Trong chương này chúng ta sẽ nghiên cứu các vấn đề chính của các loại động cơ điện một chiều bao gồm vấn đề mở máy, đặc tính cơ và điều chỉnh tốc độ.. Với đặc tính cơ như vậy, động cơ đi
Trang 1Chương 7
Động cơ điện một chiều
7-1 Đại cương
Như đã biết ở chương 5, máy điện một chiều có thể làm việc ở chế độ máy phát khi
E > U và ở chế độ động cơ khi E < U Khi làm việc ở chế độ máy phát chiều của mômen điện từ và chiều của tốc độ quay ngược nhau, còn dòng điện và s.đ.đ cùng chiều Trong chế độ động cơ điện thì mômen và tốc độ cùng chiều, còn dòng điện và s.đ đ ngược chiều nhau Việc chuyển từ chế độ máy phát sang chế độ động cơ xảy ra hoàn toàn tự động không cần thay đổi gì ở mạch nối, cụ thể là khi giảm dòng kích thích khiến cho s.đ.đ của máy phát E hạ đến mức E < U, dòng trong phần ứng sẽ tự
động đổi chiều, năng lượng sẽ chuyển theo chiều ngược lại và máy phát nghiễm nhiên trở thành động cơ
Động cơ điện một chiều được dùng phổ biến trong công nghiệp, giao thông vận tải
và nói chung trong những thiết bị cần điều chỉnh tốc độ quay liên tục trong một phạm
vi rộng (máy cán thép, máy công cụ, )
Cũng như máy phát, theo cách kích thích từ, động cơ điện một chiều được phân thành các loại như sau: động cơ điện một chiều kích thích độc lập, kích thích song song, kích thích nối tiếp và kích thích hỗn hợp Sơ đồ nối dây của các loại động cơ này tương tự như ở trường hợp máy phát ở động cơ kích thích độc lập Iư = I; ở động cơ kích thích song song và hỗn hợp I = Iư + It; ở động cơ kích thích nối tiếp I = Iư = It Trên thực tế, đặc tính của động cơ điện kích thích độc lập và kích thích song song hầu như giống nhau nhưng khi cần công suất lớn người ta thường dùng động cơ điện kích thích độc lập để điều chỉnh dòng kích thích thuận lợi và kinh tế hơn mặc dù loại
động cơ này đòi hỏi phải có thêm nguồn điện phụ bên ngoài Ngoài ra, khác với máy phát điện một chiều kích thích nối tiếp, động cơ điện một chiều kích thích nối tiếp
được dùng rất nhiều, chủ yếu trong ngành kéo tải bằng điện
Trong chương này chúng ta sẽ nghiên cứu các vấn đề chính của các loại động cơ
điện một chiều bao gồm vấn đề mở máy, đặc tính cơ và điều chỉnh tốc độ
7-2 Mở máy động cơ điện một chiều
Để mở máy động cơ điện một chiều được tốt cần phải thực hiện được những yêu cầu sau đây:
1) Mômen mở máy Mmm phải có trị số cao nhất có thể có để hoàn thành quá trình
mở máy trong thời gian ngắn nhất
2) Dòng điện mở máy Imm được hạn chế đến mức thấp nhất để dây quấn khỏi bị cháy hoặc ảnh hưởng xấu đến đổi chiều
Trong tất cả mọi trường hợp, khi mở máy bao giờ cũng phải đảm bảo có Φmax, nghĩa là trước khi đóng động cơ vào nguồn điện, biến trở điều chỉnh dòng kích thích
Trang 2phải ở vị trí ứng với trị số nhỏ nhất để sau khi đóng động cơ vào nguồn động cơ được kích thích đến mức tối đa và như vậy mômen ứng với mỗi trị số của dòng điện Iư luôn luôn lớn nhất Ngoài ra phải đảm bảo không xảy ra đứt mạch kích thích vì nếu mạch kích thích bị đứt thì Φ = 0, M = 0, động cơ không quay được do đó Eư = 0 và
, ,
u
U
I =
sẽ có trị số rất lớn làm cháy vành góp và dây quấn
