuế cũng không

có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trựctiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nước; mặtkhác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiếtngang bằng mức độ chuyển giao Mức chuyển giao thu nhập nhiều hay ít chỉcăn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế -xã hộicũng như nhu cầu tài chính cung của Nhà nước

Thứ hai, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không được

hoàn trả trực tiếp có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được mộtphần các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng,giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họnộp cho Nhà nước Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế vàcác khoản phí, lệ phí

+ Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng luật pháp:

Đặc điểm này một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khácphản ánh sự chuyển giao thu nhập không mang tính chất tuỳ tiện mà dựa trênnhững cơ sở pháp luật nhất định và đã được xác định trước trong các luậtthuế, pháp lệnh thuế, đó là: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuếphải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác

+ Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định:

Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mức độ tăng trưởng của nềnkinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả thị trường (trong nước

và quốc tế), sự biến động của NSNN, …

Trang 10

Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thường là thể chế chính trịcủa Nhà nước, tâm lý, tập quán của tầng lớp dân cư, truyền thống văn hoá, xãhội của dân tộc…

Do thuế chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội nênngười ta thường nói đến thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp

+ Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản:

Các đạo luật về thuế chỉ có tác dụng điều tiết các hoạt động kinh tế

và sự chuyển giao thu nhập trong khuôn khổ biên giới của mỗi quốc gia, nơi mà quyền lực pháp lý của nhà nước được duy trì Điều này cũng có nghĩa là, trong các hoạt động kinh tế quốc tế, các giao dịch diễn ra ở nước ngoài phải chịu sự chi phối của luật pháp nói chung, những quy định về thuế nói riêng của nước ngoài Chính vì điều này, trong quá trình hội nhập quốc tế, các quốc gia phải xây dựng hệ thống thuế theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế để tạo thuận lợi cho các chủ thể kinh tế trong và ngoài nước.

Tóm lại, những đặc điểm cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản

chất và nội dung bên trong của thuế Từ những đặc điểm đó, giúp chúng

ta phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của NSNN trên nhiềuphương diện khác nhau

1.1.2 Vai trò của thuế

+ Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho Nhà nước:

Bất kỳ một chế độ Nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển đềuphải tạo cho mình một nền tài chính quốc gia vững chắc và lành mạnh,trong đó nguồn tài chính chủ yếu được động viên từ thuế và phí ở nội bộnền kinh tế quốc dân

“Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN” Ở nước ta từ khi có cácluật thuế ra đời, nguồn thu từ thuế ngày càng tăng lên, ngày càng chiếm

tỷ trọng cao trong tổng số thu ngân sách, năm 1990 đạt 86%; năm 1997đạt 87%, năm 1998 đạt 88%,đến nay khoảng 90% [23, tr.10] Vai trò củathuế thực sự được nâng lên và thể hiện rõ trong quản lý điều tiết vĩ mônền kinh tế

Trang 11

Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý và điềutiết của Nhà nước, thuế được áp dụng thống nhất đối với các thành phầnkinh tế không phân biệt kinh tế Nhà nước và KTNQD, nó bao quát vàđiều tiết các hoạt động kinh doanh, mọi nguồn thu nhập, mọi tài nguyênthiên thiên và mọi hoạt động tiêu dùng trong xã hội.

Chính sách động viên về thuế có tác dụng bồi dưỡng nguồn thuvững chắc, lâu dài cho NSNN Cơ chế thuế suất không nên quá phức tạp,quá cao mà cần nghiên cứu và tính toán dựa trên những căn cứ khoa học

và sự phát triển của nền kinh tế sẽ phù hợp hơn với khả năng đóng gópcủa đối tượng nộp thuế, đảm bảo nguồn thu ngân sách được ổn địnhthường xuyên Thuế suất được điều chỉnh giảm có thể sẽ dẫn đến phátsinh lo lắng không đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhưng trên thực tếnếu hệ thống thuế hợp lý, thuế suất ở mức vừa phải thì sẽ tranh thủ được

sự đồng tình ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân, đối tượng nộp thuế thấymức thuế hợp lý sẽ tự nguyện khai báo nộp thuế tốt hơn Diện thu thuếđược mở rộng, diện miễn giảm thu hẹp, vừa được lòng dân vừa đảm bảonhiệm vụ thu theo kế hoạch Tỷ lệ động viên về thuế cần tính toán khoahọc, đầy đủ mọi khoản đóng góp cho NSNN, bao gồm mọi khoản thuế,phí và lệ phí Cần khắc phục tình trạng các ngành, các địa phương tuỳtiện đặt ra các khoản thu trái với quy định của Nhà nước

Thuế tạo nguồn thu cho NSNN, nhưng nguồn thu đó được hìnhthành trên cơ sở nền kinh tế tăng trưởng và đạt hiệu quả cao Đây là vấn

đề luôn được các quốc gia quan tâm đúng mức trong quá trình hoạchđịnh chính sách và tổ chức quản lý thu thuế

+ Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế:

Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước dùng để quản lý điều tiết vĩ

mô nền kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hànghoá, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Một chính sách thuế đặt rakhông chỉ đơn thuần tạo nguồn thu cho NSNN, mà quan trọng hơn làthực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Hiện nay, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển sang nền kinh

tế thị trường Cùng với sự kích thích sản xuất phát triển, cơ chế thịtrường cũng là môi trường làm nảy sinh những khuyết tật vốn có của

nó Vì vậy, để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

Trang 12

nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước phải sử dụng các công cụkinh tế, tron đó đặc biệt là công cụ thuế nhằm tạo lập các cân đối vĩ

mô, điều tiết thị trường, đảm bảo sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh

tế và công bằng xã hội

Sự điều tiết của Nhà nước thông qua thuế gồm hai mặt: khuyếnkhích và hạn chế Điều đó được thể hiện ra trong việc xây dựng cơ cấucác loại thuế và mối quan hệ giữa chúng cũng như việc xác định thuếsuất, chế độ miễn - giảm thuế phù hợp với điều kiện thực tế Khuyếnkhích đối với những ngành nghề những hoạt động sản xuất kinh doanhphục vụ cho đại đa số quần chúng nhân dân thì áp dụng thuế suất thấp.Hạn chế, thu hẹp những ngành nghề không có lợi cho sự phát triển củanền kinh tế, cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân hoặc những ngành nghềảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đến sức khoẻ của nhân dân thì ápdụng thuế suất cao Trong nền kinh tế thị trường, các thành phần tự dolựa chon ngành nghề nào mang lại lợi nhuận cao nhất mà không tính đếnhậu quả để lại sau quá trình sản xuất kinh doanh Nhà nước dùng công cụthuế để điều chỉnh và hướng các hoạt động sản xuất kinh doanh đi vàocon đường phát triển có hiệu quả mang lại nhiều lợi ích cho quốc kế dânsinh

Trong điều kiện hiện nay, hệ thống thuế của Nhà nước Việt Namthể hiện rất rõ quan điểm khuyến khích các ngành nghề sản xuất hơn làcác hoạt động thương mại, dịch vụ Sản xuất các mặt hàng thiết yếu đượckhuyến khích hơn sản xuất các mặt hàng và dịch vụ khác Để khuyếnkhích các ngành nghề sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất sản phẩm thaythế hàng nhập khẩu cần thiết khi trong nước chưa sản xuất được hoặc sảnxuất được hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu hay đầu tư vàonhững vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng không thuận lợi cho sứckhoẻ, sinh hoạt người dân,… Nhà nước thường áp dụng thuế ưu đãi đểthúc đẩy kinh tế phát triển một cách có hiệu quả, đồng bộ theo hướng cólợi cho quốc kế dân sinh

Hiện nay, Nhà nước ta sử dụng tổng hợp hệ thống chính sách thuế,nhằm: khuyến khích mạnh mẽ các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọithành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở bình đẳng trước phápluật; góp phần thúc đẩy việc khai thác tư nguyên liệu trong nước, tranh

Trang 13

thủ vốn đầu tư nước ngoài để mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế hànghoá đẩy mạnh xuất nhập khẩu đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và tích luỹ; bàođảm lợi ích; bảm đảm lợi ích giữa Nhà nước và xã hội, lợi ích của cácbên hợp tác, vừa đảm bảo sản xuất trong nước phát triển nâng cao đờisống của người dân.

+ Thuế góp phần điều hoà thu nhập thực hiện công bằng xã hội trong phân phối:

Theo Adam Smith, nền kinh tế thị trường tự do không có sự điềuchỉnh, can thiệp của Nhà nước, mà được điều tiết bởi “bàn tay vô hình”

Đó là nền kinh tế tự điều chỉnh và hoạt động có hiệu quả Tuy nhiên, lịch

sử cũng cho thấy kinh tế thị trường tự do chứa đựng những mặt trái haynhững “khuyết tật” khó tránh khỏi Nổi bật trong những “khuyết tật” đó

là vấn đề phân phối thu nhập Trong điều kiện phân phối thu nhập của thịtrường tự do, một bộ phận dân cư sẽ giàu lên nhanh chóng, trong khi đó,đại đa số lao động trở nên nghèo túng và đời sống càng khó khăn hơn.Tình trạng trên không chỉ liên quan đến vấn đề đạo đức, công bằng xãhội mà còn tạo nên tình trạng lũng đoạn, độc quyền và lâu dài sẽ khôngthể đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng được

Trong thực tế, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự đónggóp của cộng đồng, của toàn xã hội Chính vì vậy mà thành quả kinh tếđạt được trong hiện tại và tương lai phải được phân phối trên cơ sở củacộng đồng Cho nên, cần có sự can thiệp của Nhà nước trong quá trìnhphân phối thu nhập, sự phân phối này chủ yếu nhờ vào công cụ thuế đểđiều tiết Nền kinh tế của nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, thì vai trò tạo sự bình đẳnggiữa các thành phần kinh tế và người dân trong động viên điều tiết thuế vàcông bằng xã hội ngày càng được nâng cao hơn, bao quát hơn

