Đây là một khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp ngữ văn. khóa luận này cung cấp đầy đủ thông tin về cách dạy bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong SGK văn 11, nó giúp ích rất lớn cho mỗi giáo viên Văn.1. Lí do chọn đề tài 1.1. Tích cực là một quan điểm giáo dục hiện đại mang tính thời sự Luật Giáo dục công bố năm 2005, Điều 28.2 có ghi “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Đổi mới giáo dục đòi hỏi nhà trường không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức đã có mà còn phải hình thành, bồi dưỡng cho học sinh tính năng động, óc tư duy sáng tạo và kỹ năng thực hành. Bởi vậy, dạy học theo quan điểm tích cực là nhằm đổi mới giáo dục, đáp ứng yêu cầu xã hội. Nhờ có quan điểm dạy học này, nền giáo dục sẽ có sự chuyển đổi từ dạy theo lối thuộc lòng những tri thức “uyên thâm”, “thông kim bác cổ”, hiểu biết “thiên kinh vạn quyển” sang dạy để hình thành năng lực chuyên môn, năng lực giải quyết vấn đề, đưa ra những quyết định sáng tạo, mang lại hiệu quả cao, thích ứng với đời sống xã hội. 1.2. Vận dụng quan điểm tích cực vào hoạt động dạy học ở trường phổ thông còn nhiều hạn chế Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh đã được đặt ra từ những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX.Trong những năm gần đây, ngành Giáo dục đã có nhiều đổi mới về chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học. Tuy nhiên, việc dạy và học trong nhiều trường phổ thông vẫn còn chịu tác động nặng nề bởi mục tiêu thi cử, “chạy theo thành tích”, học để thi, dạy để thi. Việc học chủ yếu vẫn là truyền thụ một chiều, thông báo kiến thức mang tính đồng loạt, thiên về lí thuyết, xa rời thực tiễn, tập trung ôn luyện kiến thức đáp ứng kiểm tra thi cử, chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho người học. 1.3. Dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân là một nội dung kiến thức mới, đòi hỏi phải tìm nhiều hình thức dạy học nhằm đạt hiệu quả Bài học Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân là một nội dung kiến thức mới đối với học sinh. Qua bài học, hướng tới mục tiêu là giúp các em nắm được biểu hiện của cái chung trong ngôn ngữ của xã hội và cái riêng trong lời nói cá nhân, mối tương quan giữa chúng; nâng cao năng lực lĩnh hội những nét riêng trong ngôn ngữ của cá nhân, đồng thời rèn luyện để hình thành và nâng cao năng lực sáng tạo của cá nhân; có ý thức tôn trọng những quy tắc ngôn ngữ chung của xã hội và góp phần vào sự sáng tạo, phát triển ngôn ngữ của xã hội. Tuy nhiên, với một nội dung kiến thức mới, việc tìm ra hình thức dạy học là cần thiết. Bởi đó là cơ sở để việc dạy học bài này đạt hiệu quả cao nhất. Với những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 theo quan điểm tích cực. 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Lịch sử nghiên cứu quan điểm tích cực trong dạy học Cho đến nay, có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học. Trong bài Bàn về phương pháp giáo dục tích cực, GS. Phạm Viết Vượng nhấn mạnh “Phải lấy người học làm trung tâm như một quan điểm giáo dục đào tạo, cốt lõi của nó là vì học sinh, bởi học sinh” 20, 22 (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số tháng 81995).Trong bài Đổi mới phương pháp tích cực hoá hoạt động của học sinh, tác giả Lê A cũng nhấn mạnh “Tư tưởng dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm cần được hiểu như một quan điểm, một cách tiếp cận quá trình dạy học. Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm không có nghĩa là chúng ta bỏ đi những phương pháp dạy học truyền thống mà chúng ta cần phát triển nó, vận dụng nó trên quan điểm mới này” 2, tr.37.Trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 10 trung học phổ thông môn Ngữ văn, sau khi đưa ra những vấn đề chung về đổi mới giáo dục phổ thông, cuốn sách đã đi vào những hướng dẫn về đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển tính tích cực, chủ động của học sinh. Cũng bàn về quan điểm tích cực, tác giả Đỗ Ngọc Thống trong cuốn Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa trung học phổ thông đã nhấn mạnh: “Phương pháp dạy học mới đòi hỏi phải phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong khi học tập ở lớp, ở nhà và khi giải các bài tập, làm các bài văn. Cần học tập các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học cụ thể nhằm phát huy tính tích cực của học sinh mà nhiều nước trên thế giới đã vận dụng có hiệu quả... Phải phát huy tối đa tính tích cực, tính sáng tạo của học sinh chủ thể học tập ở tất cả mọi khâu từ chuẩn bị bài, sưu tầm tư liệu, phát biểu trong tổ, nhóm, tự đánh giá và đánh giá bạn... tính tích cực trong học tập Ngữ văn dễ thể hiện thành bề nổi của phong trào song cần phải chú ý cả bề sâu” 134. Theo đó, tác giả chỉ ra bảy đặc điểm và yêu cầu của việc dạy học theo hướng tích cực. Có thể nói, những nhận xét trên đã nêu ra những chỉ dẫn cụ thể về quan điểm dạy học này. Đó là cơ sở để giáo viên có thể vận dụng vào thực tế giảng dạy cho tất cả các hợp phần của môn Ngữ văn ở THPT.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2013
Trang 3QUY ƯỚC VIẾT TẮT
NXB: Nhà xuất bản
ThS: Thạc sĩ
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học bài Từ ngôn ngữ
chung đến lời nói cá nhân theo quan điểm tích cực 6
1.1.1 Tính tích cực và tính tích cực trong học tập 6 1.1.2 Đặc điểm của phương pháp dạy học tích cực 7 1.1.3 Các mức độ tích cực và các yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực 8 1.1.4 Ý nghĩa của quan điểm tích cực trong dạy học tiếng Việt 10
1.2.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân 14
Chương 2 Dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong SGK Ngữ văn 11 theo quan điểm tích cực 222.1 Mục đích của việc dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông 222.2 Những yêu cầu khi vận dụng quan điểm tích cực vào dạy họctiếng Việt
22
2.3 Vận dụng quan điểm tích cực khi dạy học bài Từ ngôn ngữ chung
2.3.1 Mục đích của việc dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói
2.3.2 Những cơ sở định hướng vận dụng quan điểm tích cực vào
Trang 5dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân 24
2.4 Những hoạt động dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá
3.5.1 Cách thức tiến hành thực nghiệm 37 3.5.2 Giảng dạy bằng giáo án thực nghiệm 37 3.5.3 Kiểm tra đánh giá hiệu quả các biện pháp đề xuất cuối đợt
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tích cực là một quan điểm giáo dục hiện đại mang tính thời sự
Luật Giáo dục công bố năm 2005, Điều 28.2 có ghi “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đổi mới giáo dục đòi hỏi nhà trường không chỉ trang bị cho học sinh
những kiến thức đã có mà còn phải hình thành, bồi dưỡng cho học sinh tínhnăng động, óc tư duy sáng tạo và kỹ năng thực hành
Bởi vậy, dạy học theo quan điểm tích cực là nhằm đổi mới giáo dục,đáp ứng yêu cầu xã hội Nhờ có quan điểm dạy học này, nền giáo dục sẽ có sựchuyển đổi từ dạy theo lối thuộc lòng những tri thức “uyên thâm”, “thông kimbác cổ”, hiểu biết “thiên kinh vạn quyển” sang dạy để hình thành năng lựcchuyên môn, năng lực giải quyết vấn đề, đưa ra những quyết định sáng tạo,mang lại hiệu quả cao, thích ứng với đời sống xã hội
1.2 Vận dụng quan điểm tích cực vào hoạt động dạy học ở trường phổ thông còn nhiều hạn chế
Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh đã được đặt ra từ nhữngnăm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX
Trong những năm gần đây, ngành Giáo dục đã có nhiều đổi mới vềchương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học Tuy nhiên, việc dạy vàhọc trong nhiều trường phổ thông vẫn còn chịu tác động nặng nề bởi mục tiêuthi cử, “chạy theo thành tích”, học để thi, dạy để thi Việc học chủ yếu vẫn làtruyền thụ một chiều, thông báo kiến thức mang tính đồng loạt, thiên về lí
Trang 7thuyết, xa rời thực tiễn, tập trung ôn luyện kiến thức đáp ứng kiểm tra thi cử,chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiếnthức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho người học.