Khi mở máy, chiều quay của động cơ điện một chiều phụ thuộc vào chiều của mômen Để đổi chiều quay của động cơ (tức đổi chiều mômen) có thể dùng hai phương pháp: hoặc đổi chiều từ thông (đổi chiều dòng kích thích) hoặc đổi chiều dòng điện trong phần ứng Điều đó có thể thực hiện được bằng cách tráo đổi cách nối đầu dây quấn phần ứng hoặc các đầu dây quấn kích thích trước lúc mở máy Vấn đề đổi chiều quay của động cơ điện lúc đang quay về nguyên tắc cũng có thể thực hiện được bằng cả hai phương pháp trên, tuy nhiên trên thực tế chỉ dùng phương pháp đổi chiều dòng phần ứng Iư vì như đã biết dây quấn kích thích có nhiều vòng dây do đó hệ số tự cảm L rất lớn và việc thay đổi chiều dòng điện kích thích dẫn đến sự xuất hiện s.đ.đ tự cảm rất lớn gây ra quá điện áp đánh thủng cách điện của dây quấn kích thích
Sau đây ta xét các phương pháp mở máy động cơ điện một chiều
7.2.1 Mở máy trực tiếp
Phương pháp này được thực hiện bằng cách đóng thẳng động cơ điện vào nguồn với Umm = Uđm Như vậy ngay lúc đầu mở máy rôto chưa quay, s.đ.đ Eư = 0 và dòng
điện phần ứng bằng
, ,
, ,
u u
u
U R
E U
I = ư = Vì trong thực tế Rư* = 0,02 ữ 0,1, nên với điện
áp định mức U* = 1 dòng điện Iư sẽ có trị số rất lớn và bằng (5 ữ 10)Iđm Với dòng điện lớn như vậy có thể gây nguy hiểm cho động cơ, vì vậy phương pháp mở máy trực tiếp chỉ được áp dụng cho những động cơ điện có công suất vài trăm oát ở cỡ động cơ này
Rư tương đối lớn, do đó khi mở máy Iư ≤ (4 ữ 6)Iđm Trong những trường hợp đặc biệt
có thể cho phép mở máy trực tiếp những động cơ có công suất vài kilôoat
7.2.2 Mở máy bằng biến trở
Để hạn chế dòng điện mở máy, tránh
gây nguy hiểm cho động cơ người ta
dùng biến trở mở máy Biến trở mở máy
gồm một số điện trở nối tiếp nhau và
mắc nối tiếp với mạch phần ứng (hình
7-1) Như vậy trong quá trình mở máy ta
có:
mmi u
i u
R R
E U I
+
ư
= , ,
trong đó ”i“ là chỉ số ứng với thứ tự các
bậc điện trở
Biến trở mở máy được tính sao cho
Imm = (1,4 ữ 1,7)Iđm đối với các động cơ
công suất lớn và Imm = (2,0 ữ 2,5)Iđm đối
với các động cơ công suất nhỏ
3
Hình 7-1 Sơ đồ mở máy động cơ điện một chiều kích thích song song bằng biến trở
-3 2
M T
+
0
1
4
5
I ư
R 4
R 1
R đc
I t
Trang 3Trước khi mở máy tay gạt T đặt ở vị trí 0, con trượt của biến trở điều chỉnh ở mạch kích thích đặt ở vị trí b (Rđc = 0), động cơ hở mạch Khi bắt đầu mở máy, đưa tay gạt T
về vị trí 1, mạch phần ứng bắt đầu xuất hiện dòng điện, cuộn kích thích nhờ cung đồng
M nên được đặt vào toàn bộ điện áp định mức, do đó Φ đạt giá trị cực đại và không đổi trong suốt quá trình mở máy Nếu mômen do động cơ sinh ra lớn hơn mômen cản (M > MC) thì rôto động cơ bắt đầu quay, s.đ.đ E sẽ tăng tỉ lệ với tốc độ quay n Do sự xuất hiện và tăng lên của E làm cho dòng điện Iư và mômen M giảm theo khiến cho tốc độ quay n của động cơ tăng chậm hơn (hình 7-2) Khi Iư giảm đến trị số (1,1 ữ 1,3)Iđm ta
đưa tay gạt T sang vị trí 2, vì một bậc điện trở bị loại trừ nên Iư lập tức tăng đến giới hạn trên của nó, kéo theo M, n và E tăng Sau đó Iư và M lại giảm theo quy luật trên Lần lượt chuyển tay gạt T đến các vị trí 3,
4, 5 Quá trình trên cứ lặp lại cho đến khi
n ≈ nđm thì Rmm cũng được loại trừ hoàn
toàn và động cơ làm việc với toàn bộ điện
áp Sự biến thiên của I, M và n trong quá
trình mở máy được trình bày trên hình
7-2 Từ hình vẽ 7-2 ta thấy mỗi khi một bậc
điện trở bị loại trừ, I và M tăng với hằng
số thời gian Tư ≈ 0, đó là do hệ số tự cảm
