1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM

51 376 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Xuất Giải Pháp Nhằm Xử Lý Nợ Xấu Trong Hệ Thống NHTM Việt Nam
Tác giả Nguyễn Đôn Nhã Uyên, Nguyễn Thị Tuyết Chi, Nguyễn Thị Phương Thảo, Lê Vũ Ngọc Anh, Đoàn Nhật Thanh, Võ Trần Đức Tuấn, Trần Thái Phương Nam
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
Chuyên ngành Chính trị - Kinh tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 200,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Hoạt động ngân hàng trong những năm vừa qua chứa đựng khá nhiều rủi ro do ảnh hưởng một phần từ nền kinh tế thế giới nói chung và trong nước nói riêng, một phần từ chính hoạt động của các ngân hàng. Trong đó, hoạt động tín dụng mặc dù là một trong các lĩnh vực chính đem lại nguồn thu lớn nhất cho hệ thống ngân hàng nhưng chính nó cũng là một hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro nợ xấu. Nợ xấu không còn là vấn đề của một ngân hàng, một quốc gia mà đã trở thành vấn đề chung của toàn hệ thống NHTM trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Do đó, việc đánh giá thực trạng nợ xấu của hệ thống NHTM trong nước để từ đó đề xuất giải pháp xử lý vấn đề này. Được sự phân công nghiên cứu đề tài này của giảng viên bộ môn, nhóm đã cố gắng tìm hiểu kỹ lưỡng các vấn đề liên quan đến đề tài thông qua các bài nghiên cứu trước đây, quy định của NHNN, các vấn đề thực tiễn khác cũng như hướng dẫn học thuật từ phía GVHD. Đề tài được trình bày với cấu phần gồm 03 chương lớn như sau: Chương I : Tổng quan lý thuyết về nợ xấu; Chương II : Thực trạng nợ xấu tại Việt Nam; Chương III: Đề xuất các giải pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam; Phụ lục và Tham khảo. Trong quá trình thực hiện đề tài này, dù đã nỗ lực rất nhiều nhưng không thể tránh khỏi những sai sót về cách dùng từ, câu chữ hay ý nghĩa diễn đạt. Rất hy vọng phần trình bày tiếp sau đây sẽ nhận được sự quan tâm, góp ý sâu sắc từ thầy GVHD cũng như các nhóm đề tài khác để bài làm của nhóm được hoàn thiện hơn. Chân thành cảm ơn Nhóm thực hiện. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………….. 3 CHƯƠNG I : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU………………………………... 6 1.1. Khái niệm nợ xấu……………………………………………………………………….. 6 1.1.1. Theo Oxford dictionary for the Business Word ……………………………………….. 6 1.1.2. Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống Kê – Liên Hiệp Quốc……………………... 6 1.1.3. Theo IMF………………………………………………………………………………. 6 1.1.4. Xét theo tiêu chuẩn của hệ thống kế toán quốc tế IAS ………………………………. 6 1.1.5. Quyết định 4932005QĐNHNN ……………………………………………………... 7 1.2. Phân loại nợ xấu.………………………………………………………………………... 7 1.2.1. Theo các nước trên Thế giới…………………………………………………………… 7 1.2.2. Theo Việt Nam…………………………………………………………………………. 8 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành nợ xấu ……………………………. 9 1.3.1. Các yếu tố khách quan ………………………………………………………………... 9 1.3.2. Các yếu tố chủ quan …………………………………………………………………. 11 1.4. Tác động của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh của các NHTM ……………………... 12 CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM ……………………………. 13 2.1. Thực trạng nợ xấu của các NHTM Việt Nam ………………………………………. 13 2.1.1. Tình hình nợ xấu những năm 20082012 ……………………………………………. 13 2.1.2. Tình hình nợ xấu nửa đầu năm 2013 ………………………………………………… 14 2.2. Nguyên nhân nợ xấu hình thành và gia tăng ở các NHTM Việt Nam …………….. 16 2.2.1.Từ các yếu tố vĩ mô …………………………………………………………………… 16 2.2.2. Từ phía các ngân hàng thương mại ………………………………………………….. 17 2.2.3. Từ phía khách hàng vay vốn …………………………………………………………. 18 CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM ……………………………………………………………... 20 3.1. Bài học kinh nghiệm về xử lý nợ xấu của các quốc gia trên thế giới ……………… 20 3.1.1. Kinh nghiệm của Mỹ …………………………………………………………………. 20 3.1.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc ……………………………………………………….. 22 3.1.3. Kinh nghiệm của Hàn Quốc …………………………………………………………. 25 3.1.4. Kinh nghiệm từ Australia ……………………………………………………………. 27 3.1.5. Bài học kinh nghiệm chung cho Việt Nam …………………………………………... 28 3.2. Kiến nghị và giải pháp ………………………………………………………………... 29 3.2.1. Kiến nghị dựa trên bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới………………… 29 3.2.2. Kiến nghị đi từ thực trạng nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay……….. 30 3.2.3. Kiến nghị hoàn thiện các phương pháp xử lý nợ xấu đang được NHTM áp dụng…… 31 PHỤ LỤC 1: PHÂN LOẠI NỢ XẤU THEO THÔNG TƯ 022013TTNHNN………. 38 PHỤ LỤC 2: HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ XẤU KỲ VỌNG TỪ CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN VIỆT NAM VAMC .……………………………………………………………….. 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………….... 49 CHƯƠNG I : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU 1.1. Khái niệm nợ xấu: 1.1.1. Theo Oxford dictionary for the Business Word: Nợ xấu (bad debt) là nợ khó có thể thu hồi. Chẳng hạn như một khoản tiền có thể được xử lý như là một khoản thiệt hại và được xóa sổ trong phần lợi nhuận và tài khoản nợ phải thu. Những khoản nợ khó có thể đòi được có thể xuất hiện trong các tài khoản của một tổ chức cùng với một khoản dự phòng cho nợ xấu. 1.1.2. Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống Kê – Liên Hiệp Quốc: Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. 1.1.3. Theo IMF: Một khoản vay là nợ xấu khi lãi và vốn gốc bị trả quá hạn 90 ngày trở lên hoặc ít nhất 90 ngày đối với việc trả lãi vay đã thỏa thuận vốn hóa, tái cấp vốn hoặc trì hoãn, hoặc việc hoàn trả ít hơn 90 ngày quá hạn nhưng có lý do khác tốt hơn để nghi ngờ về sự hoàn trả đầy đủ. 1.1.4. Xét theo tiêu chuẩn của hệ thống kế toán quốc tế IAS: Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi đã quá hạn trả lãi vàhoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS và IAS 39 thì việc xét đâu là một khoản nợ xấu chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của người đi vay thông qua phương pháp chiết khấu dòng cổ tức hoặc xếp hạng tín dụng bất luận thời gian quá hạn đã trên 90 ngày hay chưa. Một cách định nghĩa khác về nợ xấu, theo giáo trình Quản trị NHTM hiện đại do PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn chủ biên: “nợ xấu là những khoản nợ quá hạn, nhưng ở cấp độ nghiêm trọng hơn, do đó được gọi là nợ xấu”. 1.1.5. Quyết định 4932005QĐNHNN : Theo Quyết định 4932005QĐNHNN ngày 22042005 của NHNN quy định về việc phân loại nợ, trích lập, sử dụng dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ Chức Tín Dụng, định nghĩa: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Theo đó, nợ xấu là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà không thể thu hồi lại được do khách hàng làm ăn thua lỗ hoặc phá sản…, là một khoản tiền cho vay đã quá hạn mà xác định không thể thu hồi lại được. Như vậy, nợ xấu có một số đặc trưng sau: Khả năng thu hồi rất thấp, khả năng mất vốn cao, gây thiêt hại cho ngân hàng. Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết hết hạn. Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi. Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) có giá trị được đánh giá không đủ trang trải nợ gốc và lãi. 1.2. Phân loại nợ xấu: 1.2.1. Theo các nước trên Thế giới:

Trang 1

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM

Trang 2

THÀNH VIÊN NHÓM NGHIÊN CỨU

1 Nguyễn Đôn Nhã Uyên

2 Nguyễn Thị Tuyết Chi

3 Nguyễn Thị Phương Thảo

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GVHD

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

Được sự phân công nghiên cứu đề tài này của giảng viên bộ môn, nhóm đã cố gắngtìm hiểu kỹ lưỡng các vấn đề liên quan đến đề tài thông qua các bài nghiên cứu trước đây,quy định của NHNN, các vấn đề thực tiễn khác cũng như hướng dẫn học thuật từ phíaGVHD Đề tài được trình bày với cấu phần gồm 03 chương lớn như sau:

- Chương I : Tổng quan lý thuyết về nợ xấu;

- Chương II : Thực trạng nợ xấu tại Việt Nam;

- Chương III: Đề xuất các giải pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam;

- Phụ lục và Tham khảo

Trong quá trình thực hiện đề tài này, dù đã nỗ lực rất nhiều nhưng không thể tránhkhỏi những sai sót về cách dùng từ, câu chữ hay ý nghĩa diễn đạt Rất hy vọng phần trìnhbày tiếp sau đây sẽ nhận được sự quan tâm, góp ý sâu sắc từ thầy GVHD cũng như các nhóm

đề tài khác để bài làm của nhóm được hoàn thiện hơn

Chân thành cảm ơn!