1.3 Dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân là một nội dung kiến thức mới, đòi hỏi phải tìm nhiều hình thức dạy học nhằm đạt hiệu quả
Bài học Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân là một nội dung kiến
thức mới đối với học sinh Qua bài học, hướng tới mục tiêu là giúp các emnắm được biểu hiện của cái chung trong ngôn ngữ của xã hội và cái riêngtrong lời nói cá nhân, mối tương quan giữa chúng; nâng cao năng lực lĩnh hộinhững nét riêng trong ngôn ngữ của cá nhân, đồng thời rèn luyện để hìnhthành và nâng cao năng lực sáng tạo của cá nhân; có ý thức tôn trọng nhữngquy tắc ngôn ngữ chung của xã hội và góp phần vào sự sáng tạo, phát triểnngôn ngữ của xã hội Tuy nhiên, với một nội dung kiến thức mới, việc tìm rahình thức dạy học là cần thiết Bởi đó là cơ sở để việc dạy học bài này đạthiệu quả cao nhất
Với những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Dạy học bài
"
Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân" trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 theo quan điểm tích cực
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu quan điểm tích cực trong dạy học
Cho đến nay, có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về vấn đề pháthuy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học
Trong bài Bàn về phương pháp giáo dục tích cực, GS Phạm Viết Vượng nhấn mạnh “Phải lấy người học làm trung tâm như một quan điểm giáo dục đào tạo, cốt lõi của nó là vì học sinh, bởi học sinh” [20, 22] (Tạp chí Nghiên
cứu giáo dục số tháng 8/1995)
Trong bài Đổi mới phương pháp tích cực hoá hoạt động của học sinh, tác giả Lê A cũng nhấn mạnh “Tư tưởng dạy học tích cực lấy người học làm
Trang 8trung tâm cần được hiểu như một quan điểm, một cách tiếp cận quá trình dạy học Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm không có nghĩa là chúng ta bỏ đi những phương pháp dạy học truyền thống mà chúng ta cần phát triển nó, vận dụng nó trên quan điểm mới này” [2, tr.37].
Trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 10 trung học phổ thông môn Ngữ văn, sau khi đưa ra
những vấn đề chung về đổi mới giáo dục phổ thông, cuốn sách đã đi vàonhững hướng dẫn về đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng pháttriển tính tích cực, chủ động của học sinh
Cũng bàn về quan điểm tích cực, tác giả Đỗ Ngọc Thống trong cuốn
Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa trung học phổ thông đã nhấn mạnh:
“Phương pháp dạy học mới đòi hỏi phải phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong khi học tập ở lớp, ở nhà và khi giải các bài tập, làm các bài văn Cần học tập các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học cụ thể nhằm phát huy tính tích cực của học sinh mà nhiều nước trên thế giới đã vận dụng có hiệu quả Phải phát huy tối đa tính tích cực, tính sáng tạo của học sinh - chủ thể học tập ở tất cả mọi khâu từ chuẩn bị bài, sưu tầm tư liệu, phát biểu trong tổ, nhóm, tự đánh giá và đánh giá bạn tính tích cực trong học tập Ngữ văn dễ thể hiện thành bề nổi của phong trào song cần phải chú ý cả
bề sâu” [134] Theo đó, tác giả chỉ ra bảy đặc điểm và yêu cầu của việc dạy
học theo hướng tích cực
Có thể nói, những nhận xét trên đã nêu ra những chỉ dẫn cụ thể vềquan điểm dạy học này Đó là cơ sở để giáo viên có thể vận dụng vào thực tếgiảng dạy cho tất cả các hợp phần của môn Ngữ văn ở THPT
2.2 Lịch sử nghiên cứu việc dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời
nói cá nhân theo quan điểm tích cực
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu,nhiều bài viết đề cập đến dạy học theo quan điểm tích cực Tuy nhiên việcvận dụng quan điểm ấy vào từng bài học cụ thể dường như chưa được chú
Trang 9trọng Không là ngoại lệ, dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 theo quan điểm tích cực, cũng chưa đượcquan tâm Vấn đề này được đề cập tới trong SGK Ngữ văn 11 (tập 1), SGV,tài liệu bồi dưỡng giáo viên nhưng việc vận dụng như thế nào thì các côngtrình trên chưa trình bày cụ thể
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm ra một hướng dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân đạt hiệu quả, từ đó có thể vận dụng vào
các bài dạy Tiếng Việt theo quan điểm này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu có những nhiệm vụ sau:
Hệ thống hoá các tài liệu nghiên cứu để xác định cơ sở lí luận và cơ sởthực tiễn của đề tài
Áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của
học sinh vào dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong sách
giáo khoa Ngữ văn 11
Tổ chức thực nghiệm và rút ra kết luận khoa học
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổ chức dạy học theo hướng tíchcực, chủ động của học sinh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này được triển khai trong phạm vi bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong sách giáo khoa Ngữ văn 11.
5 Phương pháp nghiên cứu
Triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
Trang 105.1 Phương pháp thống kê
Phương pháp này được dùng trong việc phân loại và phân tích kết quảkhảo sát thực trạng của học sinh trước khi tiến hành thực nghiệm, phân tíchkết quả thực nghiệm
Phương pháp này sử dụng để kiểm chứng dưới hình thức thiết kế giáo
án và tổ chức thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của thiết kế, từ đó rút
ra những kết luận và điều chỉnh thiết kế
6 Đóng góp của khoá luận
Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm một hình thức dạy học phù hợp với
thực tế dạy học Ngữ văn ở THPT và dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 đạt hiệu quả cao nhất
7 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung đượckhai triển thành ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 theo quan điểm tích cực.
