MỤC LỤC Trang 1. CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU ............................................................................................ 1 2. CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY............................... 6 Ba giả thuyết về việc làm khu vực công ....................................................................... 6 + Đạo luật Wagner ........................................................................................................ 7 + Giả thuyết tìm kiếm đặc lợi ........................................................................................ 9 + Giả thuyết về bảo hiểm xã hội .................................................................................. 11 Việc làm công và sự phân cấp trong các nghiên cứu trước đây ................................... 13 Chi phí công và hiệu ứng không gian trong các bài nghiên cứu trước đây .................. 17 3. CHƯƠNG 3 : MÔ HÌNH LÝ THUYẾT ....................................................................... 20 4. CHƯƠNG 4 : PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM ............................................................. 36 Khái niệm việc làm khu vực công ................................................................................ 36 Định nghĩa phân cấp tài chính ...................................................................................... 43 Các giả thuyết thực nghiệm ......................................................................................... 47 Biến số chính trị ........................................................................................................... 49 Các vấn đề thực nghiệm .............................................................................................. 52 5. CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN ............................................................................................ 72 CÁC PHỤ LỤC ĐÍNH KÈM
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Sử Đình Thành Lớp: Cao học Ngân hàng – Đêm 2 – Khóa 22 Nhóm thực hiện : Nhóm 5
Trang 3
Trang 4
Trang
1 CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU 1
2 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6
Ba giả thuyết về việc làm khu vực công 6
+ Đạo luật Wagner 7
+ Giả thuyết tìm kiếm đặc lợi 9
+ Giả thuyết về bảo hiểm xã hội 11
Việc làm công và sự phân cấp trong các nghiên cứu trước đây 13
Chi phí công và hiệu ứng không gian trong các bài nghiên cứu trước đây 17
3 CHƯƠNG 3 : MÔ HÌNH LÝ THUYẾT 20
4 CHƯƠNG 4 : PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM 36
Khái niệm việc làm khu vực công 36
Định nghĩa phân cấp tài chính 43
Các giả thuyết thực nghiệm 47
Biến số chính trị 49
Các vấn đề thực nghiệm 52
5 CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN 72 CÁC PHỤ LỤC ĐÍNH KÈM
Trang 5CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU
Ít nghi ngờ rằng những hoạt động của chính phủ đóng một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế hiện đại Chính phủ ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua một vài công cụ như chính sách tài chính và chính sách tiền tệ Việc làm khu vực nhà nước chiếm một phần đáng kể trong tổng số việc làm ở nhiều nền kinh tế, là một công cụ quan trọng của chính sách tài chính và thu hút sự chú ý trong suốt 2 thập kỷ qua (Gregory & Borland, 1999) Ngày nay tình hình quan liêu và hiện tượng các công ty công dư thừa nhân viên là vấn đề chung trong sự phát triển đất nước, đặc biệt trong nền kinh tế chuyển giao – nền kinh tế thị trường đòi hỏi hàng triệu nhân viên phải được thay đổi vị trí Một số lớn các Bộ trùng lắp về chức năng hoặc có sự tồn tại của
“những nhân viên ma” – người thuộc biên chế của một tổ chức nhưng không có công việc thực tế - được xác định là nguyên nhân chính của việc chi tiêu không hiệu quả (Rama, 1997) Do đó, việc cắt giảm việc làm khu vực nhà nước đã trở thành một vấn
đề quan trọng trong cải cách nền kinh tế ở các nước này
Sự phân cấp được định nghĩa như là một việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ chung từ Trung Ương đến các chính quyền cấp dưới, tổ chức hay khu vực tư nhân đã đang là một xu hướng toàn cầu trong 2 thập kỷ qua (Rondinelli, 1999) Một luận điểm kinh tế cho việc phân cấp là nó làm tăng hiệu quả của phân bố nguồn lực Thứ nhất, quyết định về việc công khai nguồn chi tiêu được đưa ra bởi một cấp chính quyền gần hơn và đáp ứng nhiều hơn đến cử tri địa phương để phản ánh nhu cầu cho các dịch vụ địa phương hơn là được thực hiện bởi chính quyền trung ương Thứ hai, phân cấp sẽ dẫn đến việc cạnh tranh giữa các chính quyền và xu hướng tăng cường đổi mới (Ford, 1999)
Dựa vào 2 luận điểm về sự phân cấp, người ta có thể đề nghị rằng phân cấp tài chính có thể khắc phục tình trạng bộ máy quan liêu cồng kềnh và các doanh nghiệp
Trang 6nhà nước có quá nhiều nhân viên ở các nước đang phát triển Trong luận văn này,
chúng tôi cố gắng trả lời xem liệu chính sách phân cấp tài chính có giúp đỡ trong việc hạn chế việc làm khu vực nhà nước hay không
Trong phụ lục A, chúng tôi đã cho thấy các dữ liệu về việc làm khu vực nhà nước của các nước tính theo phần trăm dân số từ năm 1985 đến năm 2005 của các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế OECD và không thuộc Từ những dữ liệu đó, chúng ta có thể quan sát một vài xu hướng Thứ nhất, trong khi việc làm khu vực nhà nước tăng ở một số quốc gia, nó lại giảm ở một số quốc gia khác trong giai đoạn 1985 - 2005 Chúng ta có thể gọi đây là khoảng thời gian thay đổi việc làm khu vực nhà nước Thứ hai, số lượng việc làm khu vực nhà nước ở một số quốc gia lớn hơn một số quốc gia trong bất kỳ năm nào Chúng ta có thể gọi đây là sự thay đổi về mặt cắt ngang của việc làm khu vực nhà nước
Nghiên cứu này tìm cách giải thích các biến thể theo thời gian và giữa các quốc gia trong việc làm khu vực nhà nước Trong việc đạt được sự hiểu biết về nguồn gốc của sự thay đổi về mặt thời gian và giữa các quốc gia chúng ta cũng quan tâm đến việc kiểm tra quá trình phân cấp ở một số nước trên thế giới và mức độ phân cấp việc làm khu vực nhà nước ở một số quốc gia nhanh hơn một số khác Chúng tôi gọi đây là sự thay đổi kích thước cấu trúc trong việc làm khu vực nhà nước Phụ lục B cho thấy việc làm khu vực công tính theo phần trăm dân số ở trung ương và ở các cấp địa phương đối với các nước OECD và các nước không thuộc OECD trong năm 1995 và 2000
Có ba giả thuyết được sử dụng để giải thích sự thay đổi trong việc làm khu vực công Thứ nhất, sự giải thích về mặt kinh tế thông thường và được biết đến với tên gọi
là Đạo luật Wagner Luật này cho rằng sự phát triển kinh tế tạo ra những nhu cầu mới
về một số loại hình dịch vụ chính phủ Thứ hai, sự giải thích kinh tế - chính trị xem việc làm khu vực công là một “phương tiện” mà các chính trị gia sử dụng để che giấu việc phân phối lợi ích cho một số tổ chức đặc biệt Thứ ba, sự giải thích theo kinh tế
Trang 7quốc tế, theo đó việc làm khu vực công được liên kết với việc tiếp xúc thương mại quốc tế của một quốc gia
Mặc dù cả 3 giả thuyết dường như có thể giải thích một phần thay đổi trong việc làm khu vực công, chúng dường như không giải quyết hết tất cả các vấn đề liên quan Nếu Đạo luật Wagner đúng, người ta sẽ mong đợi các quốc gia giàu hơn
hoặc các vùng địa phương giàu hơn sẽ có mức độ việc làm khu vực công cao hơn Nếu việc làm nhà nước là một công cụ chính trị để chuyển lợi ích của các chính trị gia sang các tổ chức đặc biệt, người ta mong đợi các nước hoặc khu vực địa phương với dân số tượng tự có cùng một số lượng dòng bảo trợ như vậy Nhưng trong thực tế, lợi ích tương quan với mức độ phân chia sắc tộc và bất bình đẳng thu nhập chứ không dựa vào dân số Cuối cùng, nếu thiết lập một mức độ việc làm nhà nước cao hơn là một công cụ cho các quan chức hòa giải các tác động bất ổn liên quan đến thương mại, tại sao họ lại sử dụng nó không hiệu quả Tái đào tạo và chuyển đổi chương trình làm việc sẽ là một chính sách hiệu quả về mặt chi phí, dù mục đích của các chính trị gia là bảo đảm cho các nhân viên “dễ bị tổn thương” hay là mua những phiếu bầu từ
