Trong kế toán hiện đại, các ước tính kế toán ngày càng được sử dụng phổ biến như một xu thế tất yếu do giả định hoạt động liên tục, dồn tích và các nguyên tắc kế toán chi phối tới việc ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính. Việc ghi nhận các ước tính kế toán đảm bảo thông tin kế toán phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Việc sử dụng các ước tính trong kế toán có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính và có thể ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế TNDN đối với ngân sách nhà nước.1.Tổng quan ước tính kế toán1.1.Khái niệm ước tính kế toán1.2.Các phương pháp ước tính kế toán1.3.Phân loại ước tính kế toán1.4.Sự cần thiết của ước tính kế toán2.Một số ước tính kế toán cụ thể2.1.Các khoản dự phòng2.2.Khấu hao tài sản cố định3.Ảnh hưởng của ước tính kế toán đến thuế
Trang 1CHỦ ĐỀ: ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN THUẾ
Trong kế toán hiện đại, các ước tính kế toán ngày càng được sử dụng phổ biếnnhư một xu thế tất yếu do giả định hoạt động liên tục, dồn tích và các nguyên tắc
kế toán chi phối tới việc ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính Việc ghi nhậncác ước tính kế toán đảm bảo thông tin kế toán phản ánh trung thực, hợp lý tìnhhình tài chính, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Việc sử dụng các ước tínhtrong kế toán có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính và có thể ảnhhưởng đến nghĩa vụ thuế TNDN đối với ngân sách nhà nước
Với chủ đề: ước tính kế toán và ảnh hưởng của nó đến thuế, nhóm em sẽ trìnhbày:
1. Tổng quan ước tính kế toán
1.1. Khái niệm ước tính kế toán
1.2. Các phương pháp ước tính kế toán
1.3. Phân loại ước tính kế toán
1.4. Sự cần thiết của ước tính kế toán
2. Một số ước tính kế toán cụ thể
2.1. Các khoản dự phòng
2.2. Khấu hao tài sản cố định
3. Ảnh hưởng của ước tính kế toán đến thuế
Do thời lượng và kiến thức có hạn bài thảo luận không thể tránh được những hạnchế và sai sót, mong cô giáo và cả lớp sẽ góp ý cho cả nhóm
1. Tổng quan ước tính kế toán
1.1. Khái niệm ước tính kế toán
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 540 “kiểm toán các ước tính kế toán”định nghĩa như sau: “ước tính kế toán là một giá trị gần đúng của một chỉ tiêuliên quan đến báo cáo tài chính được ước tính trong trường hợp thực tế đã phátsinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chínhxác hơn, hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lậpbáo cáo tài chính”
1.2. Bản chất của các ước tính kế toán
Trang 2Các ước tính kế toán được lập dựa vào những xét đoán và trong điều kiệnkhông có sự chắc chắn về kết quả của các sự kiện đã phát sinh hoặc có thể phátsinh Do vậy mức độ rủi ro và sai sót của BCTC thường rất cao khi có các ướctính kế toán.