Chương 2 Dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong
sách giáo khoa Ngữ văn 11 theo quan điểm tích cực
Chương 3 Thực nghiệm
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC
BÀI TỪ NGÔN NGỮ CHUNG ĐẾN LỜI NÓI CÁ NHÂN
TRONG SGK NGỮ VĂN 11 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH CỰC
1.1 Quan điểm tích cực trong dạy học
1.1.1 Tính tích cực và tính tích cực trong học tập
Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội Vìthế, hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếucủa giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động thích ứng và gópphần phát triển cộng đồng Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của
sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục
Tính tích cực học tập được biểu hiện cụ thể ở hoạt động nhận thức, đặctrưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trìnhchiếm lĩnh tri thức Đó là những cơ sở cần thiết nhằm làm chuyển biến vị trícủa người học từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm hiểu tri thức, đểnâng cao hiệu quả học tập
Tính tích cực học tập liên quan trước hết tới động cơ học tập Động cơđúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác làhai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cực học tập có quan hệ chặtchẽ với tư duy độc lập Suy nghĩ, tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo.Ngược lại học tập độc lập tích cực, sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác hứng thú
và nuôi dưỡng động cơ học tập Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấuhiệu như: Tập trung chú ý vào nội dung bài học, ghi chép đầy đủ, có ý thức tựgiác tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài, có sáng tạo trong quá trình họctập, trao đổi thảo luận về vấn đề giáo viên đưa ra, hiểu bài và biết vận dụngnhững tri thức thu được vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn
Trang 121.1.2 Đặc điểm của phương pháp dạy học tích cực
Về bản chất phương pháp dạy học tích cực hướng đến việc hoạt độnghoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vàophát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huytính tích cực của người dạy Theo đó, nó có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, dạy học tích cực phải thông qua tổ chức hoạt động của họcsinh Trong dạy học tích cực, học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy,vừa là chủ thể của hoạt động học do giáo viên tổ chức và chỉ đạo Nhờ đó,học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức chứ không phải là tiếp thu thụ độngnhững kiến thức một chiều từ phía giáo viên Học sinh trực tiếp quan sát, thảoluận nội dung học tập và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống giúp các em hìnhthành nên kỹ năng, kỹ xảo
Hơn nữa, dạy học tích cực đòi hỏi giáo viên phải tăng cường hoạt độnghọc tập của mỗi cá nhân, phối hợp với học tập hợp tác Dưới sự hướng dẫncủa giáo viên, học sinh được chủ động lựa chọn vấn đề mà mình quan tâm,ham thích, tự lực tiến hành nghiên cứu, giải quyết vấn đề và trình bày kết quả
Đó là đặc trưng “lấy học sinh làm trung tâm”
Vì thế, dạy và học tích cực chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú củahọc sinh, nhu cầu và lợi ích của xã hội Trong quá trình dạy học, giáo viênphải chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu, lợi ích của
xã hội nhằm phát huy cao độ tính tích cực, tự lực, rèn luyện cho học sinh cáchlàm việc độc lập, phát triển tư duy sáng tạo, kỹ năng tổ chức công việc, trìnhbày kết quả
Mặt khác, khi dạy học, giáo viên cần quan tâm đến sự phân hoá về trình
độ nhận thức của mỗi học sinh Trên cơ sở đó xây dựng các nhiệm vụ học tập
để người học có điều kiện bộc lộ, phát triển khả năng của mình Bên cạnh đócần phối hợp với học tập hợp tác, đặt các em vào các mối quan hệ thầy trò, trò
Trang 13trò Qua đó các em được học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời hình thành
và phát triển năng lực của bản thân
Khi tổ chức các hoạt động dạy và học, giáo viên cũng phải chú trọngtới việc hướng dẫn tìm tòi Qua đó, học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn
đề và nhấn mạnh rằng học sinh có thể học được phương pháp học thông quahoạt động Căn cứ vào nhận thức của các em, người dạy có thể hướng dẫnhoặc điều chỉnh những nhận thức chưa đúng để các em tiếp tục phát huy khảnăng tìm tòi của bản thân, nhằm đạt kết quả cao trong học tập
Dạy học tích cực đòi hỏi kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá củatrò Trong dạy học tích cực, giáo viên cần hướng dẫn học sinh phát triển kỹnăng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau Đây là hoạt động cần thiết cho sựthành đạt trong cuộc sống mà nhà trường trang bị cho học sinh Từ đó, để tạođược những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội Ngoàiviệc kiểm tra đánh giá kiến thức ở học sinh thì giáo viên cần khuyến khích tríthông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống trong cuộc sống
1.1.3 Các mức độ tích cực và các yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực
1.1.3.1 Tính tích cực học tập của học sinh được thể hiện ở ba cấp độ
Bắt chước: Nghĩa là học sinh cố gắng thực hiện theo những mẫu hành
động của thầy, của bạn Đây là cấp độ thấp nhất, là biểu hiện đầu tiên trongtính tích cực của học sinh Ở cấp độ này các em mới chỉ biết làm theo nhữngmẫu, những định đề có sẵn, chưa có biểu hiện của những tìm tòi, sáng tạo mớitrong học tập Tính tích cực của các em cần được phát huy cao hơn nữa
Tìm tòi: Nghĩa là học sinh độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm
cách giải quyết khác nhau về một vấn đề Ở cấp độ này tính tích cực của họcsinh đã phát triển cao hơn cấp độ bắt chước Học sinh đã chủ động, độc lậpsuy nghĩ, tìm cách giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Sáng tạo: Nghĩa là học sinh tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu
hiệu Đây là cấp độ cao nhất của tích cực Học sinh phát huy toàn bộ năng lực
Trang 14trí tuệ, tư duy sáng tạo của mình để giải quyết tình huống đặt ra Tính tích cựccủa học sinh đạt tới mức độ này giờ học sẽ đạt kết quả cao, tạo không khí lớphọc sôi nổi