họ
Trong khi ba giả thuyết có thể làm việc tốt trong việc giải thích một vài thông tin về việc làm khu vực công theo thời gian và giữa các quốc gia, nhưng không giả thuyết nào đủ để cung cấp một lý do rõ ràng về mặt cơ cấu, đó là một sự thay đổi tương đối việc làm nhà nước ở cấp trung ương so với cấp chính quyền địa phương
Phân cấp giúp chúng ta giải thích việc chuyển đổi cơ cấu việc làm khu vực nhà nước Với chính sách phân cấp tài chính, trung ương sẽ chuyển một vài trách nhiệm xuống địa phương Như là một kết quả, chúng ta mong chờ mức độ việc làm nhà nước ở trung ương sẽ giảm và ở địa phương sẽ tăng cùng với mức độ phân cấp tài chính Tác động tổng thể của phân cấp tài chính lên việc làm nhà nước phụ thuộc vào hai hiệu ứng đối lập Nếu mức độ giảm việc làm khu vực nhà nước ở cấp trung ương lấn át sự
Trang 8gia tăng trong việc làm ở khu vực địa phương thì sau đó việc làm nhà nước ở khu vực trung ương sẽ co lại theo sự phân cấp tài chính Nói cách khác, chính sách phân cấp tài chính giúp hạn chế việc làm khu vực công Mặc khác nếu độ lớn của việc gia tăng việc làm nhà nước khu vực địa phương lấn át việc giảm của khu vực trung ương thì sau đó tổng số lao động khu vực nhà nước sẽ tăng lên với chính sách phân cấp tài chính Cả hai trường hợp được hỗ trợ bởi những lý thuyết sẽ thảo luận trong chương Hai Xa hơn nữa chúng ta cũng muốn nhìn thấy những yếu tố tác động đến độ lớn của hai sự ảnh hưởng này
Trong khi sử dụng sự thay đổi quan hệ của việc làm nhà nước ở khu vực địa phương so với khu vực trung ương để giải thích sự thay đổi việc làm nhà nước giữa các quốc gia, chúng ta không nên bỏ qua vai trò tiềm năng gây ra bởi “hiệu ứng không gian”, nghĩa là các nhà hoạch định chính sách có thể bị ảnh hưởng bởi
“hàng xóm” của họ khi họ thiết kế chính sách tài chính Lời giải thích đầu tiên cho
sự tồn tại của hiệu ứng không gian là có sự tồn tại bên ngoài giữa các quốc gia vì thế việc lựa chọn chính sách tài chính có sự tương tác Lời giải thích thứ hai là công dân
có thể đánh giá hiệu quả của các nhà hoạch định chính sách bằng cách so sánh với việc lựa chọn chính sách tương tự của các quốc gia láng giềng Với sự liên hệ của 2 lời giải thích, chúng tôi sẽ kiểm tra sự hiện diện của yếu tố không gian như là một yếu
tố quyết định mức độ việc làm khu vực công của một quốc gia
Việc làm khu vực công khác với việc làm khu vực tư nhân trong đó các quyết định về việc làm, tiền lương xảy ra trong một môi trường chính trị trong khi khu vực
tư nhân đưa ra quyết định trong một môi trường thị trường Chính trị gia hay quan chức có thể có mục tiêu khác biệt với người chủ sỡ hữu doanh nghiệp khu vực tư nhân Do sự khác biệt này, chúng ta có thể hiểu việc làm khu vực nhà nước bằng cách xem xét thị trường lao động nhà nước là một sự tồn tại riêng biệt
Trang 9Trong luận văn này, chúng ta phát triển một một mô hình lý thuyết về việc làm khu vực công trong một nỗ lực để đưa ra những giả thuyết khác nhau nhưng có tiềm năng giải thích về cấu trúc việc làm nhà nước và có thể bao hàm thời gian và không gian giữa các quốc gia Trong chương thực nghiệm của luận văn, chúng ta dùng 2 tập
dữ liệu khác nhau để kiểm tra giả thuyết có nguồn gốc từ mô hình của chúng ta Mục
đích chính của luận văn là phân tích vai trò của việc phân cấp tài chính lên việc làm nhà nước Xa hơn, chúng ta muốn tìm ra yếu tố tác động lên việc làm khu vực công ở cấp trung ương và địa phương cũng như mức độ về mặt tổng thể Bên cạnh
đó, chúng ta muốn phát hiện xem có tồn tại bằng chứng nào về hiệu ứng không gian trong việc xác định mức độ việc làm khu vực nhà nước của một quốc gia
Luận văn này bao gồm 5 chương Trong chương này, chúng ta trình bày mục đích chính của việc nghiên cứu Trong chương Hai, chúng ta xem xét và tóm lược các nghiên cứu trước đây về việc làm khu vực nhà nước và quan hệ của nó với chính sách phân cấp tài chính Trong chương Ba, chúng ta phát triển một mô hình lý thuyết để phân tích mối quan hệ giữa mức độ của phân cấp tài chính và mức độ việc làm khu vực công Trong chương Bốn, chúng ta mô tả tập dữ liệu dùng trong việc nghiên cứu
và trình bày các kết quả thực nghiệm dựa trên dữ liệu chúng ta có Chương Năm là phần kết luận
Trang 10CHƯƠNG II : TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY
Trong chương này, chúng ta xem xét lại các nghiên cứu trước đây về vấn đề việc làm trong khu vực nhà nước, và sau đó chúng ta thảo luận lý do tại sao phân cấp quản
lý tài chính có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định việc làm của khu vực nhà nước Phần đầu của chương này, chúng ta sẽ thảo luận một vài giả thuyết, theo gợi ý từ những nghiên cứu trước đây, có thể giúp giải thích sự khác biệt của việc làm trong khu vực nhà nước giữa các vùng của một quốc gia và giữa các quốc gia Trong phần thứ hai, chúng ta thảo luận về lý do tại sao chính sách phân cấp quản lý tài chính có thể ảnh hưởng đến việc làm khu vực công Và phần thứ ba, chúng ta nhắc lại các nghiên cứu về sự tương tác chính sách tài chính giữa các quốc gia, trong đó tập trung vào vấn đề chi tiêu
Ba giả thuyết về việc làm trong khu vực công :
Trong phần này, chúng tôi thảo luận về ba giả thuyết giải thích sự khác biệt về việc làm trong khu vực công giữa các quốc gia Giả thuyết đầu tiên là Đạo luật Wagner (Đạo luật quan hệ lao động quốc gia năm 1935) Nó lập luận rằng phát triển kinh tế tạo ra nhu cầu đối với các loại hình dịch vụ mới của chính phủ Giả thuyết thứ hai là giả thuyết về tìm kiếm đặc lợi, lần đầu tiên được đề xuất bởi Gelb et al (1991) Giả thuyết này cho rằng việc làm trong khu vực công được xem như là một phương tiện chính trị để che giấu việc phân phối lại lợi ích cho các nhóm cụ thể Giả thuyết thứ ba là giả thuyết bảo hiểm xã hội, được đề xuất bởi nghiên cứu của Rodrik (1996) Giả thuyết này cho rằng việc làm trong khu vực công có thể được sử dụng để làm vật đệm chống lại nguy cơ dân số từ bên ngoài Chúng tôi lần lượt xem xét ba giả thuyết,
Trang 11sau đó báo cáo về những nghiên cứu thực nghiệm đã tìm thấy để hỗ trợ cho việc giải thích các giả thuyết vừa nêu trên
Đạo luật Wagner :
Đầu tiên, đạo luật Wagner cho rằng phát triển kinh tế tạo ra nhu cầu đối với các loại hình dịch vụ mới của chính phủ Nói cách khác, các dịch vụ của chính phủ tăng lên với tốc độ nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng kinh tế Phát triển kinh tế tương quan rõ ràng giữa các quốc gia có khu vực công lớn hơn Theo kinh nghiệm, quy mô khu vực công được đo lường bằng tỷ trọng theo từng thời kì của chi tiêu chính phủ so với tổng sản phẩm quốc nội (viết tắt là GDP) hoặc tỷ trọng của lao động khu vực công
so với dân số của quốc gia Quy mô của khu vực công thông thường được đo lường thông qua chi tiêu chính phủ, còn mức độ quyết định của vấn đề việc làm khu vực công chỉ được thảo luận trong một vài nghiên cứu, cụ thể là những nghiên cứu của Tait và Heller (1984), Kraay và van Rijckeghem (1995), Schiavo-Campo et al (1997b), Rama (1997), Rodrik (1996, 1997), Alesina et al (2000), Alesina et al (2001), Gimpelson và Treisman (2002) và Marques-Sevillano và Rossello-Villallonga (2004) Những nghiên cứu khác nhau về phạm vi các quốc gia cũng như trong phương pháp nghiên cứu Một số những nghiên cứu tập trung vào một quốc gia cụ thể, chẳng hạn như các nghiên cứu về Hoa Kỳ của Alesina et al (2000), các nghiên cứu về Ý của Alesina et al (2001), các nghiên cứu về Nga của Gimpelson và Treisman (2002) và các nghiên cứu về Tây Ban Nha của Marques-Sevillano và Rossello-Villallonga (2004) Những nghiên cứu khác là những nghiên cứu xuyên các quốc gia