Trang 5

Nhóm thực hiện.

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU……… 3

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU………

6 1.1 Khái niệm nợ xấu………

6 1.1.1 Theo Oxford dictionary for the Business Word ………

6 1.1.2 Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống Kê – Liên Hiệp Quốc………

6 1.1.3 Theo IMF……….

6 1.1.4 Xét theo tiêu chuẩn của hệ thống kế toán quốc tế - IAS ……….

6 1.1.5 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ……… 7

1.2 Phân loại nợ xấu.………

7 1.2.1 Theo các nước trên Thế giới………

7 1.2.2 Theo Việt Nam……….8

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành nợ xấu ……….9

1.3.1 Các yếu tố khách quan ……… 9

1.3.2 Các yếu tố chủ quan ……….11

1.4 Tác động của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh của các NHTM ……… 12

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM ……… 13

Trang 6

2.1 Thực trạng nợ xấu của các NHTM Việt Nam ……….

13 2.1.1 Tình hình nợ xấu những năm 2008-2012 ……… 13

2.1.2 Tình hình nợ xấu nửa đầu năm 2013 ………

14 2.2 Nguyên nhân nợ xấu hình thành và gia tăng ở các NHTM Việt Nam ………

16 2.2.1.Từ các yếu tố vĩ mô ………

16 2.2.2 Từ phía các ngân hàng thương mại ………

17 2.2.3 Từ phía khách hàng vay vốn ……….

18 CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM ………

20 3.1 Bài học kinh nghiệm về xử lý nợ xấu của các quốc gia trên thế giới ……… 20

3.1.1 Kinh nghiệm của Mỹ ……….

20 3.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc ……… 22

3.1.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc ……….25

3.1.4 Kinh nghiệm từ Australia ……… 27

3.1.5 Bài học kinh nghiệm chung cho Việt Nam ……… 28

3.2 Kiến nghị và giải pháp ………

29 3.2.1 Kiến nghị dựa trên bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới………29

3.2.2 Kiến nghị đi từ thực trạng nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay………

30

Trang 7

3.2.3 Kiến nghị hoàn thiện các phương pháp xử lý nợ xấu đang được NHTM áp dụng……

31

PHỤ LỤC 1: PHÂN LOẠI NỢ XẤU THEO THÔNG TƯ 02/2013/TT-NHNN……… 38 PHỤ LỤC 2: HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ XẤU KỲ VỌNG TỪ CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN VIỆT NAM - VAMC ……… 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO ………

49

Trang 8

1.1 Khái niệm nợ xấu:

1.1.1 Theo Oxford dictionary for the Business Word:

Nợ xấu (bad debt) là nợ khó có thể thu hồi Chẳng hạn như một khoản tiền có thểđược xử lý như là một khoản thiệt hại và được xóa sổ trong phần lợi nhuận và tài khoản nợphải thu Những khoản nợ khó có thể đòi được có thể xuất hiện trong các tài khoản của một

tổ chức cùng với một khoản dự phòng cho nợ xấu

1.1.2 Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống Kê – Liên Hiệp Quốc:

Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và /hoặc gốc trên 90ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặcchậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có

lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ

1.1.3 Theo IMF:

Một khoản vay là nợ xấu khi lãi và vốn gốc bị trả quá hạn 90 ngày trở lên hoặc ít nhất

90 ngày đối với việc trả lãi vay đã thỏa thuận vốn hóa, tái cấp vốn hoặc trì hoãn, hoặc việchoàn trả ít hơn 90 ngày quá hạn nhưng có lý do khác tốt hơn để nghi ngờ về sự hoàn trả đầyđủ

1.1.4 Xét theo tiêu chuẩn của hệ thống kế toán quốc tế - IAS:

Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi đã quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày;hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậmtheo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý dochắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ

Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế - IFRS và IAS 39 thì việc xét đâu là mộtkhoản nợ xấu chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của người đi vay thông qua phương phápchiết khấu dòng cổ tức hoặc xếp hạng tín dụng bất luận thời gian quá hạn đã trên 90 ngàyhay chưa

Một cách định nghĩa khác về nợ xấu, theo giáo trình Quản trị NHTM hiện đại doPGS.TS Nguyễn Đăng Dờn chủ biên: “nợ xấu là những khoản nợ quá hạn, nhưng ở cấp độnghiêm trọng hơn, do đó được gọi là nợ xấu”

Trang 9

1.1.5 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN 1 :

Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN quy định về việcphân loại nợ, trích lập, sử dụng dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàngcủa Tổ Chức Tín Dụng, định nghĩa: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới chuẩn),

nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)

Theo đó, nợ xấu là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà không thể thu hồi lại được

do khách hàng làm ăn thua lỗ hoặc phá sản…, là một khoản tiền cho vay đã quá hạn mà xácđịnh không thể thu hồi lại được

Như vậy, nợ xấu có một số đặc trưng sau:

- Khả năng thu hồi rất thấp, khả năng mất vốn cao, gây thiêt hại cho ngân hàng.

- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết hết hạn.

- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi.

- Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) có giá trị được đánh giá không đủ trang trải nợ gốc và lãi.

1.2 Phân loại nợ xấu:

1.2.1 Theo các nước trên Thế giới:

Theo định nghĩa của IAS, nợ xấu được xác định dựa trên hai yếu tố chính:

- Quá hạn trên 90 ngày,

- Khả năng không trả được nợ của khách hàng

Về cơ bản, đa số các nước cũng xác định nợ xấu dựa trên hai yếu tố này Tuy nhiên,tiêu chí phân loại nợ là không hoàn toàn đồng nhất giữa các quốc gia trên Thế giới Theocuộc khảo sát thực tiễn tại các nước đại diện trong nhóm liên kết các nguyên tắc cơ bảnBasel thì ở một số quốc gia có thêm các tiêu chuẩn khác như:

- Tại Mexico: Các ngân hàng còn dựa trên giá trị có thể thu hồi của tài sản thế chấp

Hệ thống phân loại của Mexico cũng dựa trên một số tiêu chí như: kinh nghiệm thanh toán,môi trường khách hàng tín dụng đang hoạt động

Trang 10

- Tại Anh và Hà Lan: Không có yêu cầu cụ thể nào cho việc phân loại nợ vì thế cácngân hàng tự xây dưng quy tắc riêng.

- Tại Brazil, Cộng Hòa Séc, Pháp, Ấn Độ, và Nam Phi: Khi có một khoản nợ phânloại là nợ xấu, thì tất cả các khoản nợ khác của cùng một khách hàng cũng được phân loại là

nợ xấu

- Tại Hàn Quốc, Mexico, Ả Rập Saudi: Có cách tiếp cận linh hoạt hơn, quyết định củacác ngân hàng dựa trên sự xem xét lại của họ về việc hình thành của từng khoản nợ, bất kểnhững khoản nợ khác được xếp hạng như thế nào

- Tại Mỹ: Các khoản vay khác nên được đánh giá lại để xác định liệu một hoặc nhiềucác khoản vay nên được đánh giá tương tự Việc xác định này nên dựa trên việc đánh giá khảnăng thu hồi độc lập của mỗi khoản vay, khả năng thanh toán của khách hàng nợ

1.2.2 Theo Việt Nam:

Căn cứ trên thời gian quá hạn hoàn trả, nợ xấu được phân làm 3 loại theo Điều 6trong Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Quốc hội:

- Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến

180 ngày; (ii) Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã

cơ cấu lại; (iii) Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3 và khoản

4 điều 6

- Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: (i) Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360ngày; (ii) Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thờihạn cơ cấu lại; (iii) Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3

và khoản 4 điều 6

- Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: (i) Các khoản nợ quá hạn trên 360ngày; (ii) Các khoản nợ khoanh chờ Chính Phủ xử lý; (iii) Các khoản nợ đã cơ cấu lại thờihạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại; (iv) Các khoản nợ khácđược phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 điều 6

Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng, theo điều 7 Quyết Định NHNN nợ xấu thuộc các nhóm:

493/2005/QĐ Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được Tổ chức tín dụng đánhgiá là không có khả năng thu hồi cả vốn gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất mộtphần nợ gốc và lãi

Trang 11

- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá làkhả năng tổn thất cao.

- Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được Tổ chức tín dụngđánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn

Ngoài ra còn một số trường hợp như sau:

- Trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một khoản nợ với Tổ chức tín dụng mà

có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì Tổ chức tín dụng bắt buộcphải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơntương ứng với mức độ rủi ro (Theo khoản 3 – Điều 6 QĐ 493/2005/QĐ-NHNN)

- Trường hợp các khoản nợ (kể cả các khoản nợ trong hạn và các khoản nợ cơ cấu lạithời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại) mà Tổ chức tín dụng có đủ cơ sở đểđánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm thì Tổ chức tín dụng chủ động tựquyết định phân loại các khoản nợ đó vào các nhóm nơ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độrủi ro

- Khi khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm thì Tổ chức tín dụng chủ động tựquyết định phân loại các khoản nợ đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độrủi ro (Theo khoản 4 - Điều 6 QĐ 493/2005/QĐ-NHNN)

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành nợ xấu:

Hoạt động tín dụng luôn tìm ẩn rất nhiều rủi ro Các ngân hàng muốn kiểm soát chặtchẽ các hợp đồng cho vay nhằm quản lý nợ quá hạn ở một tỷ lệ nhất định Tuy nhiên, trongthực tế, tỷ lệ nợ xấu ở các ngân hàng không chỉ bị chi phối bởi các yếu tố mà các ngân hàng

có thể kiểm soát được mà còn bởi các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của các ngân hàng Đóchính là các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan đã ảnh hưởng đến việc hình thành nợxấu

1.3.1 Các yếu tố khách quan:

- Biến động kinh tế: Nền kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn liền với nền kinh tế của cả

Thế giới Bởi lẽ tất cả các chủ thể hoạt động kinh doanh luôn có mối quan hệ trực tiếp hoặcgián tiếp với nhau tạo thành một chuỗi các mắc xích Khi nền kinh tế suy thoái làm cho hầuhết các chủ thể kinh tế lâm vào tình trạng vỡ nợ hoặc hoạt động kinh doanh gặp nhiều khókhăn, giảm sút doanh số Do đó, các khoản vay của ngân hàng tới thời kỳ thanh toán khôngthực hiện đúng kỳ hạn đã cam kết với ngân hàng Kết quả là nợ quá hạn phát sinh và dẫn đếnhậu quả là nợ xấu tăng nhanh Bằng chứng là năm 2008, kinh tế Thế giới và Việt Nam suy

Trang 12

hàng kiểm soát các khoản vay và hạn chế việc phát sinh nợ quá hạn và theo đó nợ xấu sẽgiảm Ngược lại, nền kinh tế phát triển bền vững sẽ làm cho phần lớn các chủ thể kinh tếhoạt động kinh doanh có hiệu quả, đầu ra ổn định và ngày càng phát triển, nguồn tiền luânchuyển tốt Các khoản nợ tại ngân hàng được thanh toán đúng kỳ hạn, khi đó nợ quá hạn và

nợ xấu sẽ ít phát sinh Do đó, có thể thấy rằng biến động kinh tế là yếu tố bao quát nhất, ảnhhưởng rất lớn tới việc hình thành nợ xấu tại các ngân hàng

- Hành lang pháp lý: Trong hoạt động của các ngân hàng, Nhà nước đã ban hành hệ

thống các văn bản quy phạm pháp luật nhằm buộc các chủ thể kinh tế phải thực hiện đúngthỏa thuận với nhau thông qua việc ký kết hợp đồng hoặc cam kết thực hiện… Nếu mộttrong các bên tham gia không thực hiện đúng sẽ bị pháp luật xử lý thông qua việc phán xétcủa tòa án và bộ phận thi hành án sẽ thực thi các quyết định của tòa Nhưng trong thực tế cónhiều bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực thi hành và đã có đơn yêu cầu thi hành áncủa ngân hàng mà cơ quan thi hành án vẫn chưa thi hành án với nhiều lý do như bản án chưa

rõ ràng, hồ sơ pháp lý chưa đầy đủ Những trường hợp đó, Ngân hàng phải chờ cơ quan thihành án làm việc lại với Tòa án Thời gian chờ đợi này thường kéo dài hàng tháng thậm chímột năm ngân hàng mới nhận được văn bản trả lời của cơ quan thi hành án Do đó, nếu hànhlang pháp lý càng chặt chẽ và phù hợp với thực tế thì sẽ góp phần ổn định hoạt động kinh tế,hạn chế được việc một bên phá vỡ hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia, đảm bảo công bằng vàquyền lợi của các bên tham gia Một khi các quy định này không chặt chẽ và còn nhiều kẽ

hở, công tác thi hành án còn chậm thì sẽ tạo điều kiện cho kẻ xấu lừa đảo và chiếm đoạt vốncủa ngân hàng

- Cơ chế chính sách của Nhà Nước: cũng góp phần điều tiết rất lớn đối với hoạt động

kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, từ đó tác động gián tiếp đến hoạt đông của cácngân hàng Điển hình như vừa qua Nhà nước đã có gói kích cầu nền kinh tế, hỗ trợ 4% /nămđối với các khoản vay thuộc 15 ngành nghề quy định Điều này đã giúp cho tất cả các DoanhNghiệp trong 15 ngành nghề này giảm được chi phí đầu vào, giảm giá thành sản phẩm nênlượng tiêu thu tăng Khi đó, các doanh nghiệp này sẽ có đầu ra ổn định, doanh số tăng lên vàtài chính vững chắc Hơn nữa, các doanh nghiệp trong 15 ngành chủ chốt này hoạt động tốt

sẽ kéo theo các doanh nghiệp trong những ngành kinh tế khác hoạt động kinh doanh tốt hơn.Đối với ngân hàng, khi cho vay các doanh nghiệp có đầu ra và tài chính tốt giúp cho ngânhàng hoạt động ngày càng hiệu quả và nợ quá hạn cũng như nợ xấu sẽ được hạn chế và giảmđáng kể Do đó, có thể thấy được cơ chế chính sách của Nhà nước trong việc điều hành nềnkinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của hệ thống NHTM, nhất là hoạt độngtín dụng

- Các yếu tố bất khả kháng như thiên tai, địch họa: đây là những yếu tố gây tổn thất

to lớn không thể lường trước hoặc không thể tránh khỏi như: bão, lũ lụt, hạn hán, sóng thần,

Trang 13

dịch bệnh, chiến tranh… Những yếu tố này thường gây thiệt hại trên phạm vi rộng, để lạihậu quả lâu dài Một khi khách hàng bị thiệt hại xuất phát từ các yếu tố trên thì khả năngthanh toán các khoản vay tới hạn gần như là không thể Do đó, các yếu tố này thường gây ra

nợ quá hạn, nợ xấu ngoài tầm dự đoán của các ngân hàng

1.3.2 Các yếu tố chủ quan:

- Thẩm định và giám sát vốn cho vay chưa tốt: Công tác thẩm định là khâu quan trọng

nhất của quá trình cho vay vì nó xác định chính xác khách hàng có khả năng được vay haykhông Công việc này cần phải xác định nhiều nguồn thông tin để đánh giá khách hàng, làm

cơ sở cho các công tác khác sau này Ví dụ như đối với hoạt động tín dụng cho vay tín chấp

cá nhân, khách hàng là hộ kinh doanh cá thể cần vay vốn bổ sung vốn kinh doanh Cán bộtín dụng khi thẩm định phải biết khách hàng này kinh doanh thuận lợi không, mua hàng từđâu và bán hàng cho ai, doanh số như thế nào, lợi nhuận hàng năm là bao nhiêu, ngành nghềkinh doanh có mang tính chu kỳ hay không, các hóa đơn, chứng từ chứng minh có đáng tincậy không… Chỉ cần một thông tin không chính xác có thể dẫn đến việc đánh giá kháchhàng không đúng và dẫn tới khả năng phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu Điều này cho thấy mộtkhi cán bộ tín dụng thẩm định không tốt sẽ không nhận thấy được rủi ro tiềm ẩn gây ra cáckhoản nợ xấu Nếu các bộ tín dụng có năng lực thẩm định kỹ càng và nắm rõ khách hàngthật tốt thì có khả năng hạn chế được nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh

Song song với công tác thẩm định, công tác giám sát vốn vay đối với khách hàngcũng rất quan trọng vì nếu khách hàng sử dụng đúng với mục đích như cam kết thì sẽ hạnchế được phát sinh nợ xấu do đã đánh giá được nguồn trả nợ ngay từ ban đầu như thế nào.Nếu khách hàng không sử dụng đúng mục đích và chuyển vốn cho các lĩnh vực khác màkhách hàng không thông thạo sẽ dễ bị thua lỗ và không thanh toán được khoản nợ khi đếnhạn, làm phát sinh nợ quá hạn và là nguyên nhân nợ xấu tăng nhanh tại các ngân hàng

- Năng lực tài chính của khách hàng: Đây là yếu tố quan trọng dẫn đến việc các

khoản vay của khách hàng có bị quá hạn hay không Nếu khách hàng có năng lực tài chínhvững mạnh, sẽ giúp họ có khả năng thanh toán được khoản vay đúng hạn và ngược lại họ sẽ

bị quá hạn khoản vay của mình Năng lực tài chính của khách hàng cũng là một trong nhữngyếu tố quan trọng giúp xác định có cho vay được hay không đối với một khách hàng Có rấtnhiều yếu tố để xác định năng lực tài chính của khách hàng, ví dụ như đối với doanh nghiệpphải biết được khách hàng đang sản xuất mặt hàng nào, thị trường đầu ra ở đâu, doanh sốbán như thể nào, máy móc thiết bị , cách quản lý ra sao, … Đặc biệt quan trọng là nguồn trả

nợ của khách hàng, các thông tin và chứng từ khách hàng cung cấp về nguồn lực tài chính cómức độ tin cậy và mức độ ổn định nguồn thu nhập như thế nào… Điều này rất quan trọngtrong việc xác định khả năng trả nợ, thời hạn vay của khách hàng và nó ảnh hưởng trực tiếptới khoản vay có bị chuyển sang nợ xấu hay không

Trang 14

- Lãi suất: Mức lãi suất ảnh hưởng rất lớn tới khả năng thanh toán các khoản vay khi

đến hạn của khách hàng Nếu mức lãi suất càng thấp, khách hàng càng cảm thấy mức trả lãiđịnh kỳ thấp và ít gây áp lực cho họ hơn; hơn nữa, họ có khả năng thanh toán đúng hạn caohơn Ngược lại, mức lãi suất càng cao thì càng làm cho khách hàng cảm thấy trả lãi là mộtgánh nặng và làm giảm mức lợi nhuận của họ xuống Đồng thời, ngân hàng nào có lãi suấtcàng thấp thì số lượng khách hàng đến vay càng nhiều và ngược lại vì mức tăng của nguồnthu nhập không tăng kịp với mức tăng của lãi suất nên khách hàng ít vay hoặc hạn chế vayvới mức lãi suất cao Trên thực tế vẫn có khách hàng vay với lãi suất cao vì họ cần vốn nhiềuhoặc gấp nên chỉ có một số ít ngân hàng đáp ứng được yêu cầu của họ Một số khác cónguồn tài chính dồi dào và hoạt động kinh doanh rất tốt nên có thể chấp nhận được Tuynhiên, khi vay với lãi suất cao cũng có không ít trường hợp bị quá hạn và chuyển sang nợxấu vì gánh nặng về lãi suất định kỳ cao trong khi nguồn tài chính không ổn định hoặc đầu

ra không như kỳ vọng Do đó, mức lãi suất cũng góp phần ảnh hưởng đến việc phát sinh nợxấu ở các ngân hàng

1.4 Tác động của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh của các NHTM:

Nợ xấu có thể ảnh hưởng rất nặng nề đến kết quả kinh doanh của các NHTM nếu nhưngân hàng không kiểm soát được Sau đây là một số tác động của nợ xấu:

- Một là, ngân hàng không thu hồi được vốn và/hoặc lãi cho vay trong khi vẫn phải

hoàn trả cho các khoản vốn huy động dẫn đến mất cân đối thu chi, rơi vào vòng quay vốn tíndụng giảm, chi phí của ngân hàng sẽ tăng lên và kết quả cuối cùng làm ngân hàng suy giảmhiệu quả hoạt động

- Hai là, Ngân hàng có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, rủi ro thanh

khoản vì phải sử dụng nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền thay cho khoản thu hồi

từ khách hàng nợ Do đó ngân hàng phải thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chínhgiảm sút, uy tín và sức cạnh tranh giảm, kết quả kinh doanh xấu dần Điều này có thể dẫnđến nguy cơ thua lỗ hoặc phá sản nếu không có biện pháp xử lý kịp thời

Trang 15

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM 2.1 Thực trạng nợ xấu của các NHTM Việt Nam:

2.1.1 Tình hình nợ xấu những năm 2008-2012:

Theo số liệu của NHNN, từ năm 2008 đến nay, nợ xấu của các tổ chức tín dụng tạiViệt Nam có xu hướng tăng nhanh Trung bình giai đoạn 2008 - 2011, dư nợ xấu bình quânkhá cao, khoảng 51% Theo báo cáo của các NHTM, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tại thời điểm30/11/2012 là 3,43%, song theo báo cáo của NHNN trước Quốc hội, nợ xấu tại thời điểmthanh tra của NHNN là 8,82% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế, số tuyệt đối khoảng250.000 tỷ đồng (tương đương 10% GDP) Ngoài ra, con số nợ xấu này chưa tính đến nợ tồnđọng xây dựng cơ bản (chủ yếu của các địa phương), hiện đang dự tính khoảng 90.000 tỷđồng Theo các chuyên gia kinh tế, nợ xấu tập trung chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản vàchứng khoán; trong đó nợ xấu tại khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) rất lớn Những

số liệu nghiên cứu giai đoạn này cho thấy, khu vực DNNN hiện đóng góp 70% nợ xấu củatoàn hệ thống, trong đó 53% số nợ xấu thuộc về các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Xuhướng gia tăng dư nợ của các doanh nghiệp sẽ góp phần làm cho tình hình nợ xấu của các tổchức tín dụng ngày càng nghiêm trọng hơn Nợ xấu của các tổ chức tín dụng theo một sốngành nghề đặc biệt tăng nhanh, trong đó có 6 ngành kinh tế chiếm tỷ lệ nợ xấu cao nhất, là:công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 22,5% tổng nợ xấu toàn hệ thống; hoạt động kinhdoanh bất động sản và dịch vụ lần lượt chiếm 7,83% và 19,25%; buôn bán, sửa chữa, ô tô, xemáy 18,52%; vận tải, kho bãi chiếm 11% và xây dựng là 9,5% Việc gia tăng nợ xấu nhómthương mại và dịch vụ, trong đó có ngành vận tải biển, cho thấy khó khăn của thị trường tiêuthụ hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc tế đã tác động mạnh đến ngành này

Bảng 1: Nợ xấu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012

Đvt: tỷ đồng, %

Năm 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng nợ xấu 26.970 35.875 49.064 85.967 185.205

