Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùng cao của tỉnh Yên Bái
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh “cán bộ là cái gốc của mọi côngviệc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Ngườiluôn quan tâm, chăm lo xây dựng cấp xã, đã tổng kết và rút ra bài học ý nghĩacực kỳ quan trọng “ cấp xã là gần gũi nhất, là nền tảng của hành chính Cấp
xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” Bên cạnh đó, xã hội ngày càngphát triển đồng nghĩa với việc khoảng cách chênh lệch giữa đồng bằng vàmiền núi, thành thị và nông thôn ngày càng tăng cao Để giải quyết vấn đềnày, Đảng và Nhà nước rất quan tâm và chú trọng tới việc nâng cao chấtlượng cuộc sống cho các xã vùng cao, đặc biệt là các xã có đông đồng bàodân tộc thiểu số, Yên Bái cũng là một tỉnh miền núi phía Bắc có đông đồngbào dân tộc thiểu số, việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dântộc ở các xã vùng cao là nhiệm vụ quan trọng cần được đẩy mạnh Để làmđược điều đó thì trước hết cần phải phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹthuật và quản lý cho các xã vùng cao, có được một đội ngũ cán bộ cấp xã tốtthì mới có thể phát triển xã tốt được Chính vì vậy em đã chọn đề tài nghiên
cứu “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùng cao của tỉnh
Yên Bái”
Bố cục của đề tài bao gồm 3 phần chính:
Chương 1: Sự cần thiết khách quan phát triển đội ngũ cán bộ, côngchức các xã vùng cao
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cho các xãvùng cao tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 - 2007
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ, côngchức cho các xã vùng cao tỉnh Yên Bái đến 2015
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Nguyễn Thị Kim Dung và cán
bộ hướng dẫn Trần Thanh Chương – phó trưởng phòng Tổng hợp, quy hoạchkinh tế và văn hóa xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Yên Bái đã giúp đỡnhiệt tình để em hoàn thành bài viết này Trong quá trình thực hiện đề tài docòn hạn chế về kiến thức nên không tránh khỏi những thiếu xót Em rất mongđược sự góp ý của cô giáo để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÁC XÃ VÙNG CAO
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1.1 Chính quyền cấp xã và vai trò của chính quyền cấp xã
1.1.1.1 Chính quyền cấp xã
Mỗi quốc gia thường phân chia lãnh thổ của mình thành nhiều địaphương lớn nhỏ khác nhau nhằm mục tiêu quản lý Theo đó có các tổ chứcthực hiện chức năng quản lý nhà nước và được gọi là tổ chức chính quyền.Đơn vị lãnh thổ được thiết lập trong đó có các tổ chức chính quyền gọi là cácđơn vị hành chính - lãnh thổ hay là đơn vị hành chính Tùy theo thứ bậc vớiquy mô và thẩm quyền quản lý khác nhau tạo thành các cấp hành chính khácnhau, tương ứng có các cấp chính quyền như:
Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là một bộphận cấu thành của hệ thống chính quyền 3 cấp ở Việt Nam hiện nay
Tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay cơ bản được xâydựng theo cấp hành chính trên cơ sở phân loại bộ máy nhà nước theo cấu trúchành chính lãnh thổ và phạm vi thẩm quyền
Điều 118 Hiến pháp năm 1992 quy định:
“Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namđược phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trựcthuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;
Trang 4Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã chiathành phường và xã; quận chia thành phường;”
Theo quy định trên, đơn vị hành chính lãnh thổ của nước ta được chiathành 3 cấp:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gọi chung là cấp tỉnh;
- Huyện, thành phố thuộc tỉnh, quận, thị xã gọi chung là cấp huyện;
- Xã, phường và thị trấn gọi chung là cấp xã (cấp cơ sở)
Tương ứng với việc phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ này, mô hình
tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam gồm 3 cấp hành chính: chínhquyền cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện và chính quyền cấp cơ sở (gồm xã,phường, thị trấn)
Cán bộ, công chức cấp xã được đề cập đến trong đề tài này nằm trong
hệ thống chính quyền cấp xã là cấp hành chính trực tiếp quan hệ với dân trong
hệ thống tổ chức của bộ máy hành chính nhà nước; là cấp trực tiếp thực hiệnquản lý nhà nước ở địa phương có chức năng quản lý, điều hành các lĩnh vựccủa đời sống xã hội theo Hiến pháp và pháp luật; là nơi trực tiếp thực hiệnđường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao đời sốngmọi mặt của nhân dân
1.1.1.2 Đặc điểm của chính quyền cấp xã
Chính quyền cấp xã trong hệ thống đơn vị hành chính của nước ta làcấp có địa giới hành chính nhỏ nhất và là cấp thấp nhất trong hệ thống chínhquyền (còn gọi là cấp cơ sở)
Theo quy định của pháp luật, tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã baogồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, không có các cơ quan tổ chứcchuyên môn như phòng, ban Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã
là cơ quan trực tiếp thực hiện công việc quản lý địa phương, là nơi hàng ngàygiải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống sinh hoạt của nhân dân như: dân
Trang 5quyền, dân sinh, dân trí Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực nhànước ở địa phương do cử tri trong xã bầu ra, cơ cấu tổ chức gồm: Chủ tịchHội đồng nhân dân, Phó chủ tịch hội đồng nhân dân, các Uỷ ban nhân dân
là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp, đồng thời là cơ quanhành chính nhà nước ở địa phương, do Hội đồng nhân dân xã bầu Cơ cấu của
Uỷ ban nhân dân xã bao gồm:
Chính quyền cấp xã có chức năng và nhiệm vụ thực hiện các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các mục tiêu kinh tế, xã hội, anninh, quốc phòng ở địa phương; thực hiện việc quản lý hành chính nhà nướctrên địa bàn theo thẩm quyền được giao Bên cạnh đó chính quyền cấp xã cònhướng dẫn và giám sát các hoạt động tự quản của nhân dân, tạo thuận lợi chonhân dân và các doanh nghiệp làm ăn theo quy định của pháp luật Ngoài ra,chính quyền cấp xã còn được cấp trên ủy quyền thực hiện việc thu một số loạithuế, quản lý tài nguyên, thực hiện chính sách xã hội bằng thu kinh phí ngânsách nhà nước, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trên địa bàn
1.1.2 Vai trò của chính quyền cấp xã
Để thấy rõ được sự quan trọng và cần thiết của chính quyền cấp xã đốivới cuộc sống của nhân dân cũng như sự phát triển của đất nước chúng ta cầnxem xét vai trò của chính quyền cấp xã trong hệ thống chính quyền 3 cấp củanước ta Có thể nói, chính quyền cấp xã là chính quyền cấp cơ sở, trực tiếptiếp xúc với nhân dân, ở ngay trong nhân dân Vì vậy, chính quyền cấp xã làcầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, là ngườithực hiện hoạt động quản lý nhà nước về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, anninh trật tự, an toàn xã hội của địa phương theo thẩm quyền quy định, đảmbảo cho chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đivào trong cuộc sống
Chính quyền cấp xã có vị trí quan trọng trong việc tổ chức, vận động
Trang 6nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.Hội đồng nhân dân cấp xã phải thực sự là đại biểu cho nhân dân Ủy ban nhândân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở, phải xử lý kịp thời nhữngyêu cầu hàng ngày của nhân dân, phát huy quyền làm chủ, tự giác tuân thủHiến pháp, pháp luật, đồng thời tích cực tham gia quản lý nhà nước, quản lý
xã hội, góp phần gìn giữ trật tự, an ninh xã hội ở địa phương
1.1.3 Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
1.1.3.1 Khái niệm
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là một trong những bộ phận cấuthành nên đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước Để hiểu được thế nào làcán bộ, công chức cấp xã có thể tiếp cận theo hai hướng:
Theo nghĩa rộng thì cán bộ, công chức cấp xã là toàn bộ những ngườihiện đảm nhiệm các nhiệm vụ trong các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thốngchính trị ở cấp xã (tổ chức Đảng, Chính quyền, tổ chức chính trị, xã hội )theo đúng luật định của Nhà nước
Theo nghĩa hẹp thì cán bộ, công chức cấp xã là những người đang đảmđương các nhiệm vụ trong các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy chính quyềncấp xã, bao gồm cán bộ chuyên trách và cán bộ chuyên môn ( hay còn gọi làcông chức) cấp xã Cụ thể theo pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi, bổsung năm 2003 quy định về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã:
Cán bộ chuyên trách là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụlãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhândân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội xã, phường, thị trấn
Đối với công chức xã là những người được tuyển dụng, giao giữ một
chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, bao gồm 7
chức danh cụ thể: Chỉ huy trưởng quân sự; Trưởng công an; Văn phòng
Trang 7-Thống kê; Tài chính - Kế toán; Địa chính; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hoá - Xãhội.