Phần lớn các nghiên cứu xuyên quốc gia xác nhận, hoặc xác nhận có điều kiện đạo luật của Wagner, chẳng hạn như trong Tait và Heller (1984), Kraay và van Rijckeghem (1995), Schiavo-Campo et al (1997b) và Rama (1997) Tait và Heller (1984) sử dụng dữ liệu của 61 quốc gia trong năm 1980 để điều tra xem liệu có bất kỳ yếu tố phổ biến nào giải thích về quy mô của việc làm khu vực công hay không Kết
Trang 12quả nghiên cứu chỉ ra rằng lao động của khu vực công tại mỗi quốc gia tính theo đầu người tăng lên khi thu nhập bình quân đầu người tăng, từ đó ủng hộ cho giá trị của những thử nghiệm khác của đạo luật Wagner Kraay và Van Rijckeghem (1995) sử dụng một bộ dữ liệu bảng của 34 quốc gia đang phát triển và 21 quốc gia trong khối OECD từ năm 1972 đến năm 1992 để kiểm tra những yếu tố quyết định đến việc làm khu vực công và tiền lương dựa trên một mô hình tiền lương hiệu quả Họ nhận ra rằng việc làm khu vực công có liên quan tích cực đến việc hạn chế sử dụng nguồn lực,
đó là tỷ lệ thu nhập so với GDP trong trường hợp các nước đang phát triển và GDP bình quân đầu người trong trường hợp của các nước OECD Schiavo-Campo et al (1997b) đã phát triển một bộ dữ liệu xuyên quốc gia từ trung ương đến địa phương đối với việc làm khu vực công và thống kê tiền lương cho gần 100 quốc gia, bao gồm các nước phát triển và kém phát triển trong những năm đầu thập niên 90 Đối với toàn bộ mẫu, họ nhận thấy rằng mức độ của nhân viên công chức tương quan thuận với thu nhập bình quân đầu người và do đó xác nhận đạo luật Wagner Tuy nhiên, đối với trường hợp của các nước OECD, sự kết hợp này là không có ý nghĩa thống kê, nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống đạo luật Wagner có thể xảy ra tình trạng không hiệu quả với một một mức độ phát triển nhất định Rama (1997) sử dụng một bảng dữ liệu không đồng đều của nhân viên công chức nói chung bao gồm 90 quốc gia cho thập niên 1970, 1980, và 1990 Ông phát hiện ra rằng ở những mức độ phát triển kinh tế thấp, lao động khu vực công tăng cùng với với sản lượng bình quân đầu người, như dự đoán của đạo luật Wagner Tuy nhiên, mối liên hệ này không hoàn toàn cố định mà biến động, với mức điểm biến động vào khoảng 14.000 đô la đầu người, được quy đổi theo mức giá PPP (sức mua tương đương) năm 1985
Từ kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu xuyên quốc gia, chúng ta thấy rằng đạo luật Wagner được xác nhận, hoặc xác nhận có điều kiện Phát hiện thú vị là việc làm khu vực công tăng trưởng cùng với sự phát triển kinh tế nhưng mối quan hệ này
Trang 13là không cố định Đến một mức độ nhất định của sự phát triển kinh tế, mối quan hệ này trở nên không đáng tin cậy và đạo luật Wagner trở nên không có hiệu quả
Giả thuyết tìm kiếm đặc lợi :
Đạo luật Wagner ứng dụng tốt trong việc giải thích mức độ lao động công xuyên các quốc gia nhưng không phải luôn luôn giải thích tốt cho mức độ lao động công bên trong các quốc gia đó.Ví dụ, Alesina et al (2001) đã cho thấy thấy rằng ở Italy, số lượng công chức trong những khu vực nghèo khó (tại miền Nam) thì lớn hơn đáng kể
so với các vùng giàu có (tại miền Bắc) Vì vậy, chúng tôi nghi ngờ rằng sẽ xuất hiện một số yếu tố khác ngoài yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến mức độ việc làm khu vực công trong phạm vi một quốc gia Bây giờ, chúng ta tập trung vào giả thuyết tìm kiếm đặc lợi, theo đề xuất của Gelb et al (1991) Họ phát triển một mô hình lý thuyết cho rằng các chính phủ ở các nước đang phát triển nên cung cấp những hàng hóa và dịch vụ có giá trị tạo ra những nhu cầu xuất phát từ các yếu tố sản xuất Tuy nhiên, khu vực công khác với khu vực tư nhân khi mà khu vực công phải chịu những áp lực chính trị đối với vấn đề việc làm Hành vi tìm kiếm hoặc tạo ra những đặc lợi riêng làm phát sinh một dòng lãng phí các nguồn lực vào khu vực công hơn là những nhu cầu thực sự xuất phát từ các nguồn lực sản xuất Robinson và Verdier (2002) giải thích lý do tại sao việc làm khu vực công là hấp dẫn về mặt chính trị, mặc dù kém hiệu quả về mặt xã hội Họ cho rằng điều này là do việc làm khu vực công là một công cụ cam kết tốt giữa các chính trị gia và cử tri Từ mô hình lý thuyết của họ, họ thấy rằng sự tái phân phối không hiệu quả và clientelism trở thành một chiến lược chính trị tương đối hấp dẫn trong các tình huống mà sự bất bình đẳng cao và năng suất thấp Cả hai nghiên cứu này đều đã cung cấp những dẫn chứng thực nghiệm Tiếp theo, chúng ta xem xét một số nghiên cứu thực nghiệm củng cố cho giả thuyết này
Cùng quan điểm, Alesina et al (2000) đã lập luận rằng các chính trị gia có thể sử dụng chính sách tái phân phối trá hình, chẳng hạn như việc làm khu vực công, để phá
Trang 14vỡ các phe đối lập chính trị thông qua các hệ thống thuế chuyển đổi rõ ràng Kết quả thực nghiệm của họ là phù hợp với dự đoán của giả thuyết cho rằng những nhà chính trị ở các thành phố của Hoa Kì xuất hiện để sử dụng việc làm trong khu vực công như
là một thiết bị tái phân phối Họ nhận thấy rằng mức độ công chức ở các thành phố của Hoa Kỳ cao hơn đáng kể so với các thành phố nơi mà sự bất bình đẳng thu nhập
và chia cắt dân tộc cao
Alesina et al (2001) kiểm tra khoản trợ cấp cho việc làm khu vực công tại Ý Họ giải thích lý do tại sao ở Ý có một số lượng công chức đáng kể ở những vùng miền Nam nghèo nàn so với các vùng giàu có ở miền Bắc Họ tính toán khoản chi phí dành cho trợ cấp bằng cách ước lượng số công chức dư thừa và khoản tiền lương trong các khu vực nghèo hơn so với một nền kinh tế chuẩn Họ tính toán rằng khoảng một nửa
số tiền lương cho khu vực công ở phía nam của Ý có thể được xác định là một khoản trợ cấp Họ đưa ra kết luận rằng cả hai yếu tố quy mô của khối việc làm công và mức lương công khai được sử dụng như một công cụ tái phân phối
Gimpelson và Treisman (2002) phát triển một thử nghiệm hai giai đoạn cho những nhà điều hành cấp Trung ương và những người đứng đầu địa phương để giải thích sự khác biệt về việc làm công ở các khu vực tại Nga Trong mô hình của họ, các chính trị gia xem việc làm công như một công cụ để tăng sự ủng hộ, và có thể được xem như là một công cụ cam kết hiệu quả giữa các chính trị gia và cử tri Một số kết quả phù hợp với giả thuyết của họ Một phát hiện thú vị là mức độ của nhân viên khu vực công at the jurisdiction with an “opposite governor” tends to be higher
Tóm lại, chúng ta thấy rằng không chỉ phát triển kinh tế có thể ảnh hưởng đến khối công chức, mà một số động cơ chính trị cũng có tác động Tuy nhiên, chúng tôi không biết bất kỳ nghiên cứu xuyên quốc gia nào có kiểm tra thực nghiệm các mô hình nghiên cứu đặc lợi Chúng tôi nghi ngờ nguyên nhân là từ việc định lượng của các biến chính trị Như chúng tôi sẽ giới thiệu trong chương thực nghiệm của nghiên
Trang 15cứu này, chúng ta biết rằng có một số biến giả có thể mô tả các mối quan hệ chính trị giữa chính quyền trung ương và địa phương Tuy nhiên, mối quan hệ chính trị này luôn luôn là một vấn đề mức độ và không phải là một vấn đề của một câu hỏi đóng với câu trả lời có hoặc không Do đó, một biến giả có thể gây hiểu nhầm Vấn đề này
có thể trở nên nghiêm trọng hơn khi chúng ta tiến hành so sánh xuyên quốc gia
Giả thuyết bảo hiểm xã hội :
Bên cạnh giả thuyết dựa trên đạo luật Wagner, hầu hết các nghiên cứu chúng tôi
đã thảo luận cho đến nay lập luận rằng sự khác biệt về mức độ việc làm công được xác định bởi lý do chính trị : chính phủ sử dụng việc làm công như một công cụ để tạo