1.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực của học sinh
Yếu tố thứ nhất là bản thân học sinh Vì học sinh là chủ thể của hoạtđộng học tập cho nên các em là yếu tố quan trọng, trực tiếp chi phối tới hoạtđộng dạy học tích cực Nó được thể hiện ở đặc điểm hoạt động của trí tuệ Trigiác học sinh lứa tuổi thanh niên có mục đích, có kế hoạch, toàn diện hơn sovới lứa tuổi thiếu niên Từ đó, tính lựa chọn, ý nghĩa ổn định tăng lên rõ rệt Trínhớ có chủ định, đặc biệt là trí nhớ trừu tượng phát triển mạnh, ghi nhớ ýnghĩa chiếm vị trí quan trọng Học sinh xác định được tài liệu phải học thuộclòng, tài liệu nào phải diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình
Trong học tập, chú ý có chủ định chiếm ưu thế Sự tập trung có chú ý,
sự di chuyển của chú ý, khối lượng chú ý tăng lên rõ rệt Do vậy cần tổ chứcgiờ học sao cho có nội dung thích hợp, phù hợp với nhận thức của học sinh.Điều đó đòi hỏi tư duy trừu tượng cũng chiếm ưu thế Đó là loại tư duy hướngvào giải quyết những nhiệm vụ lí luận bằng cách sử dụng khái niệm, kết cấulôgic, thao tác tư duy Như vậy, trí tuệ của học sinh ổn định hơn do nắm vững
hệ thống các khái niệm của các môn học, học sinh có ý thức và sử dụng cácthao tác trí tuệ để giải quyết nhiệm vụ học tập
Yếu tố thứ hai là đặc điểm về hoạt động học tập Hoạt động học tập củahọc sinh đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn Học sinhhọc tập nghiêm túc và có trách nhiệm, thái độ đối với môn học trở nên có lựachọn Ở các em hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp
Yếu tố thứ ba là đặc điểm về ý thức và sự giao tiếp của học sinh Họcsinh ở lứa tuổi này thường cho rằng bản thân đã trưởng thành.Vì thế, các emluôn mong được người lớn thừa nhận Các em mong muốn được người lớn
Trang 15tôn trọng, thừa nhận, tin tưởng vào tính độc lập của mình Mặt khác, trongnhà trường, các em được sinh hoạt cùng nhau, cảm thấy mình cần cho nhóm,
có uy tín và có vị trí nhất định trong nhóm nên quan hệ bạn bè rất quan trọng.Giáo viên cần biết tạo điều kiện cho học sinh phát triển quan hệ giao tiếp, hợptác tập thể và biết uốn nắn học sinh theo hướng phục vụ mục tiêu giáo dục, cóphương pháp dạy học phù hợp giúp các em lĩnh hội kiến thức mới hiệu quảnhất Như vậy, gia đình và xã hội là yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới tính tích cựccủa học sinh Nếu gia đình là môi trường nhỏ tạo điều kiện, có nền nếp vàtruyền thống học tập nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các em, còn xã hội làmôi trường lớn để các em học tập, phát huy năng lực của mình Từ đó việcphát huy tính tích cực của học sinh cần phải có kế hoạch lâu dài và toàn diệnkhi phối hợp hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội
1.1.4 Ý nghĩa của quan điểm tích cực trong dạy học tiếng Việt
Vận dụng quan điểm tích cực vào trong quá trình giảng dạy đem lạihứng thú, niềm vui học tập cho người học Giờ học sinh động, tiết kiệm thờigian Phần lớn học sinh có thể tham gia vào các hoạt động hệ thống hoá kiếnthức mới một cách trực quan, khái quát Từ đó, các em có thể phát huy khảnăng tư duy lôgic, khoa học, tăng cường khả năng ghi nhớ thông qua quátrình nhớ lại kiến thức đã học và củng cố kiến thức mới Còn giáo viên với vaitrò là người tổ chức điều khiển hoạt động lĩnh hội kiến thức của học sinh sẽphải vận dụng linh hoạt, sáng tạo chuyên môn của bản thân Điều này đòi hỏigiáo viên có một cách nhìn nhận mới, cách suy nghĩ mới về công việc, về mốiquan hệ của giáo viên với học sinh Bên cạnh đó cần khai thác động lực họctập ở người học để phát triển chính họ, coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân
để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích nghi với đời sống xã hội
1.2 Ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân
1.2.1 Ngôn ngữ chung
Ngôn ngữ là tài sản chung của một dân tộc, một cộng đồng xã hội (cóthể bao gồm những người cùng một dân tộc, hoặc thuộc các dân tộc khác
Trang 16nhau) Muốn giao tiếp với nhau, xã hội phải có phương tiện chung, trong đóphương tiện quan trọng nhất là ngôn ngữ Phương tiện đó vừa giúp cho mỗi
cá nhân trình bày những nội dung mà mình muốn biểu hiện, vừa giúp họ lĩnhhội được lời nói của người khác Cho nên, mỗi cá nhân đều phải tích luỹ vàbiết sử dụng ngôn ngữ chung của cộng đồng xã hội
Ngôn ngữ chung là ngôn ngữ được một cộng đồng xã hội sử dụng
thống nhất để giao tiếp Với người Việt, ngôn ngữ chung là tiếng Việt, “thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh).
Ngôn ngữ chung được thể hiện cụ thể qua hệ thống các đơn vị, các quytắc, các chuẩn mực xác định về ngữ âm, chữ viết, từ vựng và ngữ pháp Từ
đó, mọi thành viên của dân tộc, của cộng đồng phải có vốn hiểu biết về cácđơn vị chung ấy Có như vậy, việc sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp mới diễn
ra thuận lợi, thông suốt
Muốn có vốn hiểu biết về ngôn ngữ chung, nhất thiết phải thườngxuyên học hỏi Có hai cách học hỏi chủ yếu: một là học qua giao tiếp tựnhiên, hàng ngày; hai là học qua nhà trường, sách vở, báo chí Qua giao tiếp
tự nhiên, hàng ngày con người học ngôn ngữ chung theo kênh âm thanh Đó
là ngôn ngữ chung tồn tại ở một dạng, theo biến thể trong từng địa phương cụthể Tích luỹ vốn ngôn ngữ tự nhiên này thường mang tính chất kinh nghiệm,được hình thành và phát triển hai kỹ năng quan trọng: nói và nghe Qua nhàtrường, sách vở, báo chí con người học tiếp cận ngôn ngữ chung với tư cáchngôn ngữ văn hoá Với ngôn ngữ văn hoá, được hình thành và phát triển theotheo kênh lời giảng ở lớp, lời phát biểu ở các hội nghị, hội thảo, diễn thuyết thông qua hệ thống ký tự chữ viết Theo đó, vốn ngôn ngữ tích luỹ được lànhờ vào hai kỹ năng quan trọng khác: viết và đọc
Ngôn ngữ chung là căn cứ để mọi người trong xã hội sử dụng và giaotiếp với nhau Con người sẽ mở rộng vốn ngôn ngữ của mình qua thời gian,qua tích luỹ
Trang 17Tóm lại phải biết học tập suốt đời để có kiến thức đầy đủ về ngôn ngữchung, để hoàn thiện các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nhất là kỹ năng viết vànói - hai kỹ năng có vai trò quyết định đối với việc tạo lập lời nói cá nhân.