Việc lập một ước tính kế toán có thể đơn giản hoặc phức tạp tùy theo tính chấtcủa các chỉ tiêu Ví dụ: Ước tính và phân bổ chi phí thuê nhà xưởng phải trả sẽđơn giản hơn ước tính dự phòng giảm giá HTK vì ước tính chi phí thuê nhàxưởng đã có trong các hợp đồng thuê hoặc theo giá thị trường, còn ước tính dựphòng giảm giá HTK phải phân tích dữ liệu hiện tại và dự tính bán hàng trongtương lai Tính phức tạp của các ước tính kế toán còn tùy thuộc vào loại hìnhkinh doanh dịch vụ của đơn vị, ví dụ: đối với các doanh nghiệp kinh doanh thựcphẩm thì dự phòng giảm giá HTK là quan trọng và phức tạp nhất Các ước tính
kế toán phức tạp này đòi hỏi các kế toán viên có nhiều kinh nghiệm, kiến thứcchuyên môn và đòi hỏi khả năng xét đoán cao
Các ước tính kế toán có thể được thực hiện một cách thường xuyên trong kỳ kếtoán hoặc được thực hiện vào cuối kỳ kế toán Trong nhiều trường hợp, các ướctính kế toán được lập dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tế Ví dụ: sử dụng tỷ lệđịnh mức trên doanh thu bán hàng để ước tính chi phí bảo hành Trường hợp này,đơn vị phải thường xuyên xoát xét lại các dữ liệu và phải so sánh kết quả thực tếvới số liệu đã ước tính để điều chỉnh các ước tính kỳ sau
1.3. Các phương pháp ước tính kế toán
Để được ghi nhận và trình bày các khoản mục trên báo cáo tài chính, các ướctính kế toán phải thỏa mãn các định nghĩa và điều kiện ghi nhận các yếu tố củabáo cáo tài chính đối với tài sản, nợp phải trả, thu nhập và chi phí Trong đó, việcxác định giá trị ước tính của các khoản mục là vấn đề quyết định để một ước tính
kế toán được ghi nhận và trình bày trên báo cáo tài chính hông thường, các chuẩnmực và chế độ kế toán không đề cập đến các phương pháp kỹ thuật cụ thể, hoặcgiới hạn mang tính định lượng để xác định các ước tính kế toán, mà chỉ địnhhướng những căn cứ, tiêu chí làm cơ sở để DN vận dụng, xác định ước tính kếtoán Về mặt kỹ thuật, để xác định giá trị ước tính của các khoản mục, kế toánphải thu thập các bằng chứng hiện có và các dự báo cho tương lai, dựa trên cơ sởphân tích các số liệu quá khứ, kết hợp với sự xét đoán của DN đối với từngkhoản mục trong từng tình huống cụ thể Có 4 phương pháp chủ yếu mà kế toán
có thể áp dụng để xác định ước tính kế toán bao gồm:
Trang 3• Phương pháp so sánh trực tiếp: theo phương pháp này, để xác định cácước tính kế toán như các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảmgiá đầu tư tài chính…kế toán phải thu thập thông tin thị trường về giácủa các tài sản hoàn toàn giống với tài sản hiện có của DN và sử dụngmức giá quan sát trên thị trường để ước tính các khoản giảm giá và tổnthất tài sản của DN.
• Phương pháp so sánh điều chỉnh: Trường hợp không có các tài sảnhoàn toàn giống với tài sản hiện có của DN được trao đổi trên thịtrường, DN có thể thu thập thông tin về giá của các tài sản tương tự đểtham khảo và thực hiện các điều chỉnh phù hợp
• Phương pháp chiết khấu dòng tiền: Trong một số trường hợp để ướctính giá trị của một khoản mục tài sản, kế toán có thể áp dụng phươngpháp chiết khấu dòng thu nhập mà tài sản được dự tính tạo ra cho DNtrong suốt vòng đời sử dụng tài sản Phương pháp này thường được ápdụng để xác định các ước tính kế toán liên quan đến các tài sản dài hạn
• Các phương pháp xét đoán khác: Bên cạnh các phương pháp nêu trên,
kế toán có thể áp dụng phương pháp xét đoán khác dựa trên cơ sở phântích dữ liệu về mối liên hệ giữa các khoản mục trên báo cáo tài chính(ví dụ mối tương quan giữa doanh thu và nợ phải thu khó đòi, mối quan
hệ giữa doanh thu với chi phí bảo hành sản phẩm) hoặc căn cứ vào các
kế hoạch, dự toán để ước tính các khoản trích trước, các khoản dựphòng phải trả
Cho dù các DN xác định các ước tính kế toán theo phương pháp nào,mức độ hợp lý và đáng tin cậy của các ước tính kế toán phụ thuộc vàochất lượng dữ liệu và thông tin thu thập được tại thời điểm lập ước tính
1.4. Phân loại ước tính kế toán
Ước tính kế toán gồm ước tính chỉ tiêu đã phát sinh và ước tính chỉ tiêu chưaphát sinh
1.4.1. Uớc tính chỉ tiêu đã phát sinh
Trang 4Ước tính chỉ tiêu đã phát sinh là giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đếnBCTC được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có sốliệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính chính xác hơn.