ra và phân phối lại lợi ích Rodrik (1996, 1997) đưa ra một giả thuyết để giải thích sự khác biệt này: công việc của chính phủ tương đối an toàn và được xem như là một hình thức bảo hiểm để chống lại nguy cơ thiếu sự đa dạng hóa với bên ngoài của nền kinh tế trong nước Ông lập luận rằng các quốc gia tiếp xúc nhiều với bên ngoài yêu cầu cao hơn đối với khối công chức Mô hình Rodrik năm 1997 cho thấy việc làm khu vực công có thể đóng một vai trò nâng cao phúc lợi xã hội trong một nền kinh tế chịu tác động bởi những rủi ro bên ngoài như thế nào Trong nghiên cứu thực nghiệm của mình, ông đã sử dụng cơ sở dữ liệu thị trường lao động được tập hợp bởi Ngân hàng Thế giới và kích thước mẫu tối đa cho mô hình hồi quy của mình là 76 quốc gia (dữ liệu mặt cắt ngang) In view of this small sample size, he supplements his analysis on employment with data on real government consumption as a share of GDP Kết quả thực nghiệm của ông cho rằng những rủi ro bên ngoài được đo lường bằng thị phần của tổng nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trên GDP, và có một sự liên quan mạnh mẽ đến mức độ nhân viên công chức tại các nước Mặc dù có đủ bằng chứng cho thấy giả thuyết tìm kiếm đặc lợi không thể bị bác bỏ, như đã thảo luận trước đó, một động cơ tốt hơn, đó là cung cấp bảo hiểm xã hội thông qua tạo công ăn
Trang 16việc làm, những sự tính toán tốt hơn thể hiện sự khác biệt trong khu vực nhà nước giữa các quốc gia
Rama (1997) sử dụng các biện pháp tương tự tiếp xúc với rủi ro bên ngoài như nghiên cứu của Rodrik (1996) nhưng tăng số lượng mẫu và khoảng thời gian (dữ liệu bảng không cân bằng) để giải thích sự khác biệt về mức độ công chức giữa các nước Nghiên cứu thực nghiệm của Rama (1997) cho thấy mức độ hân viên chính phủ làm tăng đáng kể sự tiếp xúc với rủi ro bên ngoài, như nhận định đầu tiên của Rodrik (1997)
Một số yếu tố khác được đánh giá là có thể giải thích sự khác biệt về mức độ công chức giữa các nước Ví dụ, Kraay và van Rijckeghem (1995) thấy rằng mức độ của nhân viên chính phủ có liên quan tích cực đến các khoản nợ chính phủ Bên cạnh
đó, họ cũng nhận thấy rằng chính phủ thuê mướn lao động có tính chất phản chu kì hoặc theo mức độ đô thị hóa Áp lực chính trị do tỷ lệ thất nghiệp cao, có thể nâng cao nhu cầu về việc làm khu vực công như một chính sách phản chu kỳ Ngoài ra, đô thị hóa kích thích nhu cầu đối với một số dịch vụ công cộng, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng, trật tự xã hội v.v, điều này dẫn đến tình trạng khu vực nhà nước tăng thêm nhân viên Rama (1997) chỉ ra rằng mức độ nhân viên khu vực nhà nước dường như là cao hơn ở Mỹ Latinh và Nam Á Giả thiết rằng tất cả các biến giả khu vực bằng 0 bị từ chối ở mức ý nghĩa 5% Vì vậy, những điểm đặc trưng vùng miền có thể giải thích một phần nhất định cho phương sai trong việc làm của chính phủ các nước Marques-Sevillano và Rossello-Villallonga (2004) lập luận rằng sự khác biệt có thể được giải thích bằng tỷ lệ phụ thuộc (được định nghĩa là tỷ lệ dân số có độ tuổi lớn hơn 65 và nhỏ hơn 16 so với tổng lao động của một quốc gia) Họ nhận ra rằng số lượng nhân viên công chức tại chính quyền khu vực ở Tây Ban Nha tăng lên cùng với tỷ lệ phụ thuộc Điều này là do tỷ lệ phụ thuộc có thể được kết hợp với các nhu cầu về giáo dục
và y tế, dẫn đến chính phủ phải thuê thêm nhân viên để cung cấp dịch vụ đó
Trang 17Việc làm công và sự phân cấp trong các nghiên cứu trước đây
Trong phần này, chúng tôi xem xét các nghiên cứu trước đây nói về sự liên kết giữa việc làm khu vực công và phân cấp tài chính Như chúng ta đã đề cập ở trên, hầu hết các tài liệu trước đó không trực tiếp thảo luận về mối quan hệ này, ngoại trừ Marques-Sevillano và Rossello-Villallonga (2004) Trong phần đầu của phần này, chúng tôi xem xét các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa phân cấp quản lý tài chính và quy mô của khu vực công, được đo bằng tỷ số chi tiêu của chính phủ hoặc thu nhập so với GDP Sau đó, chúng tôi giới thiệu nghiên cứu thực nghiệm của Marques-Sevillano và Rossello-Villallonga (2004), trực tiếp giải quyết các vấn đề tác động của phân cấp tài chính đối với việc làm trong khu vực công tại Tây Ban Nha Tranh luận đầu tiên để giải quyết các tác động của phân cấp tài chính trên quy
mô khu vực có thể được xem xét lại với nghiên cứu của Musgrave (1959) Ông lập luận rằng dưới một khu vực công phân cấp mạnh mẽ, có khả năng hoạt động hỗ trợ cho người nghèo bị thu hẹp vì hai lý do First, sorting out along Tiebout lines implies relatively income-homogeneous jurisdictions with little scope for redistribution from the rich to the poor within jurisdictions Second, the fear of attracting the mobile poor with relatively generous support programs tends to deter the adoption of such programs Cả hai lý do cho thấy phạm vi cho các chương trình cứu trợ này sẽ hẹp hơn theo một hệ thống tài chính phân cấp tương đối Nói cách khác, một ngân sách tương đối lớn hơn đang được mong đợi dưới sự tập trung cao của chính phủ do nhu cầu hỗ trợ cho người nghèo hiện đang cao
Giả thuyết của Brennan và Buchanan (1980) – Leviathan - là một lập luận cổ điển trong các cuộc thảo luận về mối quan hệ giữa phân cấp và quy mô của khu vực công Trong mô hình của họ, chính phủ là một thực thể đồng nhất, với mục tiêu chung
là tối đa hóa doanh thu tài chính Điều này chỉ có thể bị giới hạn bởi những hạn chế của Hiến pháp Theo giả thuyết của họ, phân cấp quản lý thuế và các quyết định chi
Trang 18tiêu cạnh tranh giữa các đơn vị chính quyền tìm cách thu hút người dân và các nguồn tài nguyên biến động khác, do đó hạn chế việc truy cập vào các công cụ tài chính và thuế khác Trong ngắn hạn, giả thuyết Leviathan ngụ ý rằng, với các điều kiện khác là như nhau, quy mô của khu vực nhà nước nên thay đổi tỷ lệ nghịch với mức độ phân cấp quản lý tài chính, phù hợp với lập luận của Musgrave (1959)
Quan điểm của cả Musgrave (1980) và Brennan và Buchanan (1959) dựa trên quan điểm của hiệu quả phân bổ và họ nhận định sự phân cấp đó sẽ dẫn đến một khu vực công nhỏ Tuy nhiên, có một quan điểm gây nhiều tranh cãi về quy mô của khu vực nhà nước tăng với bối cảnh phân cấp tài chính Tranh luận đầu tiên của Oates (1972, 1985) là sự phân cấp quản lý cao hơn có thể dẫn đến một sự tổn thất trong các nền kinh tế có quy mô nhất định với kết quả là sự tăng lên trong trong chi phí quản lý Giả thuyết Leviathan đã bị chỉ trích rằng nó bỏ qua hiệu quả cung cấp Nếu nền kinh
tế với quy mô trong việc cung cấp các dịch vụ công cộng là đáng kể, phân cấp quản lý
có thể dẫn đến một khu vực nhà nước lớn hơn (Stein, 1998) Hơn nữa, kể từ khi chính quyền trung ương có nhiều khả năng để cung cấp các cá nhân có trình độ chuyên môn cao thì có xu hướng chọn lựa điều kiện thăng tiến cao hơn, kết quả hoạt động kém chất lượng của các quan chức địa phương có thể làm giảm lợi ích của việc phân cấp quản lý và kết quả là chi phí quản lý công yếu kém, chi phí cung cấp cao hơn chi phí của các dịch vụ công cộng (Prud'homme, 1995)
Tranh luận thứ hai được thực hiện trên cơ sở sự tham gia chính trị của Wallis.Wallis lập luận rằng kể từ khi cá nhân có quyền kiểm soát tại địa phương hơn ở cấp quốc gia, họ sẽ muốn ủy quyền cho khu vực công với một phạm vi chức năng rộng hơn và trách nhiệm thực hiện ở các cấp độ địa phương cao hơn của chính phủ Kết quả là, mức độ làm việc chính quyền địa phương phát triển với mức độ phân cấp quản lý tài chính Dựa trên hai tham số này, chúng tôi hy vọng rằng khu vực công có
xu hướng lớn hơn với một mức độ cao hơn của phân cấp tài chính
Trang 19Trong thực tế, có một số lượng các nghiên cứu thực nghiệm tốt để kiểm tra giả thuyết Leviathan, chẳng hạn như Giertz (1983), Oates (1985), Nelson (1987), Wallis
và Oates (1988), Zax (1989) và tạp chí Forbes và Zampelli (1989) Tuy nhiên, không phải các nghiên cứu này đo lường quy mô khu vực công bằng bằng cách tính số lượng công chức, bởi vì các giả thuyết Leviathan cho thấy tập trung vào mức doanh thu mà nhà nước trích ra từ nền kinh tế Bên cạnh các biến doanh thu liên quan, chẳng hạn như doanh thu thuế của chính phủ được xem như một phần nhỏ của thu nhập cá nhân