của phần ứng rất bé Trái lại sự giảm của I
và M xảy ra chậm hơn vì phụ thuộc vào sự
tăng của E hay tốc độ n, nghĩa là phụ
thuộc vào hằng số thời gian Tcơ rất lớn của
cả khối quay
Số bậc điện trở mở máy và trị số của
Hình 7- 2 Quan hệ I, M và n đối với thời gian t khi mở máy động cơ
I, M
1
n
3 4 2
Iư
M
M c t 0
mỗi bậc được thiết kế sao cho dòng điện mở máy cực đại và cực tiểu ở mỗi bậc đều như nhau để đảm bảo quá trình mở máy được tốt nhất
7.2.3 Mở máy bằng điện áp thấp (Umm < Uđm)
Phương pháp này đòi hỏi phải dùng một nguồn điện độc lập có thể điều chỉnh được
điện áp để cung cấp cho phần ứng của động cơ, trong khi đó mạch kích thích phải được
đặt dưới điện áp U = Uđm của một nguồn khác
Đây là phương pháp thường dùng hơn cả để mở máy động cơ điện một chiều công suất lớn Ngoài việc mở máy ra nó còn kết hợp để điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi
điện áp
7-3 Điều chỉnh tốc độ động cơ điện một chiều
7.3.1 Đặc tính cơ và điều chỉnh tốc độ động cơ điện một chiều
Từ các biểu thức (2-19) và (5-19) có thể suy ra đặc tính cơ n = f(M) của động cơ
điện một chiều:
Φ
ư
= Φ
=
e
u u
R I U C
E
n , , (7-1) Vì M = CMΦIư nên biểu thức (7-1) có thể viết dưới dạng:
Trang 4, 2
Φ
ư Φ
=
e M u
M R C
U
n (7-2) Biểu thức (7-2) được gọi là phương trình đặc tính cơ của động cơ điện một chiều Trong truyền động điện lực một vấn đề quan trọng được đặt ra là phải phối hợp tốt
đặc tính cơ của động cơ điện và đặc tính cơ của tải hoặc của máy công tác Tuỳ theo tính chất của truyền động điện mà có thể có những yêu cầu khác nhau đối với động cơ
điện, thí dụ tốc độ không đổi hoặc thay đổi nhiều khi mômen cản thay đổi Để thoả mãn những yêu cầu đó cần phải dùng những loại động cơ khác nhau có đặc tính cơ thích hợp
Từ biểu thức (7-2) ta thấy rằng việc điều chỉnh tốc độ động cơ điện một chiều có thể thực hiện được bằng cách thay đổi các đại lượng Φ, Rư và U
Phương pháp điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi từ thông Φ được áp dụng tương
đối phổ biến, có thể thay đổi tốc độ được liên tục và kinh tế Trong quá trình điều chỉnh hiệu suất η ≈ Cte vì sự điều chỉnh dựa trên sự tác dụng lên mạch kích thích có công suất rất nhỏ so với công suất của động cơ Cần chú ý rằng, bình thường động cơ làm việc ở chế độ định mức với kích thích tối đa (Φ = Φmax) nên chỉ có thể điều chỉnh theo chiều hướng giảm Φ, tức là điều chỉnh tốc độ trong vùng trên tốc độ định mức và giới hạn
điều chỉnh tốc độ bị hạn chế bởi các điều kiện cơ khí và đổi chiều của máy
Phương pháp điều chỉnh tốc độ bằng cách thêm điện trở phụ vào mạch phần ứng để tăng Rư chỉ cho phép điều chỉnh tốc độ quay trong vùng dưới tốc độ quay định mức và luôn kèm theo tổn hao năng lượng trên điện trở phụ, làm giảm hiệu suất của động cơ
điện Vì vậy phương pháp này chỉ được áp dụng ở động cơ điện có công suất nhỏ Trên thực tế thường dùng ở động cơ điện trong cầu trục
Phương pháp điều chỉnh tốc độ quay bằng cách thay đổi điện áp cũng chỉ cho phép
điều chỉnh tốc độ quay dưới tốc độ định mức vì không thể nâng cao điện áp hơn điện
áp định mức của động cơ điện Phương pháp này không gây thêm tổn hao trong động cơ điện, nhưng đòi hỏi phải có nguồn riêng có điện áp điều chỉnh được
Sau đây ta xét đặc tính cơ và cách điều chỉnh tốc độ của từng loại động cơ điện