Trang 16

2.1.2 Tình hình nợ xấu nửa đầu năm 2013:

Những tháng đầu năm 2013, tỷ lệ nợ xấu tiếp tục tăng cao ở mức 4,67% (vào tháng4/2013) và đến tháng 6 giảm xuống còn 4,46% Mức giảm này được NHNN đánh giá là docác NHTM đã tăng cường trích lập dự phòng rủi ro theo quy định, thu hồi và xử lý một phần

nợ xấu Tuy vậy, con số này vẫn được xem là khá cao vì theo ước tính thì nợ xấu đã chiếmkhoảng gần 6% GDP và đang có nguy cơ gia tăng Hơn nữa, chỉ trong vòng 5 tháng, tỷ lệ nợxấu giảm nhanh đã đặt ra nhiều vấn đề cần xem xét Nhiều chuyên gia kinh tế cũng lo ngại

về tỷ lệ nợ xấu thực mà các ngân hàng chưa công bố còn cao hơn nhiều Vì vậy, trong thực

tế của bức tranh tài chính, tiền tệ Việt Nam, nợ xấu là vấn đề đáng báo động

Hình 2.1: Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ các tháng đầu năm 2013 (đvt: %)

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp

Trong nửa đầu năm 2013, chỉ có một số ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu giảm, đa phần cácngân hàng còn lại đều có tỷ lệ nợ xấu tăng đáng kể Điểm chung của các ngân hàng có tỷ lệ

nợ xấu tăng là tốc độ tăng trưởng nợ xấu đều cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng tíndụng Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm 31/12/2012 so với 30/6/2013: Vietcombank từ 2,26%lên 2,81%; VietinBank từ 1,46% lên 2,1%; Eximbank từ 1,32% lên 1,49%; Sacombank từ1,89% lên 2,5%; MB từ 1,86% lên 2,45%; ACB từ 2,5% lên gần 3%; SHB từ 8,51% lên9,04%; Techcombank từ 2,69% lên 5,28%; Navibank từ 5,6% lên 6,1% Tuy nhiên, tình hình

nợ xấu vẫn khá lạc quan khi phần lớn ngân hàng đều kiểm soát được dưới 3% tổng dư nợ,ngoại trừ ba đơn vị có nợ xấu trên 3% gồm: NaviBank (6,1%), SHB (9,04%) vàTechcomBank (5,28%)

Hình 2.2: Tỷ lệ nợ xấu ở một số NHTM Việt Nam tại thời điểm 31/12/2012 và

30/6/2013 (đvt: %)

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp

Điểm đáng chú ý là nợ xấu ở các ngân hàng này gia tăng liên tục ở nợ nhóm 5 (nợ cókhả năng mất vốn) Tại thời điểm 30/06/2013, nợ nhóm 5 đã chiếm gần 50% tổng nợ xấu,

Trang 17

tức là chỉ tính riêng với nhóm các ngân hàng niêm yết đã lên đến hơn 14 nghìn tỷ đồng.Trong đó, ba ngân hàng lớn nhất đã công bố số liệu là BIDV, Vietcombank và Vietinbankchiếm hơn 23.100 tỷ đồng nợ xấu, gần bằng mức tổng lợi nhuận là 24.000 tỷ đồng của toàn

hệ thống Cụ thể, nợ xấu của BIDV gần 9.400 tỷ đồng, của Vietcombank 6.687 tỷ đồng vàVietinbank là 7.027 tỷ đồng Số nợ xấu của ba ngân hàng này cũng cao hơn rất nhiều so vớitổng nợ xấu của các ngân hàng như SHB, MB, ACB, Sacombank, Techcombank, Eximbankcộng lại

Đến thời điểm này, số liệu chính xác về nợ xấu vẫn còn là một ẩn số khi hơn một nửacác ngân hàng thương mại chưa công bố báo cáo tài chính Có lẽ một trọng số khác nằm ởAgribank, khi ngân hàng này chiếm tới khoảng 15% tổng dư nợ của nền kinh tế tính đếncuối tháng 6/2013 Tỷ lệ nợ xấu của Agribank cuối 2012 là 5,8%, giảm so với trước, nhưng

từ đó đến nay chưa có cập nhật chính thức nào Trong gần hai năm qua Agribank đã nỗ lực

tự tái cơ cấu với sự hỗ trợ của NHNN, giảm thiểu dư nợ ở lĩnh vực bất động sản (một trongnhững lĩnh vực chính làm phát sinh nợ xấu trước đây) sang chuyên trách nông nghiệp vànông thôn như một hướng hạn chế phát sinh nợ xấu, bằng chứng là tỷ trọng cho vay nôngnghiệp và nông thôn đã được nâng từ 60% lên hơn 70% Điều này đem đến kỳ vọng tìnhhình nợ xấu của Agribank sẽ khả quan hơn đến cuối năm 2013

Nhìn chung, ước tính số liệu cấp tín dụng từ nhóm ngân hàng đã công bố báo cáo tàichính chiếm trên dưới 75% tổng dư nợ của hệ thống, nhưng nợ xấu lại đều dưới 3% Liệuđây có phải là một tín hiệu khởi sắc về chất lượng tín dụng trong hệ thống ngân hàng thươngmại hay các ngân hàng đã cố tình "làm đẹp" cân đối và số liệu nợ xấu chưa được phản ánhchính xác Theo đó, tỷ lệ nợ xấu cập nhật từ NHNN (thông qua báo cáo tổng hợp của cácngân hàng thành viên) gần đây đều từ 4,5 - 4,7%, chưa kể con số qua giám sát từ xa của cơquan tranh tra còn cao hơn nhiều

2.2 Nguyên nhân nợ xấu hình thành và gia tăng ở các NHTM Việt Nam:

Nợ xấu cao sẽ dẫn theo nhiều hệ lụy Nợ xấu được các nhà khoa học bàn thảo nhiều

và được xem là nguyên nhân cơ bản gây tắc nghẽn sự lưu thông lành mạnh của nền kinh tế,gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng và cũng phản ánh khó khăn của sản xuất kinh doanhcủa DN nhìn từ góc độ chỉ số hàng tồn kho tăng cao Nợ xấu tăng cao đã và đang tác độngtiêu cực đến nền kinh tế, cản trở quá trình tái cơ cấu, nhất là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng,tái cơ cấu DNNN và làm giảm niềm tin của người dân vào vai trò quản lý, điều hành củaChính phủ Để khắc phục tình trạng này cần nhiều thời gian cũng như cần giải quyết nhiềuvấn đề tồn đọng khác Vậy nguyên nhân dẫn đến nợ xấu tăng cao do đâu?

2.2.1.Từ các yếu tố vĩ mô:

Trang 18

- Khủng hoảng kinh tế thế giới: Có nhiều ý kiến cho rằng do ảnh hưởng của cuộc

khủng hoảng kinh tế tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến tình hình hoạt động kinhdoanh của hầu hết các cá nhân, tổ chức gặp khó khăn vì vậy nợ xấu của hệ thống các tổ chứctín dụng có chiều hướng gia tăng

- Cơ chế xử lý tài sản đảm bảo: Trên thực tế ngân hàng gặp không ít khó khăn trong

việc xử lý tài sản đảm bảo Hầu hết các khoản vay của khách hàng đều có tài sản đảm bảonhưng việc xử lý nó để thu hồi nợ là hết sức khó khăn do sự chồng chéo giữa các văn bảnpháp

Ví dụ: Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT -NHNN-BTP- BTC-TCĐC giữa Ngân

hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Tổng cục địa chính ngày 29/4/2001quy định tổ chức tín dụng không được trực tiếp bán hay được trực tiếp nhận quyền sử dụngđất để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ bảo đảm Theo khoản 3, Mục III của Thông tưnày, nếu không đạt được sự thoả thuận của các bên thì tổ chức tín dụng phải đưa ra bán đấugiá hay khởi kiện ra toà Trong khi đó, Nghị định số 178 lại cho phép tổ chức tín dụng cóquyền xử lý tài sản đảm bảo nếu không đạt được sự thoả thuận của các bên Nếu mang ra tòathì thời gian xử lý rất dài, thủ tục rườm rà, phức tạp, qua nhiều khâu, nhiều cấp, quá trìnhbàn giao tài sản chậm làm cho tài sản hư hỏng, giá trị thu hồi thấp hơn dự kiến ban đầu,nhất là trong lĩnh vực tàu biển Từ lúc khởi kiện đến cưỡng chế, thi hành một vụ mất ít nhất

2 năm, trung bình mất 8-9 năm Tiếp đến là sự phối hợp không đồng bộ giữa cơ quan thẩmđịnh, cơ quan bán đấu giá