1.2.2 Lời nói cá nhân
Từ ngôn ngữ chung, mỗi cá nhân vận dụng vào hoạt động giao tiếp vàtạo ra lời nói cá nhân Khi giao tiếp với nhau, mỗi cá nhân vận dụng nhữnghiểu biết chung về cách sử dụng ngôn ngữ để tạo ra lời nói đáp ứng nhu cầugiao tiếp Như vậy, lời nói của mỗi cá nhân vừa được tạo ra nhờ các yếu tố vàquy tắc, phương thức chung, vừa có sắc thái riêng và phần đóng góp của cánhân Về bản chất, đó là sản phẩm của mỗi người khi sử dụng ngôn ngữchung làm công cụ giao tiếp trong tình huống cụ thể
Trong giao tiếp, lời nói cá nhân được biểu hiện cụ thể qua các đặc trưngsau:
Thứ nhất, lời nói cá nhân được thể hiện qua giọng điệu riêng của mỗingười Khi nói, giọng mỗi người có vẻ riêng không giống người khác, vì thế
mà ta nhận ra người quen khi không nhìn thấy mặt VD: Trong văn học, tathấy Nguyễn Khuyến có giọng điệu nhẹ nhàng thâm thuý, Tú Xương thì ồn àocay độc
Biểu hiện tiếp theo của lời nói cá nhân đó là cách diễn đạt riêng củamỗi người Nó góp phần tạo nên phong cách ngôn ngữ của mỗi nhà văn.VD:
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhận xét: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ vĩ như Chế Lan Viên, thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.
(Thi nhân Việt Nam - tr.31)
Từ cách diễn đạt riêng và giọng điệu riêng của mỗi người sẽ tạo ra
những dấu ấn riêng của mỗi cá nhân, không thể trộn lẫn với người khác
Trang 18Lời nói cá nhân được con người tạo ra trên cơ sở ngôn ngữ chungnhưng có tính sáng tạo Từ ngữ là vốn chung, quen thuộc của toàn xã hội,nhưng ở lời nói cá nhân có sự chuyển đổi sáng tạo trong nghĩa từ, trong kếthợp từ ngữ, trong việc tách từ, gộp từ, chuyển loại từ hoặc mang sắc tháiphong cách VD1: Trong câu thơ của Xuân Diệu
Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.
(Vội vàng)
Từ "buộc" được chuyển nghĩa (chỉ mong muốn không có gió hoặc gió
ngừng thổi) nên kết hợp được với từ gió
VD2: Các từ: Bướm chán ong chường, dày gió dạn sương, bướm lả ong
lơi (Nguyễn Du) được Nguyễn Du sáng tạo nhờ sử dụng biện pháp tách từ
Trong văn chương nghệ thuật, dấu ấn cá nhân được trau chuốt thành lời
nói và phong cách nghệ thuật Nhà văn Tô Hoài đã nói: “Từ lúc mới cầm bút viết một câu muốn định cho nó là một việc nghệ thuật, thì trong con người mình đã phải trải hai lần nghĩ Một lần nghĩ ra cái ý ấy, một lần nắm lấy cái
ý ấy mà tìm chữ nghĩa để đặt bút xuống Trong sáng tạo nghệ thuật, ta phải vượt hai lần sáng tạo Lúc đầu không mấy ai có ý thức ấy Nhưng dần dần về sau, viết càng quen thì cả thói quan lẫn lương tâm ngòi bút mình đã tìm ra cái lần sáng tạo thứ hai Từ khi biết như thế thì việc tìm chữ nghĩa đối với tôi trở thành một cái ham mê kích thích, trở thành những cái khó, cái khổ, cái sợ Cầm bút viết không lúc nào không lo Một chữ phải là một hạt ngọc trên trang bản thảo, phải là hạt ngọc mới nhất của mình tìm được, do phong cách văn chương mình mà có được Trang sách này không có ngọc, trong bản thảo không có chữ thần, không có tinh hoa thì cái hồn tác phẩm, từ tư tưởng đến nhân vật, tất cả bao nhiêu ước vọng, khát khao ta gửi gắm vào sáng tác biết lấy gì mà sống được Không có chữ nuôi nó, nó trống rỗng rồi chết héo đi Nghĩ đến sáng tác nghèo nàn còi cọc bao giờ cũng giật mình”
(Tạp chí Văn học - Số phát hành 07/12/1988, tr.14)
Trang 19Như vậy thông qua lời nói cá nhân, những “hạt ngọc mới nhất” ấy góp
phần làm phong phú thêm ngôn ngữ chung, thúc đẩy ngôn ngữ chung phát triển
1.2.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân
Có thể nhận thấy, về bản chất mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lờinói cá nhân là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, là mối quan hệ giữacái khái quát và cái cụ thể Ngôn ngữ chung là cơ sở để mỗi cá nhân sản sinh
ra lời nói cụ thể nhằm thực hiện nhiệm vụ giao tiếp Lời nói như là sự hiệnthực hoá các yếu tố và quy tắc của ngôn ngữ chung Ngôn ngữ chung luônluôn tồn tại trong lời nói cá nhân Mặt khác, khi cá nhân tiếp nhận lời nói củangười khác thì cũng phải dựa vào ngôn ngữ chung để lí giải và lĩnh hội lời nói
Lời nói cá nhân là thực tế sinh động, vừa hiện thực hoá ngôn ngữchung, vừa tạo ra những khả năng sáng tạo, chuyển đổi và làm cho ngôn ngữchung phát triển VD: Trong câu thơ:
“Có manh áo cộc tre nhường cho con”
(Nguyễn Duy - Tre Việt Nam)
Trong câu thơ trên, tác giả đã dùng ngôn ngữ chung (8 tiếng) đã đượchiện thực hoá theo quy tắc cấu tạo ngữ động từ, ngữ danh từ, quy tắc cấu tạocâu với hai thành phần chính (chủ ngữ và vị ngữ), và một thành phần trạngngữ chỉ tình huống Tuy nhiên, nét riêng của Nguyễn Duy được thể hiện rõ
khi tác giả đã sáng tạo từ áo (chỉ cái bẹ mo nang) và khi dùng từ con (chỉ cây măng - tre non mới mọc) Những sáng tạo riêng ấy làm các từ áo và con có
thêm các nghĩa mới, nếu các nghĩa đó được nhiều người sử dụng một cách ổnđịnh thì sẽ đi vào ngôn ngữ chung
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Nội dung chương trình, bài dạy
1.3.1.1 Nội dung chương trình
Theo phân phối chương trình, bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân được triển khai trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, và được dạy trong hai tiết.
Trang 201.3.1.2 Nội dung bài dạy
Nội dung bài học Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân gồm 3 phần chính:
* Ngôn ngữ - tài sản chung của xã hội.