đã được nhắc tới trong tạp chí Forbes và Zampelli (1989), Giertz (1976), Nelson (1987), Oates (1985) và Zax (1989), các biện pháp khác, chẳng hạn như chi tiêu chính phủ như một phần nhỏ của thu nhập cá nhân, được sử dụng để đo quy mô của khu vực công là tốt, ví dụ, Giertz (1983), Oates (1985) và Oates và Wallis (1988) Theo kinh nghiệm, không có bằng chứng phù hợp để hỗ trợ hoặc bác bỏ giả thuyết Leviathan Trong khi Wallis và Oates (1988) và Zax (1989) tìm thấy các dẫn chứng hỗ trợ cho giả thuyết Leviathan, Giertz (1983), Oates (1985), Nelson (1987) và tạp chí Forbes và Zampelli (1989) đã bác bỏ nó
Cho đến nay, có vẻ như chỉ có một nghiên cứu thực nghiệm của Sevillano và Rossello-Villallonga (2004), giải thích tại sao số lượng công chức tại chính quyền khu vực bị ảnh hưởng bởi quá trình phân cấp Các tác giả xác định quá trình phân cấp quản lý tài chính như chuyển giao trách nhiệm giáo dục và y tế từ trung ương đến các chính quyền trong khu vực Trong nghiên cứu thực nghiệm của họ, họ nhóm các chính quyền khu vực ở Tây Ban Nha vào thời điểm đó tùy thuộc vào việc các chính quyền đã nhận hoặc không nhận hai trách nhiệm này để đo lường quá trình phân cấp tài chính Các chính phủ trong khu vực khi nhận cả hai trách nhiệm sẽ là nhóm có phân cấp mạnh mẽ Các chính phủ trong khu vực chỉ nhận trách nhiệm của giáo dục được phân vào nhóm có phân cấp trung bình Nhóm kiểm soát là nhóm các chính phủ trong khu vực khi không nhận bất cứ trách nhiệm nào
Trang 20Marques-Do quá trình phân cấp được bắt đầu ở Tây Ban Nha trong những năm 1980, 17 chính phủ các nước trong khu vực đã được lập ra và nhu cầu việc làm công đã không hoàn toàn sử dụng các nhân viên chuyển từ chính quyền trung ương Các dữ liệu từ nghiên cứu thực nghiệm của họ cho thấy rằng sự gia tăng số lượng công chức ở cấp chính phủ trong khu vực bằng 1,6 lần mức giảm của cán bộ công ở chính quyền trung ương trong thời gian 1990-2003 Đó là con số tổng lao động khu vực nhà nước thực
sự tăng lên cùng với quá trình phân cấp quản lý tài chính
Chúng ta đặc biệt quan tâm đến một trong những kết quả thực nghiệm của họ Họ nhận ra rằng tỷ lệ cán bộ khu vực đối với tổng số việc làm là lớn hơn đáng kể trong khu vực nhận cả 2 trách nhiệm (giáo dục và y tế) từ chính quyền trung ương so với phần còn lại của khu vực Mô hình lý thuyết của chúng tôi dưới đây chịu ảnh hưởng từ kết quả này Với quá trình phân cấp quản lý tài chính, chính phủ trung ương chuyển giao một số trách nhiệm cho các chính phủ khu vực, điều này dẫn đến sự gia tăng nhân viên chính phủ khu vực và việc giảm nhân viên chính phủ trung ương Tác động tổng thể của phân cấp tài chính trên tổng số nhân viên khu vực phụ thuộc vào hai hiệu ứng đối lập Nếu độ lớn của sự gia tăng lấn át giảm, dẫn đến tổng số lao động khu vực công tăng lên cùng với quá trình tài chính phân cấp Trong trường hợp này, chúng tôi xác nhận Oates (1972, 1985) và lập luận của Wallis rằng phân cấp quản lý có xu hướng dẫn đến một khu vực công lớn hơn Mặt khác, nếu độ lớn của sự gia tăng ít hơn
so với giảm, số lượng tổng số lao động khu vực công giảm dần theo quá trình phân cấp quản lý tài chính Trong trường hợp này, quan điểm được đề xuất bởi Musgrave (1959) và Brennan và Buchanan (1980) rằng quá trình phân cấp dẫn đến quy mô chính phủ gọn nhẹ hơn sẽ được hỗ trợ
Hơn nữa, chúng tôi cũng quan tâm đến việc xác định một vài yếu tố có thể ảnh hưởng đến độ lớn của hai tác động này Trong chương tiếp theo, chúng tôi phát triển
mô hình riêng của chúng tôi với mục đích giải thích rõ sự khác biệt trong việc làm khu
Trang 21vực công ở các quốc gia và làm rõ các câu hỏi mà chúng tôi đặt ra là liệu rằng việc phân cấp tài chính có làm giảm bớt khối việc làm khu vực công hay không
Chi phí công và hiệu ứng không gian trong các bài nghiên cứu trước đây
Như đã nêu trong Chương Một, các nhà hoạch định chính sách có thể bị ảnh hưởng bởi quốc gia lân cận “neighbors” của họ khi họ thiết kế chính sách của mình, được gọi là tương tác không gian hoặc các hiệu ứng không gian Hiện tại có một nghiên cứu cho thấy rằng hiệu ứng không gian đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định chính sách tài chính của một quốc gia Nghiên cứu này đã sử dụng khung
lý thuyết khác nhau để hợp lý hóa sự tồn tại của hiệu ứng không gian, bao gồm những hiệu ứng lan tỏa (Case et al., 1993.) Và tiêu chuẩn đánh giá cạnh tranh (Besley & Case, 1995; Bordignon và cộng sự, 2003; Revelli, 2006) Không phụ thuộc vào cách giải thích lý thuyết khác nhau, ước tính thực nghiệm của các mô hình này thường đi theo một khung thực nghiệm thông thường (Case et al., 1989) Các hiệu ứng không gian có thể được ghi nhận bằng cách sử dụng ma trận khối lượng , được tính toán gần đúng với tương quan không gian tiềm năng hoặc trong các biến phụ thuộc hoặc trong các điều khoản lỗi, hoặc cả hai Trong phần này, chúng tôi tập trung xem xét lại các tài liệu về tương tác không gian trên phương diện chi tiêu ngân sách, vì nó trực tiếp liên kết đến các chủ đề nghiên cứu của chúng tôi, mức độ việc làm khu vực công Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm trước đó đã sử dụng dữ liệu cấp địa phương để phát hiện các hiệu ứng đặc biệt, ví dụ, Baicker (2001), Case et al (1989), Case et al.(1993), Bordignon (2003) và Revelli (2006) Một số nghiên cứu khác, chẳng hạn như Redoano (2003) và Mbakile-Moloi (2006) đã sử dụng dữ liệu xuyên quốc gia để phát hiện hiệu ứng không gian Redoano (2003) tìm thấy bằng chứng về hiệu ứng không gian về chi tiêu công, sử dụng một bộ dữ liệu cho 13 (EU) Liên minh châu Âu trong giai đoạn 1985 -1995 Chương trình thực nghiệm của ông cho rằng các nước EU thiết lập chương trình chi tiêu công của họ ở cả cấp tổng hợp và phân tách, phụ thuộc lẫn
Trang 22nhau Mbakile-Moloi (2006) cũng phát hiện bằng chứng về sự tương tác không gian trên phương diện chi ngân sách tại 24 nước trong khu vực miền Nam châu Phi (Phát triển Cộng đồng (SADC) )và 11 nước tiểu vùng Sahara Châu Phi
Một điểm thú vị của hai nghiên cứu xuyên quốc gia là cả hai tác giả sử dụng một
bộ dữ liệu "đồng nhất" quốc gia Ví dụ, 13 quốc gia Liên minh châu Âu đã được sử dụng trong ước tính thực nghiệm Redoano (2003) tất cả đều là các nước OECD Trong khi đó, 11 quốc gia SSA và 24 quốc gia SADC được sử dụng trong ước tính thực nghiệm Mbakile-Moloi (2006) là các nước đang phát triển hoặc kém phát triển Tầm quan trọng của quan sát này là với một bộ dữ liệu "đồng nhất", sự hiện diện của hiệu ứng không gian có thể không có gì đáng ngạc nhiên vì nó hữu ích hơn cho các nhà làm chính sách của một quốc gia bị ảnh hưởng hoặc đi theo các chính sách của nước láng giềng với mức GDP tương tự hoặc nền cơ sở hạ tầng tương đương Ngoài
ra còn có một cơ hội lớn hơn là vì hiệu ứng không gian có thể được kết hợp với các yếu tố phổ biến khác nhưng là những yếu tố không quan sát được Mặt khác, hiệu ứng không gian có thể không tồn tại giữa hai nước trong cùng một nhóm nhưng tồn tại tại
2 nước khác nhóm, ví dụ, một trong số đó là OECD và nước kia là nước không thuộc OECD hoặc một phát triển và đang phát triển khác Điều này là do có sự khác biệt đáng kể trong tổ chức, cơ sở hạ tầng và nhiều thứ khác giữa hai quốc gia này, hiệu ứng lan tỏa không thể diễn ra và, do đó, hiệu ứng không gian có thể không xảy ra Đặc biệt, ở nhiều nước đang phát triển, các chính trị gia không phải chịu trách nhiệm trước
cử tri, và, do đó, sự cạnh tranh tiêu chuẩn đánh giá có thể không cần thiết Cả hai tham
số đề nghị sử dụng một giới hạn địa lý hay khoảng cách để phát hiện hiệu ứng không gian giữa các quốc gia có thể không thích hợp nếu tập dữ liệu bao gồm cả các nước OECD và không thuộc OECD hoặc các nước phát triển và đang phát triển Trong nghiên cứu này, dữ liệu của chúng tôi bao gồm cả các nước OECD và các nước ngoài OECD, do đó, các phương pháp thực nghiệm sử dụng cho một ma trận khối lượng trở