- Cơ chế xử lý nợ xấu: Trước năm 2000, các tổ chức tín dụng không được trích lập

quỹ dự phòng rủi ro, do vậy nợ xấu tích tụ ngày một lớn, nhưng không có nguồn để bù đắp

Từ năm 2001 trở đi, các ngân hàng mới được phép trích lập quỹ dự phòng rủi ro và sử dụngquỹ này tạo nguồn tài chính chủ động trong việc xử lý rủi ro tín dụng Chính phủ cũng chophép thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) vào năm 2001 và Công tyMua bán nợ Việt Nam (DATC) vào năm 2003 Nhưng hiệu quả còn rất hạn chế, AMC chủyếu phục vụ cho ngân hàng mẹ, chỉ giới hạn mua bán các khoản nợ cho khách hàng vay, dokhông đủ năng lực tài chính và cả kỹ năng để xử lý nợ xấu DATC hoạt động theo cơ chếkinh doanh (phải bảo toàn vốn, đồng thời có lợi nhuận) trong khi mua bán nợ là hoạt độngmạo hiểm và vẫn còn hạn chế tiềm lực tài chính so với quy mô nợ xấu của các NHTM

2.2.2 Từ phía các ngân hàng thương mại:

- Thứ nhất, tổ chức, nhân sự và biện pháp quản trị rủi ro của các NHTM còn nhiều

hạn chế, chỉ có khoảng 40% ngân hàng thương mại tiếp cận được chuẩn quốc tế (Basel 3).Công tác thẩm định chưa thật sự hiệu quả ở hầu hết các NHTM, các cán bộ ngân hàng chưaxác định được quy mô kinh doanh thực sự của khách hàng, khả năng cạnh tranh của khách

Trang 19

hàng đối với ngành nghề mà họ đang kinh doanh, chưa kiểm soát được nguồn thu và sử dụngnguồn để có thể đưa ra một hạn mức cho vay và cách thức giám sát hợp lý Một số ít tài sảnđảm bảo còn được định giá vượt khung hay tài sản chưa được điều tra kỹ nên gặp rắc rối vềquyền sở hữu.

Ví dụ: Không ít khách hàng, khi được kiểm tra về việc sử dụng vốn sau khi vay cho

biết một phần vốn vay thực sự vào kinh doanh, phần khác dùng cho mục đích tiêu dùng cánhân Đến khi phần vốn đầu tư kinh doanh thua lỗ, không còn nguồn khác để trả nợ ngânhàng và nợ xấu phát sinh

- Thứ hai, các NHTM vì mục tiêu lợi nhuận theo đuổi tăng trưởng tín dụng trong thời

gian dài, luôn trên 20%, thậm chí lên tới 51,39% (năm 2007), nhưng không bền vững Cáchợp đồng cấp tín dụng lớn phần nhiều tập trung vào các lĩnh vực mạo hiểm, không ổn địnhnhư là bất động sản (BĐS) Dư nợ cho khu vực này chiếm dưới 16% nhưng các tài sản thếchấp bằng BĐS cho các khoản vay khác nhau chiếm tới 60-80% tổng giá trị tài sản thế chấp.Khi thị trường BĐS suy giảm, những khoản nợ xấu, nợ quá hạn được thế chấp bởi BĐS sẽrất khó thanh lý Việc thanh lý mạnh các tài sản thế chấp sẽ tiếp tục khiến giá BĐS giảmthêm và càng làm trầm trọng tình hình nợ xấu của nền kinh tế Chính đặc điểm này khiếncho công tác xử lý nợ xấu của các NHTM sẽ gặp nhiều trở ngại hơn trong bối cảnh hiện nay

- Thứ ba, là nguồn cung cấp thông tin Ngoài những thông tin do khách hàng cung

cấp, cán bộ tín dụng cũng gặp nhiều khó khăn với các kênh thông tin về khách hàng, rất khókiểm chứng được toàn bộ những thông tin mà khách hàng cung cấp cho ngân hàng

Ví dụ: Doanh nghiệp còn sử dụng đồng thời hai hệ thống kế toán, một báo cáo kết

quả hoạt động kinh doanh luôn lỗ hay lợi nhuận rất thấp để đối phó với cơ quan thuế và mộtluôn có lợi nhuận khi đặt quan hệ giao dịch với ngân hàng

- Thứ tư, vấn đề sở hữu chéo, đầu tư ngoài ngành của các ngân hàng và DNNN diễn

ra phổ biến đã dẫn tới các khoản cho vay, đầu tư lòng vòng, bất chấp quy định, gây hậu quảnghiêm trọng

- Thứ năm, việc một số NHTM nới lỏng điều kiện cho vay khiến nợ xấu tăng cao hay

thực hiện hành vi đảo nợ, che dấu nợ bằng cách hạch toán nợ vào tài khoản phải thu, ủy thácđầu tư Do tính minh bạch còn hạn chế, số nợ xấu công bố qua báo cáo của tổ chức tín dụngkhông đúng thực chất, làm cho số lũy kế nợ xấu thực tăng theo thời gian và việc xử lý ngàycàng khó khăn

- Thứ sáu, một số cán bộ ngân hàng suy thoái đạo đức nghề nghiệp, cấu kết, móc

ngoặc với doanh nghiệp để trục lợi cá nhân và cho vay không đúng quy định

Trang 20

- Cuối cùng, hiệu quả công tác thanh tra, giám sát còn hạn chế, nhất là không kịp thời

phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm quy định về hạn chế cấp tín dụng và đầu tư một sốlĩnh vực rủi ro cao

2.2.3 Từ phía khách hàng vay vốn:

- Thứ nhất, phần lớn các khoản nợ xấu của NHTM là khoản cấp tín dụng cho các

Doanh nghiệp Do đó nợ xấu tăng cao cũng từ sự làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp, nhất

là DNNN, có đến 70% nợ xấu ngân hàng là nợ của các DNNN Đây là nhóm có nhiều thuậnlợi trong tiếp cận tín dụng và chiếm thị phần lớn trong tổng dư nợ tín dụng của toàn thể nềnkinh tế Phần nợ xấu lớn thứ hai (sau DNNN) là xuất phát từ một số doanh nghiệp tư nhânlớn, trong đó tập trung chủ yếu là các khoản vay đầu tư bất động sản, chứng khoán, đầu tưngoài ngành

Hầu hết các doanh nghiệp, nhất là DNNN đều có chi phí vốn vay lớn, thậm chí rấtlớn, trong khi doanh thu giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước dẫn đến mất cân bằng về tàichính Nhiều đơn vị tổng lãi vay phải trả lớn gấp nhiều lần quỹ tiền lương, tỷ lệ sinh lời củatài sản nhỏ hơn lãi suất vay, hiệu quả kinh doanh thấp, tài chính kém lành mạnh, vốn chủ sởhữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh hạn chế, trong khi phảiđối diện với những khó khăn lớn của kinh tế trong, ngoài nước đó là sức mua kém, tồn kholớn, doanh thu giảm sút, doanh nghiệp không có nguồn để trả nợ cả gốc và lãi Các khoảnvay ngân hàng vì thế mà trở thành nợ xấu

Có thể điểm qua kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của một số doanh nghiệpđang hoạt động trong các lĩnh vực vận tải, bất động sản - xây dựng, tài chính như sau: Công

ty cổ phần Container phía Nam, vốn điều lệ thực góp là 110 tỉ đồng, kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh trong sáu tháng đầu năm 2012 âm 23,45 tỷ đồng, lỗ luỹ kế hiện tại 105,4 tỷđồng, Công ty cổ phần Xây dựng Hạ tầng Sông Đà lỗ sáu tháng đầu năm 2012 là 16,3 tỷđồng Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương tín, lỗ lũy kế đến30/6/2012 lên tới 1.772 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu âm 256 tỷ đồng Các DNNN lớn như:Vinashin, Vinalines, Vinaconex, Tập đoàn Than - Khoáng sản, Tập đoàn Điện lực, Tập đoànSông Đà thì những khoản lỗ là không nhỏ (dư nợ của 11 tập đoàn kinh tế chiếm gần 53%tổng dư nợ của DNNN)

- Thứ hai, việc sử dụng vốn sai nguyên tắc đã dẫn tới nợ quá hạn, nợ xấu Nhiều công

ty dùng nợ ngắn hạn đầu tư dài hạn Khi đang gặp khó khăn về vốn, việc DN lấy vay ngắnhạn cho đầu tư dài hạn là khá phổ biến

Ví dụ: Tập đoàn Thái Hòa dùng tới 263 tỷ đồng các khoản nợ ngắn hạn, trong đó chủ

yếu là nợ đã quá hạn, để đầu tư dài hạn, dẫn đến mất cân đối tài chính nghiêm trọng, phảiphát mại tài sản để trả nợ ngân hàng khi các khoản nợ đến thời gian thu hồi Từ một doanh

Trang 21

nghiệp tư nhân lớn trong sản xuất và chế biến nông sản, đến giữa năm 2012, Tập đoàn TháiHòa đã phải đứng trước bờ vực phá sản.