Ngôn ngữ - tài sản chung của một cộng đồng xã hội (một dân tộc haymột số dân tộc) Nó là phương tiện giao tiếp, là công cụ tư duy chung của cảcộng đồng xã hội
Cho học sinh chỉ ra tính chung trong ngôn ngữ của cộng đồng biểu hiệnqua các phương diện nào Sau đó học sinh trả lời
Trong thành phần của ngôn ngữ có những yếu tố chung cho tất cả mọi
cá nhân trong cộng đồng Mỗi cá nhân đều cần tích luỹ những yếu tố chung
đó và biết sử dụng chúng để tạo nên lời nói, đáp ứng nhu cầu biểu hiện nộidung và giao tiếp với người khác Những yếu tố chung bao gồm:
Các âm và các thanh (nguyên âm, phụ âm, thanh điệu)
Các tiếng (âm tiết) do sự kết hợp của các âm và thanh theo những quytắc nhất định
Các từ và ngữ cố định
Tính chung còn thể hiện ở các quy tắc và phương thức chung trong việccấu tạo và sử dụng các đơn vị ngôn ngữ Các quy tắc và phương thức nàyđược hình thành dần trong lịch sử phát triển của một ngôn ngữ và cần đượcmỗi cá nhân tiếp nhận và tuân theo nếu muốn cho sự giao tiếp với cộng đồngđạt được hiệu quả Đó là:
Quy tắc cấu tạo các biểu câu
Phương thức chuyển nghĩa từ: chuyển từ nghĩa gốc sang nghĩa phái sinh.VD: Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ đối với các từ chỉ trạng tháicủa quả cây (non, già, chín) sang chỉ các mức độ của sự đo lường (non mộtcân, già một cân), chỉ các mức độ của nhận thức, trí tuệ (suy nghĩ còn non,suy nghĩ đã chín, suy nghĩ già dặn)
Trang 21* Lời nói - sản phẩm riêng của cá nhân.
Dựa vào phần I, ngôn ngữ chung là tài sản của toàn xã hội, học sinh chỉ
ra lời nói cá nhân và các phương diện thể hiện câu riêng ấy
Lời nói (ở dạng nói hoặc viết) được cá nhân tạo ra trên cơ sở những yếu
tố chung và quy tắc chung Trong lời nói cá nhân, vừa có sự hiện thực hoá củangôn ngữ chung, vừa có sự thể hiện của cái riêng Cái riêng thể hiện ở một sốphương diện chủ yếu sau:
Giọng nói cá nhân, không lẫn lộn với người khác
Vốn từ ngữ cá nhân
Sự chuyển đổi sáng tạo khi sử dụng từ ngữ: chuyển nghĩa từ, chuyểnđổi hình thức từ ngữ, chuyển loại từ, chuyển đổi trong sự kết hợp từ theonhững quy tắc và phương thức chung của ngôn ngữ
Việc tạo ra các từ mới trên cơ sở nguyên liệu sẵn có và phương thứcvốn có
Việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo các quy tắc và phương thức chungtrong cấu tạo ngữ và câu, trong cấu tạo lời nói nói chung
* Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân.
Ngôn ngữ chung là cơ sở để mỗi cá nhân sản sinh ra những lời nói cụthể của mình, đồng thời lĩnh hội được lời nói của cá nhân khác Muốn tạo ralời nói (khi nói, khi viết) để thoả mãn nhu cầu biểu hiện và giao tiếp trongnhững tình huống cụ thể, mỗi cá nhân phải huy động các yếu tố ngôn ngữchung và vận dụng các quy tắc và phương thức chung Mặt khác khi nghe, khiđọc mỗi cá nhân cần tiếp nhận, tìm hiểu, lĩnh hội nội dung và mục đích giaotiếp trong lời nói của người khác, lúc đó cá nhân cũng cần dựa trên cơ sởnhững yếu tố chung, những quy tắc và phương thức chung thuộc ngôn ngữcủa cộng đồng xã hội
Lời nói cá nhân là thực tế sinh động hiện thực hoá những yếu tố chungnhững quy tắc và phương thức chung của ngôn ngữ
Trang 22VD: Quy tắc cấu tạo câu đơn gồm ba phần:
Trạng ngữ - Chủ ngữ - Vị ngữ được hiện thực hoá qua câu thơ đầu tiên
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:
“Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”
Chính những sự biến đổi và chuyển hoá diễn ra trong lời nói cá nhândần góp phần hình thành và xác lập những cái mới trong ngôn ngữ, nghĩa làlàm cho ngôn ngữ chung phát triển
1.3.2 Điều tra giáo viên và học sinh
1.3.2.1 Điều tra khảo sát giáo viên
* Phát phiếu thăm dò giáo viên
Để đánh giá thực trạng dạy học, chúng tôi tiến hành điều tra thăm dò ý
kiến giáo viên xoay quanh khi dạy bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong sách giáo khoa Ngữ văn 11
Phiếu điều tra được phát cho giáo viên tổ Văn, Trường THPT NguyễnHuệ, tỉnh Yên Bái Nội dung phiếu xoay quanh vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học nói chung và dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân nói
riêng, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Nội dung gồm 3câu hỏi cụ thể sau:
Đồng chí vui lòng cho biết một số ý kiến xung quanh vấn đề đổi mới
phương pháp dạy học nói chung và dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân nói riêng nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
Câu 1: Đồng chí có nhận xét gì về sự khác biệt về phương pháp dạyhọc cũ với phương pháp dạy học mới?
Câu 2: Đồng chí có nhận xét gì về ưu điểm và nhược điểm của dạy học
theo quan điểm tích cực khi dạy bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân.
Câu 3: Khi dạy bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân theo hướng
tích cực, đồng chí lựa chọn những phương pháp và thủ pháp nào?
Trang 23Qua điều tra thống kê chúng tôi nhận thấy:
Về câu 1, đa số giáo viên nhận xét:
Phương pháp dạy học cũ: Giáo viên đóng vai trò quan trọng, chủ động,tích cực trong việc dạy học Trong giờ học chủ yếu giáo viên làm việc giảngbài, học sinh thụ động tiếp thu kiến thức và làm theo mẫu một cách thuầnthục, học sinh ít được thực hành và rèn luyện kỹ năng
Phương pháp dạy học mới: Giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn,điều khiển hoạt động học tập của học sinh Học sinh phát huy tính tích cực,chủ động của mình Trong giờ học, học sinh được bày tỏ quan điểm, đưa ranhững cách hiểu khác nhau và các em được thực hành giao tiếp nhiều hơn
Ở câu 2, đa số giáo viên nhận xét:
Ưu điểm: Sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh, thuhút được học sinh tích cực tham gia vào quá trình tìm hiểu và lĩnh hội tri thứcmới, phát huy cá tính sáng tạo của các em Không khí lớp học sôi nổi và tạonên tinh thần đoàn kết giữa các em
Nhược điểm: Tốn nhiều thời gian và công sức của giáo viên khi soạngiáo án, nhiều học sinh có tính ỷ lại, không thực sự nhiệt tình trong những câuhỏi cho các em thảo luận
Với câu 3, đa số giáo viên lựa chọn các phương pháp:
Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp vấn đáp
Thủ pháp so sánh, đối chiếu
* Dự giờ giáo viên
Kết hợp với việc phát phiếu thăm dò điều tra, chúng tôi tiến hành dự
giờ giáo viên khi dạy bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân để đánh giá
kết quả về việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực của giáo viên Qua dựgiờ chúng tôi nhận thấy:
Trang 24Đa số giáo viên đi theo trình tự của SGK: Đưa ra ngữ liệu để học sinhphân tích, từ đó rút ra kiến thức bài học.