Nội dung nghiên cứu của đề tài cũng dựa trên nghĩa hẹp về khái niệmcán bộ, công chức cấp xã, chủ yếu đi sâu vào đánh giá số lượng cũng như chấtlượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc cho bộ máy chính quyền cấp xã để
từ đó đưa ra được những giải pháp cụ thể để khắc phục những nhược điểmcòn tồn tại và phát huy những điểm mạnh sẵn có
1.1.3.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhưhiện nay đội ngũ cán bộ, công chức chủ chốt cấp xã đóng vai trò vô cùngquan trọng Thể hiện:
Thứ nhất: Cán bộ, công chức cấp xã là người lãnh đạo tổ chức thựchiện mọi chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, là lựclượng giữ vai trò nòng cốt, điều hành hoạt động của bộ máy tổ chức xã, đồngthời là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện mọi mặt đời sống kinh tế -
xã hội như: được ủy quyền thực hiện việc thu hút một số loại thuế, quản lý vềtài nguyên, thực hiện chính sách xã hội bằng kinh phí ngân sách nhà nước,thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ,quyền lợi thiết thực của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn Vì vậy yêu cầuđối với cán bộ, công chức cấp xã phải là công bộc của dân, chịu sự giám sátcủa nhân dân
Thứ hai là người thực thi quyền hành pháp, trực tiếp quản lý điều hànhcác hoạt động, nhiệm vụ được giao từ cấp trên xuống Cán bộ, công chứckhông những phải thi hành tốt nhiệm vụ được giao mà còn phải chịu tráchnhiệm trước pháp luật về những gì mình đã làm Qua đó cho thấy cán bộ,công chức cấp xã không chỉ biết về những gì thuộc về chuyên môn nghiệp vụcủa mình mà còn cần nắm rõ về pháp luật, những quy định của nhà nước để
Trang 8không bị phạm sai lầm trong công tác thực hiện.
Thứ ba cán bộ, công chức cấp xã là người đại diện cho nhân dân do làmviệc tại cấp thấp nhất trong bộ máy chính quyền của nước ta, vì vậy thườngxuyên tiếp xúc và làm việc với nhân dân, đại diện ý chí và quyền lợi củangười dân tại địa phương Có thể nói rằng cán bộ, công chức xã là người hiểu
rõ tâm tư và nguyện vọng của nhân dân nhất, không chỉ vậy còn biết đượcphong tục tập quán, địa bàn lãnh thổ cụ thể của từng địa phương nên có thểđưa ra được những giải pháp phù hợp nhất
1.1.3.3 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Cán bộ, công chức cấp xã là người thay mặt chính quyền trực tiếp tiếpxúc với nhân dân, vì vậy đây là đội ngũ gần gũi và gắn bó mật thiết với ngườidân nhất Đội ngũ cán bộ, công chức xã sinh sống và công tác tại địa phương,tiếp nhận công việc của cấp trên giao cho đồng thời trực tiếp chỉ đạo vàhướng dẫn cho nhân dân làm Chính vì vậy, cán bộ, công chức xã là ngườinắm rõ những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, biết được những lợi thếcũng như khó khăn của xã mình đang hoạt động nên phải có trách nhiệm đềđạt những yêu cầu của người dân đến các cơ quan có thẩm quyền, gần gũinhân dân hơn để có thể xây dựng xã thực sự là của dân, do dân và vì dân
Phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động tại các xã là người dântại địa phương nên có mối quan hệ mật thiết với người dân, không thoát lyhẳn với những hoạt động sản xuất kinh doanh của địa phương Cán bộ, côngchức bên cạnh những nhiệm vụ thực hiện cho các cơ quan, tổ chức nhà nướcthì cũng có những hoạt động khác như kinh doanh, buôn bán, sản xuất, trênđịa bàn của xã Những hoạt động này góp phần tăng lượng thu nhập và liênquan đến quyền lợi sát sườn của bản thân cũng như gia đình các cán bộ, côngchức, chính vì vậy có ảnh hưởng không nhỏ tới cách thức làm việc cũng nhưđạo đức nghề nghiệp của đội ngũ này Để có thể có một đội ngũ cán bộ, công
Trang 9chức cấp xã trong sạch, vững mạnh và có trách nhiệm với nhiệm vụ được giaothì chính những cán bộ, công chức ở xã phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức,
lý luận chính trị, tránh tình trạng tham ô, tham nhũng, cửa quyền gây khókhăn cho nhân dân
Một đặc điểm đáng quan tâm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã làtrình độ học vấn thấp và không đồng đều, có ít cơ hội và điều kiện được họctập, đào tạo nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn Lực lượng cung cấp chođội ngũ cán bộ, công chức ở các xã rất dồi dào nhưng thường xuyên biếnđộng, không ổn định Nguồn cung cấp cán bộ, công chức cho các xã bao gồm:thanh niên không thoát ly ở địa phương; bộ đội sau khi hoàn thành nghĩa vụquân sự; các cán bộ hưu trí tại địa phương; cán bộ được tăng cường từ cấptrên xuống; cán bộ chủ chốt làm việc theo nhiệm kỳ bầu cử; Bên cạnh đócòn có các cán bộ chuyên môn cũng được sắp xếp, thay đổi lại theo từng thời
kỳ Chính vì vậy đội ngũ cán bộ, công chức ở các xã vùng cao không được ổnđịnh, thường xuyên có sự thay đổi, cán bộ vừa mới làm quen với điều kiệnlàm việc, cách thức tổ chức ở xã thì đã hết nhiệm kỳ, phải thay đổi cho ngườikhác Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức là phải có khả năng thíchứng nhanh với công việc, biết cách phối hợp với các cơ quan cấp trên và cơquan ban ngành để hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao Bên cạnh đócần có những cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tốt để
có thể nâng cao chất lượng làm việc về mọi mặt của xã
Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức làm việc tại các xã là ngườiđịa phương cho nên có lợi thế là am hiểu về địa hình lãnh thổ, phong tục tậpquán của xã, tuy nhiên kỹ năng nghề nghiệp và tính chuyên môn hóa lại thấp.Đội ngũ cán bộ ở các xã làm việc thường theo kinh nghiệm, cảm tính, thườngthiếu tính đồng bộ và nhất quán trong công tác chỉ đạo Với trình độ chuyênmôn thấp, cộng thêm việc cán bộ làm việc theo nhiệm kỳ nên chất lượng đội
Trang 10ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa thực sự đạt hiệu quả cao Yêu cầu đặt rađối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước là thường xuyên rèn luyện, tudưỡng và bổ sung thêm kiến thức chuyên môn, tham gia đầy đủ các khóa đàotạo theo yêu cầu của nhà nước Cán bộ, công chức cần nâng cao tinh thần họchỏi, phát huy khả năng sáng tạo trong công việc.