Sự thành công trong việc đổi mới chính sách thuế của Nhà nước tatrong những năm qua là: hệ thống thuế mới được áp dụng chung cho cácngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh, không phân biệt thành phầnkinh tế cũng như các tầng lớp nhân dân nhằm mục tiêu đảm bảo sự côngbằng bình đẳng trong điều tiết Sự bình đẳng, công bằng thể hiện thông quacác chính sách động viên như nhau giữa các thành phần kinh tế, chủ thể sảnxuất kinh doanh và mọi tầng lớp dân cư Thông qua một hệ thống các sắc

Trang 14

thuế, Nhà nước điều chỉnh mức thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội,người có thu nhập cao phải đóng thuế cao và ngược lại (thể hiện thông quahoạt động tiêu dùng chịu sự điều tiết của các sắc thuế gián thu và thuế thunhập đối với những người có thu nhập cao) Tổ chức và cá nhân kinh doanh

có lợi nhuận cao phải đóng góp thuế cao hơn những tổ chức và cá nhânkinh doanh có lợi nhuận thấp (thể hiện ở sắc thuế TNDN)

1.2 KHU VỰC KTNQD VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KTNQD

1.2.1 Đặc điểm của kinh tế NQD

Kinh tế thị trường hình thành và phát triển trên cơ sở của sở hữu tưnhân và các loại hình kinh tế tư nhân là hình thức thống trị trong các nềnkinh tế thị trường tự do

Cùng với sự gia tăng vai trò của nhà nước đối với đời sống kinh tế,kinh tế thị trường tự do đã phát triển thành nền kinh tế hỗn hợp gồm haikhu vực lớn: Kinh tế Nhà nước và kinh tế phi nhà nước hay như chúng tanói - KTNQD

Khu vực kinh tế nhà nước dựa trên cơ sở của sở hữu nhà nước chủyếu thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công cộng, mục tiêu cơ bản làlợi ích chung của toàn xã hội - đảm bảo cho sự phát triển hiệu quả, côngbằn và ổn định cho toàn bộ nền kinh tế

Khu vực KTNQD là khu vực kinh tế bao gồm các tổ chức, cá nhânhoạt động kinh doanh bằng vốn của các tổ chức, của một số cá nhân góplại; hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường vì mục tiêu lợi nhuận.Trong cơ cấu sản xuất xã hội, KTNQD được coi là một thực thể kháchquan, gồm các thành phần kinh tế được xác định tuỳ theo đặc điểm kinh

tế - xã hội và đường lối chính trị của mỗi Nhà nước trong từng giai đoạnkhác nhau như, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, kinh tế tưbản Nhà nước… KTNQD có nhiều đặc điểm riêng biệt, nhưng có thểkhái quát một số đặc điểm cơ bản sau:

+ Dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là chủ yếu, được tổchức ở đủ loại quy mô lớn, vừa và nhỏ, nhưng đều do tư nhân quản lý vàphân phối lợi nhuận

Trang 15

+ Số lượng cơ sở rất lớn, thường xuyên biến động, tuỳ thuộc vàotình hình kinh doanh (chu kỳ kinh tế) và chính sách, chế độ của Nhànước trong từng thời kỳ.

+ Hoạt động trong hầu hết mọi lĩnh vực của nền kinh tế Ở cácnước phát triển, KTNQD bao gồm cả những tập đoàn kinh doanh xuyênquốc gia, có ảnh hưởng không chỉ đối với nền kinh tế trong nước mà cònchi phối nhiều lĩnh vực kinh tế – tài chính quốc tế

+ Số thu hàng năm chiếm tỷ trọng quan trọng trong tổng số thu ngânsách nhà nước (Tỷ trọng này khác nhau đối với các nước: ở các nước pháttriển, thu từ khu vực KTNQD là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước,ngược lại, ở các nền kinh tế đang phát triển, do khu vực KTNQD còn nhỏ bé,

sự tham gia của chúng vào tiến trình tăng trưởng cũng như thu ngân sách chỉvới mức khiêm tốn hơn)

+ Mục tiêu của chủ doanh nghiệp trong khu vực KTNQD chính làlợi nhuận Do vậy một mặt, các cơ sở KTNQD cạnh tranh quyết liệt vớinhau trong kinh doanh; mặt khác, trong quan hệ với nhà nước, không ít

cơ sở luôn tìm mọi cách, mọi sơ hở của cơ quan thuế, cán bộ thuế, chínhsách, chế độ, để luồn lách, trốn thuế

Các hình thức tồn tại phát triển của khu vực KTNQD rất đa dạngvới số lượng, ý thức trong việc thực hiện luật pháp với mức độ khácnhau, tuỳ theo trình độ phát triển ở mỗi quốc gia Song rõ ràng đây làmột lĩnh vực phức tạp trong quản lý thuế

Sự phát triển ở khu vực KTNQD ở nước ta những năm qua đã tạothêm nhiều của cải vật chất cho xã hội, giải quyết việc làm cho người laođộng, góp phần không nhỏ vào sự ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế

- Ưu nhược điểm của kinh tế NQD:

KTNQD có tiềm năng lớn về trí tuệ, kiến thức, tiền vốn, lao động,sản phẩm, hợp tác, liên doanh, liên kết…

+ Tiềm năng quan trọng nhất của KTNQD là khả năng vô tận về trítuệ, sáng kiến cá nhân trong đội ngũ những người lao động, trong nhândân Kinh nghiệm của các nước có nhiều thành công phát triển kinh tế(Hồng Kông, Đài Loan, Singapo, Nhật Bản, Hàn Quốc…) cho thấy cáctiềm năng bên trong như đất đai, tiền vốn trong thời kỳ đầu của sự pháttriển ở các nước này đều rất hạn chế Nhưng nhờ phát huy được trí tuệ,

Trang 16

sáng kiến cá nhân và đầu tư xây dựng kinh tế, đồng thời có sự quản lýđúng đắn của Nhà nước,cho nên chỉ sau một thời gian không dài đã làmnên những kỳ tích vĩ đại trong phát triển kinh tế.

Đối với nước ta, khi công cuộc đổi được triển khai từ Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ VI, nhiều sáng kiến cá nhân của quần chúng lao động,củanhân dân đã và đang được phát huy cả trong lao động sản xuất cũng như trongviệc tìm tòi các hình thức kinh tế thích hợp, năng động, từng bước đáp ứngyêu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của thị trường

+ Tiềm năng về kiến thức, kinh nghiệm quản lý, nâng cao taynghề, đặc biệt là phát huy kiến thức, bí quyết truyền thống được tích lũyqua nhiều đời là nguồn tiềm năng vô cùng to lớn cho sự tăng trưởng kinh

tế nếu được khởi động với những chính sách, chủ trương thích hợp Hiệnnay nguồn “chất xám” của KTNQD cũng rất đa dạng, có loại được Nhànước đào tạo trong các trường chính quy từ công nhân, kỹ sư, nhà kinh

tế đến các thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư… Có loại cá nhân tự bỏtiền ra để học lấy một nghề nhất định ở trong hoặc ngoài nước Có loại

do doanh nghiệp NQD sau khi tuyển dụng lao động bỏ tiền đào tạo hoặcđào tạo lại

+ Nguồn vốn trong khu vực KTNQD nối tiếp từ thế hệ này sangthế hệ khác đã và đang được tích luỹ ngày càng lớn Ở hầu hết các nước

có lịch sử phát triển kinh tế thị trường lâu đời, nguồn vốn đầu tư từ phíaNhà nước không đáng kể (chiếm từ 13% - 30% tổng vốn đầu tư) Cácnước đều có chính sách thoả đáng để huy động nguồn lực to lớn từnguồn vốn của KTNQD Nếu Chính phủ có chính sách đúng đắn, tạo môitrường thuận lợi, tạo lòng tin trong nhân dân, nhất định họ sẽ sẵn sàng bỏvốn đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tếphát triển và tăng trưởng mạnh mẽ

+ KTNQD có tiềm năng lao động to lớn và góp phần đáng kể vàoviệc giải quyết việc làm cho xã hội Ở nước ta hàng năm bình quân cókhoảng 1,243 triệu người đến tuổi lao động, bao gồm: lực lượng thanhniên đến tuổi lao động, số học sinh tốt nghiệp dạy nghề, trung học, caođẳng, đại học hoặc những người lao động thất nghiệp do sắp xếp lại biênchế trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc do sắp xếp lạisản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân, những người bán thất nghiệp

Trang 17

ở nông thôn, thành thị Đây là nguồn lao động rất dồi dào mà Nhà nước

ta chưa khai thác hết được Nếu chỉ thông qua các doanh nghiệp Nhànước thì sẽ không thu hút được hết những người lao động Thực tế trongnhững năm qua cho thấy, ở thời điểm cao nhất kinh tế Nhà nước chỉ thuhút khoảng 2 triệu lao động Trong khi đó riêng kinh tế NQD trong côngnghiệp và dịch vụ năm 1992 đã thu hút trên 1,2 triệu lao động [5] Chỉthông qua KTNQD với mọi hình thức, mọi quy mô, mọi loại ngành nghề,

áp dụng nhiều phương thức tổ chức, mọi quy mô, mọi loại ngành nghề,

áp dụng nhiều phương thức tổ chức, sử dụng một cách linh hoạt mọi loạilao động của xã hội mới có thể tận dụng được các lực lượng dôi thừa

Ở các nước Tây Âu, hơn 70% kết quả tăng trưởng của nền kinh tế

là do lao động tạo ra, 30% còn lại là do tiền vốn thiết bị Đối với ViệtNam có đội ngũ lao động đông đảo, nếu biết cách phát huy và khai thácthì đó là một lợi thế lớn cho phát triển kinh tế