Các ước tính đã phát sinh như
• Dự phòng nợ phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất củacác khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạnnhưng có khả năng không đòi được do khách hàng không có khả năngthanh toán
• Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
• Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
• Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
• Trích khấu hao tài sản cố định
• Chi phí trả trước
• Giá trị sản phẩm dở dang
• Doanh thu ghi nhận trước
1.4.2. Ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh
Ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh là gía trị gần đúng của một chỉ tiêu thực tếchưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập báo cáo tài chính
Các ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh
• Dự phòng chi phí bảo hành
• Chi phí trích trước
1.5. Những sai sót, rủi ro thường gặp trong ước tính kế toán
Thứ nhất, các nguyên tắc cho các ước tính kế toán không rõ ràng, không chặtchẽ thậm chí không được đưa ra Bên cạnh đó, những đánh giá về các đối tượngước tính thường mang tính chủ quan, phức tạp và đòi hỏi những giả định về ảnh
Trang 5hưởng của những sự kiện trong tương lai Do đó, các ước tính kế toán có thểchứa đựng rủi ro tiềm tàng cao.
Thứ hai, do các ước tính kế toán được lập dựa trên những xét đoán chủ quan vàthiếu dữ liệu khách quan hoặc mức độ không chắc chắn của một yếu tố nào đónên các ước tính kế toán đã không được lập một cách hợp lý
Thứ ba, các ước tính kế toán thường có các tính toán phức tạp nên việc tính toánrất dễ xảy ra những sai sót
Thứ tư, một số ước tính kế toán thường được thực hiện vào cuối ký kế toánnăm Tại thời điểm nhạy cảm đó, do áp lực công việc nên kế toán có thể để xảy
ra những sai sót không mong muốn như: hạch toán sai tài khoản, sai quy định kếtoán hiện hành, quy trình tính toán gặp sai sót, hoặc sai trong quá trình ghi sổ, kếtchuyển…
Thứ năm, các ước tính kế toán thường liên quan trực tiếp đến kết quả kinhdoanh và nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với nhà nước nên dễ bị xử lý chủquan theo hướng có lợi cho đơn vị Trong quá trình lập BCTC, các doanh nghiệpthường sử dụng rất nhiều ước tính kế toán có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuậntrong kỳ của công ty Vì không có một tiêu chuẩn chính xác về giá trị các ướctính này nên nó được xem là một công cụ đắc lực để phú phép lợi nhuận Một sốthủ thuật làm tăng lợi nhuận thường gặp như giảm mức khấu hao, giảm mức dựphòng…
Thứ sáu, các ước tính kế toán có bản chất là những xét đoán chủ quan, nên chế
độ kế toán liên quan đến các ước tính kế toán thường xuyên thay đổi nhằm đemlại sự đáng tin cậy hơn, minh bạch hơn trong quá trình lập các ước tính Bởi vậy,nếu đơn vị không thường xuyên cập nhật văn bản mới thì việc lập các ước tínhsai với quy định sẽ dễ dàng mắc phải
Thứ bảy, các bằng chứng để chứng minh cho các ước tính kế toán thường làkhó thu thập hơn và tính thuyết phục thấp hơn các bằng chứng chứng minh chocác chỉ tiêu khác trong báo cáo tài chính
1.6. Sự cần thiết của các ước tính kế toán
Rõ ràng nguy cơ sử dụng các ước tính kế toán để phản ánh sai lệch thông tin là
có thực, vậy mà người ta vẫn không tìm cách loại bỏ chúng Điều đó cho thấyviệc sử dụng các ước tính này hẳn là có mang lại những lợi ích nhất định Dướiđây là một số nguyên nhân vì sao xét đoán chủ quan vẫn được sử dụng rộng rãitrong lập báo cáo tài chính, bất chấp những lo ngại về khả năng “phù phép” báocáo tài chính
Trang 6• Việc bỏ hoàn toàn các ước tính chủ quan là không khả thi và thiếu hiệuquả kinh tế
• Việc cho phép doanh nghiệp sử dụng các xét đoán chủ quan trong lậpBCTC cũng mang lại nhiều lợi ích Lợi ích chính của việc cho phép sửdụng các ước tính trong BCTC là ở chỗ giúp cho doanh nghiệp có thểcung cấp những thông tin cần thiết về triển vọng phát triển đồng thờitránh phải tiết lộ những thông tin chi tiết không có lợi cho việc cạnhtranh trên thị trường