1.2 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.2.1 Phân loại cán bộ, công chức cấp xã
Có nhiều cách phân loại cán bộ, công chức cấp xã khác nhau, tuy nhiên
ở đây chỉ đề cập đến hai cách phân loại đó là phân loại theo nguồn hình thành
và theo loại hình đơn vị hành chính
Theo nguồn hình thành thì cán bộ, công chức cấp xã bao gồm có hainguồn chính: cán bộ, công chức được hình thành từ bầu cử và cán bộ, côngchức được hình thành từ công tác thi tuyển, xét tuyển Đối với cán bộ, côngchức xã được hình thành từ nguồn bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm
kỳ sẽ là các cán bộ chuyên trách giữ chức vụ lãnh đạo trong Hội đồng nhândân; Ủy ban nhân dân; Đảng ủy; các tổ chức chính trị - xã hội của xã Đối vớicán bộ, công chức hình thành từ việc thi tuyển, xét tuyển thì sẽ được giữnhững chức danh chuyên môn nghiệp vụ nhất định theo quy định của phápluật
Theo loại hình đơn vị hành chính thì cán bộ, công chức cấp xã đượcchia làm ba loại khác nhau, đó là: cán bộ, công chức xã; cán bộ, công chứcphường; cán bộ, công chức thị trấn Tuy cùng là cấp cơ sở nhưng do đặc điểmkhác nhau về kết cấu hạ tầng, cơ sở kinh tế, xã hội, kết cấu dân cư, trình độdân cư của xã, phường, thị trấn nên cán bộ, công chức ở mỗi nơi sẽ có nhữngchức năng và nhiệm vụ khác nhau Đối với cán bộ, công chức ở phường thì sẽkhông quản lý toàn diện các hoạt động sản xuất, đời sống dân cư trên địa bàn
Trang 11như cán bộ, công chức ở xã và thị trấn, song có nhiệm vụ quan trọng trongquản lý đô thị, đặc biệt là trong việc quản lý đô thị, đất đai, quy hoạch, hộtịch, vệ sinh môi trường và trật tự đô thị.
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển về số lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Đánh giá sự phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức cần được xét dựatrên cả hai mặt số lượng và chất lượng Tiêu chí đánh giá về số lượng đội ngũcán bộ, công chức cấp xã nhằm thể hiện quy mô và tốc độ tăng trưởng theothời gian Có hai tiêu chuẩn thường xuyên được sử dụng để đánh giá số lượngđội ngũ cán bộ, công chức cấp xã như sau:
- Quy mô đội ngũ cán bộ, công chức của xã
- Tốc độ tăng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
1.2.3.1 Chỉ tiêu biểu hiện trình độ học vấn
Trình độ học vấn của cán bộ, công chức là sự hiểu biết vủa cán bộ,công chức đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội Trình độhọc vấn được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu:
- Số người có trình độ tiểu học
- Số người có trình độ trung học cơ sở
- Số người có trình độ trung học phổ thông
- Số người có trình độ đại học và trên đại học
Trình độ học vấn là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chấtlượng của cán bộ, công chức và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triểnkinh tế xã hội Trình độ học vấn cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng mộtcách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn
Trang 121.2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và quản lý
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyênmôn nào đó, nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung họcchuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lýmột công việc thuộc một chuyên môn nhất định Do đó trình độ chuyên môncủa đội ngũ cán bộ, công chức được đo bằng:
- Tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ sơ cấp
- Tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ trung cấp
- Tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ cao đẳng
- Tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ đại học
- Tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ trên đại học
Trình độ lý luận chính trị cũng là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng độingũ cán bộ, công chức cấp xã, bao gồm:
- Tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ lý luận chính trị sơ cấp
- Tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ lý luận chính trị trung cấp
- Tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ lý luận chính trị cao cấp
- Tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ lý luận chính trị cử nhân
Trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đóngvai trò quan trọng trong công tác tổ chức hoạt động của chính quyền cấp xã,bao gồm các chỉ tiêu:
- Số lượng cán bộ, công chức đã qua bồi dưỡng về quản lý nhà nước
- Số lượng cán bộ, công chức có trình độ sơ cấp về quản lý nhà nước
- Số lượng cán bộ, công chức có trình độ trung cấp về quản lý nhà nước
- Số lượng cán bộ, công chức có trình độ đại học về quản lý nhà nước
- Số lượng cán bộ, công chức có trình độ sau đại học về quản lý nhànước
Bên cạnh những chỉ tiêu trên thì chỉ tiêu về trình độ tin học, ngoại ngữ
Trang 13góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
để có thể theo kịp với nhịp độ phát triển của xã hội và của toàn thế giới
1.2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh phẩm chất đạo đức đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Đây là chỉ tiêu phản ánh mặt định tính nên rất khó có thể đo lường hayđịnh lượng được, do đó nội dung của chỉ tiêu này sẽ được xem xét thông quanhững quy định cụ thể về những việc không được làm của đội ngũ cán bộ,công chức (theo pháp lệnh cán bộ, công chức đã sửa đổi năm 2003):
“- Cán bộ, công chức không được chây lười trong công tác, trốn tránhtrách nhiệm hoặc thoái thác nhiệm vụ, công vụ; không được gây bè phái, mấtđoàn kết, cục bộ hoặc tự ý bỏ việc
- Cán bộ, công chức không được cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gâykhó khăn, phiền hà đối với cơ quan tổ chức, cá nhân trong khi giải quyết côngviệc
- Cán bộ, công chức không được thành lập, tham gia thành lập hoặctham gia quản lý, điều hành các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệmhữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trườnghọc tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư
- Người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chứckhông được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữchức vụ lãnh đạo về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ; làm thủ quỹ, thủ khotrong cơ quan, tổ chức hoặc mua bán vật tư, hàng hoá, giao dịch, ký kết hợpđồng cho cơ quan tổ chức đó.”
1.2.3.4 Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Khi đánh giá chất lượng về nguồn nhân lực của một tổ chức thì khôngthể thiếu chỉ tiêu phản ánh về cơ cấu của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Có nhiều cách phân chia cơ cấu khác nhau, riêng đối với đội ngũ cán bộ, công
Trang 14chức cấp xã thường đánh giá cơ cấu theo các chỉ tiêu sau:
- Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo độ tuổi
- Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo giới tính
- Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo dân tộc
- Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo tôn giáo
- Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo ngạch công chức
1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHO CÁC XÃ VÙNG CAO
1.3.1 Sự phát triển kinh tế các xã vùng cao và nhu cầu về cán bộ, công chức cấp xã có trình độ cao
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì tình trạng bất bình đẳng,khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miềnnúi ngày càng tăng cao Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển kinh tếcủa nước ta luôn đạt ở mức rất cao, cùng với nó là khoảng cách giàu nghèocũng không ngừng giãn ra Mà ta có thể khẳng định đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp xã là lực lượng giữ vai trò nòng cốt, điều hành hoạt động của bộ máy tổchức xã, đồng thời là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện mọi mặt đờisống kinh tế - xã hội Vì vậy, đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trịcác xã có tầm quan trọng đặc biệt về nhiều mặt và là một trong những nhân tố
có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành bại của công cuộc xây dựng vàphát triển cho các xã vùng cao Để tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượngcuộc sống cho đồng bào tại các xã vùng cao thì đòi hỏi đội ngũ cán bộ, côngchức xã cũng phải được phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng sao chophù hợp với yêu cầu của xã hội Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các xãvùng cao, đặc biệt là các xã có đông dân tộc thiểu số và giải quyết vấn đề bấtbình đẳng giữa các vùng, miền cần phải có những chính sách và những giảipháp thiết thực Một trong những yêu cầu cấp thiết để giải quyết tình trạng đó
Trang 15là thu hút và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùngcao Khi đã thu hút được một đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ và nănglực lên phục vụ các xã vùng cao thì việc phát triển kinh tế xã hội cho cácvùng, miền núi sẽ dễ dàng và sớm bắt kịp với nhịp độ phát triển ở khu vựcthành thị.