7.3.2 Động cơ điện một chiều kích thích độc lập hoặc kích thích song song
Với những điều kiện U = Cte, It = Cte, khi M (hoặc Iư) của động cơ thay đổi, từ thông Φ của động cơ hầu như không đổi vì ảnh hưởng làm giảm Φ của phản ứng ngang trục rất nhỏ, cho nên biểu thức (7-2) có thể viết dưới dạng:
k
M n
n= 0 ư (7-3) trong đó:
Φ
=
e
C
U
n0 - là tốc độ của động cơ khi M = 0, gọi là tốc độ không tải lý tưởng;
, 2
u
M
e
R
C
C
= - biểu thị độ cứng của đặc tính cơ k càng lớn, đặc tính cơ càng cứng
Nhìn vào biểu thức (7-3) ta thấy, đặc tính cơ của động cơ điện một chiều kích thích song song là một đường thẳng như trình bày ở hình 7-3 Đường đặc tính cơ ứng với
Trang 5trường hợp U = Uđm, Φ = Φđm và trên mạch
phần ứng không có điện trở phụ được gọi là
đặc tính cơ tự nhiên
Do Rư rất nhỏ nên khi tải thay đổi từ
không đến định mức tốc độ giảm rất ít
(khoảng 2 ữ 8% tốc độ định mức), cho nên
đặc tính cơ của động cơ điện kích thích song
song rất cứng Với đặc tính cơ như vậy, động
cơ điện một chiều kích thích song song được
dùng trong trường hợp tốc độ hầu như không
đổi khi tải thay đổi (máy cắt gọt kim loại,
quạt, )
a Điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi
điện trở phụ R f trên mạch phần ứng
Khi nối thêm điện trở phụ vào mạch phần
ứng thì biểu thức (7-2) có dạng:
n
∆n
n 0
đm
Hình 7-3 Đặc tính cơ của động cơ điện một chiều kích thích song
Mđm (Iưđm) M(I ư )
n
n 0
0
Rf= 0
Rf1
R f2
R f3
R f3 > R f2 > R f1
2 0
)
Φ
+
ư
=
M e
f u
C C
M R R n
n (7-4)
Ta thấy rằng nếu Rf càng lớn đặc tính cơ
có độ cứng càng thấp và do đó đặc tính càng
mềm, nghĩa là tốc độ sẽ thay đổi nhiều khi tải
thay đổi Hình 7-4 trình bày các đặc tính cơ
ứng với các trị số khác nhau của Rf trong đó
đường ứng với Rf = 0 là đặc tính cơ tự nhiên
Giao điểm của những đường đặc tính cơ trên
với đường mômen cản của tải MC = f(n) cho
biết trị số tốc độ xác lập khi điều chỉnh tốc độ
bằng thay đổi điện trở phụ Rf
Hình 7-4 Đặc tính cơ của động cơ
điện một chiều kích thích song song với những điện trở phụ khác nhau
b Điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi điện áp
Phương pháp này chỉ áp dụng được đối với động cơ điện một chiều kích thích độc lập hoặc động cơ điện kích thích song song làm việc ở chế độ kích thích độc lập Việc cung cấp điện áp có thể điều chỉnh được cho động cơ từ một nguồn độc lập được thực hiện trong kỹ thuật bằng cách ghép thành tổ máy phát - động cơ có sơ đồ nguyên lý như ở hình 7-5 Khi thay đổi điện áp U ta có một họ đặc tính cơ có cùng độ dốc (hình 7-6) ở hình 7-6, đường 1 ứng với Uđm, đường 2, đường 3 ứng với U3 < U2 < Uđm và
đường 4 ứng với U4 > Uđm
Nói chung vì không cho phép điện áp đặt vào động cơ vượt quá điện áp định mức nên phương pháp này chỉ cho phép điều chỉnh tốc độ động cơ dưới tốc độ định mức, còn việc điều chỉnh tốc độ trên tốc độ định mức không được áp dụng hoặc chỉ được áp dụng trong một phạm vi rất hẹp Đặc điểm của phương pháp điều chỉnh này là lúc điều chỉnh tốc độ, mômen không đổi vì Φ và Iư đều không đổi Sở dĩ Iư không đổi là vì khi giảm điện áp U, tốc độ n giảm làm E cũng giảm nên:
te
u
R
E U
,
Trang 6Ngày nay, tổ máy phát -động cơ thường dùng trong các máy cắt kim loại và máy cán thép lớn để điều chỉnh tốc độ động cơ điện với hiệu suất cao, phạm vi điều chỉnh rộng 1 : 10 hoặc hơn nữa