Giáo viên vẫn còn phụ thuộc vào hệ thống ngữ liệu trong SGK, ít cungcấp ngữ liệu ngoài cho học sinh Điều này khiến giáo viên gặp hạn chế trongquá trình giảng dạy và học sinh khó nắm kỹ kiến thức
Khi dạy học, giáo viên chủ yếu sử dụng các phương pháp dạy họctruyền thống, cung cấp kiến thức cho học sinh một chiều, phụ thuộc vào sáchgiáo khoa nên bài dạy chưa thật sự sinh động, không gây được hứng thú đốivới học sinh.Việc tổ chức luyện tập thực hành cho học sinh còn nhiều hạnchế, do sự chi phối về thời gian dạy
Như vậy, qua khảo sát và dự giờ giáo viên chúng tôi thấy việc dạy họctiếng Việt ở trường THPT hiện nay thường rơi vào tình trạng dạy học máymóc, ít sáng tạo Mặc dù có nhiều giáo viên phát hiện ra trọng tâm của bài học
và sự lựa chọn những phương pháp dạy học, song hiệu quả giờ học chưa cao
do phương pháp mà giáo viên lựa chọn chưa phù hợp với đối tượng học sinh.Khi dự giờ chúng tôi nhận thấy có nhiều học sinh chưa chú ý đến bài giảngcủa giáo viên, không tham gia xây dựng bài, còn nói chuyện trong giờ học.Chính điều này ảnh hưởng rất lớn tới việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹnăng giao tiếp cho học sinh
1.3.2.2 Điều tra, khảo sát đối tượng học sinh
* Điều tra thái độ, không khí học tập của học sinh
Đối tượng điều tra, khảo sát là học sinh lớp 11A3 Trường Trung họcphổ thông Nguyễn Huệ - tỉnh Yên Bái Chúng tôi tiến hành khảo sát về thái
độ, không khí học tập của học sinh trong quá trình dự giờ giáo viên
Qua dự giờ chúng tôi nhận thấy, có những tiết học học sinh đã tích cựclàm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên có nhiều kinh nghiệm, có trình độ
Trang 25cao và nhiệt tình trong giảng dạy Nhưng cũng còn nhiều tiết học tiếng Việt,học sinh không hào hứng, sôi nổi, ít tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài.Học sinh không được chủ động tham gia vào các hoạt động trong tiết học với
tư cách là chủ thể của hoạt động học, nhiều học sinh có thái độ đối phó, miễncưỡng và không nghiêm túc trong giờ học, không có thái độ tự học, tự nghiêncứu, không biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế giao tiếp nói và viết
* Điều tra kết quả nhận thức của học sinh
Sau khi tiến hành điều tra thái độ, không khí học tập của học sinh,chúng tôi tiến hành cho các em làm bài kiểm tra kiến thức ngay sau giờ học
bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân với mục đích: đánh giá khả năng
nắm bắt và vận dụng kiến thức đã học vào làm bài tập, đồng thời đánh giáviệc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ Tiếng Việt nói
chung và trong bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân nói riêng của giáo viên
Đối tượng được lựa chọn là học sinh của hai lớp 11A3 và 11A4 TrườngTrung học phổ thông Nguyễn Huệ - tỉnh Yên Bái
Tiêu chí kiểm tra nhận thức của học sinh căn cứ vào khả năng vận dụng
kiến thức lí thuyết vào làm bài tập Nội dung kiểm tra liên quan trực tiếp đến
bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân, với bốn bài tập trong phần luyện tập của bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân.
Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ % học sinh đạt điểm khá, giỏitương đối nhiều, bài đạt điểm yếu kém chiếm tỉ lệ ít Học sinh đã nắm được líthuyết và biết vận dụng vào thực hành Trong quá trình làm bài tập, các em đãtích cực trao đổi, thảo luận khi làm bài tập Cũng qua điều tra chúng tôi nhậnthấy, để nâng cao tỉ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi thì giáo viên cần sử dụnglinh hoạt nhiều phương pháp dạy học, trong đó có áp dụng dạy học theo quanđiểm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thì hoạt động dạy và học
sẽ đạt được kết quả cao nhất và học sinh sẽ nắm bài tốt, khắc sâu nội dung bàihọc (Nội dung cụ thể của phiếu điều tra học sinh, chúng tôi xin trình bày ởphần Phụ lục cuối khoá luận.)
Trang 261.3.3 Nhận xét chung
Qua việc khảo sát thực trạng của GV và HS chúng ta nhận thấy rằng:
HS có thái độ học tập tích cực hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài Với một nội dung kiến thức mới,GV cần phải linh hoạt sử dụng cácPPDH một cách linh hoạt để giúp HS đạt được hiệu quả cao nhất trong tiết học
Đó chính là cơ sở định hướng cho việc triển khai ở chương 2
Trang 27Chương 2
DẠY HỌC BÀI TỪ NGÔN NGỮ CHUNG ĐẾN LỜI NÓI CÁ NHÂN
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH CỰC
2.1 Mục đích của việc dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông
Trong báo cáo đề dẫn được trình bày tại Hội thảo “Dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông đầu thế kỷ XXI” (2000), Viện Khoa học Giáo dục
đã xác định rõ mục đích hàng đầu của việc dạy học tiếng Việt trong nhàtrường là giúp cho học sinh có năng lực sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, hìnhthành và rèn luyện năng lực giao tiếp, thể hiện rõ trong việc sử dụng tốt bốn
kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Mục đích đó đã thể hiện rõ yêu cầu của
xu thế dạy tiếng mẹ đẻ của các nước trên thế giới trong thế kỷ XXI
Để có thể sử dụng tốt ngôn ngữ trong giao tiếp, học sinh không chỉđược trang bị các tri thức về hệ thống ngôn ngữ như những hiểu biết về cácđơn vị và các quy tắc thuộc các bình diện của ngôn ngữ như: ngữ âm, từvựng, ngữ pháp mà còn phải được trang bị cả những tri thức về sử dụngngôn ngữ trong giao tiếp Để có thể sử dụng tốt ngôn ngữ trong mọi hoạt độnggiao tiếp, học sinh phải có những hiểu biết cơ bản về ngôn ngữ
Với những quan niệm trên, việc dạy học Tiếng Việt ở Việt Nam đòihỏi: Khi dạy học, giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt các phương phápgiảng dạy để truyền đạt lượng kiến thức cho học sinh là nhiều nhất; phải cungcấp đầy đủ và phù hợp các ví dụ để làm sáng tỏ cho nội dung lí thuyết; phải tổchức cho học sinh tham gia trao đổi, thảo luận, từ đó rút ra nội dung bài học
Còn với chủ thể học sinh, các em cần phải: Chú ý lắng nghe trong giờhọc; tham gia ý kiến, hăng hái phát biểu xây dựng bài; làm các bài tập theo yêucầu của giáo viên để củng cố và khắc sâu kiến thức