1.3.2 Một số hạn chế của đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùng cao
Địa hình của các xã vùng cao chủ yếu là đồi núi, đất đai và khí hậukhông được thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Tuy hiện nay đã có hầuhết đường giao thông lên các xã vùng cao nhưng chưa thực sự hoàn thiện, vẫncòn khó khăn trong việc giao thông liên lạc Bên cạnh đó, người dân sống tạicác xã này chiếm phần lớn là đồng bào dân tộc, có phong tục tập quán, lốisống và lối canh tác còn lạc hậu, chưa bắt kịp với nhịp độ phát triển của cảnước
Hiện tại, đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại các xã vùng cao chiếmphần lớn là người dân sở tại, lớn lên và sinh sống tại chính các xã này Đây làđội ngũ cán bộ, công chức có ưu thế trong năng lực hoạt động (bản thân họ làngười địa phương, hiểu được phong tục tập quán cũng như lối sống của đồngbào tại đây) tuy nhiên họ lại hạn chế về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ.Tuy vậy nhưng tâm lý của cán bộ, công chức là người dân tộc lại có xu hướngkhông thích đi xa nhà, ngại đi học tập, bồi dưỡng thêm kiến thức Vì vậy đâycũng là một trong số những hạn chế về vấn đề khuyến khích đội ngũ cán bộ,công chức đi đào tạo, và đào tạo lại cần được giải quyết kịp thời
Nếu cán bộ, công chức cấp xã đã và đang làm việc tại xã là người sinhsống tại các xã này thì không muốn đi học nâng cao trình độ, thì ngược lại cáccán bộ, công chức có trình độ chuyên môn ở các vùng đồng bằng lại khôngthích công tác làm việc tại các xã vùng cao Đa phần những người có chuyênmôn, kỹ năng hoạt động và quản lý tốt sau khi học tập và nghiên cứu đều có
Trang 16xu hướng thích làm việc tại các thành phố lớn, vừa có điều kiện về vật chấtvừa có khả năng phát triển trình độ chuyên môn của mình Có rất ít cán bộchấp nhận công tác tại các xã vùng cao dù chỉ là trong vòng vài năm Điều đóxuất phát từ nhận thức và tính trách nhiệm đối với xã hội của mỗi một cán bộ,công chức nói chung Do đó để có thể thay đổi được nhận thức và nâng caođược tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, công chức cần phải trải qua cảmột quá trình và phải được kết hợp với nhiều yếu tố khác Đây là hạn chế vềvấn đề thu hút cán bộ, công chức có năng lực và trình độ.
Ngoài những yếu tố xuất phát từ ý thức chủ quan của đội ngũ cán bộ,công chức nhà nước thì tác động của chính sách và chế độ ưu đãi của nhànước cũng là một trong những hạn chế trong phát triển đội ngũ cán bộ, côngchức nhà nước Tính đến thời điểm hiện tại, Đảng và nhà nước đã có nhiềuchính sách về khuyến khích đào tạo và thu hút đội ngũ cán bộ, công chức cóchuyên môn, trình độ và năng lực thực sụ lên làm việc tại các xã vùng cao.Tuy nhiên các chính sách vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu, mongmuốn của đội ngũ cán bộ, công chức một cách thoả đáng nên việc phát triểnđội ngũ này tại các xã vùng cao còn chưa hiệu quả
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
1.3.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển số lượng đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùng cao
1.3.3.1.1 Nhân tố ảnh hưởng tới phía cung
Phía cung ở đây là nguồn cung cấp cho đội ngũ cán bộ, công chức xãbao gồm: những người dân tại địa phương đang hoạt động tích cực trong cácphong trào xã hội (già làng, trưởng bản, những người có tiếng nói trong xã);học sinh được xã cử đi học theo chế độ cử tuyển; những nguời của địaphương thực hiện xong nghĩa vụ quân sự; sinh viên các trường đại học ra
Trang 17trường có nguyện vọng tham gia công tác tại các xã vùng cao; cán bộ được bổnhiệm từ trên xuống công tác theo nhiệm kỳ
Đối với cán bộ, công chức cấp xã là người địa phương đang hoạt độngtích cực trong các phong trào kinh tế xã hội của xã, họ có những ràng buộc vềphong tục tập quán, lối sống cũng như mối quan hệ dòng tộc, họ hàng tại xã.Với phong tục tập quán còn lạc hậu nên nữ giới ở các xã vùng cao ít khi đượctham gia vào công tác xã hội, còn nam giới lại là trụ cột của gia đình, do đờisống thấp kém, cuộc sống của họ phụ thuộc vào nông nghiệp nên thời gianchủ yếu là lên nương làm rẫy Vì thế các xã vùng cao còn thiếu rất nhiều cán
bộ, công chức có trình độ chuyên môn và trách nhiệm đối với công việc
Đối với đội ngũ cán bộ, công chức đang đi học, đào tạo lại; nhữngngười tại địa phương hết nghĩa vụ quân sự và học sinh được cử đi học sau khi
đã được đào tạo, bồi dưỡng tại các trường đại học, cao đẳng, lại thường cótâm lý thích làm việc tại những nơi có điều kiện vật chất tốt, kinh tế xã hộiphát triển, nhất là tại các đô thị lớn, ít có ai mong muốn trở về làm việc tạinhững vùng cao còn nhiều khó khăn Để thay đổi được tâm lý của đội ngũ cán
bộ, công chức có trình độ này cần phải tăng cường những chính sách đãi ngộphù hợp
1.3.3.1.2 Nhân tố ảnh hưởng tới phía cầu
Về phía cầu chính là các cơ quan tổ chức tại các xã vùng cao Tại mỗi
xã vùng cao lại có những điều kiện địa hình, lãnh thổ và khí hậu khác nhau,ngoài ra còn có định hướng phát triển đã được đặt ra cho từng xã là khác nhau
vì vậy mỗi xã sẽ có những yêu cầu cụ thể về chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức khác nhau, tuỳ theo những lĩnh vực hoạt động và mục tiêu phát triển cụthể của từng xã Các xã vùng cao hoạt động kinh tế chủ yếu của đồng bào dântộc ở đây là ngành nông lâm nghiệp, do đó đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
ít nhất cũng phải biết qua về những lĩnh vực hoạt động của xã Nếu đội ngũ
Trang 18cán bộ, công chức tại xã không đáp ứng được yêu cầu thì cần phải có nhữngchính sách bồi dưỡng, đào tạo thêm.