Trang 23nên rất quan trọng Trong nghiên cứu thực nghiệm của chúng tôi, chúng tôi chia các nước thành sáu nhóm: châu Phi, châu Á, Đông Âu và Liên Xô cũ, châu Mỹ Latinvà vùng Caribê, Trung Đông và Bắc Phi, và OECD.Các nước trong cùng một nhóm có thể có nền văn hóa tương tự hoặc nền kinh tế xã hội, và có nhiều khả năng ảnh hưởng lẫn nhau thông qua các hiệu ứng không gian Trong một bối cảnh như vậy, có hai quốc gia là trong cùng một nhóm, hai quốc gia này được xem là hàng xóm, độc lập cho dù họ có chung đường biên giới hay không Một khi giả thuyết ma trận trọng lượng được quyết định, nó sẽ được sử dụng để phát hiện các hiệu ứng không gian về mức độ việc làm khu vực công cho tất cả các nước trong bộ dữ liệu của chúng tôi Ma trận trọng lượng và kết quả thực nghiệm của chúng tôi được thể hiện trong Chương Bốn
Trang 24CHƯƠNG III : MÔ HÌNH LÝ THUYẾT
Trong chương này, chúng tôi phát triển mô hình lý thuyết mở rộng dựa trên nghiên cứu của Gimpelson và Treisman (2002) Chúng tôi mô hình hóa ngân sách công nhằm xác định số nhân sự khu vực công như một trò chơi hai tầng thi đấu giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Các chính trị gia trong mô hình này luôn tìm cách để tối đa hóa lợi ích của mình (tối đa hóa hàm hiệu dụng) Theo Niskanen (1968), một số biến có thể gộp vào hàm hiệu dụng của công chức, chẳng hạn như tiền lương, danh tiếng và đầu ra của cơ quan Trong mô hình, chúng tôi giả định rằng hàm hiệu dụng của công chức bao gồm hai thành phần: mức độ cung cấp hàng hóa công cho người dân và chênh lệch/thâm hụt ngân sách chính quyền địa phương Lợi ích của công chức có quan hệ đồng biến với mức độ cung cấp hàng hóa công và nghịch biến với thâm hụt ngân sách địa phương
Chúng tôi giả định có hai loại hàng hóa công: hàng hóa công địa phương và hàng hóa công quốc gia Hàng hóa công địa phương chỉ được cung cấp cho các cư dân trong một khu vực cụ thể theo quyết định của viên chức đứng đầu địa phương đó Hàng hóa công quốc gia được cung cấp cho người dân trên cả nước theo quyết định của Trung ương Hàm sản xuất của cả hai loại hàng hóa này đều là hàm Cobb-Douglas với hai đầu vào: lao động (nhân sự khu vực công) và nguồn vốn, có thể được thể hiện dạng toán học như sau:
Trong đó, m là nhân sự khu vực công và K là vốn Chúng tôi tiếp tục giả định
rằng công nghệ sản xuất hàng hóa công địa phương ở mỗi khu vực đều như nhau Do
đó, hai hệ số sản xuất, α và β được cố định như nhau đối với mọi địa phương trên cả
Trang 25nước Tất cả các khoản chi tiêu công dùng để trả lương cho nhân viên và các chi phí thuê vốn
Mô hình này được thiết lập như sau Giả sử có một quốc gia bao gồm một chính
quyền trung ương với một người điều hành và n khu vực pháp lý Tổng nguồn lực quốc gia ở đất nước này là , được tài trợ bởi một tỷ lệ thuế thu nhập t.Y, trong đó t là thuế suất cố định và Y là GDP thực tế Trong giai đoạn 1, chính quyền trung ương
thiết lập mức độ phân quyền ngân sách (θ) cho các chính quyền địa phương với một tỷ trọng nhất định của và phần còn lại (1- θ) được chính quyền trung ương giữ lại
Chúng tôi biểu thị nguồn lực được phân bổ cho địa phương i là ri với Do
đó, những ràng buộc/hạn chế ngân sách cho trung ương và chính quyền địa phương
lần lượt là (1- θ) và Trong giai đoạn 2, người đứng đầu địa phương i nhận phần
chuyển giao và thiết lập số lượng nhân sự công theo thẩm quyền của mình, biểu
diễn bằng đại lượng mi Theo Bird và Vaillancourt (1998), quá trình phân quyền ngân
sách là một sự ủy quyền: người đứng đầu địa phương có thẩm quyền quyết định mức
độ cung cấp hàng hóa công nhưng các quyết định tăng thuế thì bị giới hạn Như chúng tôi đã giả định, hàm hiệu dụng của công chức bao gồm mức độ cung cấp hàng hóa công địa phương cho người dân và thâm hụt ngân sách địa phương, nó tỷ lệ thuận với mức độ cung cấp hàng hóa công địa phương và tỷ lệ nghịch với thâm hụt ngân sách
Hàm hiệu dụng của người đúng đầu địa phương i là E(Vi),
Trong đó, mi, f(mi) và ci lần lượt là số lượng nhân sự công, hàm sản xuất của hàng hóa công địa phương và tỷ lệ thâm hụt ngân sách địa phương i Tỷ lệ thâm hụt
Trang 26ngân sách địa phương được định nghĩa là tỷ lệ giữa lỗ hổng ngân sách trên doanh thu
Người đứng đầu địa phương i lựa chọn thuê một lượng mi nhân viên để tối đa hóa lợi ích của mình và cung cấp mức độ f(mi) hàng hóa công địa phương cho người dân
Chúng tôi giả định hàm sản xuất là một hàm lõm, nghĩa là, f’(mi)>0 và f”(mi) <0,
mi>0 Mức độ hàng hóa công của địa phương i được tính bằng Tại điểm cân bằng, ta có và tổng chi tiêu của địa phương i là
.Ngoài ra, hàm sản xuất có thể giảm xuống
Trong hàm mục tiêu, π(ci) là hàm chi phí chính trị của khoảng chênh lệch/thâm
hụt ngân sách địa phương, do biên chế nhân viên quá đông, người nhiều việc ít Chúng tôi giả định chính quyền địa phương có thể bù đắp thâm hụt thông qua các nguồn khác, ví dụ vay từ các ngân hàng thương mai nhà nước ở địa phương Những hạn chế về ngân sách địa phương như vậy được gọi là các "ràng buộc ngân sách
mềm" Tỷ lệ thâm hụt ngân sách của địa phương i là và
, trong đó mi.(1+β/α) và ri là chi tiêu và thu nhập của địa phương i ci>0 nghĩa là ngân sách thặng dư, ci<0 nghĩa là ngân sách thâm hụt và ci=0 nghĩa là ngân sách địa phương i không thặng dư cũng không thâm hụt Chúng tôi giả định chi phí chính trị là 0 khi ci ≤ 0, chi phí chính trị dương và là một hàm lồi khi ci<0, nghĩa
là π(ci)>0, π’(ci)>0 và π”(ci)>0, ci>0 Để đảm bảo có nghiệm và tránh đáp số góc, chúng ta cần giả định thêm f’(mi) khi mi , f’(mi) khi mi , π’(ci) khi ci và π’(ci) khi ci
Với những ràng buộc ngân sách mềm, chính quyền địa phương có thể tăng chi tiêu mà không phải đối mặt với toàn bộ chi phí (theo Rodden và các cộng sự, 2003)
Hệ số σ (0<σ<1) thể hiện mối quan hệ chính trị giữa chính quyền trung ương và địa
Trang 27phương trong cả nước Nó xác định tỷ lệ chi phí chính trị π(ci) chuyển từ địa phương lên trung ương Như vậy, (1- σ) π(ci) thể hiện những chi phí chính trị còn lại mà địa
phương phải chịu
Có ba thuộc tính trong hàm hiệu dụng của công chức địa phương Đầu tiên, nếu chính quyền địa phương cung cấp mức độ hàng hóa công cộng cao hơn, người đứng đầu địa phương sẽ thu được mức độ hiệu dụng cao hơn Thứ hai, thuê quá nhiều nhân viên khiến mức độ thâm hụt ngân sách địa phương cao, tác động xấu đến hàm hữu
dụng của người đứng đầu địa phương Trong mô hình, (1- σ) π(ci) là khoảng chi phí
chính quyền địa phương phải chịu do thuê nhân viên quá nhiều Một viên chức đứng
đầu địa phương có lí trí sẽ thiết lập mi = m*i sao cho trong đó
m*i và c*i là hàm phản ứng của người đứng đầu địa phương i với những quyết định
của Trung ương trong giai đoạn 1 Chứng minh đơn giản như sau:
Tối đa hóa hàm hiệu dụng cho người đứng đầu địa phương i được xác định là :
với
Để tối đa hóa hàm hiệu dụng, chúng ta có điều kiện bậc nhất như sau:
Đặt F là điều kiện bậc nhất, ta có:
Điều kiện bậc hai là:
Khi f ”<0, (1- σ)>0 và π”(ci)>0, điều kiện bậc hai âm và thỏa mãn việc tối đa hóa hiệu dụng Điều này hàm ý rằng tồn tại nghiệm cho hàm tối đa hóa hiệu dụng Chúng
Trang 28tôi biểu thị hàm phản ứng của người đứng đầu địa phương i là m*i và m*i = mi ( ,
σ, α, β, n, ) Chúng ta có kết quả là
Khi f’(m*i)>0, (1- σ)>0 và α, β và ri đều dương, ta có π’(ci)>0 Vì π(ci)=0 khi ci
và π(ci) là một hàm lồi khi ci>0, chúng ta chỉ ra được c*i>0
Trực giác sau lập luận này là chi phí do biên chế nhân viên quá đông ở địa phương tỷ lệ thuận với phần được phân chia của chính quyền trung ương nên người đứng đầu địa phương có lí trí sẽ chọn mức độ dư thừa nhân viên sao cho lợi ích cận biên của việc cung cấp hàng hóa công cộng bằng với chi phí cận biên và yêu cầu Trung ương chi trả một phần chi phí cho lượng nhân viên dư thừa của địa phương