Lao động của KTNQD ở Việt Nam còn có tiềm năng quan trọngđược bộc lộ rõ thông qua quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Trong

cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, bộ máy Nhà nước đãbành trướng quá mức Khi chuyển sang kinh tế thị trường định hướngXHCN với cơ chế quản lý mới có sự quản lý của Nhà nước, chính khuvực kinh tế Nhà nước đã là nguồn cung cấp nhân lực dồi dào choKTNQD Theo tài liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tếTrung ương, đã có 72% giám đố các Công ty trách nhiệm hữu hạn đãtừng là công chức Nhà nước, 10,4% giám đốc các Công ty này đã từng làgiám đốc doanh nghiệp Nhà nước Đối với các doanh nghiệp tư nhân,30% giám đốc đã từng là cán bộ công chức Nhà nước Khi chuyển sanglĩnh vực KTNQD, không những họ đã sử dụng trình độ lành nghề trongkinh doanh mà còn có vả vốn liếng tích luỹ được (bằng tiền trợ cấp thôiviệc, bằng tiền hưu trí…), thậm chí máy móc kỹ thuật từ nguồn thanh lý,giải thể của các doanh nghiệp Nhà nước Điều này có thể lý giải phầnnào tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong khi một bộ phậnlớn của kinh tế Nhà nước bị thu hẹp, giải thể hoặc ngững do làm ăn thua

lỗ, không thích ứng được với cơ chế kinh tế mới [5]

+ KTNQD còn là môi trường thuận lợi để hợp tác kinh tế với nướcngoài Trong nền kinh tế mở hiện nay, sự giao lưu với các nước phát

Trang 18

triển mạnh về mọi mặt đó là một tất yếu khách quan Đại hội Đảng lầnthứ IX đã xác định:

Phát triển đa dạng kinh tế Nhà nước dưới các hình thức liên doanh,liên kết giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước,ngoài nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh;chú trọng phát triển các hình thức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiềuhình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước,ngoài nước [32, tr.99]

Tại các nước, liên doanh với nước ngoài chủ yếu là do KTNQDthực hiện vì là khu vực năng động, làm ăn có hiệu quả, thích ứng nhanhvới sự biến động hoặc thay đổi của thị trường, của khách hàng Trongkhi đó ở nước ta hiện nay, các liên doanh với nước ngoài chủ yếu là dokinh tế Nhà nước thực hiện Nhiều Việt Kiều về quê hương gặp không ítkhó khăn trong việc tìm đối tác liên doanh

+Sự đa dạng của KTNQD tạo ra nguồn sản phẩm đa dạng, phongphú đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mọi nơi, mọi thời điểm.Thực tế nhiều năm qua ở các nước XHCN và ở Việt Nam đều cho thấynền kinh tế chủ yếu dựa trên KTQD thì hàng hoá sẽ nghèo nàn về chủngloại, số lượng ở Liên Xô cũ, sau 70 năm xây dựng CNXH với các doanhnghiệp Nhà nước chỉ có 10 triệu loại sản phẩm Trong khi đó ở Nhật Bảnmột nước nhỏ bé hơn nhiều về dân số và diện tích có tới 1,4 triệu doanhnghiệp với hơn 50 triệu loại sản phẩm

Ở nhiều nước Đông Nam Á, KTNQD đang được đánh giá là nguồnchủ yếu của tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu,có thểtạo thu nhập quốc dân tính theo đầu người tăng lên rất nhanh

Đường lối phát triển kinh tế - xã hội dựa vào KTNQD về cơ bản làmột chiến lược hướng vào thị trường KTNQD có thể quyết định và điềuchỉnh nhanh chóng sản xuất cái gì, đầu tư vào đâu để có lợi nhuận nhiềunhất Ở các nước đang phát triển, KTNQD trở thành động lực kích thíchkinh tế phát triển tốt hơn so với sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vàoquá trình kinh tế và dựa vào kinh tế Nhà nước là chủ yếu

Việt Nam, tuy KTNQD mới được công nhận và phục hồi nhưngtrong những năm qua đã xác định được chỗ đứng xứng đáng, có vai tròquan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Trang 19

Sự đóng góp của KTNQD không chỉ dừng lại ở việc làm tăng tổngsản phẩm trong nước, thêm nhiều hàng hoá với nhiều mẫu mã đẹp, giá cảhợp lý mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho giải quyết việc làm, nângcao đời sống xã hội, cả cho người sản xuất lẫn người tiêu dùng.

Từ một số thế mạnh của KTNQD, có quan điểm muốn tư nhân hoámột cách triệt để nhằm huy động được tối đa mọi nguồn lực, khai thácmọi tiềm năng, lợi thế đang tiềm ẩn trong KTNQD Thực ra, quan điểmnày chưa thấy hết được những khiếm khuyết của KTNQD Tuy là mộtkhu vực năng động nhưng thiếu định hướng và không bao quát hết mọinhu cầu xã hội, tự phát theo cơ chế thị trường, trốn tránh sự kiểm tra,kiểm soát của các cơ quan Nhà nước, không ít cơ sở đã hoạt động vôChính phủ, kinh doanh trái phép buôn bán trốn lậu thuế Điều đó càngtrở lên khó khăn, phức tạp đối với một nền kinh tế sản xuất nhỏ, phântán, chưa quen với văn minh công nghiệp, hệ thống pháp luật chưa đồng

bộ, chưa hoàn thiện như ở nước ta

Việc khuyến khích KTNQD để phát triển kinh tế - xã hội không đồngnghĩa với việc buông lỏng quản lý, để mặc cho các thành phần kinh tế tự dophát triển Ngược lại, đòi hỏi Nhà nước phải quản lý, định hướng, phải có

hệ thống pháp luật được thể chế hoá đẩy đủ rõ ràng cả ở tầm vĩ mô lẫn vi

mô, để có thể phát huy đến mức tối đa mặt tích cực và hạn chế đến mứcthấp nhất mặt tiêu cực của KTNQD trong cơ chế thị trường

1.2.2 Yêu cầu và nội dung của công tác quản lý thu thuế NQD

Trên thực tế, hệ thống thuế là một chỉnh thể không thể chia cắt –không quốc gia nào áp dụng riêng biệt những sắc thuế cho khu vực kinh

tế nhà nước hay khu vực KTNQD Ở các nền kinh tế phát triển, hầu hếtcác đơn vị kinh tế đều dựa trên sở hữu phi nhà nước và chính sách thuếcủa nhà nước chính là thuế đối với khu vực kinh tế này

Ở Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa là một chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam, do đótrong tiến trình đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệtchú ý tới việc xây dựng chính sách thuế đảm bảo cho sự phát triển bìnhđẳng của mọi thành phần kinh tế, trong đó có việc khuyến khích sự pháttriển của KTNQD Vì vậy, trong phần này, khi nói đến yêu cầu và nộidung cơ bản của công tác quản lý thuế đối với khu vực KTNQD chủ yếu

Trang 20

là nói trên cơ sở những quan điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam trongviệc xây dựng và thi hành chính sách thuế

1.2.2.1 Mục tiêu yêu cầu của quản lý thu thuế NQD:

* Mục tiêu:

Là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý tàichính Nhà nước, quản lý thuế không thể tách rời quản lý Nhà nước nóichung và quản lý Nhà nước về kinh tế nói riêng

Công tác quản lý thuế trong nền kinh tế quốc dân nhằm đạt đượccác mục tiêu cơ bản sau đây:

- Tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN trên cơ sởkhông ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, số thu bằng thuế hàng nămchiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số thu của NSNN Vì vậy, làm tốt côngtác quản lý thuế sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ,kịp thời số thu cho NSNN

Mặt khác, các chính sách thuế, dù trực tiếp hay gián tiếp đều có tácđộng đến thu nhập của các tổ chức kinh tế và cá nhân, qua đó tác độngđến quá trình phát triển - cơ sở tạo ra nguồn thu thuế trong tương lai Đểtăng trưởng và ổn định số thu của NSNN trong tương lai, trong công tácquản lý thuế cũng cần chú ý duy trì và phát triển các cơ sở tạo ra nguồnthu thuế Về vấn đề này, người Pháp có câu nói rất nổi tiếng: "Hãy cắtlông cừu chứ đừng lột da nó", và câu chuyện ngụ ngôn "Con gà đẻ trứngvàng" đáng để cho chúng ta ghi nhớ

- Phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nền kinh tế

Vai trò của thuế mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực Song,những vai trò đó không mang tính tự nó, mà là kết quả của những hoạtđộng của chính con người Những hoạt động này được thực hiện thôngqua những nội dung, những công việc cụ thể của công tác quản lý thuế

- Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế vàdân cư

Trong cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước thông qua công cụ luậtpháp để thực hiện sự tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô Ý thức chấphành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không

Trang 21

nhỏ đến việc thực hiện những tác động của Nhà nước đến nền kinh tế.Qua công tác tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành cácluật thuế cùng với việc tăng cường tính pháp chế của các luật thuế, ý thứcchấp hành các luật thuế được nâng cao, từ đó tạo thói quen "Sống và làmviệc theu pháp luật" trong mọi tầng lớp dân cư.