+
-
0
M(I)
Mđm
(I đm )
n
n 04
n 01
n02
n 03
4 1(Uđm) 2 3
Hình 7-6 Đặc tính cơ của động cơ
điện một chiều kích thích độc lập
ở những điện áp khác nhau
Hình 7-7 Đặc tính cơ của động cơ
điện một chiều kích thích song song với những dòng điện I t khác nhau
0
M(I ư )
Mđm
(I ưđm )
n
n04
n 01
n02
n 03
4
1(Φđm) 2 3
Hình 7-5 Sơ đồ Máy phát - động cơ dùng để điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi điện áp ở động cơ điện một chiều kích thích độc lập
MF
ĐC p
Itđc
ItmF
c Điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi từ thông Φ
Nếu ta thay đổi điện trở Rđc ở mạch
kích thích (hình 7-1) thì ứng với mỗi trị số
khác nhau của điện trở mạch kích thích ta
có một giá trị của It, do đó có một giá trị
của Φ và có một đường đặc tính cơ tương
ứng Trên hình 7-7 trình bày các đặc tính
cơ ứng với các giá trị khác nhau của từ
thông Φ Các đường đó có n0 > n0đm và có
độ dốc khác nhau, chúng gặp nhau trên
trục hoành tại điểm ứng với n = 0 và dòng
điện
,
,
u
U
I =
Cần chú ý rằng, bình thường động cơ
làm việc ở chế độ định mức với dòng kích
từ định mức nên chỉ có thể điều chỉnh
dòng kích từ (tức từ thông Φ) theo chiều
hướng giảm, nghĩa là chỉ điều chỉnh được
tốc độ trong vùng trên tốc độ định mức ở
hình 7-7, đường thấp nhất ứng với từ
thông Φđm Giao điểm của đường đặc tính
mômen cản MC = f(n) với các đường đặc
tính cơ cho biết tốc độ xác lập ứng với các
trị số khác nhau của từ thông
Do hạn chế bởi các điều kiện về cơ khí
và điều kiện đổi chiều của máy nên các
động cơ thông dụng hiện nay có thể điều
Trang 7chỉnh tốc độ bằng phương pháp này trong giới hạn 1 : 2 Cũng có thể sản xuất những
động cơ giới hạn điều chỉnh 1 : 5, thậm chí đến 1 : 8 nhưng phải dùng những phương pháp khống chế đặc biệt, do đó cấu tạo phức tạp, công nghệ chế tạo cũng khó khăn khiến cho giá thành của máy tăng lên
7.3.3 Điều chỉnh tốc độ động cơ điện một chiều kích thích nối tiếp
ở động cơ điện một chiều kích thích nối tiếp, dòng điện kích thích chính là dòng
điện phần ứng It = Iư = I Vì vậy trong một phạm vi khá rộng có thể biểu thị:
Φ = kΦI (7-5)
trong đó kΦ là hệ số tỷ lệ và không đổi trong vùng I < 0,8Iđm Khi I > (0,8 ữ 0,9)Iđm thì
kΦ hơi giảm xuống do ảnh hưởng của bão hoà mạch từ
Như vậy biểu thức mômen có thể viết:
Φ
Φ
= Φ
=
k C I C
2
, (7-6)
và kết hợp với biểu thức (7-2) ta có:
Φ Φ
ư
=
k C
R M k C
U C n
e u e
(7-7) Nếu bỏ qua Rư thì:
M
U
2
n
C
M = (7-8)
Như vậy khi mạch từ chưa bão hoà, đặc tính cơ của động cơ điện một chiều kích thích nối tiếp có dạng của đường hypecbôn bậc hai như trình bày ở hình 7-8 (đường 1)
Ta thấy rằng, ở động cơ điện một chiều
kích thích nối tiếp, tốc độ quay n giảm rất
nhanh khi tải tăng, đặc biệt khi mất tải (I =
0, M = 0) tốc độ có trị số rất lớn Cũng
chính vì lý do đó mà không được cho loại
động cơ điện này làm việc ở điều kiện có
thể xảy ra mất tải như dùng đai truyền, vì
khi xảy ra đứt hoặc trượt đai truyền tốc độ
động cơ tăng rất cao Thông thường chỉ cho
phép động cơ điện loại này làm việc với tải
tối thiểu P2 = (0,2 ữ 0,25)Pđm
Trên thực tế do ảnh hưởng của bão hoà
mạch từ khi tải tăng, tốc độ của động cơ
giảm ít hơn theo đường nét đứt ở hình 7-8
Với đặc tính cơ như vậy, động cơ điện