Ngoài ra, các cơ quan, tổ chức của xã hiện nay ở một số nơi có đội ngũcán bộ, công chức không đáp ứng được yêu cầu của công việc nhưng đã quátuổi không thể đào tạo được nữa thì cần phải bổ sung thêm lực lượng đội ngũtrẻ, có năng lực và trình độ để thay thế Đây cũng là một nhân tố ảnh hưởngtới việc thu hút đội ngũ cán bộ, công chức về làm việc tại các xã vùng cao
1.3.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức của các xã vùng cao, tuy nhiên phải nói đến đầu tiên chính là năng lựcquản lý và điều hành của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là những cán bộđứng đầu của cơ quan, tổ chức tại các xã vùng cao Một đội ngũ làm việc tốt,
có kỷ cương, trật tự trước hết phải có một người lãnh đạo và quản lý tốt, biếtcách sắp xếp tổ chức các hoạt động, phân công công tác và nhiệm vụ phù hợpvới năng lực và trình độ của mỗi cán bộ, công chức cấp dưới Một người lãnhđạo tốt thôi chưa đủ, để phát triển vững mạnh thì năng lực quản lý và điềuhành của đội ngũ cán bộ, công chức cũng cần phải đảm bảo đáp ứng yêu cầucủa công việc
Với phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức là người dân tộc và là ngườibản địa cho nên họ là những người có tiếng nói ở xã và được đồng bào dântộc nghe theo, tuy nhiên về trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật thì lại kém,không đáp ứng được yêu cầu phát triển Vì vậy, đào tạo và đào tạo lại bằngcách cử cán bộ đi tập huấn, học tập hay mở các lớp đào tạo tại chính địaphương là cách tốt nhất để nâng cao thêm trình độ cho đội ngũ cán bộ, côngchức đang làm việc, là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển củađội ngũ này
Trang 19Ngày nay chất lượng làm việc và hiệu quả công việc liên quan khá lớntới tác phong, tinh thần thái độ và tính kỷ luật của cán bộ, công chức Khôngchỉ riêng khu vực thành thị mà cả khu vực miền núi thì điều kiện làm việcngày càng có xu hướng hiện đại hóa Sự phối hợp trong công việc giữa các cánhân trong cùng một tổ chức và giữa các tổ chức với nhau có xu hướng giatăng và đặt ra yêu cầu cao (tính nhịp nhàng, tính hiệu quả ) đòi hỏi đội ngũcán bộ, công chức phải có tác phong công nghiệp, tinh thần tự giác, thái độhợp tác và tính kỷ luật chặt chẽ Đánh giá một tổ chức hoạt động có tốt haykhông thì trước hết phải nhìn vào tác phong làm việc, tính kỷ luật và tráchnhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động trong tổ chức đó Đạo đứcnghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao đóng vai trò vôcùng quan trọng, bởi phẩm chất của người cán bộ có tốt thì họ mới có thể làmviệc tốt và có tinh thần trách nhiệm với những gì mình làm được Do đó rènluyện tính kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tạicác xã vùng cao lại là điều vô cùng cần thiết nhất là khi điều kiện quản lý cán
bộ tại đây chưa thực sự chặt chẽ
1.3.3.3 Các nhân tố về cơ chế chính sách
Cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị bốn cấp của Nhà nước,
là nơi có nhiều dân cư sinh sống nhất, là cấp gần dân nhất, là hình ảnh thu nhỏcủa xã hội, là vùng nhạy cảm nhất của đời sống xã hội, có tầm quan trọng đặcbiệt đối với sự sống còn, thành bại của chế độ Phần lớn chủ trương, đườnglối, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều hội tụ ở cơ
sở (xã) và được tổ chức thực hiện Trong đó, chính sách về phát triển đội ngũcán bộ, công chức cấp xã được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng Nhữngchính sách khuyến khích, ưu đãi cho các xã vùng cao có tác động rất lớn đếnviệc thu hút và nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ, công chức tới làmviệc tại đây Nếu Đảng và nhà nước có những chính sách thu hút tốt thì các
Trang 20cán bộ, công chức có trình độ và năng lực sẽ sẵn sàng lên làm việc tại các xãvùng cao còn nhiều khó khăn và thách thức Ngược lại thì cán bộ, công chức
sẽ có tâm lý ngại làm việc và công tác tại các xã vùng cao, vùng sâu vùng xa
Do đó có được những chính sách hợp lý và phù hợp đối với đội ngũ cán bộkhoa học kỹ thuật và quản lý là điều vô cùng cần thiết để có thể xây dựngđược một đội ngũ cán bộ, công chức vùng cao mạnh cả về mặt lượng và mặtchất Tính đến thời điểm hiện tại thì nước ta đã có những chính sách nhằmphát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứcnhà nước như: chính sách xóa đói giảm nghèo; chương trình 134 (xây dựng
cơ sở hạ tầng); chương trình 135 đối với các xã đặc biệt khó khăn; chính sách
về đào tạo bồi dưỡng cho công chức cấp xã; chính sách thu hút cán bộ, côngchức lên công tác tại các xã vùng cao
Bên cạnh những chính sách của Đảng và Nhà nước ban hành chung chođội ngũ cán bộ cấp xã cả nước thì mỗi tỉnh thành đều có những chính sách đãingộ riêng của mình nhằm thu hút nhân tài và nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức làm việc tại tỉnh, đặc biệt là các xã vùng cao, vùng sâu vùng
xa Những chính sách của tỉnh và huyện càng tạo điều kiện thuận lợi càng dễthu hút đội ngũ cán bộ, công chức lên làm việc tại các xã nghèo, các xã vùngcao còn nhiều khó khăn Tỉnh nào càng nhiều chính sách trải thảm đỏ để thuhút nhân tài thì càng có những cán bộ xuất sắc và sẵn sàng đến làm việc tạinhững xã vùng cao, là tiền đề để phát triển kinh tế xã hội
Trang 21CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC CHO CÁC XÃ VÙNG CAO TỈNH YÊN
BÁI GIAI ĐOẠN 2000 - 2007
2.1 THỰC TRẠNG VỀ SỐ LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÁC XÃ VÙNG CAO CỦA TỈNH YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 2000 - 2007
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh Yên Bái.
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội
Yên Bái là tỉnh miền núi phía bắc, có vị trí địa lý nằm giữa hai vùngĐông Bắc và Tây Bắc Phía Bắc của tỉnh giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáptỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, phía Tây giáptỉnh Sơn La và Lai Châu Địa hình chia xẻ, nhiều núi cao, vực sâu, sông, suối,giao thông đi lại khó khăn, có thể chia thành 2 vùng lớn là vùng cao (độ caotrung bình so với mặt biển từ 600m trở lên) chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh
và vùng thấp (độ cao trung bình so với mặt biển từ 600m trở xuống) chiếm32,44% diện tích toàn tỉnh Diện tích tự nhiên là 6.822,922 km2 chiếm 2,1%diện tích cả nước, trong đó 76% là đồi núi, 10% là đất nông nghiệp Tỉnh có 9đơn vị hành chính gồm 7 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã với 180 xã, phường,thị trấn, riêng vùng cao có 70 xã và 2 thị trấn, chiếm 67% diện tích tự nhiêntoàn tỉnh
Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cộng thêm địa hình
có nhiều núi cao và bị chia cắt mạnh nên đã tạo ra các tiểu vùng khí hậu khácnhau tạo ra sự đa dạng trong việc phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh.Thêm vào đó tài nguyên khoáng sản của Yên Bái rất đa dạng nhưng đều thuộcloại mỏ nhỏ, chỉ phù hợp với sản xuất công nghiệp địa phương, nhưng cũng làmột lợi thế so với các tỉnh lân cận Tổng số hiện nay tỉnh có 257 mỏ và điểm
mỏ thuộc các nhóm năng lượng, vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp,
Trang 22kim loại và nước khoáng.