Để đạt được các mục tiêu trên, công tác quản lý thuế cần tuân chủmột số nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Nguyên tắc tập trung dân chủ

- Nguyên tắc công khai

- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả

* Yêu cầu:

- Tuyên truyền giáo dục sâu rộng chính sách, chế độ thuế:

Cần tập trung mọi hình thức thích hợp tăng cường việc tuyêntruyền, giải thích chính sách, chế độ thuế sâu rộng làm cho mọi người dânhiểu được thuế của ta là "của dân, do dân, vì dân", xoá bỏ ấn tượng xấu vềthuế là hình thức bóc lột, bần cùng hoá nhân dân dưới thời thực dân,phong kiến ở nước ta Từ đó từng bước nâng cao dân trí về nghĩa vụ côngdân đối với thuế Cần đưa chính sách, chế độ thuế cho dân trao đổi, quántriệt và dân chủ bàn bạc về biện pháp triển khai thích hợp nhằm đạt hiệuquả cao nhất và khắc phục được phiền hà không cần thiết đối với các nhàdoanh nghiệp Thông qua các cuộc họp, giải đáp những thắc mắc cụ thểtrong các tầng lớp nhân dân, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ công tác thuế,xây dựng lực lượng hậu thuẫn vững chắc kiên quyết đấu tranh, lên án trốnlậu thuế: uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức và những sai sót trongđăng ký thuế, trong việc nghiêm chỉnh chấp hành các chế độ hoá đơn, sổsách kế toán, kê khai, nộp thuế

Thực hiện quan điểm quần chúng của Đảng trong công tác tuyêntruyền, giáo dục về thuế không chỉ là "truyền đạt" một chiều từ trên xuống

mà thông qua công tác quản lý thường xuyên, cán bộ thuế phải thấy đượcnhững khó khăn thực tế phát sinh trong tổ chức thực hiện Phải kháchquan lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của các nhà doanh nghiệp, trung thựcphản ánh ý kiến lên trên nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung để chính sách thuế,chế độ thuế ngày càng phù hợp với trình độ và khả năng đóng góp củanhân dân

Trang 22

- Tranh thủ được sự lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức Đảng và chínhquyền các cấp:

Thuế là một trong những chính sách kinh tế lớn của Đảng và Chínhphủ Cơ quan thuế cần chủ động báo cáo các kế hoạch, chương trình côngtác để cơ sự chỉ đạo điều hành của tổ chức Đảng và chính quyền các cấp.Mỗi cấp uỷ, UBND coi thuế là một công tác trọng tâm của đơn vị mình.Thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện công tác thuế trong từngthời kỳ cùng với các công tác khác về quản lý kinh tế - tài chính trên địabàn Việc tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ, chính quyềnkhông có nghĩa là khi có khó khăn mới đến kêu gọi giúp đỡ Cơ quan thuếphải chủ động thực hiện đều đặn chế độ báo cáo để cấp uỷ và chính quyềnnắm chắc được quá trình thực hiện chính sách thuế, cả thuận lợi và khókhăn Cấp uỷ và chính quyền sẽ tăng cường công tác giám sát, đề caopháp chế XHCN, thiết lế kỷ cương theo yêu cầu của cơ chế quản lý mới,khen thưởng, động viên những đơn vị, cá nhân chấp hành nghiêm chỉnhcác luật thuế, hoàn thành tốt nghĩa vụ thuế Đồng thời phê phán trong nội

bộ hoặc sử dụng đài báo gây thành dư luận lên án trốn lậu thuế, dây dưatiền thuế, xử lý nghiêm minh tập thể, cá nhân vi phạm chính sách thuế,pháp luật thuế, làm thất thu thuế

Mỗi cấp uỷ, UBND cần có chương trình kế hoạch cụ thể, thiết thựccho việc lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện giúp đỡ, đôn đốc, kiểm tra các tổchức chính quyền, đoàn thể quần chúng, xã hội thực hiện tốt chương trình,

kế hoạch công tác về thuế Cử một cấp uỷ viên hoặc uỷ viên UBND cónăng lực thay mặt cấp uỷ, UBND trực tiếp chỉ đạo công tác thuế trên địabàn

- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan vàcác đoàn thể quần chúng, xã hội

Thuế là một mặt trận đấu tranh gay go, phức tạp, thậm chí quyết liệtgiữa lợi ích cục bộ cá nhân, tập thể với lợi ích chung của toàn xã hội Đây không thể là công việc đơn độc của ngành thuế, của cán bộ thuế màphải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ có liên quan và các đoàn thể quầnchúng, xã hội làm chỗ dựa vững chắc cho việc triển khai chính sách thuế.Một mặt cơ quan thuế sẽ có thêm nhiều thông tin chính xác, đầy đủ vềhoạt động kinh doanh thực tế trong từng ngành nghề, từng địa bàn, thêm

Trang 23

những tài liệu "sống" cho việc đấu tranh chống thất thu thuế có hiệu quả,đồng thời thêm lực lượng cưỡng chế để đảm bảo xử lý có hiệu quả về nợđọng, dây dưa tiền thuế, chống đối, hành hung cán bộ thuế Mặt khác,thông qua sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quần chúng, xã hội, các cơquan thông tin tuyên truyền để giáo dục, thuyết phục các thành viên trong

tổ chức, giải thích chính sách, chế độ mới một cách sâu rộng trong cáctầng lớp nhân dân, hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế hoàn thành tốt nhiệm

vụ Thực tiễn đã chứng minh một cách rõ ràng là ngành thuế không đểkhai thác tốt các nguồn thu và chống thất thu có hiệu quả (đặc biệt làtrong khu vực KTNQD) nếu không phát huy được kết quả của công tácphối hợp

Việc thành lập Hội đồng tư vấn thuế phường xã bao gồm sự thamgia của Mặt trận, Thanh niên, Phụ nữ, Hội nông dân đã tỏ rõ đây là tổchức tổng hợp rộng rãi của các tổ chức quần chúng đối với nhiệm vụ thu.Hoạt động của Hội đồng tư vấn thuế phường xã không chỉ góp phần tíchcực cho việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch thuế, tạo sự công bằng vềđộng viên đóng góp giữa các tầng lớp dân cư, mà còn giúp cho ngành thuếgiám sát, kiểm tra công tác của cán bộ thuế, chống tiêu cực, tuỳ tiện, làmtrong sạch đội ngũ cán bộ thuế Hội đồng tư vấn thuế phường xã còn là

mô hình tổ chức giúp đỡ cho ngành thuế thực hiện tốt cơ chế "dân biết,dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong công tác thuế

- Từng bước đưa việc thực hiện các quy trình, biện pháp quản lý,thu thuế vào nề nếp, kỷ cương:

Yêu cầu chung đối với công tác thuế là "Phải thu đúng, thu đủ, thukịp thời" theo đúng pháp luật Tổng cục thuế đã nghiên cứu, ban hành cácquy trình, chế độ nghiệp vụ cho từng loại đối tượng kinh doanh có thựchiện hoá đơn, sổ sách kế toán hoặc khoán thuế thuộc diện quản lý, thuthuế theo từng sắc thuế Phải thực hiện đúng các quy trình nghiệp vụ đểnắm chắc cơ sở kinh doanh thực tế, có cơ sở thu thuế đầy đủ về doanh, lợitức phát sinh theo từng cơ sở, từng thời gian, đảm bảo được nguyên tắclập sổ thuế, duyệt sổ thuế, thông báo thuế và thu thuế đúng với thời gianquy định và có cơ sở để giải quyết xử lý nộp chậm, dây dưa tiền thuế.Việc tách công tác quản lý thành 3 bộ phận là nhằm tạo được sự hỗ trợtrong tổ chức thuế, vừa chống được thất thu có hiệu quả, vừa khắc phục

Trang 24

tuỳ tiện, tiêu cực trong công tác quản lý, thu thuế Một số yếu tố cơ bản

để cơ quan thuế xác định được việc thu thuế sát đúng với thực tế hoạtđộng sản xuất kế hoạch là phải đảm bảo được việc thực hiện nghiêmchỉnh chế độ kê khai đăng ký thuế, chế độ hoá đơn chứng từ, sổ sách kếtoán ở tất cả các cơ sở kinh doanh vừa và lớn

1.2.2.2 Nội dung cơ bản của quản lý thu thuế KTNQD

* Tổ chức bộ máy:

Cùng với việc cải cách hệ thống chính sách thuế, ngày 7/8/1990,Chính phủ đã ban hành Nghị định số 281/HĐBT về tổ chức hệ thống bộmáy ngành thuế Theo tinh thần của Nghị định này, bộ máy quản lý thuếđược tổ chức lại theo ngành dọc từ Trung ương đến các địa phương trên

cơ sở hợp nhất ba bộ phận trước đây là cục Thu quốc doanh, Cục Thuếcông, thương nghiệp ngoài quốc dân và vụ Thuế nông nghiệp thành Tổngcục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính Về cơ cấu tổ chức trong nội bộ củacác cơ quan thuế từ Trung ương đến các địa phương, các vấn đề nghiệp

vụ cụ thể trong quy trình hành thu cũng như những thay đổi nhất địnhtrong từng thời kỳ nhằm phù hợp với sự thay đổi về hệ thống các chínhsách thuế được áp dụng và các thay đổi khác

Cơ thể khái quát những nét cơ bản trong tổ chức hệ thống bộ máyngành thuế ở nước ta hiện nay như sau:

Hệ thống ngành thuế có nhiệm vụ quản lý thống nhất trong phạm vi

cả nước tất cả các loại thuế, phí và lệ phí (thu nội địa) của ngân sách Nhànước Các loại thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu do ngành Hải quan đảmnhận Bộ máy ngành thuế được tổ chức thành mộ hệ thống theo ngành dọc

từ Trung ương đến các địa phương Ở Trung ương có Tổng cục Thuế trựcthuộc Bộ Tài chính Tổng cục Thuế không trực tiếp quản lý thu thuế, mànhiệm vụ chính của cơ quan này là nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệthống chính sách thuế, hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các luậtthuế; kiểm tra cơ quan thuế cấp dưới trong việc quản lý thu các loại thuế,phí và lệ phí Ngoài các phòng ban thông thường (Phòng Hành chính, Tổchức ) như mọi cơ quan khác, khối phòng ban chuyên môn nghiệp vụtrong Tổng cục Thuế hiện nay được tổ chức theo sắc thuế và theo đôítượng nộp thuế (đối tượng theo ngành kinh tế)

Trang 25

Cơ quan thuế ở các địa phương có nhiệm vụ trực tiếp quản lý thuthuế và các khoản thu khác, chịu sự lãnh đạo song trùng của cơ quan thuếcấp trên và của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

Ở cấp tỉnh, thành phố có Cục thuế trực thuộc Tổng cục Thuế Cụcthuế có nhiệm vụ trực tiếp thu các loại thuế, phí, lệ phí đối với khối cácdoanh nghiệp, hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các Chi cục thuế trong việc

tổ chức quản lý thu các khoản thu đã được phân cấp Cơ cấu bộ máy Cụcthuế hiện nay được tổ chức chủ yếu theo đối tượng nộp thuế (đối tượngtheo thành phần sở hữu) và theo chức năng