một chiều kích thích nối tiếp có ưu điểm
n* 2
2
1
1 3 4
M*
Hình 7- 8
Đặc tính cơ của động cơ điện một chiều kích thích nối tiếp ở các trường hợp điều chỉnh tốc độ khác nhau
đối với những nơi cần điều kiện mở máy nặng nề và cần tốc độ thay đổi trong phạm vi rộng, thí dụ ở các đầu máy kéo tải (xe điện, đầu máy điện, cần trục, )
a Điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi từ thông Φ
Trang 8Thay đổi từ thông Φ của động cơ kích thích nối tiếp có thể thực hiện bằng những biện pháp sau đây: rẽ mạch (mắc sun) dây quấn kích thích bằng một điện trở, thay đổi
số vòng dây của dây quấn kích thích, rẽ mạch dây quấn phần ứng như các sơ đồ trình bày trên hình 7-9
Rst
-wt
I
a)
-wt
I
+
wt
I
wt,
Rsư
c) b)
H ình 7-9 Các sơ đồ điều chỉnh tốc độ động cơ điện một chiều kíc h thích nối tiếp: a) rẽ mạch dây quấn kích thích; b) thay đổi số vòng dây của dây quấn kích thích; c) rẽ mạch dây quấn phần ứng
ở hình 7-9a, nếu dòng điện kích thích lúc chưa rẽ mạch là It = I thì sau khi rẽ mạch dòng điện kích thích sẽ giảm xuống còn It = kI, trong đó <1
+
=
st t
st
R R
R
là điện trở rẽ mạch (sun)
Theo phương pháp thứ hai (hình 7-9b), trước lúc điều chỉnh ta có s.t.đ Ft = It wt, sau khi điều chỉnh s.t.đ Ft, = Itwt, = kFt với k = w’
t/wt < 1
Rõ ràng là với hai phương pháp trên chỉ điều chỉnh được Φ < Φđm và tốc độ sẽ thay
đổi được trong vùng trên định mức, đường đặc tính cơ sẽ nằm trên đường đặc tính cơ tự nhiên (đường 2 ở hình 7-8)
Nếu dùng phương pháp thứ ba (hình 7-9c) thì điện trở tổng của toàn mạch sẽ bé đi, dòng điện It = I sẽ tăng lên, từ thông Φ tăng và do đó tốc độ quay của động cơ giảm xuống Như vậy phương pháp này chỉ điều chỉnh được tốc độ dưới vùng định mức và
đường đặc tính cơ tương ứng nằm ở phía dưới đường đặc tính cơ tự nhiên (đường 3 trên hình 7-8) Vì điện trở cuộn kích thích rất bé nên hầu như toàn bộ điện áp của mạng
được đặt vào Rsư, do đó tổn hao rất lớn và hiệu suất của máy giảm đi nhiều Mặt khác việc tăng từ thông Φ còn bị hạn chế bởi sự bão hoà của mạch từ nên phương pháp này rất ít được áp dụng
b Điều chỉnh tốc độ bằng cách ghép thêm điện trở phụ vào mạch phần ứng
Khi ghép thêm điện trở phụ vào mạch phần ứng thì chỉ điều chỉnh được tốc độ
động cơ dưới tốc độ định mức nhưng tổn hao trên điện trở phụ lớn làm giảm hiệu suất của động cơ nên phương pháp này cũng ít được sử dụng Đặc tính cơ ứng với các trường hợp này được trình bày trên hình 7-8 như đường 4 và 5
c Điều chỉnh tốc độ động cơ bằng thay đổi điện áp
Vì không cho phép tăng điện áp đặt vào động cơ quá định mức nên phương pháp này chỉ điều chỉnh được tốc độ động cơ dưới tốc độ định mức Phương pháp này giữ
Trang 9được hiệu suất cao vì không gây thêm tổn hao khi điều chỉnh, được áp dụng rộng rãi
trong giao thông vận tải và được thực hiện bằng cách đổi nối từ song song sang nối tiếp
hai động cơ Khi làm việc song song, các động cơ sẽ làm việc với U = Uđm Sau khi
chuyển thành đấu nối tiếp thì điện áp đặt vào động cơ là U =
2
1
Uđm Đặc tính cơ của
động cơ điện trong trường hợp này có dạng như đường 6 trên hình 7-8
được hiệu suất cao vì không gây thêm tổn hao khi điều chỉnh, được áp dụng rộng rãi
trong giao thông vận tải và được thực hiện bằng cách đổi nối từ song song sang nối tiếp