• Nếu cả bên lập BCTC và bên sử dụng BCTC đều ý thức rõ về sự tồn tạicủa các xét đoán chủ quan trong lập BCTC thì họ sẽ tính tới yếu tố nàytrong các thỏa thuận để có được một hợp đồng tối ưu
2. Một số ước tính kế toán cụ thể
2.1. Các khoản dự phòng
Các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi,tổn thất các khoản đầu tư tài chính,giảm giá hàng tồn kho, bảo hành sản phẩm này được trích trước vào chi phí hoạtđộng kinh doanh năn báo cáo của doanh ngiệp, giúp cho doanh nghiệp có nguồtài chính để bù đắp tổn thất có thể xảy ra trong năm kế hoạch, nhằm bảo toàn vốnkinh doanh; đảm bảo cho doanh nghiệp phản ánh giá trị vật tư hàng hóa tồn kho,các khoản đầu tư tài chính không cao hơn giá trị trên thị trường và giá trị cáckhoản nợ phải thu không cao hơn giá trị có thể thu hồi được ở thời điểm lập báocáo tài chính
Thời điểm lập và hoàn nhập các khoản dự phòng là thời điểm cuối ký kế toánnăm Trường hợp doanh nghiệp được Bộ tài chính chấp nhận áp dụng năm tàichính khác năm dương lịch thì thời điểm lập và hoàn nhập các khoản dự phòng làngày cuối năm tài chính
Đối với doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán phải lập báo cáo tàichính giữa niên độ thì được trích lập và hoàn nhập dự phòng ở cả thời điểm lậpbáo cáo tài chính giữa niên độ
2.1.1. Dự phòng nợ phải thu khó đòi
Khái niệm
Trang 7Dự phòng phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của cáckhoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng cóthể không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán
Nguyên nhân
Trên thực tế không phải lúc nào những khoản phải thu khách hàng cũng thuhồi được vì nhều nguyên nhân khác nhau Như vậy, khi bán hàng hóa chịuchoKH, có những trường hợp doanh nghiệp chưa thể thu hồi được nợ mặc
dù nó đã đến hạn và làm phát sinh khoản phải thu khó đòi Để tuân thủnguyên tắc kế toán, trong đó có nguyên tắc thận trọng và nguyên tắc phùhợp, đòi hỏi kế toán ghi nhận một khoản dự phòng trước cho khoản nợ khó
có khả năng thu hồi bằng cách lập dự phòng cho các khoản phải thu khó đòi
Điều kiện trích lập
Điều kiện: là các khoản nợ phải thu khó đòi đảm bảo các điều kiện sau:
- Khoản nợ phải có chứng từ gốc, có đối chiếu xác nhận của khách nợ về sốtiền còn nợ, bao gồm: hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợpđồng, cam kết nợ, đối chiếu công nợ và các chứng từ khác
Các khoản không đủ căn cứ xác định là nợ phải thu theo quy định này phải
xử lý như một khoản tổn thất
- Có đủ căn cứ xác định là khoản nợ phải thu khó đòi:
+ Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ướcvay nợ hoặc các cam kết nợ khác
+ Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế (các công
ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng ) đã lâm vào tìnhtrạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn,đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành ánhoặc đã chết
Phương pháp lập dự phòng
Trang 8Phương pháp lập dự phòng là:
Doanh nghiệp phải dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra hoặc tuổi nợ quá hạncủa các khoản nợ và tiến hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khóđòi, kèm theo các chứng cứ chứng minh các khoản nợ khó đòi nói trên.Trong đó:
- Đối với nợ phải thu quá hạn thanh toán, mức trích lập dự phòng như sau: + 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ trên 6 tháng đến dưới 1năm
+ 50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm.+ 70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm.+ 100% giá trị đối với khoản nợ phải thu từ 3 năm trở lên
- Đối với nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã lâmvào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏtrốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thihành án hoặc đã chết… thì doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất không thuhồi được để trích lập dự phòng
- Sau khi lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, doanh nghiệptổng hợp toàn bộ khoản dự phòng các khoản nợ vào bảng kê chi tiết để làmcăn cứ hạch toán vào chi phí quản lý của doanh nghiệp
Trang 9- Xoá các khoản nợ phải thu khó đòi.