Ở cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Chi cục thuế trựcthuộc Cục thuế Chi cục có nhiệm vụ trực tiếp quản lý thu từ những hộ cáthể và một số Công ty trách nhiệm hữu hạn Bộ máy của Chi cục hiện nayđược tổ chức theo đối tượng nộp thuế (đối tượng theo địa giới hành chínhcác phường, xã) và được chia thành từng đội thuế

* Về tổ chức quản lý thu thuế:

- Quản lý đối tượng nộp thuế:

Hàng năm, trên cơ sở đăng ký kinh doanh của các đối tượng sảnxuất kinh doanh, cơ quan thuế phải tiến hành đăng ký đối tượng nộp thuế,trên cơ sở đó sẽ quản lý và thu thuế đối với đối tượng này Có hai phươngthức đăng ký đối tượng nộp thuế thường được áp dụng:

+ Phương thức thủ công:

Theo phương thức này, mỗi đối tượng nộp thuế được cấp một sổđăng ký thuế riêng, mọi thông tin cần thiết về đối tượng nộ thuế đượcphản ánh và lưu trữ trong sổ này

Phương thức này chỉ nên áp dụng trong trường hợp số lượng đốitượng nộp thuế ít và khá tập trung, điều kiện cho việc cơ giới hoá công tácquản lý thuế chưa thực hiện được Khi số lượng đối tượng nộp thuế tănglên quá lớn thì việc quản lý đối tượng nộp thuế bằng phương pháp này sẽphức tạp, dễ bị nhầm lẫn, mất nhiều thời gian, công sức mà hiệu quảkhông cao

+ Phương thức quản lý bằng mạng vi tính:

Theo phương thức này, cần phải xây dựng một hệ thống mã số đốitượng nộp thuế thống nhất trong phạm vi cả nước Mỗi đối tượng nộp thuếđược gắn một xã số duy nhất Mọi hồ sơ, thông tin cần thiết về đối tượng

Trang 26

nộp thuế được nạp vào máy vi tính với một file riêng, mà tên file là mã sốcủa đối tượng nộp thuế Khi cần kiểm tra một đối tượng nộp thuế nào đó,chỉ cần mở file theo mã số của đối tượng đó.

Đây là phương thức quản lý hiện đại đang được áp dụng ở nhiềunước trên thế giới Phương thức này giúp tiết kiệm được chi phí quản lýthuế Đặc biệt với phương thức này, cơ quan thuế có thể nhanh chóng, dễdàng phát hiện được các trường hợp gian lận về thuế, ngay cả khi sốlượng đối tượng nộp thuế tăng lên rất nhanh

- Xây dựng và lựa chọn qui trình quản lý thu thuế:

Qui trình quản lý thu thuế phản ánh trình tự các bước công việcphải làm nhằm tập trung đầy đủ, kịp thời số thu thuế vào NSNN

Có hai dạng quy trình quản lý thu thuế khác nhau như sau:

+ Cơ quan thuế tính và ra thông báo số thuế phải nộp

Định kỳ theo thời gian hoặc theo chuyển hàng, trên cơ sở những quiđịnh trong các luật thuế và hoạt động sản xuất kinh doanh, các đối tượngnộp thuế phải kê khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế Cơ quan thuếnhận tờ khai, kiển tra tờ khai và tính thuế, sau đó ra thông báo số thuếphải nộp và gửi cho đối tượng nộp thuế Trong khoảng thời hạn theothông báo, đối tượng nộp thuế phải có trách nhiệm nộp đầy đủ số thuếtheo thông báo vào Kho bạc Nhà nước

Với phương thức này, sẽ đảm bảo được việc tính toán chính xác sốthuế phải nộp của các đối tượng Tuy nhiên, khối lượng công việc mà các cơquan thuế phải đảm nhận sẽ rất nhiều và phức tạp, đặc biệt khi số lượng đốitượng nộp thuế lớn, mỗi đối tượng lại phải nộp nhiều loại thuế khác nhau

Do vậy, khó có điều kiện để tinh giản biên chế của bộ máy ngành thuế

+ Đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính thuế và nộp thuế:

Khác với qui trình trên đây, định kỳ theo thời gian hoặc theochuyến hàng, các đối tượng nộp thuế tự kê khai, tính và nộp thuế vàoKBNN Với phương thức này, nhiệm vụ của cơ quan thuế sẽ đơn giản hơnnhiều Tuy nhiên, phương thức này sẽ chỉ mang lại kết quả tốt khi mọingười đã nắm vững và tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế của mình, đồngthời tính pháp lý của các luật thuế cao và công tác kiểm tra, thanh tra thuếđược thực hiện thường xuyên, có hiệu quả

Trang 27

Phương thức này hiện đang được áp dụng phổ biến trong các nước

có nền kinh tế thị trường phát triển

- Tính thuế:

Tuỳ thuộc vào từng loại thuế và tính chất hoạt động sản xuất kinhdoanh của đối tượng nộp thuế, việc tính số thuế phải nộp của các đốitượng có thể được thực hiện theo các phương pháp sau đây:

cơ sở để xác định qui mô kinh doanh Thuế sử dụng đất nông nghiệp đượctính dựa trên diện tích đất và mức thuế qui định cho từng hạng đất (đấtloại 1, loại 2 ) Thuế nhà đất được tính dựa trên giá trị sử dụng đất theođường phố loại 1, loại 2

+ Phương pháp tính theo thuế khoán:

Dựa trên cơ sở các yếu tố khách quan do người sản xuất kinh doanh(người nộp thuế) cung cấp và trên cơ sở các biện pháp kiểm tra của cán bộthuế, cơ quan thuế ấn định một mức doanh thu cụ thể Doanh thu này sẽđược cố định trong một thời gian nhất định Trong khoảng thời gian đó, sốthuế mà cơ sở phải nộp được tính dựa trên doanh thu ấn định này, mặc dùtình hình sản xuất kinh doanh thực tế của cơ sở có thể có những biếnđộng

Phương pháp này có tác dụng giúp cho người nộp thuế biến trướcđược số thuế mà họ phải nộp hàng tháng, hàng năm, từ đó giúp họ chủđộng bố trí kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài chính của mình Đồng thời,khuyến khích các đơn vị sản xuất kinh doanh phấn đấu mở rộng sản xuất,tăng doanh thu thực tế trong thời gian ổn định doanh thu Đối với cơ quanthuế, phương pháp này cũng giúp họ giảm nhẹ công việc và đơn giảntrong công tác quản lý thu thuế Tuy nhiên, trong điều kiện hoạt động sảnxuất kinh doanh của các cơ sở phát triển nhanh, thuế khoán không báo

Trang 28

quát hết được các nguồn thu phát sinh, tác dụng của các chính sách thuếkhoán trong việc tập trung thu nhập vào ngân sách Nhà nước bị hạn chế.Trên thực tế, phương pháp này chỉ được áp dụng với các hộ kinh doanhnhỏ, chưa có điều kiện để thực hiện chế độ thống kê - kế toán.

+ Phương pháp tính thuế theo kê khai thực tế:

Theo phương pháp này, việc tính thuế dựa trên tờ khai với các sốliệu thực tế với tình hình sản xuất kinh doanh của cơ sở

Phương pháp này khá phức tạp trong việc tính toán, quản lý và theodõi, nhưng lại đảm bảo tập trung được đầy đủ số thu vào NSNN Tuynhiên, để đạt được kết quả đó, cơ quan thuế cần kiểm tra các tờ khai, đốichiếu tờ khai với sổ sách kế toán và các chứng từ gốc, với thực tế sản xuấtkinh doanh của cơ sở, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh nhữngtrường hợp gian lận trong kê khai thuế Muốn vậy, cần phải có những quiđịnh rõ ràng về việc quản lý và sử dụng chứng từ, hoá đơn, sổ sách kếtoán theo hệ thống tài khoản hoàn chỉnh, hiện đại hoá công tác quản lýthuế

- Tổ chức thu nộp tiền thuế:

Các cá nhân, các đơn vị sản xuất kinh doanh nộp thuế cho Nhà nướcqua các hình thức:

+ Nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước

Hình thức này được áp dụng bổ biến hiện nay Với hình thức này,người nộp thuế trực tiếp nộ vào KBNN, bằng tiền mặt hoặc chuyển khoảnqua ngân hàng Do đó khắc phục dưdợc tình trạng chiếm dụng, xâm tiêutiền của Nhà nước Tuy vậy, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ, thườngxuyên giữa kho bạc, ngân hàng và cơ quan thuế trong kiểm soát thu ngânsách Nhà nước, phải có một qui chế chặt chẽ trong việc luân chuyểnchứng từ giữa ba cơ quan này nhằm bảo đảm cho việc kiểm tra, đôn đốccác đối tượng nộp thuế thực hiện đúng, đủ và kịp thời nghĩa vụ thuế đốivới Nhà nước

+ Nộp bằng tiền mặt qua cơ quan thuế:

Đối với số ít các đối tượng buôn bán không có cơ sở ổn định (buônchuyến), các hộ kinh doanh nhỏ, phân tán, số tiền thuế phải nộp ít vànhững trường hợp không có điều kiện nộp trực tiếp vào KBNN, cán bộ

Trang 29

thuế thu trực tiếp từ các đối tượng nộp thuế, sau đó họ nộp tiền thuế thuđược vào Kho bạc Nhà nước.