Hiện nay, dân số của tỉnh có 72 vạn người, mật độ bình quân 105người/km2, với 30 dân tộc cùng chung sống, dân tộc thiểu số chiếm 50,4%,trong đó dân tộc Tày 18,6%; dân tộc Dao 10,3%; dân tộc Mông 8,9%; dân tộcThái 6,7%; dân tộc Mường 2,7%; dân tộc Nùng 1,9% và các dân tộc khác1,3% Yên Bái là tỉnh có địa hình đa dạng từ đồi núi cho tới đồng bằng cộngthêm nguồn lao động dồi dào giúp cho nền kinh tế của tỉnh có khá nhiều tiềmnăng phát triển cả về tài nguyên và nguồn nhân lực Tuy nhiên, tỉnh có nhiềudân tộc nhưng phần lớn sống rải rác, mật độ dân cư thưa thớt nên công tácxây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng cao gặp nhiều khó khăn, phức tạp; trình độdân trí thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu nên việc áp dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật vào sản xuất và đời sống rất khó khăn, năng suất lao động thấp,kinh tế chậm phát triển, đời sống văn hóa tinh thần khó có điều kiện pháttriển
Riêng đối với đội ngũ cán bộ, công chức xã nói chung đều là người địaphương nên cũng mang đậm nét đặc thù của người vùng cao Trình độ chuyênmôn nghiệp vụ của cán bộ, công chức xã còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất tạicác xã còn nghèo nàn Điều kiện kinh tế xã hội có tác động rất lớn đến hoạtđộng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
2.1.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Yên Bái
Yên Bái trong những năm vừa qua đã có nhiều sự thay đổi trong quatrình phát triển kinh tế xã hội thể hiện qua mức tăng trưởng cao của tỉnh,trong năm 2000 tốc độ tăng trưởng là 8,48%, năm 2005 là 10,15% và đếnnăm 2007 thì con số này là 11,66% Có thể nói tuy điều kiện thời tiết có nhiềubiến đổi, dịch bệnh và lạm phát trong năm qua tăng cao nhưng với sự nỗ lựccủa tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh cùng sự phấn đấu tíchcực của các ngành, địa phương nên đạt mức tăng trưởng vượt chỉ tiêu kế
Trang 23hoạch đề ra là 11,5% Trong đó nông lâm nghiệp 5,71%, công nghiệp xâydựng đạt 14,5%, dịch vụ đạt 15,41%.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, năm 2007 cơcấu kinh tế như sau: Nông lâm nghiệp chiếm 36,58%, công nghiệp xây dựngchiếm 29,48%, dịch vụ chiếm 33,94% Như vậy cơ cấu kinh tế của tỉnh đãchuyển dịch theo đúng hướng giảm dần tỷ trọng của ngành nông lâm nghiệp
và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ Nhờ hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ đề ra trong phát triển kinh tế xã hội nên thu nhập bình quânđầu người đạt 6 triệu đồng, bằng 45,2% so với cả nước, đạt được chỉ tiêu đề
ra và tăng 19% so với năm 2006
Không chỉ vậy, tỉnh còn có những thành công lớn trong công tác giảiquyết vấn đề lao động – việc làm và xóa đói giảm nghèo Tỉnh Yên Bái đã tổchức thực hiện đồng bộ và lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự ánphát triển kinh tế, giải quyết được nhiều việc làm, bình quân mỗi năm giảiquyết được 17.000 – 18.000 người Thêm vào đó tỉnh đã quan tâm và triểnkhai chương trình xuất khẩu lao động đi lao động nước ngoài và ngoài tỉnh
Số lao động ở thành thị giảm từ 5,7% năm 2000 xuống 4% năm 2005 và tỷ lệlao động qua đào tạo đạt 28,7% năm 2007 tăng 1,73% so với năm 2006 Cơcấu lao động đã có hướng chuyển biến tích cực, lao động trong lĩnh vực nônglâm nghiệp giảm còn trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ thì tăng cao Bêncạnh đó, công tác xóa đói giảm nghèo được các cấp, các ngành quan tâm chỉđạo và thực hiện có hiệu quả Toàn tỉnh đã hoàn thành chương trình xóa nhàdột nát cho các hộ nghèo và hộ chính sách, cùng việc thực hiện chương trình
135 có hiệu quả nên tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống chỉ còn dưới 5% (theo chuẩncũ)
Tỉnh còn ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế vùng cao và các xãđặc biệt khó khăn, tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng, định canh định cư,
Trang 24chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi Tỉnh đã thực hiện tốtcác chính sách trợ giá, trợ cước và các mặt hàng chính sách phục vụ sản xuất
và đời sống cho đồng bào vùng cao… Tập trung vào việc khai hoang ruộngruộng nước, thâm canh đưa vào sản xuất lương thực 1 vụ lên 2 vụ; phát triểnsản xuất cây màu như khoai tây, đậu tương, lạc… thực hiện trồng mới chèvùng cao; bảo vệ và trồng mới rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh rừng, pháttriển chăn nuôi đại gia súc, ổn định cuộc sống cho đồng bào vùng cao Sựnghiệp y tế, giáo dục, văn hóa của vùng cao được quan tâm phát triển, trình
độ dân trí được nâng lên, đời sống của nhân dân được cải thiện, số hộ đóinghèo giảm Tuy nhiên, phát triển kinh tế vùng cao còn hạn chế như việc sửdụng các công trình thủy lợi đã đầu tư hiệu quả chưa cao, chất lượng trồngchè vùng cao thấp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển
Tuy nhiên tỉnh vẫn còn những hạn chế như tăng trưởng kinh tế cao,nhưng chưa vững chắc,chưa tương xứng với mức đầu tư và tiềm năng, chưachủ động và sáng tạo trong khai thác thế mạnh của địa phương để tạo ra sựphát triển Việc khai thác tiềm năng thế mạnh, nhất là huy động sức mạnh củacác địa phương, các thành phần kinh tế và trong dân còn hạn chế Tư tưởngbao cấp, trông chờ vào nguồn lực đầu tư từ ngân sách còn nặng nề và phổbiến trong đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh Công tác quản lý Nhà nước vềquy hoạch của các cấp chính quyền, các sở, các ngành còn nhiều hạn chế, chấtlượng chưa cao, công tác rà soát, điều chỉnh quy hoạch chưa kịp thời, tổ chứcthực hiện quy hoạch còn nhiều bất cập Chất lượng một số hoạt động thuộclĩnh vực giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân còn hạn chế, nhất làtrong việc thực hiện các chương trình phổ cập trung học cơ sở, chuẩn hóa y tế
xã Chất lượng làng, bản văn hóa còn thấp kém, tội phạm về ma túy, vi phạm
an toàn giao thong vẫn diễn ra, chưa có chiều hướng thuyên giảm Bên cạnh
đó công tác cải cách hành chính tiến bộ chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu
Trang 25của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa Công tác quản lý nhànước trên một số lĩnh vực còn yếu kém, nhất là trong quản lý quy hoạch đấtđai, quản lý đô thị, quản lý môi trường và bảo vệ rừng Đội ngũ cán bộ, côngchức nhất là ở cơ sở còn nhiều hạn chế, phẩm chất, tinh thần trách nhiệm của
bộ phận viên chức, công chức nhà nước còn gây phiền hà, khó khăn, chậm trễtrong việc giải quyết các yêu cầu của dân
Chính vì những hạn chế đó nên việc phát triển đội ngũ cán bộ, côngchức cho các xã vùng cao còn gặp không ít trở ngại và khó khăn, để có thểthực hiện tốt được việc nâng cao chất lượng cho đội ngũ này cần phải có sự
nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành, các xã vùng cao trong tỉnh cùng với sựquan tâm thích đáng của Đảng và Nhà nước
2.1.2 Thực trạng về số lượng đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 - 2007
Tuy số lượng dân tại các xã vùng cao của tỉnh Yên Bái không lớnnhưng vẫn cần phải có một đội ngũ cán bộ, công chức đảm bảo cả về số lượng
và chất lượng Xét riêng về số lượng cán bộ, công chức các xã vùng cao hiệnnay của tỉnh thì vẫn còn nhiều bất cập, chưa hoàn toàn phù hợp được với yêucầu của xã vùng cao, cần phải có những điều chỉnh cụ thể