Chúng ta có thể chỉ thêm rằng mức độ ci* phụ thuộc vào giá trị của σ: giá trị của σ càng cao thì giá trị của ci* càng cao
Cuối cùng, hệ số σ đóng vai trò chính trị quan trọng trong mô hình của chúng tôi Mức độ chi phí chính trị cho viên chức đứng đầu trên cả nước phụ thuộc vào người
mà các cử tri quy trách nhiệm về việc ngân sách bị thâm hụt Ở một số quốc gia, người dân xem thâm hụt ngân sách địa phương là một sự thất bại của kỹ năng thương lượng và quản lý rủi ro của chính quyền trung ương, dù xét một cách khách quan thì chính quyền địa phương có trách nhiệm trực tiếp nhiều hơn Chúng tôi sử dụng σ (0< σ<1) để đánh giá xu hướng cử tri trút trách nhiệm lên chính quyền trung ương thay vì chính quyền địa phương khi ngân sách của địa phương họ thâm hụt Giá trị của biến σ càng cao thì tỷ lệ chi phí chính trị do thâm hụt ngân sách địa phương được chuyển lên trung ương càng cao Chúng tôi kỳ vọng giá trị của σ sẽ cao hơn ở một số quốc gia mà chính quyền địa phương có quyền tự quản ít hơn và giá trị của σ sẽ thấp hơn ở những quốc gia mà chính quyền địa phương có quyền tự quản nhiều hơn, đặc biệt là quyền tự quyết về việc tăng thuế Ví dụ, ở các nước như Hy Lạp và Hungary, những người đứng đầu địa phương không có quyền thu một loại thuế mới hoặc thậm chí tăng hoặc
Trang 29giảm thuế suất Họ chỉ có thể thực thi các chính sách chi tiêu hoặc thu nhập đã được trung ương ban hành và hành động như tay sai của chính quyền trung ương Trong trường hợp này, chính quyền địa phương có thể dễ dàng chuyển các chi phí chính trị của khoảng thâm hụt ngân sách địa phương lên trung ương Mặt khác, ở các nước khác, như Hoa Kỳ và Canada, chính quyền địa phương có quyền tự quản nhiều hơn trong việc quản lý tài chính của địa phương Do đó, những người đứng đầu địa phương ở các nước này sẽ phải chịu một phần lớn hơn của khoảng chi phí do thâm hụt ngân sách
Bây giờ chúng ta chuyển sự chú ý đến vấn đề tối đa hóa hàm hiệu dụng của trung ương Hàm hiệu dụng của người điều hành trung ương gồm hai thành phần: mức cung cấp hàng hóa công quốc gia cho tất cả người dân trong nước và thiếu hụt ngân sách chính quyền địa phương Cũng giống như hàm hiệu dụng của người đứng đầu địa phương, hàm hiệu dụng của người điều hành trung ương tỷ lệ thuận với mức độ hàng hóa công cộng quốc gia và tỷ lệ nghịch với thâm hụt ngân sách địa phương Hàm hiệu
dụng của trung ương E(Vc) được biễu diễn như sau:
Trong đó, g(1- ) có thể được xem như hàm sản xuất hàng hóa công quốc gia Hệ
số σ là phần chi phí chính trị của khoảng thâm hụt ngân sách địa phương mà người điều hành trung ương phải chịu và là tổng các khoảng thâm hụt ngân sách địa phương trong cả nước Một lần nữa, chúng tôi giả định hàm sản xuất là một hàm lõm, nghĩa là, g(1- )’>0 và g(1- )”<0, Người điều hành trung ương chọn một mức độ phân quyền ngân sách để tối đa hóa hàm hiệu dụng của mình
Để đảm bảo sự tồn tại của nghiệm bên trong, chúng tôi tiếp tục giả định g(1- )’ khi và g(1- )’ khi Tại điểm cân bằng, mức độ phân quyền ngân
Trang 30sách tối ưu là *= (σ, α, β, n, ) Khi * được xác định, mức độ tối ưu của nhân viên
chính quyền cấp trung ương m*c cũng được xác định:
Có hai thuộc tính quan trọng của hàm hiệu dụng của trung ương Đầu tiên, tính hiệu dụng tăng lên cùng với việc cung cấp hàng hóa công cộng quốc gia, g(1- θ) Thứ hai, chính quyền trung ương phải chịu một phần chi phí chính trị do thâm hụt ngân sách địa phương, gây hại cho lợi ích của trung ương Phần mà chính quyền trung ương phải chịu là σ và tổng chi phí cho chính quyền trung ương là σ
Trực giác của mô hình lý thuyết, mục tiêu người đứng đầu địa phương là tối đa hóa lợi ích của mình và cách duy nhất là tăng cung cấp hàng hóa công cộng cho địa phương Tuy nhiên, do ngân sách địa phương có giới hạn, việc cung cấp hàng hóa công quá nhiều gây ra mức độ thâm hụt ngân sách địa phương cao, làm giảm lợi ích của người đứng đầu Vì vậy, có một sự đánh đổi giữa việc cung cấp hàng hóa công địa phương và chịu thâm hụt ngân sách trong quyết định của người đứng đầu địa phương Tương tự như vậy, mục tiêu của người điều hành trung ương là tăng lợi ích của mình
Họ có thể tăng lợi ích thông qua việc cung cấp nhiều hơn hàng hóa công cộng quốc gia cho người dân trong nước và cách duy nhất là thiết lập mức độ phân quyền ngân sách thấp hơn Tuy nhiên, tỷ lệ phân quyền ngân sách quá thấp có nghĩa là nguồn lực phân bổ cho địa phương rất thấp, gây ra một mức độ thâm hụt ngân sách địa phương cao và gián tiếp làm giảm lợi ích của trung ương Ở một số quốc gia, người dân xem thâm hụt ngân sách địa phương là một sự thất bại của kỹ năng thương lượng và quản
lý rủi ro của chính quyền trung ương, dù xét một cách khách quan thì chính quyền địa phương có trách nhiệm trực tiếp nhiều hơn Vì vậy, cả người điều hành trung ương lẫn người đứng đầu địa phương đều cần phải chịu chi phí chính trị của khoảng thâm hụt ngân sách địa phương Chúng tôi giới thiệu một biến chính trị, σ, đại diện cho phần
Trang 31chi phí chính trị của khoảng ngân sách địa phương bị thâm hụt mà trung ương phải chịu Chúng tôi lại thấy một mối quan hệ đánh đổi giữa việc thiết lập mức độ phân quyền ngân sách thấp và việc phải chịu chi phí của ngân sách địa phương thâm hụt trong quyết định của các nhà điều hành cấp trung ương Ngoài ra, cả hai nhà hoạch định này đều có liên quan đến biến chính trị σ Trong mệnh đề ba, chúng tôi chỉ ra rằng biến chính trị đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định số lượng nhân sự công ở cả trung ương lẫn địa phương
Hình 1 giúp chúng ta hiểu một cách trực quan về mô hình Mục đích của việc xây dựng mô hình lý thuyết này là để tìm hiểu tác động của một số biến ngoại sinh dựa trên quyết định của người đứng đầu địa phương về việc tuyển dụng nhân viên, quyết định của trung ương về việc lựa chọn mức độ phân quyền ngân sách Hơn nữa, chúng tôi muốn kiểm tra quyết định của trung ương ảnh hưởng như thế nào đến quyết định của người đứng đầu địa phương Để nghiên cứu sự tương tác giữa các quyết định, chúng tôi sử dụng phương pháp tiếp cận lý thuyết trò chơi Chúng tôi có thể giải quyết trò chơi hai người – hai giai đoạn bằng phương pháp quy nạp ngược Trong giai đoạn
2, người đứng đầu địa phương thiết lập số lượng nhân sự công trong địa phương, mi,
để tối đa hóa hàm hiệu dụng của mình:
Trang 32Điều kiện bậc hai, , đã được chứng minh
là âm và thỏa mãn vấn đề tối đa hóa hiệu dụng, đảm bảo sự tồn tại của nghiệm
Trong giai đoạn 1, các nhà điều hành cấp trung ương thiết lập mức độ phân quyền ngân sách θ, để tối đa hóa hàm hữu dụng của mình:
đa hóa hiệu dụng của nhà điều hành cấp trung ương là *= (σ, α, β, n, ) và do đó, số
lượng viên chức cấp trung ương được xác định bởi
Tổng số lao động khu vực công và mức độ phân quyền ngân sách có thể được biểu thị toán học như sau:
và *= (σ, α, β, n , )
Bây giờ chúng tôi đã sẵn sàng để đưa ra một số mệnh đề, giúp xác định tác động tiềm năng của một số biến ngoại sinh trên quyết định của người đứng đầu địa phương
Trang 33về việc tuyển dụng nhân viên, quyết định của người điều hành trung ương trong việc lựa chọn các mức độ phân quyền ngân sách Ngoài ra, chúng tôi sẽ có thể dự đoán phản ứng của người đứng đầu địa phương đối với quyết định của trung ương
Mệnh đề một: Hàm phản ứng đối với số lượng nhân sự công ở địa phương mi,
tăng theo mức độ phân quyền ngân sách θ, được quyết định bởi chính quyền trung
ương trong giai đoạn 1 Ngoài ra, mức độ tối ưu của số lao động khu vực công mc*
giảm theo mức độ phân quyền ngân sách Vì vậy, tác động của việc phân quyền ngân sách đến tổng số lao động khu vực công là không rõ ràng
Đầu tiên, chúng tôi chứng minh rằng mức độ phản ứng của công chức địa
phương mi* tăng theo mức độ phân quyền ngân sách Hàm F biểu thị điều kiện bậc
nhất để tối đa hóa hàm hiệu dụng của người đứng đầu địa phương, ta có:
Trang 34Thứ hai, chúng tôi giải thích tại sao số lượng nhân sự công cấp trung ương mc*