Tuy nhiên, hình thức này cũng tồn tại một số nhược điểm như: Bộmáy thu thuế cồng kềnh, dễ xuất hiện tình trạng tham ô, chiếm dụng tiềnthuế của Nhà nước

* Thanh tra thu thuế:

- Mục đích, yêu cầu của thanh tra thuế:

Là một trong những nội dung quan trọng của quản lý thuế, thanhtra thuế được thực hiện, trước hết, bởi hệ thống các cơ quan thanh trachuyên ngành về thuế Ngoài ra, thanh tra thuế còn được thực hiện bởi sựphối hợp của các cơ quan chức năng có liên quan

Đối tượng của thanh tra thuế là các tổ chức kinh tế và cá nhân cónghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và chínhb ản thân các đơn vị tuộc ngànhthuế

Mặc dù qui mô và tính chất của các cuộc thanh tra thuế khônggiống nhau, nhưng nhìn chung, thanh tra thuế đều nhằm hướng vào cácmục đích chủ yếu sau đây:

+ Phát hiện để từ đó có biện pháp xử lý kịp thời các trường hợp viphạm pháp luật luế, như khai man, trốn thuế, nợ đọng thuế, chiếm dụngtiền thuế nhằm hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng thất thu thuế choNhà nước

+ Đảm bảo nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế cho các đốitượng nộp thuế và cho người thi hành công vụ trong ngành thuế

+ Phát hiện những nội dung không phù hợp trong các văn bản phápqui về thuế với thực tiễn đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, nhữngđiểm không hợp lý về công tác tổ chức hệ thống bộ máy ngành thuế, vềcác vấn đề nghiệp vụ của công tác hành thu, từ đó kiến nghị các cơ quanchức năng sửa đổi, bổ sung kịp thời để không ngừng hoàn thiện hệ thốngthuế

Để đạt được các mục tiêu trên đây, công tác thanh tra thuế phảiquán triệt một số yêu cầu cơ bản sau đây:

+ Phải đảm bảo tính khách quan, trung thực trong xem xét các sựviệc và đưa ra các kết luận sau những cuộc thanh tra Người làm thanh tra

Trang 30

tuyệt nhiên không được lồng tư tưởng cá nhân, phiến diện, không bị mộtsức ép quyền lực nào khi xem xét, giải quyết các sự vụ trong thanh tra.

+ Thanh tra thuế, nhất thiết phải dựa trên tư tưởng pháp trị, cónghĩa là mọi cuộc thanh tra thuế đều phải dựa trên cơ sở các văn bảnpháp quy của Nhà nước, lấy đó làm chuẩn mực cho việc đánh giá, suyxét các sự kiện, các vụ việc được than tra

+ Các cuộc thanh tra phải đảm bảo tính chính xác, rõ ràng trongcác kết luận về vụ việc thanh tra

- Nội dung thanh tra thuế:

Nội dung thanh tra thuế đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân làđối tượng nộp thuế, có những điểm khác biệt nhất định với nội dungthanh tra đối với các tổ chức các tổ chức được giao nhiệm vụ làm côngtác quản lý, thu thuế

- Đối với các tổ chức và cá nhân là đối tượng nộp thuế:

Nội dung thanh tra đối với đối tượng nộp thuế tập trung vào cácvấn đề cơ bản sau đây:

+ Thanh tra việc chấp hành những quy định về đăng ký, kê khainộp thuế

Việc đăng ký kinh doanh, kê khai nộp thuế, trước hết là tráchnhiệm của các tổ chức kinh tế và cá nhân có thực hiện các hoạt động sảnxuất kinh doanh Tuỳ theo từng luật thuế mà có những yêu cầu khác nhau

về các tiêu thức kê khai cụ thể Song nhìn chung, các tiêu thức chủ yếu

mà các đối tượng phải kê khai là:

+ Kê khai về địa điểm, tính chất ngành nghề, mặt hàng kinh doanh.+ Kê khai về tình hình vốn, tài sản, lao động, doanh số, chi phí sảnxuất kinh doanh của đơn vị

+ Kê khai việc sử dụng hình thức sổ sách kế toán

+ Kê khai về tài khoản giao dịch

Nhiệm vụ của thanh tra thuế trong việc xem xét đăng ký kinhdoanh, kê khai nộp thuế là xác định tính đúng đắn, độ chính xác của các

tờ khai với tình hình thực tế kinh doanh của cơ sở, phát hiện những saisót và những điều bất hợp lý trong những tờ khai của người nộp thuế

+ Thanh tra việc chấp hành chế độ thống kê kế toán, hoá đơn chứng từ

Trang 31

-Sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ phản ánh tình hình thực tế trongsản xuất kinh doanh của các cơ sở, là những căn cứ không thể thiếu được

để tính thuế cho các đối tượng nộp thuế Trong thực tế, nhiều đối tượngnộp thuế đã lợi dụng hoá đơn, chứng từ để trốn lậu thuế, gây thiệt hại chongân sách Nhà nước Vì vậy, để khắc phục tình trạng này, Nhà nướcthường đưa ra những quy định chặt chẽ về việc thực hiện chế độ thống kê,

kế toán, chế độ sử dụng hoá đơn, chứng từ trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của các cơ sở Thanh tra thuế có nhiệm vụ đối chiếu những quyđịnh đó với tình hình áp dụng chế độ thống kê, kế toán thực tế của cácđơn vị để tìm ra những sai sót Đồng thời còn kiểm tra tính chính xác củacác số liệu kế toán được sử dụng làm căn cứ tính thuế nhằm khắc phụctình trạng gian lận trong việc kê khai và tính thuế của cơ sở

+ Thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước

Dựa vào thông báo thuế do cơ quan thuế gửi đến, đối tượng nộpthuế phải có nghĩa vụ nộp đầy đủ số tiền thuế vào ngân sách Nhà nướctheo đúng thời hạn ghi trong thông báo thuế Trong trường hợp áp dụngquy trình quản lý theo đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính và nộp thuế,thanh tra thuế sẽ dựa vào những quy định trong các luật thuế và các vănbản hướng dẫn của các cơ quan Nhà nước để thanh tra việc tính và chấphành nghia vụ nộp thuế của các cá nhân, các đơn vị sản xuất kinh doanhnhằm đảm bảo nộp đủ, kịp thời số thu cho ngân sách Nhà nước

- Đối với các đơn vị trong nội bộ ngành thuế:

Căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong ngành thuế,nội dung thanh tra đối với các đơn vị này chủ yếu tập trung vào nhữngvấn đề cơ bản sau đây:

+ Thanh tra việc tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn chấp hànhcác luật thuế

Dựa trên những văn bản pháp quy về thuế do Nhà nước ban hành,

cơ quan thuế, với tư cách là cơ quan Nhà nước được giao trách nhiệm tổchức thực thi các luật thuế đến mọi tầng lớp dân cư, kể cả người nộp thuế

và người không nộp thuế cho Nhà nước Đồng thời, tuỳ thuộc vào sựphân cấp quản lý, các cơ quan này phải xây dựng và ban hành các vănbản hướng dẫn thực hiện các luật thuế Thanh tra thuế trong trường hợpnày phải tập trung vào việc:

Trang 32

+ Thanh tra công tác tổ chức tuyên truyền các luật thuế (hình thức,nội dung tuyên truyền).

+ Thanh tra nội dung các văn bản hướng dẫn của đơn vị thuộcngành thuế

Với nội dung này, thanh tra thuế tập trung vào các vấn đề:

+ Thanh tra việc tuân thủ quy trình và sự phối hợp giữa các bộphận trong cơ quan thuế khi thực hiện quy trình quản lý thu thuế

+ Thanh tra việc thực hiện các nghiệp vụ cụ thể của quá trình hànhthu (đăng ký thuế, tính thuế, xét miễn, giảm thuế, quản lý và sử dụng ấnchỉ )

+ Thanh tra việc giải quyết các khiếu kiện và xử lý các vi phạm vềthuế

Để đảm bảo sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và đảmbảo tính công khai, dân chủ trong việc thực hiện pháp luật thuế, mọicông tác đều có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác những hành vi viphạm pháp luật thuế Nhà nước có quy định các hình thức và mức độ xửphạt đối với các trường hợp vi phạm pháp luật thuế

1.3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MỘT SỐ SẮC THUẾ ĐỐI VỚI KTNQD

Ở VIỆT NAM

Nhằm bao quát mọi đối tượng phải thu thuế, đảm bảo tính côngbằng trong động viên điều tiết tiền thuế điều tiết thuế và đáp ứng yêu cầuthu của ngân sách, hệ thống thuế hiện nay ở nước ta bao gồm các sắcthuế sau:

Thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế XNK; thuế tài nguyên, thuế TNDN;Thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao, thuế sử dụng đấtnông nghiệp, thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế môn bài

Mỗi sắc thuế có chức năng, tác dụng, đối tượng nộp khác nhaunhưng có mối liên hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau, giữa thuế trực thu vàthuế gián thu để phát huy tác dụng toàn diện của hệ thống thuế

Ngoài ra, còn một số khoản thu mang tính chất lệ phí, nhằm độngviên sự đóng góp cho NSNN vừa mang tính chất phục vụ cho người nộp

lệ phí thực hiện một số thủ tục hành chính

Trang 33

Dưới đây xin đề cập đến một số loại thuế chủ yếu đối với khu vựcKTNQD:

1.3.1 Thuế môn bài:

Thuế môn bài mang tính chất là loại thuế trực thu, động viên sựđóng góp trực tiếp của cơ sở kinh doanh tạo được nguồn thu quan trọngcho nhu cầu chi tiêu của NSNN ngay từ đầu năm mỗi năm khi các nguồnthu khác chưa nhiều Thuế môn bài còn có tác dụng kiểm kê, kiểm soátcác cơ sở kinh doanh, có căn cứ phân loại quy mô kinh doanh để áp dụngbiện pháp quản lý cho phù hợp

Thuế môn bài áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có thực tế kinhdoanh Thuế thu mỗi năm một lần và chủ yếu thu vào đầu năm Những

cơ sở kinh doanh hoạt động trong 6 tháng đầu năm phải nộp mức thuếmôn bài cả năm Nếu bắt đầu hoạt động trong 6 tháng cuối năm thì nộp50% mức thuế cả năm

Mức thuế môn bài hàng năm được quy định trong biểu thuế đối vớicác doanh nghiệp và đối với các hộ kinh doanh tương ứng với số thunhập bình quân tháng của cơ sở Mức thuế từ 1.000.000 đến 3.000.000đmột năm (đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh) từ 50.000đ đến1.000.000đ (đối với các hộ cá thể kinh doanh)