Để đánh giá được số lượng đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùngcao của tỉnh Yên Bái cần dựa vào quy mô và tốc độ tăng của đội ngũ này, sosánh số lượng cán bộ, công chức của riêng các xã vùng cao với tổng số cán
bộ, công chức cấp xã trong toàn tỉnh thông qua bảng số liệu sau:
Trang 26Bảng 1: Quy mô và tốc độ tăng của đội ngũ cán bộ, công chức các xã
vùng cao tỉnh Yên Bái
Năm
Quy mô(người) Tốc độ tăng (%) %(cán bộ, công chức
xã vùng cao)/ tổngcán bộ, công chức xã
bộ chuyên trách là 26,98%, trung bình mỗi năm là 5,4%, còn đối với đội ngũcông chức thì tăng tới 72,69%, trung bình mỗi năm tăng 14,5% Có thể nóiquy mô của đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao của tỉnh có sự thayđổi đáng kể, có bước ngoặt lớn trong công tác tăng cường và bổ sung thêm sốlượng cho đội ngũ này Tuy nhiên trong vài năm gần đây tốc độ tăng khôngđáng kể đó là do đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã dần được ổn định vềquy mô Cụ thể như tốc độ tăng của năm 2007 so với năm 2005 là 1,49% đốivới cán bộ chuyên trách và 3,17% đối với công chức, như vậy so với tốc độtăng của những năm trước thì quy mô cán bộ, công chức các xã vùng cao củatỉnh vẫn tăng nhưng không còn tăng nhiều như trước nữa mà đã dần đi vào ổnđịnh hơn
Bên cạnh đó, số lượng cán bộ, công chức của các xã vùng cao so vớitổng số cán bộ, công chức cấp xã của toàn tỉnh cũng gia tăng Điều này chothấy tỉnh đã có sự quan tâm chú trọng tới đội ngũ cán bộ, công chức ở các xã
Trang 27vùng cao, không chỉ nâng cao chất lượng cho đội ngũ này mà còn tăng cườngthêm những cán bộ, công chức có trình độ lên làm việc tại vùng cao, bên cạnh
đó còn thu hút được những người có năng lực từ địa phương khác đến côngtác
2.2 THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÁC
XÃ VÙNG CAO TỈNH YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 2000 – 2007
Để đánh giá được chính xác về cán bộ, công chức cấp xã nhất là các xãvùng cao thì không thể chỉ xem xét về mặt quy mô, số lượng mà còn phảinhận định, đánh giá thông qua chất lượng của đội ngũ này Các tiêu chí đánhgiá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đã được trình bày ở chương 1, baogồm: đánh giá về trình độ học vấn; trình độ chuyên môn; trình độ quản lý nhànước; lý luận chính trị; trình độ tin học và ngoại ngữ; cơ cấu độ tuổi, giới tính,
số cán bộ là người dân tộc và kỹ năng, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ, côngchức xã vùng cao Để đánh giá được chất lượng cán bộ, công chức các xãvùng cao của tỉnh Yên Bái ta xem xét cụ thể như sau:
Trang 28Bảng 2a: Trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ chuyên trách các xã vùng
cao tỉnh Yên Bái năm 2005
Chức danh
Sốlượng(người)
Tỷtrọng(%)
Sốlượng(người)
Tỷtrọng(%)
Sốlượng(người)
Tỷtrọng(%)
2 CT hội cựu chiến binh 11 18,33 38 63,34 11 18,33
4 CT hội liên hiệp phụ nữ 10 16,95 37 62,71 12 20,04
5 Bí thư đoàn thanh niên 4 6,67 25 41,67 31 51,66
Nguồn: Thống kê tổng hợp số lượng, chất lượng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái
Cán bộ chuyên trách các xã vùng cao của tỉnh có trình độ học vấn phầnlớn là tốt nghiệp cấp trung học cơ sở, chiếm tới hơn một nửa, như vậy có thểnói cán bộ chuyên trách chỉ mới đạt đến tiêu chuẩn của nhà nước, tuy nhiênvẫn còn một số người chỉ tốt nghiệp tiểu học cần được cho đi học các lớp bổtúc để nâng cao thêm kiến thức Riêng đối với cán bộ chuyên trách làm việctại Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân của các xã vùng cao qua bảng sốliệu ta thấy phần lớn trình độ học vấn của đội ngũ này mới đạt chuẩn và vẫn
Trang 29còn có những người có trình độ dưới mức đó, mà đây lại là đội ngũ nằm trongban lãnh đạo của xã, là những người đứng đầu có vai trò quan trọng trongviệc đưa xã phát triển theo đúng hướng đã đề ra Cần phải có những giải pháp
cụ thể để nâng cao chất lượng cho những cán bộ lãnh đạo như Chủ tịch, Phóchủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, vìnhững người đứng đầu có trình độ cao thì mới có thể lãnh đạo và quản lý cấpdưới có hiệu quả, nhân dân mới nể trọng Bên cạnh đó đối với các cơ quanđoàn thể khác như hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội nông dân… xét vềtrình độ học vấn vẫn còn khá nhiều người chưa đạt chuẩn, mà đây là đội ngũgóp phần tích cực trong việc phát triển kinh tế, xã hội của toàn xã
Bảng 2b: Trình độ học vấn của đội ngũ công chức các xã vùng cao tỉnh
Yên Bái năm 2005
Chức danh
Sốlượng(người)
Tỷ trọng(%)
Sốlượng(người)
Tỷ trọng(%)
Sốlượng(người)
Tỷ trọng(%)
Nguồn: Thống kê tổng hợp số lượng, chất lượng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái
Đối với cán bộ chuyên trách thì trình độ học vấn chủ yếu tập trung là
Trang 30cấp trung học cơ sở, nhưng đối với công chức xã vùng cao trình độ học vấncao hơn, tập trung chủ yếu là cấp trung học phổ thông Điều này hoàn toànhợp lý vì đối với công chức là những người làm việc trong những lĩnh vực cụthể của xã, đa phần để có được trình độ chuyên môn thì cũng phải có đượctrình độ học vấn cao, đạt từ mức tiêu chuẩn trở lên, bên cạnh đó đội ngũ nàykhi tham gia vào công tác tại các cơ quan, đoàn thể nhà nước đều phải thituyển hoặc xét tuyển nên đã sàng lọc được những người có trình độ và khảnăng Còn đối với cán bộ chuyên trách thì có được các chức danh là do dânbầu cử, tín nhiệm và được điều động từ địa phương khác về vì vậy có thể cònnhiều hạn chế trong việc đánh giá trình độ và năng lực của mỗi người
2.2.2 Về trình độ chuyên môn
Trình độ chuyên môn đóng vai trò rất quan trọng trong công việc,nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao Cán bộ, công chứcphải có trình độ chuyên môn, phải thực sự am hiểu về lĩnh vực mà mình đanglàm công việc mới thực sự có hiệu quả Để đánh giá về trình độ chuyên môncủa đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao tỉnh Yên Bái ta có số liệu củabảng sau:
Bảng 3: Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng
cao của tỉnh Yên Bái
Năm
Chưa qua đào
tạo Trình độ sơ cấp
Trung cấp, caođẳng
Đại học, trên đại
họcSố
lượng
(người)
Tỷtrọng(%)
Sốlượng(người)
Tỷtrọng(%)
Sốlượng(người)
Tỷtrọng(%)
Sốlượng(người)
Tỷtrọng(%)
Trang 31Số lượng cán bộ, công chức hiện đang làm việc tại các xã vùng cao củatỉnh Yên Bái qua bảng số liệu trên chủ yếu là chưa được qua đào tạo nhưtrong năm 2000 số cán bộ, công chức chưa qua đào tạo chiếm đến 72,54%,đến năm 2005 giảm xuống còn 63,07% và chỉ còn 57.76% vào năm 2007.Tuy nhiên con số này vẫn chiếm hơn nửa trong tổng số cán bộ, công chức các
xã vùng cao của tỉnh cho thấy trình độ chuyên môn chưa thực sự được quantâm của các cơ quan của tỉnh mà còn thiếu sự coi trọng từ chính bản thânnhững người cán bộ, công chức Trong quá trình tuyển chọn tỉnh vẫn chưađánh giá và lựa chọn những người có năng lực và trình độ, mà vẫn còn hiệntượng tuyển trước rồi đào tạo sau
Nhìn chung thì trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức các xã vùngcao của tỉnh có xu hướng tăng dần số lượng những người có trình độ sơcấp,trung cấp, cao đẳng và đại học, trên đại học, giảm dần số lượng nhữngngười chưa qua đào tạo Đây là xu hướng tích cực thúc đẩy sự phát triển củađội ngũ cán bộ, công chức xã vùng cao, làm tiền đề cho việc phát triển kinh tế