hai động cơ Khi làm việc song song, các động cơ sẽ làm việc với U = Uđm Sau khi
chuyển thành đấu nối tiếp thì điện áp đặt vào động cơ là U =
2
1
Uđm Đặc tính cơ của
động cơ điện trong trường hợp này có dạng như đường 6 trên hình 7-8
7.3.4 Điều chỉnh tốc độ động cơ điện một chiều kích thích hỗn hợp
Động cơ điện một chiều kích thích hỗn hợp có thể được chế tạo sao cho tác dụng
của dây quấn kích thích song song và nối tiếp hoặc bù nhau hoặc ngược chiều nhau
Nhưng trên thực tế người ta chỉ dùng loại động cơ điện kích thích hỗn hợp bù vì động
cơ điện kích thích hỗn hợp ngược không đảm bảo được điều kiện làm việc ổn định
Động cơ điện kích thích hỗn hợp bù có đặc tính cơ mang tính chất trung gian giữa hai
loại động cơ kích thích song song và nối tiếp Khi tải tăng, từ thông Φ tăng, do đó đặc
tính cơ của động cơ kích thích hỗn hợp bù mềm hơn so với đặc tính cơ của động cơ
kích thích song song Tuy nhiên mức độ tăng của Φ không mạnh như ở động cơ kích
thích nối tiếp cho nên đặc tính cơ của động cơ kích thích hỗn hợp bù cứng hơn so với
đặc tính cơ của động cơ kích thích nối tiếp Để tiện so sánh, trên hình 7-10 vẽ đặc tính
cơ của các loại động cơ điện nói trên trong đó đường 1 ứng với kích thích hỗn hợp bù,
đường 2 ứng với hỗn hợp ngược, đường 3 - kích thích song song và đường 4 - kích
thích nối tiếp
Động cơ điện một chiều kích thích hỗn hợp có thể được chế tạo sao cho tác dụng
của dây quấn kích thích song song và nối tiếp hoặc bù nhau hoặc ngược chiều nhau
Nhưng trên thực tế người ta chỉ dùng loại động cơ điện kích thích hỗn hợp bù vì động
cơ điện kích thích hỗn hợp ngược không đảm bảo được điều kiện làm việc ổn định
Động cơ điện kích thích hỗn hợp bù có đặc tính cơ mang tính chất trung gian giữa hai
loại động cơ kích thích song song và nối tiếp Khi tải tăng, từ thông Φ tăng, do đó đặc
tính cơ của động cơ kích thích hỗn hợp bù mềm hơn so với đặc tính cơ của động cơ
kích thích song song Tuy nhiên mức độ tăng của Φ không mạnh như ở động cơ kích
thích nối tiếp cho nên đặc tính cơ của động cơ kích thích hỗn hợp bù cứng hơn so với
đặc tính cơ của động cơ kích thích nối tiếp Để tiện so sánh, trên hình 7-10 vẽ đặc tính
cơ của các loại động cơ điện nói trên trong đó đường 1 ứng với kích thích hỗn hợp bù,
đường 2 ứng với hỗn hợp ngược, đường 3 - kích thích song song và đường 4 - kích
thích nối tiếp
Việc điều chỉnh tốc độ động cơ điện
một chiều kích thích hỗn hợp thực hiện
như ở trường hợp động cơ điện kích thích
song song, mặc dù về nguyên tắc có thể
áp dụng những phương pháp điều chỉnh
tốc độ dùng cho động cơ điện một chiều
kích thích nối tiếp
Việc điều chỉnh tốc độ động cơ điện
một chiều kích thích hỗn hợp thực hiện
như ở trường hợp động cơ điện kích thích
song song, mặc dù về nguyên tắc có thể
áp dụng những phương pháp điều chỉnh
tốc độ dùng cho động cơ điện một chiều
kích thích nối tiếp
Động cơ điện một chiều kích thích
hỗn hợp được dùng trong những nơi cần
điều kiện mômen mở máy lớn, gia tốc
quay khi mở máy lớn, tốc độ biến đổi theo
tải trong một vùng rộng như trong máy ép,
máy bào, máy in, máy cán thép, máy nâng
tải Trong thời gian gần đây, động cơ
điện một chiều kích thích hỗn hợp được
Động cơ điện một chiều kích thích
hỗn hợp được dùng trong những nơi cần
điều kiện mômen mở máy lớn, gia tốc