- Thứ ba, nhiều công ty dùng vốn vay đầu tư ra ngoài ngành, đặc biệt vào BĐS Theo

báo cáo của các tổ chức tín dụng, vào thời kỳ đỉnh cao, dư nợ cho vay BĐS chiếm khoảng10% tổng dư nợ tín dụng của cả nền kinh tế (năm 2011) Một nghiên cứu của Ủy ban Giámsát Tài chính Quốc gia cũng cho thấy tại thời điểm tháng 6/2011, dư nợ BĐS chiếm 9,95%tổng dư nợ, tương đương 245.000 tỉ đồng Tỉ lệ này khá cao so với một số nước trong khuvực như Thái Lan 6%, Malaysia 7% Trong bối cảnh thị trường BĐS vừa đóng băng, vừasuy giảm, thì đây là nguy cơ vừa làm mất vốn, vừa làm mất khả năng thanh toán của doanhnghiệp

CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG

HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM 3.1 Bài học kinh nghiệm về xử lý nợ xấu của các quốc gia trên thế giới:

3.1.1 Kinh nghiệm của Mỹ:

Tổng quan về hệ thống ngân hàng ở Mỹ: nước Mỹ có hệ thống ngân hàng lớn nhất thếgiới Vào năm 2010, hệ thống ngân hàng Mỹ có khoảng 7.135 NHTM, khoảng 85.000 chinhánh Đứng đầu trong hệ thống ngân hàng Mỹ là Cục dự trữ Liên bang (NHTW của Mỹ)FED (thành lập năm 1913) gồm một hệ thống 12 Ngân hàng dự trữ liên bang

Kinh nghiệm xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Mỹ:

- Cuộc đại suy thoái kinh tế năm 1932: Nhằm giảm nợ xấu trong các ngân hàng,

Chính phủ thành lập Tổng công ty tái thiết tài chính vào năm1932 với số vốn ban đầu Quốc

Trang 22

hội cung cấp 500 triệu USD, được quyền vay đến 2 tỷ USD Công ty này tiến hành chuyểncác khoản nợ xấu của các ngân hàng thành cổ tức ưu đãi Việc làm này nhằm có hiệu quảnhưng cũng còn hạn chế vì yêu cầu công khai số lượng vay và tên tổ chức đi vay nên gâyảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đi vay Bên cạnh đó Chính phủ cũng tiến hành quốc hữu

hóa một số ngân hàng và để các ngân hàng yếu kém phá sản.

- Khủng hoảng kinh tế năm 1980: Khủng hoảng nợ và tiết kiệm (Saving & Loan) tại

Mỹ trong thập kỷ 1980 có nguyên nhân từ các khoản vay được định giá thấp và chứa nhiềurủi ro tiềm ẩn Nếu khoản tín dụng rủi ro trở thành nợ xấu, phần lỗ sẽ nhận được bảo lãnh từChính phủ Sau khi khủng khoảng xảy ra, để xử lý số nợ khó đòi liên quan đến các khoảnvay thế chấp mua nhà, công ty xử lý nợ (RTC) mua các khoản nợ khó đòi, thực hiện nghiệp

vụ chứng khoán hóa với các sản phẩm chứng khoán được đảm bảo bởi tài sản cầm cố và bánlại cho các nhà đầu tư RTC cũng đã tiến hành mua lại các ngân hàng nhỏ, các khoản nợ xấu,các tài sản thiếu thanh khoản với tổng chi phí là 400 tỷ USD

- Khủng hoảng kinh tế năm 2008: Chính sách tiền tệ nới lỏng của Mỹ đã tạo ra bong

bóng bất động sản và thị trường chứng khoán Sự bùng nổ cho vay dưới chuẩn, các công cụtài chính mới và sự bãi bỏ các quy định liên quan đến hoạt động của ngân hàng làm gia tăng

nợ xấu, làm xói mòn niềm tin của các nhà đầu tư, từ đó dẫn đến vấn đề thanh khoản tronglĩnh vực ngân hàng Cuộc khủng hoảng bắt đầu với sự sụp đổ của Lehman Brothers và một

số ngân hàng, tổ chức tài chính khác, sau đó nhanh chóng lan rộng ra nền kinh tế toàn cầu

Để phục hồi nền kinh tế, giải quyết hậu quả nặng khủng hoảng Chính phủ Mỹ nỗ lựcđiều tiết nền kinh tế vĩ mô và kết hợp các chương trình như: Chương trình mua vốn (PPP),Chương trình hỗ trợ vốn (CAP), Kế hoạch Ổn định Tài chính, Quỹ công – tư cho việc mualại tài sản ( PPIP) Cụ thể:

+ NHTW Mỹ cắt giảm lãi suất để khơi thông dòng vốn, giảm lãi suất cơ bản từ5%/năm xuống 0.25%/năm, tiếp quản một số tổ chức tín dụng lớn như Freddie Mac vàFannie nhằm giúp những tổ chức này tránh khỏi nguy cơ phá sản, nỗ lực bảo lãnh cho các tổchức tín dụng với con số lên đến 1.300 tỷ USD đầu tư vào nhiều tài sản rủi ro khác nhau.Chính phủ bơm tiền hỗ trợ thanh khoản cho các tập đoàn tài chính, cũng như kích thích tiêudùng và cho vay Tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG đã được chính phủ Mỹ bơm vào

85 tỷ USD FED quyết định dùng 700 tỷ đôla để mua lại nợ xấu của các ngân hàng

+ Một loạt các chương trình được triển khai đồng thời với các chính sách vĩ mô đểđưa nền kinh tế Mỹ vượt qua khủng hoảng như chương trình mua vốn CPP (CapitalPurchase Program) thực hiện vào tháng 10/2008 trong khuôn khổ Chương trình Cứu trợ Tàisản có vấn đề TARP: CPP được phân bổ hơn 250 tỷ USD để mua những cổ phiếu ưu đãi củacác ngân hàng như Citigroup, JP Morgan Chase, Wells… Các cổ phiếu ưu đãi của ngân hàng

Trang 23

sẽ được trả 5%/cổ phần trong 5 năm đầu, và 9%/cổ phần những năm sau đó Các cổ phiếu có

kỳ hạn thanh toán không giới hạn và dễ bị mua lại trong vòng 3 năm (hoặc sớm hơn) Và đểmua cổ phần ưu đãi, Chính phủ Mỹ đã đạt được một quyền chọn trong việc mua cổ phần phổthông có trị giá không quá 15% cổ phần ưu đãi

+ Tiếp sau chương trình mua vốn, vào tháng 2/2009, chương trình hỗ trợ vốn và kếhoạch ổn định tài chính được thực hiện đồng thời nhằm tăng cường hiệu quả Chương trình

hỗ trợ vốn (CAP): là giai đoạn thứ hai của chương trình tái cơ cấu vốn ngân hàng (sau CPP).Trong giai đoạn đầu tiên, tài chính sẽ được cung cấp thông qua các cổ phiếu ưu đãi Cổ tức

là 9% mỗi cổ phần, cổ phiếu ưu đãi có thể được chuyển đổi thành cổ phần thường ở mức giáđược thiết lập (90% giá trị đóng cửa trung bình cho thời kỳ từ ngày 20/01 đến ngày 09/02).Khi cổ phiếu ưu đãi không được chuyển đổi hoặc mua lại, 7 năm sau nó sẽ được tự độngchuyển đổi thành cổ phần thường