xã hội của xã từ đó phát triển kinh tế xã hội chung trong toàn tỉnh
2.2.3 Về trình độ quản lý, lý luận chính trị và trình độ tin học, ngoại ngữ
Bên cạnh kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ mà mỗi người cán bộ, côngchức cần có thì trình độ quản lý, lý luận chính trị và trình độ tin học, ngoạingữ lại góp phần không nhỏ giúp cán bộ, công chức các xã vùng cao, nhất làvới cán bộ quản lý tăng cường khả năng hoạt động, tổ chức trong việc quản lýnhân dân, tu dưỡng đạo đức và có tư tưởng chính trị vững vàng
Sử dụng kinh nghiệm thực tế và cảm nhận của bản thân để điều hành,quản lý thì chưa đủ để trở thành một người lãnh đạo tốt, mà cần phải có mộtnền tảng vững vàng Để có một nền tảng vững vàng thì cần phải được đào tạo,bồi dưỡng một cách bài bản và có cơ sở lý luận Chính vì vậy trình độ quản lýnhà nước sẽ giúp đánh giá được chính xác khả năng quản lý của đội ngũ cán
Trang 32bộ, công chức các xã vùng cao của tỉnh Yên Bái, thông qua bảng số liệu sau:
Bảng 4: Trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ, công chức các xã
vùng cao tỉnh Yên Bái
Sốlượng(người)
Tỷtrọng(%)
Sốlượng(người)
Tỷtrọng(%)
Sốlượng(người)
Tỷtrọng(%)
Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Yên Bái
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy phần lớn đội ngũ cán bộ, công chứccác xã vùng cao của tỉnh Yên Bái có trình độ quản lý nhà nước có trình độtrung cấp về quản lý nhà nước,chiếm hơn nửa số cán bộ, công chức và sự thayđổi qua các năm là rất nhỏ, không đáng kể như năm 2000 tỷ trọng cán bộ,công chức có trình độ trung cấp về quản lý nhà nước chiếm 56,25%, năm
2005 là 56,63% và đến năm 2007 là 59,5 Bên cạnh đó số lượng cán bộ, côngchức chỉ qua bồi dưỡng cũng chiếm phần không nhỏ, nhưng cũng đã giảmđáng kể từ 43,75% năm 2000 xuống chỉ còn 29,45% năm 2007, điều này cũngthể hiện sự nỗ lực không ngừng trong công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ,công chức về quản lý nhà nước trong thời gian qua của tỉnh Yên Bái Tuynhiên vẫn cần phải được chú trọng hơn nữa vì số lượng cán bộ, công chức cótrình độ cử nhân thì chỉ đếm trên đầu ngón tay
Để có thể quản lý, tổ chức bộ máy chính quyền cấp cơ sở tốt thì khôngchỉ có trình độ quản lý nhà nước là đủ mà cần phải có cả trình độ lý luậnchính trị vững vàng, sắc bén để lãnh đạo xã đi theo đúng chủ trương và đườnglối của Đảng và Nhà nước Đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao củatỉnh Yên Bái hầu hết đều được đưa đi đào tạo về lý luận chính trị từ trình độ
sơ cấp cho đến cao cấp thể hiện thông qua bảng số liệu sau:
Trang 33Bảng 5: Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức các xã
vùng cao tỉnh Yên Bái
Số lượng(người)
Tỷ trọng(%)
Số lượng(người)
Tỷ trọng(%)
Số lượng(người)
Tỷ trọng(%)
Nguồn: Báo cáo chất lượng cán bộ, công chức xã của Sở Nội vụ tỉnh Yên Bái
Đội ngũ cán bộ, công chức ở các xã vùng cao của tỉnh Yên Bái có trình
độ lý luận chính trị chủ yếu ở mức trung cấp nhưng lại có xu hướng giảm dần:năm 2000 là 82,83%, đến năm 2007 chỉ có 78,68% Trong khi đó số lượngngười ở trình độ cao cấp về lý luận chính trị lại rất ít, mà gia tăng cũng khôngđáng kể, còn đối với trình độ sơ cấp lại có xu hướng gia tăng từ 16,41% năm
2000 lên 20,18% năm 2007 Có hiện tượng này xảy ra vì trong những nămgần đây quy mô của đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao của tỉnh tăngmạnh, trong khi đó công tác đào tạo về lý luận chính trị thì chưa có nhiềubước tiến mới, nên việc gia tăng số lượng người có trình độ sơ cấp là dễ hiểu
Để đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có tư tưởng chính trị vững vàng, đi theođúng đường lối của Đảng cần phải nâng cao trình độ lý luận chính trị bằngcách thường xuyên cho cán bộ đi bồi dưỡng và học tập về chính trị
Bên cạnh những kiến thức đóng vai trò chủ yếu trong công tác quản lý,lãnh đạo, tổ chức thực hiện những công việc của xã như trình độ chuyên môn,
lý luận chính trị, quản lý nhà nước thì trình độ tin học và ngoại ngữ đối vớicán bộ, công chức cấp xã trong điều kiện hội nhập như hiện nay là vô cùngcần thiết Để có thể nắm kịp với sự phát triển của xã hội hiện nay thì mỗi cán
bộ, công chức đều nên biết ngoại ngữ, am hiểu về tin học để phục vụ chocông việc ngày càng tốt hơn Tuy nhiên, đối với các xã vùng cao của tỉnh YênBái thì dường như quan điểm này chưa thực sự được đánh giá cao, vì thế chất
Trang 34lượng cán bộ, công chức về tin học và ngoại ngữ còn thấp kém, thể hiện trongbảng sau:
Bảng 6: Trình độ ngoại ngữ và tin học của đội ngũ cán bộ, công chức các
xã vùng cao tỉnh Yên Bái
Năm Trình độ Ngoại ngữ Trình độ Tin học
Nguồn: tổng hợp thống kê của sở nội vụ tỉnh Yên Bái
Ngày nay khi thời đại công nghệ ngày càng phát triển và đất nước đangtrong thời kỳ hội nhập thì yêu cầu đối với cán bộ, công chức ngày càng nângcao, nhất là đối với tin học và ngoại ngữ Qua bảng số liệu trên ta thấy độingũ cán bộ, công chức các xã vùng cao của tỉnh Yên Bái có trình độ tin học
và ngoại ngữ rất thấp, hay có thể nói là không bắt kịp được với sự phát triểncủa tỉnh và cả nước Trong 7 năm mà số lượng cán bộ, công chức có bằng tinhọc và ngoại ngữ gần như không thay đổi đáng kể, con số đến thời điểm hiệntại mới có 3 người có bằng ngoại ngữ và 5 người có bằng tin học trên tổng số
70 xã vùng cao Như vậy ta có thể thấy khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật
và đổi mới của cán bộ, công chức các xã vùng cao còn rất yếu Để có thể nângcao trình độ tin học và ngoại ngữ cho đội ngũ này cần phải có sự quan tâmthích đáng của Đảng và Nhà nước, bên cạnh đó chính những cán bộ, côngchức cũng phải chủ động học hỏi, tiếp nhận thêm những kiến thức mới
Trang 352.2.4 Về cơ cấu của đội ngũ cán bộ, công chức xã vùng cao tỉnh Yên Bái
Đánh giá chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùngcao của tỉnh Yên Bái cần phải xem xét về cơ cấu đội ngũ, trong đó có cơ cấu
về độ tuổi và giới tính, số lượng cán bộ là người dân tộc
Bảng 7: Cơ cấu về độ tuổi đội ngũ cán bộ, công chức cho các xã vùng cao
Sốlượng(người
Tỷtrọng(%)
Sốlượng(người
Tỷtrọng(%)
Sốlượng(người
Tỷtrọng(%)
Nguồn: báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái
Đối với cơ cấu về độ tuổi cho biết đội ngũ cán bộ, công chức là đội ngũtrẻ hay già, từ đó cho thấy chất lượng làm việc có nhiều kinh nghiệm hay khảnăng sáng tạo, năng động cao hay không Qua bảng số liệu về cơ cấu độ tuổicủa đội ngũ cán bộ, công chức các xã vùng cao của tỉnh Yên Bái ta thấy trongnăm 2000 thì đội ngũ cán bộ trẻ dưới 35 tuổi chỉ chiếm một phần nhỏ là22,32%, nhưng đến năm 2005 và năm 2007 thì số lượng cán bộ, công chức trẻ
đã tăng lên đáng kể đến 30,84% và 31,74% giúp trẻ hóa đội ngũ, tăng cườngkhả năng sáng tạo trong công việc, tăng cả sự năng động và nhiệt tình từnhững người trẻ tuổi, giảm thiểu tình trạng thụ động, ỷ lại, giảm sức ì của độingũ những cán bộ, công chức già Nguyên nhân chính là năm 2007 tỉnh đãtăng cường thêm đội ngũ cán bộ, công chức trẻ và tinh giảm biên chế chonhững cán bộ, công chức đã có tuổi, không còn khả năng làm việc hay làmviệc không còn hiệu quả Chính vì vậy bảng số liệu về cơ cấu độ tuổi có xuhướng giảm số lượng những cán bộ cao tuổi và tăng số lượng đội ngũ cán bộtrẻ tuổi