Các tổ chức, cá nhân kinh doanh phải nộp thuế môn bài trong thờihạn quy định theo mức thuế cơ quan thuế ghi trong thông báo Nếu thayđổi địa điểm, ngành nghê, mặt hàng kinh doanh đã ghi trong thẻ môn bài,

cơ sở kinh doanh phải báo ngay cho cơ quan thuế biết để thay đổi thẻmôn bài mới cho phù hợp với ngành nghề kinh doanh

Với mục đích kiểm kê, kiểm soát tất cả các cơ sở thực tế kinhdoanh, thuế môn bài không có quy định miễn giảm thuế

1.3.2 Thuế GTGT: Thuế GTGT tính trên khoản giá trị tăng thêm

của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưuthông, tiêu dùng, thuế GTGT được hoàn đối với hàng hoá xuất khẩu sẽphát huy tốt tác dụng khuyến khích xuất khaủa, tạo điều kiện cho hàngxuất khẩu có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế; thuế GTGT kết hợpvới hàng nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu; góp phầntích cực bảo vệ hàng sản xuất trong nước, tăng cường hạch toán kế toánkinh doanh, thúc đẩy việc mua bán hàng hoá thực hiện tốt chế độ hoá

Trang 34

đơn để được trừ thuế GTGT đầu vào, khuyến khích hiện đại hoá, chuyênmôn hoá sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm…

Đối tượng đánh thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở ViệtNam, kể cả hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, hàng tiêu dùngnội bộ hoặc làm quà biếu, quà tặng đem trao đổi (không thanh toán bằngtiền), từ 26 nhóm mặt hàng quy định trong luật thuế GTGT (như hàngnông sản tự sản xuất, tự chăn nuôi của người nông dân trực tiếp bán ra,các dịch vụ không mang tính chất kinh doanh, dịch vụ công cộng, dịch

vụ y tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo, thông tin đại chúng)…

Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các doanh nghiệp, cơ sở kinhdoanh mọi ngành nghề sản xuất, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, ănuống, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế, hoạt động các ngành hàng,dịch vụ thuộc diện đánh thuế GTGT

Giá tính thuế GTGT là giá chưa có thuế GTGT Khi bán hàng hoặccung cấp dịch vụ, trên hoá đơn phải ghi rõ giá bán hàng (hoặc giá dịchvụ) chưa có thuế GTGT, tiền thuế GTGT phải nộp và giá bán gồm cảthuế GTGT (tổng giá thanh toán) Đối với hàng nhập khẩu là giá tínhthuế hàng nhập khẩu (giá CIF hoặc giá do Bộ tài chính quy định) cộng(+) với thuế nhập khẩu (nếu có) Giá tính thuế đối với hoạt động hưởnghoa hồng là tiền hoa hồng được hưởng chưa trừ khoản phí tổn nào từhoạt động này Riêng đối với các loại hàng hoá, dịch vụ mang tính đặcthù, dùng các chứng từ thanh toán gồm cả thuế GTGT (như vé cước tàu

xe, tem bưu điện, giá bìa sách ) thì giá ghi trên chứng từ thanh toán hoặcgiá bìa sách được công nhận là giá đã có thuế GTGT, cần quy đổi tìm giáchưa có thuế GTGT làm căn cứ tính thuế

Thuế suất GTGT có 4 mức: 0% (áp dụng cho hàng hoá, dịch vụthực tế xuất khẩu); 5% đối với những hàng hoá dịch vụ cần thiết cho nhucầu đời sống và sản xuất; 20% đối với hàng hoá dịch vụ cần điều tiếtcao; 10% đối với đại bộ phận các mặt hàng và dịch vụ

Thuế GTGT được thực hiện theo hai phương pháp: Khấu trừ vàtrực tiếp Phương pháp thu có khấu trừ áp dụng đối với mọi cơ sở kinhdoanh phải thực hiện chế độ hoá đơn GTGT và sỏ sách kế toán, có căn

cứ xác định thuế đầu ra và thuế đầu vào để thực hiện chế độ khấu trừthuế Phương pháp thu trực tiếp được thực hiện đối với các cơ sở kinh

Trang 35

doanh không có điều kiện thực hiện chế độ hoá đơn GTGT, sổ sách kếtoán, chủ yếu áp dụng đối với hộ nhỏ, thuế tính theo tỷ lệ giá trị gia tăngtrên doanh thu khoán, trong thời gian từ 6 tháng đến 1 năm.

Thuế GTGT chỉ thực hiện việc khấu trừ thuế đầu vào đã nộp của hànghoá, nguyên nhiên vật liệu, TSCĐ, dịch vụ đầu vào dùng để sản xuất, kinhdoanh dịch vụ thuộc đối tượng đánh thuế GTGT khi bán hàng ra

Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ đối hàng hoá, nguyên nhiên vậtliệu và dịch vụ dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá tính thuế GTGT,phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ khi xác định thuếGTGT phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng, bán ra haycòn trong kho

Nếu số thuế GTGT được khấu trừ trong tháng lớn hơn số thuếGTGT đầu ra của tháng đó thì số thuế GTGT nộp thừa còn lại sẽ đượcchuyển để tiếp tục khấu trừ trong tháng sau hoặc được xét hoàn thuế theoquy định trong chế độ

Đối với hàng hoá dịch vụ đầu vào trong nước hoặc nhập khẩu, sửdụng đồng thời cho cả hoạt động thuộc diện chịu thuế GTGT và khôngchịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh chỉ được khấu trừ số thuế đầu vào đốivới hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá thuộcdiện chịu thuế GTGT

Đối với hàng hoá là nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến muacủa người sản xuất mà không có hoá đơn GTGT, thuế GTGT đầu vàođược khấu trừ đối với các cơ sở sản xuất, chế biến theo tỷ lệ % đã đượcquy định trong Nghị định của Chính phủ về “Quy định chi tiết thi hànhluật thuế GTGT” [10]

Đối với TSCĐ, về nguyên tắc việc khấu trừ GTGT đầu vào đối vớiTSCĐ được áp dụng tương tự như đói với vật tư, hàng hoá và dịch vụ.Nhưng nếu khấu trừ liên tục trong 3 năm mà số thuế GTGT đầu vào vẫnchưa được khấu trừ hết thì cơ sở kinh doanh được làm thủ tục đề nghị cơquan thuế xét hoàn lại hết số thuế GTGT đầu vò chưa được khấu trừ theochế độ

Điều kiện chung để được khấu trừ GTGT đầu vào là cơ sở kinhdoanh phải thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ,hàng hoá dịch vụ mua vào phải có hoá đơn GTGT hay chứng từ thanh

Trang 36

toán đặc thù; hàng hoá vật tư nhập khẩu phải có chứng từ nộp thuếGTGT hàng nhập khẩu, hàng nông, lâm, thủy sản phải có bảng kê thumua theo mẫu quy định, trên hoá đơn ghi rõ số thuế GTGT đầu vào.

Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ đượcxét hoàn thuế khi cơ sở kinh doanh có luỹ kế số thuế GTGT đầu vàođược khấu trừ lớn hơn số thuế GTGT đầu ra phát sinh liên tục 3 tháng(không phân biệt niên độ kế toán) hoặc sau khi sát nhập, hợp nhất, chiatách, giải thể có số thuế GTGT nộp thừa

Đối với cơ sở doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng theo thời vụ hoặcxuất khẩu theo từng lần với số lượng lớn, phát sinh số thuế đầu vào đượckhấu trừ cao, thì được hoàn thuế GTGT theo từng kỳ hoặc theo háng

Cơ quan thuế phải xác định số thuế phải hoàn và ra quyết địnhhoàn thuế trong vòng 15 ngày (tối đa là 30 ngày) kể từ ngày nhận hồ sơxin hoàn thuế hợp pháp, đầy đủ

Ngoài ra trong luật thuế GTGT còn quy định một số trường hợpmiễn giảm thuế như: một số hàng hoá, dịch vụ sản xuất, kinh doanh đanggặp khó khăn; hộ cá thể kinh doanh trong tháng từ 15 ngày trở lên;những cá nhân kinh doanh có thu nhập bình quân tháng thấp hơn mứclương tối thiểu do Nhà nước quy định

1.3.3 Thuế TNDN:

Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập có được củamột số doanh nghiệp trong một kỳ sản xuất kinh doanh nhất định (gồmthu nhập kinh doanh và các thu nhập khác) Có nhiều nước trên thế giớigọi thuế này là thuế thu nhập công ty Dù tên gọi có thể khác nhau nhưngnộidung cơ bản thì đều giống nhau Đánh vào thu nhập sau khi đã trừ chiphí hợp lý [8, tr.93]

Việc ban hành luật thuế TNDN nhằm bao quát và điều tiết được tất

cả các khoả thu nhập đã, đang và sẽ phát sinh của cơ sở kinh doanh trong

cơ chế thị trường; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và khuyếnkhích các tổ chức cá nhân trong nước tiết kiệm vốn cho đầu tư phát triểnkinh doanh qua các chế độ miễn, giảm thuế: từng bước thu hẹp sự khácbiệt về chính sách thuế để đảm bảo sự bình đẳng và cạnh tranh lànhmạnh giữa các thành phần kinh tế; hệ thống hoá những quy định ưu đãi

Trang 37

về thuế trong nhiều luật khác nhau, bảo đảm sự rõ ràng thống nhất trongviệc thực hiện các chế độ ưu đã thuế.