+ Cùng với CAP đầu tháng 2/2009, một gói các biện pháp tài chính để hỗ trợ nền kinh

tế Mỹ đã được phê duyệt Chương trình được đề ra nhằm giúp giảm nợ xấu trong lĩnh vựcbất động sản Kế hoạch này gồm cuộc kiểm tra đầy căng thẳng tất cả các ngân từng ngânhàng (mở rộng của chương trình CPP) Thiết lập quỹ đầu tư tư nhân để mua lại những tài sản

có vấn đề Mở rộng chương trình cho vay TALF2

+ Bên cạnh đó vào tháng 3/2009 với mục đích thu hút đầu tư 500-1000 tỷ USD đểmua tài sản có vấn đề từ các ngân hàng và khôi phục lại thị trường trong các khoản vay vàchứng khoán tài sản tài chính, Quỹ công – tư cho việc mua lại tài sản (PPIP) được thành lập,vốn 75 – 100 tỷ USD của quỹ TARF và các quỹ bổ sung từ các nhà đầu tư tư nhân

+ Trong lĩnh vực cho vay, một số ngân hàng lớn của Mỹ (JPMorgan, Bank ofAmerican) tiến hành hoãn các vụ tịch thu tài sản, nỗ lực làm việc với người đi vay nhằm tạođiều kiện cho họ có thể trả nợ với các biện pháp như giảm lãi suất, giảm giá trị các khoản chitrả

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: qua tìm hiểu về công tác xử lý nợ xấu của Mỹ,

một số giải pháp được rút ra cho Việt Nam như sau:

- Chính phủ hỗ trợ và cung cấp tiềm lực vốn đủ lớn thành lập công ty xử lý nợ xấu

tiến hành xử lý nợ xấu tại các ngân hàng trong toàn bộ nền kinh tế, tạo dựng một tiềm lựcvững mạnh về tài chính cũng như pháp lý cho công ty này

2 TALF (Term Asset-Backed Securities Loan Facility) là Chương trình Tài trợ Bảo chứng định kỳ TALF được thiết kế để tạo tín dụng sẵn có đến khách hàng và doanh nghiệp với những điều kiện dễ dàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành chứng khoán dựa trên tài sản tài chính (ABS) và cải thiện thị trường

Trang 24

- Mặt khác, có thể xử lý nợ bằng cách tiến hành mua lại các khoản nợ khó đòi, thựchiện nghiệp vụ chứng khoán hóa với các sản phẩm chứng khoán được đảm bảo bởi tài sảncầm cố và bán lại cho các nhà đầu tư

- Thêm vào đó, cần hạ lãi suất và hỗ trợ thanh khoản cho các tập đoàn tài chính, cũngnhư kích thích tiêu dùng và cho vay Các ngân hàng cần có các biện pháp hỗ trợ khách hàngnhư gia hạn nợ, giảm lãi suất, giảm giá trị các khoản cho vay giúp khách hàng có khả năngtrả nợ

3.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc:

Năm 1948, Ngân hàng nhân dân Trung Hoa với vai trò là NHTW được thành lập Đếnnăm 2011, tổng tài sản của các tổ chức tài chính - ngân hàng Trung Quốc đạt 113,28 nghìn

tỷ nhân dân tệ Hiện nay, Trung Quốc có 4 NHTM lớn nhất là: Ngân hàng Trung Quốc,Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc, Ngân hàng Công thương Trung Quốc và Ngân hàngNông nghiệp Trung Quốc Trong năm 2011, 4 đại ngân hàng này chiếm 55% tổng dư nợ chovay của toàn hệ thống ngân hàng Trung Quốc và ảnh hưởng lớn đến hoạt động của toàn bộnền kinh tế

Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc xử lý nợ xấu:

- Từ cuối thập kỷ trước, nợ khó đòi hay còn gọi là nợ xấu trong các NHTM quốc

doanh Trung Quốc đã trở thành một quả bom hẹn giờ đặt trong lòng ngành tài chính nướcnày, với ước tính mức nợ khó đòi lên tới khoảng 10-25% tổng dư nợ cho vay, mà chủ yếu làcác khoản vay của các DNNN Điều này đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh tại cácngân hàng Tuy vậy NHTW và các NHTM đã có những quy định và cải tổ nhằm giảm bớt số

Trang 25

kỳ đối với các loại tài sản dựa trên nguyên tắc thận trọng, dự kiến một cách hợp lý các khoảntài sản có khả năng phát sinh tổn thất và trích lập dự phòng giảm giá tài sản đối với các tàisản này Đồng thời, phân loại tín dụng thành 5 nhóm: nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 1), nợ cần chú

ý (nhóm 2), nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm 4), nợ có khả năng mất vốn(nhóm 5), trong đó nợ nhóm 3, 4, 5 được gọi là nợ xấu Việc trích lập dự phòng tổn thất chovay bao gồm: dự phòng chung và dự phòng cụ thể: Dự phòng chung được trích hàng tháng

và được xác định bằng 1% số dư cuối kỳ của các khoản tín dụng; Dự phòng cụ thể: Vào cuốitháng, dựa theo kết quả phân loại nợ và sau khi khấu trừ giá trị tài sản thế chấp, NHTM tríchlập dự phòng cụ thể theo số dư các khoản tín dụng với tỷ lệ như sau: nhóm 1: 0%; nhóm 2:5%; nhóm 3: 25%; nhóm 4: 50%; nhóm 5: 100%

+ Thành lập các công ty quản lý tài sản (AMC) để xử lý nợ xấu tại các ngân hàng:vào năm 1999 Trung Quốc đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản với vốn điều lệ khoảng 5 tỷUSD (tương đương 1% tổng số nợ xấu của hệ thống ngân hàng Trung Quốc) Bốn công tyquản lý tài sản được thành lập để xử lý toàn bộ số nợ dưới chuẩn ước tính lên đến 670 tỷNDT, những công ty này được được thành lập theo mô hình của tổ chức Resolution Trust &Corporation của Mỹ, được trao quyền ngoại lệ đặc biệt để xử lý, mua lại nợ xấu, thậm chíđầu tư và sinh lời từ tài sản đảm bảo của những khoản nợ xấu này Các tổ chức này có mộtnhiệm vụ lớn đó là “dọn dẹp” các khoản nợ khó đòi và làm trong sạch bảng cân đối tài sảncủa các NHTM Về nhân lực, đội ngũ nhân viên của các tổ chức AMC chủ yếu là từ cácngân hàng mẹ chuyển sang Về vốn, chúng được Chính phủ cấp cho một khoản vốn ban đầu

để hoạt động (Bộ Tài chính cấp 10 tỷ NDT, tương đương 1,2 tỷ đôla, Ngân hàng Nhân dânTrung Quốc cấp 500 tỷ NDT), còn lại từ nguồn phát hành 800 tỷ NDT trái phiếu cho cácngân hàng để thu hút vốn hoạt động Các tổ chức này có thể khởi xướng thanh lý tài sản,hoán đổi nợ sang cổ phần, tổ chức đấu giá các khoản nợ, và kể cả tham gia trực tiếp vàoquản lý các doanh nghiệp vay nợ của tổ chức tín dụng mà họ đang xử lý Tuy nhiên, chỉ cócác khoản nợ trước năm 1996 mới thuộc phạm vi quản lý của các công ty này

+ Tái cấu trúc PBC nhằm tăng cường tính tự chủ và khả năng giám sát: năm 1998,Chính phủ Trung Quốc tiến hành tổ chức lại Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (PBC) nhằmtăng cường khả năng giám sát và tính độc lập, tự chủ trong quản lý, điều hành các chính sáchtiền tệ của NHTW Tiếp theo là củng cố và tăng cường hệ thống giám sát tài chính bằng việcthành lập Ủy ban Giám sát Ngân hàng Trung Hoa, tập trung vào công tác quản trị rủi ro ởcác ngân hàng Ban hành hàng loạt văn bản và quy định mới, áp dụng những chuẩn mực kếtoán và kiểm toán độc lập khắt khe hơn và những thông lệ quản trị công ty hiện đại nhằmnâng cao tính minh bạch, khôi phục, duy trì niềm tin của khách hàng, nhận diện những ngânhàng có vấn đề để kịp thời có biện pháp hỗ trợ, xử lý PBC đã tiến hành áp dụng các quy tắc,quy định, định mức và tỷ lệ an toàn theo chuẩn mực của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế

Ngày đăng: 11/07/2014, 16:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nợ xấu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012 - ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
Bảng 1 Nợ xấu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012 (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w