giảm theo mức độ phân quyền ngân sách Với giả định ngân sách trung ương không thâm hụt, giới hạn ngân sách trung ương là (1- θ).R Vì chỉ có hai yếu tố đầu vào trong hàm sản xuất hàng hóa công cộng, tổng chi tiêu của trung ương có thể được biểu thị như mc*.(1+β/α) Với giả định ngân sách trung ương không thâm hụt, ta có
Từ phương trình này, chúng ta biết số lượng sự công cấp trung
ương mc* di chuyển ngược chiều với mức độ phân quyền ngân sách θ
Vì phân quyền ngân sách dẫn đến sự gia tăng số lượng công nhân viên chức ở địa phương và giảm ở trung ương nên tác động tổng thể của phân quyền ngân sách đến tổng số lao động khu vực công là không rõ ràng và phụ thuộc vào độ lớn tương đối của hai hiệu ứng đối lập trên Nếu độ lớn của hiệu ứng trước lấn át hiệu ứng sau thì tổng số lao động khu vực công sẽ tăng theo mức độ phân quyền ngân sách và ngược lại Biến ngoại sinh σ đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định độ lớn của hai tác động này, tuy nhiên, từ mô hình chúng ta không thể tìm thấy mối quan hệ này vì dấu không rõ ràng, vấn đề này sẽ được giải quyết trong ước tính thực nghiệm của chúng tôi
Mệnh đề hai: Từ mô hình lý thuyết, chúng tôi kỳ vọng tồn tại một mối quan hệ
đồng biến giữa GDP và số lượng việc làm công cấp địa phương, nhưng không áp dụng cho GDP và số lượng việc làm công cấp trung ương Đầu tiên chúng tôi chứng minh phần đầu của mệnh đề và sau đó trình bày lý do tiềm năng tại sao mối quan hệ đồng biến này không tồn tại giữa GDP và số lượng việc làm công cấp trung ương:
Theo quy tắc dây chuyền, ta có:
Để thiết lập dấu cho , chúng tôi áp dụng định lý hàm ẩn và thu được:
Trang 35(7)
Từ phương trình (7), chúng ta biết dấu của số hạng đầu tiên bên phải của phương trình (6) là dương Dấu của của số hạng thứ hai bên phải của phương trình (6) là dương vì trong mô hình chúng tôi giả định các nguồn lực quốc gia được tài trợ bởi
một tỷ lệ thuế thu nhập là = t.Y Do đó, (8) Chèn phương trình (7) và (8) vào phương trình (6), ta có:
(9) Dấu của phương trình (9) là dương, nghĩa là số lượng việc làm công ở địa
phương mi* tăng khi GDP tăng
Thứ hai, chúng tôi muốn tìm hiểu tác động của GDP đến số lượng việc làm công cấp trung ương Vì mức độ tối ưu số lao động công cấp trung ương được xác định bởi
, ta có:
Trang 36(10)
Dấu của phương trình (10) phụ thuộc vào dấu của Chúng tôi áp dụng định
lý hàm ẩn một lần nữa Hàm G đại diện cho điều kiện bậc nhất để tối đa hóa hiệu dụng của nhà điều hành cấp trung ương, ta có:
Áp dụng định lý hàm ẩn, ta có:
(11) Dấu của phương trình (11) không rõ ràng nên không thể dự đoán dấu của phương trình (10)
Chúng tôi giải thích lý do của mệnh đề hai như sau Thứ nhất, bất đẳng thức trong phương trình (9) thỏa mãn sự kỳ vọng của chúng tôi Kết quả này hỗ trợ cho định luật Wagner, rằng sự phát triển kinh tế tạo ra nhu cầu đối với các loại hình dịch
vụ mới của chính phủ Để cung cấp thêm hàng hóa công cộng, người đứng đầu địa phương phải thuê thêm nhân viên Vì vậy, số lượng nhân sự khu vực công ở địa phương tăng lên theo GDP Tuy nhiên, theo phương trình (10), chúng tôi không thể xác định được tác động của GDP đến số lượng việc làm công cấp trung ương Lý do
là vì số lượng việc làm công cấp địa phương tăng lên theo GDP, tác động của GDP
Trang 37đến thâm hụt ngân sách địa phương không thể đoán trước được Nếu sự gia tăng GDP làm ngân sách địa phương thâm hụt nhiều hơn, các nhà điều hành cấp trung ương có thể tăng hàm hiệu dụng của mình bằng cách nâng mức độ phân quyền ngân sách, giúp giảm chi phí từ thâm hụt ngân sách địa phương mà trung ương phải chịu Do số lượng việc làm công cấp trung ương tỷ lệ nghịch với mức độ phân quyền ngân sách, sự gia tăng GDP có thể làm giảm số lượng nhân sự công cấp trung ương
Tổng số lao động khu vực công của một quốc gia bao gồm các công nhân viên chức ở địa phương và trung ương Từ phần đầu của mệnh đề hai, chúng ta biết rằng các tác động của GDP đến số lượng việc làm công ở địa phương là dương, nhưng từ phần thứ hai, chúng ta biết rằng tác động của GDP đến số lượng việc làm công ở trung ương là không xác định Do đó, chúng tôi không thể dự báo tác động của GDP đến tổng số việc làm khu vực công Chúng tôi có một công trình thực nghiệm và sẽ giới thiệu trong Chương Bốn
Mệnh đề ba: Số lượng nhân sự công ở địa phương tăng theo tỷ lệ chi phí chính
trị do thâm hụt ngân sách địa phương chuyển sang trung ương, mặt khác, số lượng việc làm khu vực công cấp trung ương cũng tăng theo tỷ lệ này Chứng minh mệnh đề như sau:
Đầu tiên, chúng tôi chứng minh phần đầu của mệnh đề Áp dụng định lý hàm ẩn,
ta có:
(12) Mẫu số của phương trình (12) là âm vì nó là điều kiện bậc hai để tối đa hóa hàm hiệu dụng của người đứng đầu địa phương Phương trình (12) hàm ý rằng số lượng việc làm công ở địa phương tăng theo tỷ lệ chi phí chính trị do thâm hụt ngân sách địa phương mà chính quyền trung ương phải chịu
Trang 38Tiếp theo, chúng tôi muốn xác định tác động của tỷ lệ chi phí này đến số lượng
nhân sự công cấp trung ương Vì , ta có:
(13) Phương trình (13) cho thấy và có dấu ngược nhau Mặc dù chúng tôi
không thể suy ra dấu của từ định lí hàm ẩn một cách trực tiếp, chúng tôi vẫn có thể xác định nó gián tiếp từ một số phương trình đã có Theo quy tắc dây chuyền, ta
có Theo phương trình (12) ta biết Từ mệnh đề một ta biết
Do đó, ta có thể xác định được Theo phương trình (13), hàm ý
đó Để giảm bớt sự thiếu hụt ngân sách địa phương, trung ương phải chuyển một khoản ngân sách lớn hơn cho địa phương Cách này sẽ làm giảm nhân lực công ở cấp trung ương Tác động của biến chính trị đến tổng số việc làm khu vực công phụ thuộc vào hai hiệu ứng đối lập Nếu sự gia tăng số nhân sự công ở địa phương lấn át việc giảm số nhân công ở cấp trung ương thì tổng số lao động khu vực công tăng theo biến
Trang 39chính trị, và ngược lại Vì vậy, tác động tổng thể không thể xác định trước và phải thiết lập dựa trên thực nghiệm
Trang 40CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM
Trong chương này, chúng ta sẽ tập trung vào phát triển cơ cấu thực tiễn, việc này sẽ hỗ trợ chúng ta trong việc phán đoán và thể hiện kết quả Chúng ta bắt đầu với việc định nghĩa nhân viên công chức và những khó khăn trong việc định nghĩa biến số này trong phần 1 Ở phần 2, chúng ta sẽ định nghĩa tiêu chuẩn của chúng ta trong việc đánh giá sự phân quyền tài chính và đồng thời cũng phân tích thêm những khó khăn liên quan tới biến số này Trong phần 3, chúng ta sẽ trình bày lại các giả thuyết được suy ra từ mô hình lý thuyết Trong phần 4, chúng ta phân tích phương pháp mà chúng
ta áp dụng biến số định lượng vào biến số chính trị đã được giới thiệu trong mô hình
lý thuyết Sau đó chúng ta xem xét lại một vài vấn đề kinh tế liên quan đến việc đánh giá trong phần 5 Và ở phần cuối chúng ta sẽ trình bày những kết quả và so sánh chúng với những tài liệu trước đây
KHÁI NIỆM VIỆC LÀM KHU VỰC CÔNG
Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta là định nghĩa thuật ngữ “Việc làm khu vực công” Nhân viên khu vực công, hay nhân viên công chức, có thể được chia thành nhiều loại dựa vào công việc, tình trạng việc làm của họ và người trả lương cho họ Những tiêu chuẩn này tạo nên một đội ngũ nhân viên công chức phức tạp với những định nghĩa khác nhau ở các cùng miền Schiavo – Campo và những người khác (1997a, 1997b) đã chỉ ra nhiều vấn đề trong khi định nghĩa thuật ngữ này Ví dụ, ở một số quốc gia, giáo viên và nhân viên y tế được xếp loại vào nhân viên công chức, trong khi ở những quốc gia khác thì không phải như vậy Ở một số quốc gia, người trong tổ chức bán quân sự được xếp loại vào nhân viên công chức bởi vì họ có vai trò trong việc duy trì các nội quy công cộng, trong khi ở các quốc gia khác họ được xem
là cán bộ quân sự Ngoài ra, ở một số quốc gia, nếu nhân viên chính phủ địa phương