Đối tượng đánh thuế TNDN là TNCT phát sinh trong năm kinhdoanh của doanh nghiệp, từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vàcác khoản thu nhập khác; kể cả thu nhập từ hoạt động sản xuất kinhdoanh, dịch vụ ở nước ngoài

Đối tượng nộp thuế TNDN là các tổ chức, cá nhân có hoạt độngsản xuất, kinh doanh, dịch vụ có TNCT

Đối tượng không thuộc diện chịu thuế TNDN là các hộ gia đình, cánhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sảnphẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản (trừ hộ gia đình, cá nhân,nông dân sản xuất hàng hoá lớn có thu nhập cao theo quy định của Chínhphủ) Ngoài ra đối với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Chính phủViệt Nam ký kết có quy định khác thì thực hiện theo quy định đó

TNCT từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là khoản chênhlệch giữa doanh thu với các khoản chi phí hợp lý được trừ, có liên quanđến TNCT

TNCT khác bao gồm: thu nhập từ chênh lệch mua bán chứngkhoán, quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; lãi về chuyển nhượng, chothuê, thanh lý tài sản; lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; kết dư cuốinăm các khoản dự phòng; thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xoá sổ nayđòi được; thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ; cáckhoản thu nhập từ kinh doanh của nhữngnăm trước bị bỏ sót nay mớiphát hiện ra các khoản thu nhập khác

Doanh thu để xác định TNCT là toàn bộ tiền bán hàng, tiền giacông, tiền cung ứng dịch vụ, kể cả trợ giá, phụ thu Nếu có doanh thubằng ngoại tệ, thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giáchính thức do ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời ddiểm thungoại tệ

Các khoản chi phí hợp lý được trừ để xác định TNCT là nhữngkhoản chi phí về vật chất, thực tế có liên quan đến doanh thu, TNCT trongnăm, với mức hợp lý theo các văn bản pháp quy của Nhà nước hiện hành

Không được tính vào chi phí hợp lý các khoản sau đây: chi phítrích trước mà thực tế không chi; các khoản chi không có chứng từ hoặc

Trang 38

chứng từ không hợp lệ; các khoản tiền phạt; các khoản chi không liênquan đến doanh thu, TNCT trong năm; các khoản chi do các nguồn vốnkhác đài thọ.

Theo nguyên tắc chung thuế suất thuế TNCT áp dụng đối với các

cơ sở sản xuất kinh doanh trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoàikinh doanh ở Việt Nam không theo luật đầu tư nước ngoài là 32% Cơ sởkinh doanh có địa điểm kinh doanh thuật lợi, ngành nghề kinh doanh ít

bị cạnh tranh, sau khi đã nộp thuế TNDN theo thuế suất ổn định 32% màthu nhập còn lại vẫn cao thì phải nộp thuế TNDN bổ sung đối với thunhập còn lại vượt 20% vốn chủ sở hữu tại thời điểm quyết toán, với thuếsuất thuế TNDN bổ sung là 25% [19], [27]

Ngoài ra, để khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh đầu tư

mở rộng, đầu tư theo chiều sâu; các cơ sở hoạt động ở những vùng miềnnúi, hải đảo; vùng sâu, vùng xa, vùng có khó khăn… Luật thuế TNDNthể hiện sự ưu đã qua chế độ miền, giảm thuế Hơn nữa các doanh nghiệpcòn được chuyển lỗ sang năm sau nếu thực sự trong năm kinh doanh bị

lỗ và thời gian chuyển lỗ không quá 5 năm

Như vậy, thuế có vị trí và vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế,thuế không những là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước; là công

cụ giúp Nhà nước thực hiện công cụ điều tiết vĩ mô Nền kinh tế mà còngóp phần thực hiện công bằng các chính sách xã hội khác

Trong điều kiện cơ chế thị trường, cùng với sự phát triển mạnh củacác thành phần kinh tế, hiện tượng khai man, trốn lậu thuế tồn tại nhưmột hiện tượng khá phổ biến do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên

sự bất bình đẳng và sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các thành phầnkinh tế

Vì vậy quản lý thuế nhất là đối với khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh phải tiếp tục cải tiến và hoàn thiện nhằm thực hiện được mục tiêu,yêu cầu của hệ thống thuế đặt ra

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ KHU VỰC

KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH Ở HÀ TÂY

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH Ở HÀ TÂY.

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội.

* Đặc điểm tự nhiên.

- Vị trí địa lý, địa hình

Hà Tây nằm ở phía Tây - Tây Nam thủ đô Hà Nội, bên phía hữungạn sông Hồng và sông Đà Phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Nam làtỉnh Hà Nam, phía Đông đối diện bờ tả ngạn sông Hồng là tỉnh Hưng Yên

và phía Tây tiếp giáp với tỉnh Miền núi Hoà Bình

Hà Tây là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng nhưng có địa thế, địahình đa dạng với ba vùng sinh thái: đồng bằng, bán sơn địa và miền núi.Mỗi tiểu vùng có những thuận tiện và khó khăn riêng, ảnh hưởng trực tiếpđến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Vùng đồng bằng rộng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh với95.389ha thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng có điều kiện thâm canh câylúa nước cho năng suất cao, vừa có khả năng trồng các loại cây lương thựcngắn ngày, rau màu và cây công nghiệp

Dải bán sơn địa với hàng ngàn hécta gò đồi trải dài phía Tây, cùnglên phía Tây Băc tỉnh, dải bán sơn địa đó càng trải rộng Đây là tiềm nănglớn về gieo trồng hoa màu, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, trồng rừng

Vùi Núi Ba Vì ở địa đầu phía Tây Bắc tỉnh, Ngọn Ba Vì có độ cao1.281m, Rừng Quốc gia Ba Vì có nhiều tre, gỗ, cây thuốc quý và nhiều loạilâm sản khác như: đá vôi, đá ong, đá đỏ là những tài nguyên có giá trị lớnvới nghề xây dựng Vùng núi và vùng bán sơn địa có độ dốc cáo, đất đaidần bị phong hoá, mùa đông lại bị khô cạn

Trang 40

Đất đai :

Đất đai là tư liệu sản suất quan trọng, cơ bản của sản xuất nôngnghiệp Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xã hội Hà Tây gắn liền vớicác hoạt động công nghiệp, dịch vụ, do đó đất đai không chỉ được sử dụng

để trồng trọt chăn nuôi mà còn sử dụng ngày càng nhiều để phát triển cácngành nghề khác Vì vậy quá trình phát triển kinh tế gắn liền với quá trìnhchuyển dịch dần diện tích đất đai từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác.Điều đó phản ánh sự tiến bộ của phát triển kinh tế - xã hội song lại là mối

đe doạ đối với loài người Do đó cần phải sử dụng một cách có hiệu quả đấtđai, chú ý nâng cao độ mầu mỡ của đất

Hà Tây có diện tích 2.193km2, chiếm 17,2% diện tích các tỉnh vàđồng bằng Sông Hồng 0,65% diện tích cả nước Diện tích đất nông nghiệp

Hà Tây gần 143.500ha, trong đó đất trồng cây hàng năm 112.000ha, đấttrồng cây lâu năm 31.500ha Hiện nay vẫn còn hơn 5.600ha, chiếm 4% sốđất nông nghiệp hiện có chưa được sử dụng, chủ yếu là đất xấu (đất dốc,xói mòn, thoái hoá, phèn, úng )

Bình quân diện tích đất nông nghiệp đang khai thác ở Hà Tây rấtthấp khoảng 0,06 ha/người trong khi đó bình quân cả nước khoảng 0,1ha/người bình quân trên thế giới là 0,34ha/người Thực trạng đó đòi hỏitinh phải tiết kiệm và bảo vệ đất nông nghiệp là chính sách hàng đầu

* Khí hậu, thời tiết :

Hà Tây nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Do ảnh hưởng giómùa, hàng năm có mùa mưa và mùa khô, lượng mưa hàng năm khá thờigian có ánh sáng mặt trời nhiều, cường độ bức xạ lớn, độ ẩm cao 85% Đó

là những điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp toàn diện

Tuy nhiên, cũngcó những yếu tố không thuận lợi như sương mù rétđậm vào mùa đông, giông bão, lũ lụt gây khó khăn, cho quá trình sinh trưởngcủa sinh trưởng của động thực vật, ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp vàđời sống dân cư Cuộc đấu tranh chống chống thiên tai khắc nghiệt để khaiphá mảnh đất Hà Tây, tạo dựng quê hương được phản ảnh trong truyền thuyếtSơn Tinh - Thuỷ Tinh từ ngàn xưa đến nay vẫn còn tiếp diễn

Mặt khác do phá dừng bừa bãi, phát triển công nghiệp thiếu chọn lọc,không có quy hoạch và các hoạt động của các phương tiện giao thông đãgây ô nhiễm môi trường không khí, nguồn nước, làm thay đổi thất thường

Ngày đăng: 08/09/2012, 13:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Loại hình ĐVT 1998 1999 2000 2001 2002 - Quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây -Thực trạng và giải pháp.DOC
o ại hình ĐVT 1998 1999 2000 2001 2002 (Trang 49)
- Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế Cục thuế tỉnh Hà Tây. - Quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây -Thực trạng và giải pháp.DOC
h ình tổ chức bộ máy quản lý thuế Cục thuế tỉnh Hà Tây (Trang 56)
+ Tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện chính sách thuế. - Quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây -Thực trạng và giải pháp.DOC
ng hợp, đánh giá tình hình thực hiện chính sách thuế (Trang 58)
Tình hình đó ngoài những nguyên nhân như đã nêu ở trên còn phản ánh tình hình là: - Quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây -Thực trạng và giải pháp.DOC
nh hình đó ngoài những nguyên nhân như đã nêu ở trên còn phản ánh tình hình là: (Trang 67)
Trong tình hình ấy, ngành thuế đã có rất nhiều cố gắng không ngừng kiện toàn về tổ chức cải tiến các qui trình thu thuế, áp dụng nhiều  giải pháp nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao. - Quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây -Thực trạng và giải pháp.DOC
rong tình hình ấy, ngành thuế đã có rất nhiều cố gắng không ngừng kiện toàn về tổ chức cải tiến các qui trình thu thuế, áp dụng nhiều giải pháp nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao (Trang 75)
Bảng 6: Một số tiêu chí phân biệt năng lực cán bộ quản lý thuế - Quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây -Thực trạng và giải pháp.DOC
Bảng 6 Một số tiêu chí phân biệt năng lực cán bộ quản lý thuế (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w