quay khi mở máy lớn, tốc độ biến đổi theo
tải trong một vùng rộng như trong máy ép,
máy bào, máy in, máy cán thép, máy nâng
tải Trong thời gian gần đây, động cơ
điện một chiều kích thích hỗn hợp được
n
2
3
1 4 0
M
Hình 7-10 So sánh đặc tính cơ của động cơ điện một chiều kích thích hỗn hợp với các loại động cơ điện một chiều khác
Hình 7-10 So sánh đặc tính cơ của động cơ điện một chiều kích thích hỗn hợp với các loại động cơ điện một chiều khác
dùng trong giao thông vận tải vì nó có ưu điểm hơn so với động cơ kích thích nối tiếp ở
chỗ dễ hãm bằng chế độ phát điện trả năng lượng trở về lưới điện
dùng trong giao thông vận tải vì nó có ưu điểm hơn so với động cơ kích thích nối tiếp ở
chỗ dễ hãm bằng chế độ phát điện trả năng lượng trở về lưới điện
7-4 đặc tính làm việc của động cơ điện một chiều
Đặc tính làm việc của động cơ điện một chiều bao gồm các quan hệ n, M,
η Đặc tính làm việc của động cơ điện một chiều bao gồm các quan hệ n, M,
η = f( Iư) khi U = Uđm = Cte
Từ các biểu thức (7-1) và (7-2) ta thấy rằng về cơ bản đặc tính tốc độ n = f(Iư) có
dạng giống đặc tính cơ n = f(M) Các đặc tính tốc độ của các loại động cơ biểu thị theo
đơn vị tương đối được trình bày trên hình 7-11, trong đó đường 1 ứng với động cơ kích
Trang 10thích song song, đường 2 và 3 ứng với động cơ kích thích hỗn hợp và đường 4 ứng với
động cơ kích thích nối tiếp
Đặc tính mômen M = f(Iư) là quan hệ
M = CMΦIư ở động cơ kích thích song
song Φ ≈ Cte
nên M phụ thuộc vào Iư theo quan hệ bậc nhất (đường I trên hình 7-11)
ở động cơ một chiều kích thích nối tiếp Φ
≡ Iư nên đặc tính mô men có dạng parabol
(đường IV) vì M ≡ Iư2 Còn ở động cơ kích
thích hỗn hợp, khi Iư tăng thì Φ cũng tăng
nhưng với tốc độ chậm hơn so với sự tăng
của Φ ở động cơ kích thích nối tiếp cho
nên đặc tính mô men có tính chất trung
gian giữa đường I và IV (các đường II và
III)
Đặc tính hiệu suất
mô men của các động cơ điện một chiều Hình 7-11 Đặc tính tốc độ và đặc tính
2,5
2,0
1 , 5
1,0
0,5
0 0,5 1 I ư
IV
M
4
3
2
1 1
n
III
II
I
=
η
ηmax
0,5
Hình 7 - 12 Đặc tính hiệu suất
của các động cơ điện một chiều
f(Iư) khi U =
Uđm = Cte của các loại động cơ điện một
chiều nói chung có dạng như ở hình 7-12
Hiệu suất cực đại của động cơ điện một
chiều thường được tính toán với dòng điện
tải I = 0,75Iđm và lúc đó tổn hao không đổi
trong động cơ điện (bao gồm tổn hao cơ
và tổn hao sắt) bằng tổn hao biến đổi phụ
thuộc vào điện trở của các dây quấn và tỷ
lệ với bình phương của dòng điện Iư Hiệu
suất của động cơ điện một chiều vào
khoảng η = 0,75 ữ 0,85 đối với động cơ
công suất bé, và η = 0,75 ữ 0,94 ở động
cơ công suất trung bình và lớn
Thí dụ
Cho một động cơ điện một chiều kích
thích song song có số liệu như sau: 10 sức
ngựa, 230 V, kích thích song song, điện
η
1,0 I ư*
trở Rư = 0,35 Ω, Rt = 288 Ω Khi Iư = 1,6 A thì n = 1040 vg/ph Hỏi:
a) Muốn cho dòng điện mạch ngoài I = 40,8 A và n = 600 vg/ph thì trị số điện trở cần thiết ghép vào mạch phần ứng bằng bao nhiêu ?
b) Với điện trở đó nếu I = 22,8 A thì tốc độ bằng bao nhiêu ?
c) Nếu Iđm = 38,5 A, hãy tính M/Mđm trong hai câu hỏi trên
d) Tính công suất đưa vào động cơ điện, công suất mạch phần ứng, công suất cơ khi I = 40,8 A
Giải
a) Cho rằng khi tải thay đổi, từ thông là hằng số, ta có: