ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Nhóm 08: Nguyễn Ngọc Long Nguyễn Thị Thanh Thúy Dương Thị Mến Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS Kim Ngọc Hà Nội, tháng 12 năm 2013 MỤC LỤC BẢNG CHÚ GIẢI NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT i DANH MỤC CÁC HÌNH ii DANH MỤC CÁC BẢNG iii LỜI MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 5 1.1. Toàn cầu hoá và Hội nhập kinh tế quốc tế 5 1.1.1. Toàn cầu hoá 5 1.1.2. Hội nhập kinh tế quốc tế 5 2.1. Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế 7 2.1.1 Thoả thuận thương mại ưu đãi 7 2.1.2 Hiệp định thương mại tự do và Khu vực mậu dịch tự do 8 2.1.3 Hiệp định đối tác kinh tế 9 2.1.4 Thị trường chung 9 2.1.5 Liên minh thuế quan 9 2.1.6 Liên minh kinh tế và tiền tệ 10 2.3. Tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế 10 Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 16 2.1. Tác động tích cực 16 2.1.1 Tác động đến thương mại, đầu tư, tài chính 16 2.1.2 Tác động đến chính sách kinh tế 22 2.1.3 Tác động đến các lĩnh vực khác 23 2.2. Tác động tiêu cực 25 2.2.1 Tác động đến kinh tế 25 2.2.2 Tác động đến chuyển giao công nghệ 26 2.2.3 Tác động đến văn hoá, xã hội, chính trị 27 2.3. Tác động của các khối kinh tế khu vực trong nền kinh tế thế giới 28 2.3.1 Điều kiện ra đời cuả một tổ chức kinh tế khu vực 28 2.3.2 Điều kiện một quốc gia muốn tham gia có hiệu quả vào các khối kinh tế khu vực 29 2.3.3 Tác động của các khối kinh tế khu vực trong nền kinh tế thế giới 31 Chương 3: TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN NAY, NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ HẠN CHẾ, ĐỊNH HƯỚNG TRONG THỜI GIAN TỚI 33 3.1. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ năm 19862012 33 3.2. Những thành tựu đạt được 34 3.3. Định hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới 41 KẾT LUẬN 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 BẢNG CHÚ GIẢI NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt 1 AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN 2 CACM Central American Common Market Thị trường chung Trung Mỹ 3 CARICOM Caribe Community Cộng đồng Caribê 4 EEC European Economic Community Cộng đồng Kinh tế châu Âu 5 EU European Union Liên minh châu Âu 6 EFTA Eroupean Free Trade Assocition Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu 7 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài 8 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm Quốc nội 9 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế 10 NAFTA North America Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do Bắc Hoa Kỳ 11 NIEs Newly Industrialized Economies Các nền kinh tế mới công nghiệp hoá 12 SEV Council of Mutual Economic Assistance Hội đồng Tương trợ kinh tế 13 WB World Bank Ngân hàng thế giới 14 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới DANH MỤC CÁC HÌNH STT Số hiệu Tên hình Trang 1 2.1 Xuất khẩu trong khối NAFTA và xuất khẩu của NAFTA với thế giới 18 2 2.2 Xuất khẩu của Mexico sang Hoa Kỳ, Canađa và các nước khác 19 3 2.3 Xuất khẩu của Mexico sang các nước trong vòng 20 năm kể từ khi gia nhập NAFTA 19 4 2.4 Cán cân thương mại của Mexico trong vòng 20 năm kể từ khi gia nhập NAFTA 20 5 2.5 Tổng mức FDI của các nước trên thế giới 21 6 3.1 Tổng mức lưu chuyển ngoại thương Việt Nam theo thời kỳ 5 năm từ 19862005 36 7 3.2 Tổng mức lưu chuyển ngoại thương Việt Nam từng năm từ 20052012 36 8 3.3 Tốc độ tăng GDP của Việt Nam từ 19862013 40 DANH MỤC CÁC BẢNG STT Số hiệu Tên bảng Trang 1 3.1 Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1989 2012 38 LỜI MỞ ĐẦU Những ngày tháng 12 năm 2013 này, trong khi tại Xinhgapo (Singapore) hội nghị các bộ trưởng và trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là TPP) vừa bế mạc nhưng chưa đi đến chung kết và vẫn còn để lại nhiều điểm chưa đồng thuận và nhiều việc phải làm; thì ở trong nước, chính quyền và người dân đang thực hiện tổng kết kết quả sản xuất kinh doanh đạt được và chưa làm được trong năm, cũng như việc đảm bảo hàng hoá tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ và chuẩn bị kế hoạch kinh doanh năm tới 2014. Tạm biệt năm 2013 và chào đón năm mới với nhiều mong ước tốt đẹp nhưng đất nước ta vẫn đang đứng trước thử thách tụt hậu nói chung và suy thoái kinh tế nói riêng, một cách nghiêm trọng. Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, được nhắc đến nhiều nhất là tái cơ cấu ngành ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước vẫn đang diễn ra và chắc còn lâu nữa mới đến hồi kết thúc… Trong hoàn cảnh đó, chúng tôi bắt tay vào việc nghiên cứu chuyên đề khoa học “Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế”, một nội dung nằm trong môn học Toàn cầu hoá và Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, vốn đã được nghiên cứu và giảng dạy tại các trường đại học ở Việt Nam từ hơn 10 năm trước đến nay. Việc nghiên cứu dựa trên một nền móng cơ sở lý luận đã có và tương đối đầy đủ, với sự hướng dẫn của một người thầy giỏi chuyên môn và phương pháp là chuyên gia cao cấp về kinh tế quốc tế, không thể nào thuận lợi hơn. Tuy nhiên, nếu thực sự nghiên cứu một cách nghiêm túc trên tinh thần tư duy độc lập, đòi hỏi tính sáng tạo và khám phá cái mới, để đạt được kết quả cao trong khoa học đòi hỏi nhiều công sức của người làm nghiên cứu. Lý luận đã có, đọc, nghiền ngẫm và suy xét lại. Tư liệu cuộc sống nhiều năm qua của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế thật là bổ ích cho công việc tổng hợp lại chuyên đề khoa học này. Nằm trong một loạt chuyên đề khoa học của môn học Toàn cầu hoá và Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, theo lịch trình nghiên cứu, trình bày, nhận xét và phản biện; Nhóm 08 chúng tôi gồm ba thành viên: Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Thị Thanh Thuý và Dương Thị Mến, tiếp thu được những kiến thức cơ bản, những điểm mới, các điểm được đánh giá cao và cả các điểm hạn chế của các nhóm thực hiện chuyên đề trước đó, để xây dựng cho mình phương hướng và phương pháp nghiên cứu, cách thức trình bày chuyên đề, cũng như quan trọng hơn cả là kết quả có được ở những phát hiện mới, thể hiện được quan điểm mới trong chuyên đề. 1. Sự cần thiết của chuyên đề Hội nhập kinh tế quốc tế nằm trong một xu thế lớn của thế giới và là một xu thế chung lôi cuốn sự tham gia của tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới (1986) đến nay, Việt Nam ta đã và đang nắm bắt tốt các cơ hội mở cửa và hội nhập để vươn lên thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu. Đứng trước thách thức của toàn cầu hoá làm biến chuyển đất nước cả về kinh tế và chính trị, bài toán đặt ra là phải hội nhập như thế nào để phát triển kinh tế bền vững trong khi vẫn đảm bảo độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững hoà bình và ổn định… Vì thế chuyên đề khoa học này vẫn luôn có ý nghĩa thời sự và học thuật trong khuôn khổ toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Chuyên đề khoa học này có mục đích làm sáng rõ việc tại sao một nước trong đó có Việt Nam lại phải hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế như thế nào, hội nhập kinh tế quốc tế có vai trò và tác động đến mọi mặt đời sống đặc biệt là đời sống kinh tế ra làm sao, chúng ta nên, cần và phải làm gì khi hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiệm vụ của việc nghiên cứu chuyên đề này là phải khái quát được về mặt lý thuyết các vấn đề chung của hội nhập kinh tế quốc tế từ trước đến nay, thu thập được kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của các nước, nhất là từ các nước tương đồng, tương đương với nước ta, và từ các nước mà chúng ta đang hướng đến để đạt được thành tựu như họ. Cùng với đó phân tích và đánh giá thực trạng nền kinh tế nước ta từ trước đến nay gắn với tình hình và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Từ đó đề xuất các giải pháp vàhoặc đưa ra được các nhận định về xu thế, vàhoặc dự báo, dự đoán về triển vọng hội nhập kinh tế của nước ta trong những năm tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Chuyên đề khoa học này sẽ chỉ tập trung nghiên cứu về vai trò (tác động) đối với các hoạt động kinh tế của việc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong quá trình toàn cầu hoá. Việc không nghiên cứu sâu về lịch sử và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ xét về hội nhập kinh tế trong hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá, và chỉ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC
TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3BẢNG CHÚ GIẢI NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN
Market
Thị trường chung Trung Mỹ
Community
Cộng đồng Kinh tế châu Âu
Assocition
Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu
Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
Hội đồng Tương trợ kinh tế
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Những ngày tháng 12 năm 2013 này, trong khi tại Xinh-ga-po (Singapore) hội nghị các bộ trưởng và trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là TPP) vừa bế mạc nhưng chưa đi đến chung kết và vẫn còn để lại nhiều điểm chưa đồng thuận và nhiều việc phải làm; thì ở trong nước, chính quyền và người dân đang thực hiện tổng kết kết quả sản xuất kinh doanh đạt được và chưa làm được trong năm, cũng như việc đảm bảo hàng hoá tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ và chuẩn bị kế hoạch kinh doanh năm tới 2014 Tạm biệt năm 2013 và chào đón năm mới với nhiều mong ước tốt đẹp nhưng đất nước ta vẫn đang đứng trước thử thách tụt hậu nói chung và suy thoái kinh tế nói riêng, một cách nghiêm trọng Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, được nhắc đến nhiều nhất là tái cơ cấu ngành ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước vẫn đang diễn ra và chắc còn lâu nữa mới đến hồi kết thúc…
Trong hoàn cảnh đó, chúng tôi bắt tay vào việc nghiên cứu chuyên đề khoa học “Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế”, một nội dung nằm trong môn học Toàn cầu hoá và Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, vốn đã được nghiên cứu
và giảng dạy tại các trường đại học ở Việt Nam từ hơn 10 năm trước đến nay
Việc nghiên cứu dựa trên một nền móng cơ sở lý luận đã có và tương đối đầy
đủ, với sự hướng dẫn của một người thầy giỏi chuyên môn và phương pháp là chuyên gia cao cấp về kinh tế quốc tế, không thể nào thuận lợi hơn
Tuy nhiên, nếu thực sự nghiên cứu một cách nghiêm túc trên tinh thần tư duy độc lập, đòi hỏi tính sáng tạo và khám phá cái mới, để đạt được kết quả cao trong khoa học đòi hỏi nhiều công sức của người làm nghiên cứu
Lý luận đã có, đọc, nghiền ngẫm và suy xét lại Tư liệu cuộc sống nhiều năm qua của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế thật là bổ ích cho công việc tổng hợp lại chuyên đề khoa học này
Nằm trong một loạt chuyên đề khoa học của môn học Toàn cầu hoá và Hội
Trang 7nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, theo lịch trình nghiên cứu, trình bày, nhận xét
và phản biện; Nhóm 08 chúng tôi gồm ba thành viên: Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Thị Thanh Thuý và Dương Thị Mến, tiếp thu được những kiến thức cơ bản, những điểm mới, các điểm được đánh giá cao và cả các điểm hạn chế của các nhóm thực hiện chuyên đề trước đó, để xây dựng cho mình phương hướng và phương pháp nghiên cứu, cách thức trình bày chuyên đề, cũng như quan trọng hơn cả là kết quả
có được ở những phát hiện mới, thể hiện được quan điểm mới trong chuyên đề
1 Sự cần thiết của chuyên đề
Hội nhập kinh tế quốc tế nằm trong một xu thế lớn của thế giới và là một xu thế chung lôi cuốn sự tham gia của tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ Từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới (1986) đến nay, Việt Nam ta đã và đang nắm bắt tốt các cơ hội mở cửa và hội nhập để vươn lên thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu Đứng trước thách thức của toàn cầu hoá làm biến chuyển đất nước cả về kinh tế và chính trị, bài toán đặt ra là phải hội nhập như thế nào để phát triển kinh tế bền vững trong khi vẫn đảm bảo độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững hoà bình và ổn định… Vì thế chuyên đề khoa học này vẫn luôn có ý nghĩa thời sự và học thuật trong khuôn khổ toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Chuyên đề khoa học này có mục đích làm sáng rõ việc tại sao một nước trong đó có Việt Nam lại phải hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế như thế nào, hội nhập kinh tế quốc tế có vai trò và tác động đến mọi mặt đời sống đặc biệt là đời sống kinh tế ra làm sao, chúng ta nên, cần và phải làm gì khi hội nhập kinh tế quốc tế
Nhiệm vụ của việc nghiên cứu chuyên đề này là phải khái quát được về mặt
lý thuyết các vấn đề chung của hội nhập kinh tế quốc tế từ trước đến nay, thu thập được kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của các nước, nhất là từ các nước tương đồng, tương đương với nước ta, và từ các nước mà chúng ta đang hướng đến để đạt được thành tựu như họ Cùng với đó phân tích và đánh giá thực trạng nền kinh tế
Trang 8nước ta từ trước đến nay gắn với tình hình và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Từ
đó đề xuất các giải pháp và/hoặc đưa ra được các nhận định về xu thế, và/hoặc dự báo, dự đoán về triển vọng hội nhập kinh tế của nước ta trong những năm tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề khoa học này sẽ chỉ tập trung nghiên cứu về vai trò (tác động) đối với các hoạt động kinh tế của việc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong quá trình toàn cầu hoá Việc không nghiên cứu sâu về lịch sử và quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, chỉ xét về hội nhập kinh tế trong hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá, và chỉ
đề cập sâu đến những tác động kinh tế mà không xem xét nhiều những tác động về chính trị, văn hoá, khoa học công nghệ… là sự giới hạn cần thiết trong phạm vi của một chuyên đề khoa học nhỏ với thời lượng học tập và nghiên cứu có hạn, để mong đạt được kết quả có tính sâu sắc hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, chuyên đề khoa học đòi hỏi nhóm thực hiện phải luôn dựa trên cơ sở thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng và lịch sử; độc lập nhìn nhận, phân tích, tổng hợp và đánh giá các sự kiện, xu hướng trong mối liên hệ tương tác về lợi ích kinh tế, chính trị là chủ yếu (tạm thời chưa thể xem xét lợi ích phi kinh tế, phi chính trị như là văn hoá, truyền thống,…) Thêm nữa, phương pháp thống kê học và dự báo kinh tế cũng được áp dụng một cách phù hợp khi cần thiết
5 Dự kiến đóng góp của chuyên đề
Chuyên đề được thực hiện với mong muốn tiếp tục hệ thống hoá được những vấn đề lý luận và thực tiễn về hội nhập kinh tế quốc tế, kỳ vọng đưa ra được cách nhìn nhận mới và phù hợp hơn về quan điểm và cách thức hội nhập kinh tế, mạnh dạn phân tích và làm rõ được thực trạng tác động của hội nhập kinh tế ở Việt Nam, nhận định xu thế và đưa ra được các dự đoán, dự báo về những biến chuyển kinh tế
và chính trị của nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ trước đến nay và
Trang 96 Kết cấu của chuyên đề
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nội dung chính của chuyên đề được thể hiện trong kết cấu gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Một số lý luận chung về hội nhập kinh tế quốc tế
- Chương 2: Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
- Chương 3: Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam giai đoạn từ
1986 đến nay, những thành tựu đạt được và hạn chế, định hướng trong thời gian tới
Trang 10Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Toàn cầu hoá và Hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1 Toàn cầu hoá
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay "tự do thương mại" nói riêng Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn hoá
Toàn cầu hoá, theo nghĩa cổ điển, đã bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ 15, sau khi có những cuộc thám hiểm hàng hải quy mô lớn Cuộc thám hiểm lớn lần đầu tiên vòng quanh thế giới do Ferdinand Magellan thực hiện vào năm 1522 Cũng như việc xuất hiện các trục đường trao đổi thương mại giữa châu Âu, châu Á, châu Phi và châu Mỹ không phải là hiện tượng gần đây Ngoài những trao đổi về hàng hoá vật chất, một số giống cây cũng được đem trồng từ vùng khí hậu này sang vùng khí hậu khác (chẳng hạn như khoai tây, cà chua và thuốc lá)
Do có hai khía cạnh kỹ thuật và chính trị, "toàn cầu hoá" sẽ có nhiều lịch sử khác nhau Thông thường trong phạm vi của môn kinh tế học và kinh tế chính trị học, toàn cầu hoá chỉ là lịch sử của việc trao đổi thương mại không ngừng giữa các nước dựa trên những cơ sở ổn định cho phép các cá nhân và công ty trao đổi hàng hoá với nhau một cách trơn tru nhất
1.1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế
Ở Việt Nam, thuật ngữ ‘hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử dụng từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế khác
Trang 11Những năm gần đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm chí nói ngắn gọn là “hội nhập”) được sử dụng ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩa rộng hơn hội nhập kinh tế quốc tế.Có một thực tiễn đáng lưu ý là trước khi thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” được đưa vào sử dụng, trong tiếng Việt đã xuất hiện các cụm từ “liên kết kinh tế quốc tế” và “nhất thể hóa kinh tế quốc tế” Cả ba thuật ngữ này thực ra được
sử dụng để chỉ cùng một khái niệm mà tiếng Anh gọi là “international economic integration” Sự khác biệt giữa chúng chủ yếu là cách dùng với hàm ý chính trị và lịch sử khác nhau Thuật ngữ “nhất thể hóa kinh tế quốc tế” được sử dụng chủ yếu trong bối cảnh hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV) những năm 1970-1980
Thuật ngữ “liên kết kinh tế quốc tế” được sử dụng khá nhiều khi nói về hiện tượng phát triển các quan hệ kinh tế trên cơ sở tự do hóa mậu dịch giữa các nước không phải là xã hội chủ nghĩa trong những thập niên sau Chiến tranh thế giới II, đặc biệt là trong khuôn khổ các tổ chức kinh tế khu vực như Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), Thị trường chung Trung Mỹ (CACM), Cộng đồng Caribê và Thị trường chung (CARICOM), Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), v.v Trong thực tiễn sử dụng ở Việt Nam hiện nay, các thuật ngữ “liên kết quốc tế” và “hội nhập quốc tế” có thể thay thế nhau và hầu như không có sự khác biệt về ý nghĩa
Hội nhập kinh tế quốc tế, theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến
nhập kinh tế quốc tế đã diễn ra từ hàng ngàn năm nay và hội nhập kinh tế quốc tế
cho toàn bộ các nơi
Hội nhập kinh tế quốc tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết
Trang 12Balassa đề xuất từ thập niên 1960 và được chấp nhận chủ yếu trong giới học thuật
và lập chính sách Nói rõ hơn, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị
hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu
Trong các giáo trình nhập môn về kinh tế học quốc tế, hội nhập kinh tế quốc
tế thường được cho là có sáu cấp độ: khu vực/hiệp định thương mại ưu đãi, khu vực/hiệp định thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế tiền tệ, và hội nhập toàn diện Tuy nhiên trong thực tế, các cấp độ hội nhập
có thể nhiều hơn và đa dạng hơn
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể là song phương - tức là giữa hai nền kinh tế, hoặc khu vực - tức là giữa một nhóm nền kinh tế, hoặc đa phương - tức là có quy
mô toàn thế giới giống như những gì mà Tổ chức Thương mại thế giới đang hướng tới
2.1 Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.1 Thoả thuận thương mại ưu đãi
Đây là cấp độ thấp nhất của liên kết kinh tế, theo đó các quốc gia tham gia hiệp định dành các ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan cho hàng hóa của nhau, tạo thành các khu vực thương mại ưu đãi vùng (Preferential Trade Area) Trong các thỏa thuận này, thuế quan và hàng rào phi thuế quan có thể vẫn còn, nhưng thấp hơn
so với khi áp dụng cho quốc gia không tham gia hiệp định Một ví dụ về thỏa thuận thương mại ưu đãi là Hiệp định về Thỏa thuận Thương mại Ưu đãi ASEAN được
ký kết tại Manila năm 1977 và được sửa đổi năm 1995; hay Khu vực Thương mại
Ưu đãi Đông và Nam Phi tồn tại từ năm 1981 đến năm 1994; hay như các hiệp định dành ưu đãi thương mại (hay tối huệ quốc) mà một số nước phát triển có thể dành cho các nước đang phát triển
Trang 132.1.2 Hiệp định thương mại tự do và Khu vực mậu dịch tự do