Bên Có:
Số dự phòng nợ phải thu khó đòi được lập tính vào chi phí quản lý doanhnghiệp
Số dư bên Có:
Số dự phòng các khoản nợ phải thu khó đòi hiện có cuối kỳ
Cuối kỳ kế toán năm hoặc cuối kỳ kế toán giữa niên độ (đối với doanhnghiệp có lập báo cáo tài chính giữa niên độ), doanh nghiệp căn cứ cáckhoản nợ phải thu được xác định là không chắc chắn thu được (Nợ phải thukhó đòi), kế toán tính, xác định số dự phòng nợ phải thu khó đòi cần tríchlập hoặc hoàn nhập Nếu số dự phòng nợ phải thu khó đòi cần trích lập ở kỳ
kế toán này lớn hơn số dự phòng nợ phải thu khó đòi đã trích lập ở kỳ kếtoán trước chưa sử dụng hết, thì số chênh lệch lớn hơn được hạch toán vàochi phí, ghi:
Nợ TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
Có TK 139 - Dự phòng phải thu khó đòi
Nếu số dự phòng nợ phải thu khó đòi cần trích lập ở kỳ kế toán này nhỏ hơn
số dự phòng nợ phải thu khó đòi đã trích lập ở kỳ kế toán trước chưa sửdụng hết, thì số chênh lệch được hoàn nhập ghi giảm chi phí, ghi:
Nợ TK 139 - Dự phòng phải thu khó đòi
Có TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp (Chi tiết hoàn nhập dự phòngphải thu khó đòi)
Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được đượcphép xoá nợ Việc xoá nợ các khoản nợ phải thu khó đòi phải theo chínhsách tài chính hiện hành Căn cứ vào quyết định xoá nợ về các khoản nợphải thu khó đòi, ghi:
Trang 10Nợ TK 139 - Dự phòng phải thu khó đòi (Nếu đã lập dự phòng)
Nợ TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp (Nếu chưa lập dự phòng)
Có TK 131- Phải thu của khách hàng
Nợ các TK 111, 112, (Số tiền thu được từ việc bán khoản nợ phải thu)
Nợ TK 139 - Dự phòng phải thu khó đòi (Số chênh lệch được bù đắp bằngkhoản dự phòng phải thu khó đòi)
Nợ các TK liên quan (Số chênh lệch giữa giá gốc khoản nợ phải thu khó đòivới số tiền thu được từ bán khoản nợ và số đã được bù đắp bằng khoản dựphòng phải thu khó đòi theo qui định của chính sách tài chính hiện hành)
Có các TK 131, 138,
Trang 11 Xử lý tài chính các khoản nợ không có khả năng thu hồi
a) Nợ phải thu không có khả năng thu hồi bao gồm các khoản nợ sau:
- Đối với tổ chức kinh tế:
+ Khách nợ đã giải thể, phá sản: Quyết định của Tòa án tuyên bố phá sảndoanh nghiệp theo Luật phá sản hoặc quyết định của người có thẩm quyền
về giải thể đối với doanh nghiệp nợ, trường hợp tự giải thể thì có thông báocủa đơn vị hoặc xác nhận của cơ quan quyết định thành lập đơn vị, tổ chức
+ Khách nợ đã ngừng hoạt động và không có khả năng chi trả: Xác nhậncủa cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp hoặc tổ chức đăng ký kinhdoanh về việc doanh nghiệp, tổ chức đã ngừng hoạt động không có khảnăng thanh toán
- Đối với cá nhân phải có một trong các tài liệu sau:
+ Giấy chứng từ (bản sao) hoặc xác nhận của chính quyền địa phương đốivới người nợ đã chết nhưng không có tài sản thừa kế để trả nợ
+ Giấy xác nhận của chính quyền địa phương đối với người nợ còn sốnghoặc đã mất tích nhưng không có khả năng trả nợ
+ Lệnh truy nã hoặc xác nhận của cơ quan pháp luật đối với người nợ đã bỏtrốn hoặc đang bị truy tố, đang thi hành án hoặc xác nhận của chính quyềnđịa phương về việc khách nợ hoặc người thừa kế không có khả năng chi trả.b) Xử lý tài chính:
Tổn thất thực tế của từng khoản nợ không thu hồi được là khoản chênh lệchgiữa nợ phải thu ghi trên sổ kế toán và số tiền đã thu hồi được (do ngườigây ra thiệt hại đền bù, do phát mại tài sản của đơn vị nợ hoặc người nợ, dođược chia tài sản theo quyết định của tòa án hoặc các cơ quan có thẩmquyền khác…)
Trang 12Giá trị tổn thất thực tế của khoản nợ không có khả năng thu hồi, doanhnghiệp sử dụng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi, quỹ dự phòng tàichính (nếu có) để bù đắp, phần chênh lệch thiếu hạch toán vào chi phí quản
lý của doanh nghiệp
Các khoản nợ phải thu sau khi đã có quyết định xử lý, doanh nghiệp vẫnphải theo dõi riêng trên sổ kế toán và được phản ánh ở ngoài bảng cân đối
kế toán trong thời hạn tối thiểu là 10 năm, tối đa là 15 năm kể từ ngày thựchiện xử lý và tiếp tục có các biện pháp để thu hồi nợ Nếu thu hồi được nợthì số tiền thu hồi sau khi trừ các chi phí có liên quan đến việc thu hồi nợ,doanh nghiệp hạch toán vào thu nhập khác
c) Khi xử lý khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi doanh nghiệpphải lập hồ sơ sau:
- Biên bản của Hội đồng xử lý nợ của doanh nghiệp Trong đó ghi rõ giá trịcủa từng khoản nợ phải thu, giá trị nợ đã thu hồi được, giá trị thiệt hại thực
tế (sau khi đã trừ đi các khoản thu hồi được)
- Bảng kê chi tiết các khoản nợ phải thu đã xóa để làm căn cứ hạch toán,biên bản đối chiếu nợ được chủ nợ và khách nợ xác nhận hoặc Bản thanh lýhợp đồng kinh tế hoặc xác nhận của cơ quan quyết định thành lập doanhnghiệp, tổ chức hoặc các tài liệu khách quan khác chứng minh được số nợtồn đọng và các giấy tờ tài liệu liên quan
- Sổ kế toán, chứng từ, tài liệu chứng minh khoản nợ chưa thu hồi được, đếnthời điểm xử lý nợ doanh nghiệp đang hạch toán nợ phải thu trên sổ kế toáncủa doanh nghiệp
2.1.2. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Khái niệm
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giávật tư, thành phẩm, hàng hóa tồn kho bị giảm
Nguyên nhân
Trang 13Theo nguyên tắc giá gốc hàng tồn kho (HTK) của doanh nghiệp phải đượcghi nhận và được trình bày theo giá gốc Trong các trường hợp giá cả có sựbiến động cần được đánh giá lại để phản ánh đúng với giá của thị trường vàđược điều chỉnh vào nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Tuy nhiên,tổng các trường hợp giá của HTK giảm, nếu không có nguồn bù đắp thì sẽtác động xấu tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Mặt khác trong tườnghợp giá trị thuần có thể thu hồi của HTK giảm xuống thắp hơn so với giágốc, việc ghi nhận theo giá gốc sẽ dẫn đến ghi nhận quá cao giá trị tài sảncủa doanh nghiệp và không đảm bảo tính thận trọng của thông tin kế toán.
Do đó, một mặt để có nguồn bù đắp nhằm tránh những tá động xấu dến tìnhhình tài chính của doanh nghiệp, mặt khác để tuân theo nguyên tắc thậntrọng trong kế toán đòi hỏi phải trích lập dự phòng giảm giá cho HTK.Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 về HTK cũng yêu cầu doanh nghiệp ítnhất là vào cuối kỳ kế toán năm, phải ước tính giá trị thuần có thể thực hiệnđược của hàng tồn kho và nếu giá trị này nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dựphòng giảm giá HTK Như vậy, việc trích lập dự phòng thực chất là việc ghinhận chi phí phát sinh do HTK bị giảm giá trị đồng thời là điều chỉnh giá trịkhoản mục tài sản này về giá trị có thể thực hiện được
Đối tượng lập dự phòng
Theo khoản 1 điều 4 thông tư 228/2009/TT-BTC
Bao gồm: nguyên vật liệu, dụng cụ dùng cho sản xuất, vật tư, hàng hóa,thành phẩm tồn kho (gồm cả hàng tồn kho bị hư hỏng, kém mất phẩm chất,lạc hậu mốt, lạc hậu kỹ thuật, lỗi thời, ứ đọng, chậm luân chuyển…), sảnphẩm dở dang, chi phí dịch vụ dở dang (sau đây gọi tắt là hàng tồn kho) màgiá gốc ghi trên sổ kế toán cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được vàđảm bảo điều kiện sau:
- Có hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của Bộ Tài chính hoặc cácbằng chứng khác chứng minh giá vốn hàng tồn kho
- Là những vật tư hàng hóa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp tồn khotại thời điểm lập báo cáo tài chính
Trang 14Trường hợp nguyên vật liệu có giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn
so với giá gốc nhưng giá bán sản phẩm dịch vụ được sản xuất từ nguyên vậtliệu này không bị giảm giá thì không được trích lập dự phòng giảm giánguyên vật liệu tồn kho đó
Phương pháp lập dự phòng
Theo khoản 2 điều 4 thông tư 228/2009/TT-BTC
Mức trích lập dự phòng tính theo công thức sau:
Mức dự phòng giảm giá vật tư hàng hóa = Lượng vật tư hàng hóathực tế tồn kho tại thời điểm lập báo cáo tài chính x (Giá gốc hàng tồnkho theo sổ kế toán - Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàngtồn kho)
Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 02 - Hàng tồn kho ban hành kèm theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho (giá trị dự kiến thu hồi) là giá bán (ước tính) của hàng tồn kho trừ (-) chi phí để hoàn thành sản phẩm và chi phí tiêu thụ (ước tính).
Khi ước tính Khi ước tính giá trị thuần của hàng tồn kho phải chú ý đến 2 vấn đề sau:
- Sự biến động giá cả hàng tồn kho trực tiếp liên quan đến các sự kiện diễn
ra sau ngày kết thúc năm tài chính, trong trường hợp những sự kiện này được cung cấp những bằng chứng xác nhận về các sự kiện đã có ở thời điểm kết thúc niên độ Trường hợp này thuộc phạm vi điều chỉnh của VAS
23 “ Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kì kế toán năm” Nghĩa là: Nếu HTK được bán ra càng gần ngày sau ngày kết thúc kì kế toán năm thì
có thể căn cứ vào giá đã có thể bán được của hàng tồn kho để xác định lại
Trang 15mức dự phòng đã lập ở năm trước, trên cơ sở đó điều chỉnh tăng hoặc giảm mức dự phòng đã lập Vì điều này cung cấp bằng chứng tin cậy về việc ước tính giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho vào cuối năm trước.
Nếu hàng tồn kho được bán ra càng xa ngày sau ngày kết thúc kì kế toán năm thì giá bán của hàng tồn kho không được sử dụng để xác định lại mức
dự phòng đã lập vì sự thay đổi giá cả chủ yếu là lí do thuộc về sự thay đổi cuả thị trường chứ không phải là sự ước tính giá trị thuần của hàng tồn kho vào cuối năm trước không phù hợp.
- Mục đích của việc dự trữ hàng tồn kho: Nếu hàng tồn kho được dự trữ đểđảm bảo cho các hợp đồng bán hàng không thể huỷ bỏ thì phải dựa vào giátrị hợp đồng Nghĩa là mức dự phòng được lập khi giá trị hợp đồng bánhàng không thể huỷ bỏ của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc
Mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính cho từng loại hàng tồnkho bị giảm giá và tổng hợp toàn bộ vào bảng kê chi tiết Bảng kê là căn cứ
để hạch toán vào giá vốn hàng bán (giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hóatiêu thụ trong kỳ) của doanh nghiệp
Riêng dịch vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn khotính theo từng loại dịch vụ có mức giá riêng biệt
Hạch toán dự phòng giảm giá HTK
Để phản ánh tình hình trích lập dự phòng và xử lý số dự phòng giảm giáHTK kế toán sử dụng TK 159 : “dự phòng giảm giá HTK” Và tính vào giávốn tk 632
Trang 16Số dư bên Có: Giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho hiện có cuối kỳ.
Cuối kỳ kế toán năm (hoặc quý), khi lập dự phòng giảm giá hàng tồn kholần đầu tiên, ghi:
Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán
Có TK 159 - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Cuối kỳ kế toán năm (hoặc quý) tiếp theo:
-Nếu khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối kỳ kế toán nămnay lớn hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toántrước chưa sử dụng hết thì số chênh lệch lớn hơn, ghi:
Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi tiết dự phòng giảm giá hàng tồn kho):
số dự phòng trích thêm
Có TK 159 - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: số dự phòng trích thêm
- Nếu khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối kỳ kế toánnăm nay nhỏ hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ
kế toán trước chưa sử dụng hết thì số chênh lệch nhỏ hơn, ghi:
Nợ TK 159 - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: số dự phòng hoàn nhập
Có TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi tiết dự phòng giảm giá hàng tồn kho):
số dự phòng hoàn nhập
Trường hợp tổn tất thực sự xảy ra, căn cứ vào quyết định của cấp trên dùng
dự phòng để bù đắp kế toán ghi:
Nợ TK 159- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: số đã dự phòng
Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán: số dự phòng hoặc dự phòng không đủ
Có TK 152, 153: số tổn thất được xử lý
Trang 17 Xử lý hủy bỏ đố với vật tư, hàng hóa đã trích lập
Theo khoản 4 điều 4 thông tư 228/2009/TT_BTC:
b) Thẩm quyền xử lý: Hội đồng quản trị (đối với doanh nghiệp có Hội đồngquản trị) hoặc Hội đồng thành viên (đối với doanh nghiệp có Hội đồngthành viên); Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc) đối với doanh nghiệp không
có Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên; chủ doanh nghiệp căn cứ vàoBiên bản của Hội đồng xử lý, các bằng chứng liên quan đến hàng hóa tồnđọng để quyết định xử lý hủy bỏ vật tư, hàng hóa nói trên; quyết định xử lýtrách nhiệm của những người liên quan đến số vật tư, hàng hóa đó và chịutrách nhiệm về quyết định của mình trước chủ sở hữu và trước pháp luật c) Xử lý hạch toán:
Giá trị tổn thất thực tế của hàng tồn đọng không thu hồi được đã có quyếtđịnh xử lý hủy bỏ, sau khi bù đắp bằng nguồn dự phòng giảm giá hàng tồnkho, phần chênh lệch thiếu được hạch toán vào giá vốn hàng bán của doanhnghiệp
Ví dụ: ngày 31/12/N doanh nghiệp K có tài liêu sau:
-Giá trị tông kho nguyên vật liệu A là 1000triệu đồng
Trang 18-Giá trị thuần có thể thực hiện được của vật tư này được xác địn là 850 triệuđồng
-Số dư TK 159 còn lại là 40 triệu đồng
Như vậy số tiền cần trích lạp dự phòng cho NVL A là:
là các chứng khoán có đủ các điều kiện sau:
- Là các loại chứng khoán được doanh nghiệp đầu tư theo đúng quy địnhcủa pháp luật
- Được tự do mua bán trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập báo cáotài chính có giá thị trường giảm so với giá đang hạch toán trên sổ kế toán
Những chứng khoán không được phép mua bán tự do trên thị trường nhưcác chứng khoán bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp luật; cổphiếu quỹ thì không được lập dự phòng giảm giá
Các tổ chức đăng ký hoạt động kinh doanh chứng khoán như các công tychứng khoán, công ty quản lý quỹ được thành lập và hoạt động theo quy