2.2 Những yêu cầu khi vận dụng quan điểm tích cực vào dạy học tiếng Việt
Để có thể vận dụng quan điểm tích cực vào quá trình dạy học, giáo viêncần thực hiện các yêu cầu sau:
Trang 28Chuẩn bị bài chu đáo, nghiên cứu kỹ nội dung, kiến thức, kỹ năng màhọc sinh cần đạt được Từ đó thiết kế các hoạt động sao cho học sinh đượcchủ động, được tham gia, được phát huy tính tích cực, vốn sống, vốn kinhnghiệm và được vận dụng kiến thức đã học để tìm tòi kiến thức mới và rèn kỹnăng, kỹ xảo
Khi lên lớp cần có thái độ vui vẻ, nhẹ nhàng, tạo bầu không khí gầngũi, thân thiện, không gây áp lực về điểm số, về nhiệm vụ phải hoàn thành màcần khích lệ, động viên các em học sinh
Khi tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên cần đảm bảo nhườngquyền nói và làm cho học sinh, thể hiện thái độ tin tưởng vào khả năng củahọc sinh Giáo viên chỉ tổ chức, điều hành, làm trọng tài trong thảo luận, tranhluận của học sinh và nêu ra kết luận khi cần thiết Khuyến khích học sinh nêucâu hỏi, nêu thắc mắc, tăng cường giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà làm(điều tra, tổng hợp số liệu, tìm hiểu, đánh giá một vấn đề gì đó phục vụ họctập ở tiết sau) Chấp nhận sự không đồng đều về mức độ hoàn thành, về tốc
độ hoàn thành, về sự linh hoạt và sáng tạo trong xử lí, nhận xét và giải quyếtvấn đề của học sinh Học sinh vốn rất đa dạng đó là một thực tế và giáo viênphải đưa ra các yêu cầu phù hợp với mỗi cá nhân trong tập thể khác nhau ấy
Về phương pháp dạy học: giáo viên thường xuyên sử dụng và có kỹnăng sử dụng thành thạo các phương pháp dạy học hiện đại Đồng thời khôngxem nhẹ các phương pháp dạy học truyền thống Phát huy tốt mặt mạnh củamỗi phương pháp dạy học và triệt tiêu tối đa những hạn chế của các phươngpháp Vận dụng phương pháp linh hoạt, mềm dẻo nhằm đạt kết quả dạy họccao nhất
Không chỉ giáo viên mà học sinh cũng phải thực hiện tốt các yêu cầucủa hoạt động dạy học tích cực Đối với học sinh, các yêu cầu đó là:
Có niềm tin, động cơ, thái độ học tập (được giáo viên kích thích tạo rahay do bản thân xây dựng được từ trước) phù hợp, đúng đắn Tích cực tham
Trang 29gia và được giáo viên khuyến khích tham gia đầy đủ vào các hoạt động tìmtòi, giải quyết vấn đề, nêu, thực hành, luyện tập, rèn kỹ năng, kỹ xảo (nghe,nêu, phát biểu, so sánh, nhận xét, đánh giá, thực hành ).
Vui vẻ, không cảm thấy áp lực, nặng nề, mạnh dạn tham gia và đượctuyệt đối tôn trọng Tự tin tham gia các hoạt động dạy học và tham gia đánhgiá cách giải quyết của mình, của bạn cũng như kết quả học tập nói chung
Tóm lại, sử dụng các hình thức khác nhau của phương pháp dạy họctích cực là một nhiệm vụ quan trọng, trực tiếp Đổi mới công tác quản lí vànâng cao chất lượng giáo dục đó là một đòi hỏi tất yếu, yêu cầu mỗi giáo viên
sự quyết tâm, nỗ lực vì học sinh thân yêu và không phải một sớm một chiều
đã thành công mà phải kiên trì, không được nóng vội hay chán nản lùi bước
để làm sao cho mỗi bài học sẽ là một: “Giờ học tốt - tiết học vui”
2.3 Vận dụng quan điểm tích cực khi dạy học bài Từ ngôn ngữ chung
đến lời nói cá nhân trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11
2.3.1 Mục đích của việc dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
Giúp học sinh nắm được: ngôn ngữ là tài sản chung của xã hội, lời nói
là sản phẩm riêng của cá nhân và thấy được mối quan hệ giữa ngôn ngữchung và lời nói cá nhân
Hình thành và nâng cao năng lực sáng tạo của cá nhân trong giao tiếpdựa trên cơ sở những quy tắc chung về ngôn ngữ, quy tắc kết hợp và sử dụngchúng Từ đó, giúp cho các em có ý thức tôn trọng những quy tắc ngôn ngữchung của xã hội, giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt và phát huy bản sắc ngônngữ của dân tộc
2.3.2 Những cơ sở định hướng vận dụng quan điểm tích cực vào dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
Khi dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân, vận dụng
quan điểm tích cực là giáo viên sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học
Trang 30để truyền đạt kiến thức cho học sinh và đặc biệt là “dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm”.
Trong dạy học tích cực, dưới sự thiết kế, tổ chức, định hướng của giáoviên, người học được tham gia vào quá trình hoạt động học tập từ khâu pháthiện vấn đề, tìm giải pháp cho vấn đề đặt ra, thực hiện các giải pháp và rút rakết luận Quá trình đó giúp người học lĩnh hội nội dung học tập, đồng thờiphát triển năng lực sáng tạo
Trong giờ học cần kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động hợptác, trong mối quan hệ tương tác giữa thầy - trò, trò - trò, trong môi trườnghọc tập thân thiện, an toàn
Khi dạy bài này, giáo viên cần nêu cơ sở lí thuyết về ngôn ngữ chung,lời nói cá nhân, lấy ví dụ minh hoạ cho học sinh hiểu bài và cho học sinh lấy
ví dụ Sau đó, tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân,cho học sinh tìm hiểu và phát hiện những ảnh hưởng của ngôn ngữ chung, lờinói cá nhân, từ đó khắc sâu kiến thức
Trước hết khi dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân sẽ
giúp học sinh có ý thức vận dụng và sáng tạo ngôn ngữ khi giao tiếp - mộthoạt động theo suốt cuộc đời học sinh
Để hoạt động dạy học đạt hiệu quả, giáo viên cần quan tâm tới ngườihọc Bởi lẽ, nếu dạy học không quan tâm đến đặc điểm của người học thì hiệuquả giờ học không cao, lượng kiến thức truyền đạt đến học sinh ít Vậy đòihỏi làm thế nào để thay đổi từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực Từ đặcđiểm của từng cá nhân học sinh, giáo viên sẽ sử dụng những phương phápthích hợp khi trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng vào cuộc sống,đặc biệt quan tâm đến phát triển năng lực sáng tạo, giải quyết vấn đề Việcthay đổi mục tiêu giáo dục cần phải có những phương pháp dạy học phù hợp
để đạt được mục tiêu đó và phương pháp dạy học phát huy tính tích cực củahọc sinh là vấn đề được rất nhiều giáo viên quan tâm