Là hiệp định theo đó các nước ký kết cam kết bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan cho tất cả hoặc gần như tất cả hàng hóa của nhau Có thể có những dòng thuế sẽ được bãi bỏ chậm hơn; và người ta thường đưa các dòng thuế này vào
"danh sách nhạy cảm" Chỉ một số ít dòng thuế sẽ không được bãi bỏ và được liệt
kê trong "danh sách loại trừ" Quy tắc xuất xứ là một phần quan trọng của các hiệp định thương mại tự do nhằm đảm bảo chỉ những hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc tối thiểu ở một tỷ lệ nhất định tại các nước thành viên hiệp định mới được buôn bán tự do nhằm tránh tình trạng nước không tham gia hiệp định sử dụng
sang nước còn lại của hiệp định không phải chịu thuế
Một hiệp định thương mại tự do nổi tiếng được thành lập từ năm 1960, đó
là Hiệp định Thương mại Tự do Châu Âu Sau những bế tắc của đàm phán tự do
niên 1990 Và trong số những quốc gia hăng hái nhất trong việc ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương phải kể đến Mexico, Singapore Những hiệp
định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (thành lập năm 1994), Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (hiệp định được ký kết vào năm 1992) Ngoài ra, còn có những hiệp định
Kinh tế ASEAN-Trung Quốc (ký kết vào năm 2002)
Do xóa bỏ gần như hoàn toàn thuế quan và hàng rào phi thuế quan, nên việc đàm phán để thành lập một hiệp định thương mại tự do rất mất thời gian và qua nhiều vòng thương thảo Những nước hăng hái với tự do hóa thương mại có thể thỏa thuận tiến hành chương trình giảm thuế quan sớm (còn gọi là chương trình thu hoạch sớm) đối với một số dòng thuế trước khi đàm phán kết thúc và hiệp định được thành lập
Trang 142.1.3 Hiệp định đối tác kinh tế
Hiệp định đối tác kinh tế là cấp độ Hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn hiệp định thương mại tự do, theo nghĩa là ngoài việc tự do hóa thương mại hàng hóa thông qua bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan lại còn bao gồm cả tự do hóa dịch vụ, bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử giữa các nước ký kết hiệp định
Nhật Bản là quốc gia có xu hướng thích các hiệp định đối tác kinh tế vì nó cho phép quốc gia này thâm nhập toàn diện vào các thị trường của nước đối tác Hiện Nhật Bản đã ký kết 8 hiệp định đối tác kinh tế song phương và một hiệp định
Độ, Việt Nam,Úc, Thụy Sĩ), có 15 quốc gia, lãnh thổ và khu vực đang có nguyện vọng đàm phán và ký kết hiệp định đối tác kinh tế với Nhật Bản
2.1.4 Thị trường chung
Thị trường chung có đầy đủ các yếu tố của hiệp định đối tác kinh tế và liên
lao động) giữa các nước thành viên Một thị trường chung như vậy đã từng được
tiêu một thị trường chung và một cơ sở sản xuất thống nhất trong toàn khối vào
2.1.5 Liên minh thuế quan
Đây có thể hiểu là một khu vực thương mại tự do giữa các nước thành viên cộng với thuế quan thống nhất của các nước thành viên đối với hàng hóa từ ngoài khu vực Việc thành lập liên minh thuế quan cho phép tránh được những phức tạp liên quan đến quy tắc xuất xứ, nhưng lại làm nảy sinh những khó khăn trong phối hợp chính sách giữa các nước thành viên
Trang 152.1.6 Liên minh kinh tế và tiền tệ
lập với mục tiêu trở thành liên minh kinh tế tiền tệ nhưng chưa hoàn thành được
Cộng đồng và Thị trường Chung Caribe) Trong các liên minh từng tồn tại nhưng
Trong lịch sử đã từng có những khu vực dùng một đơn vị tiền tệ chung, như Liên minh Tiền tệ Latinh hồi thế kỷ 19, nhưng họ chưa xây dựng được một thị trường chung nên không gọi đó là liên minh kinh tế và tiền tệ Lại có một số nước chấp nhận đồng tiền của nước hay khu vực khác làm đơn vị tiền tệ chính thức của mình, nhưng giữa họ không có một thị trường chung, nên không gọi là liên minh kinh tế - tiền tệ
Với một đơn vị tiền tệ chung, các nước thành viên sẽ phải từ bỏ quyền thực thi chính sách tiền tệ riêng của mình, mà thay vào đó là một chính sách tiền tệ
Khi mà ngay cả chính sách tài chính cũng được thực hiện chung, Hội nhập kinh tế quốc tế đạt đến độ hoàn toàn
2.3 Tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế
Hợp tác kinh tế giữa các quốc gia xuất hiện khi lực lượng sản xuất và phân công lao động đã phát triển đến một trình độ nhất định Ban đầu chỉ là những hình thức buôn bán song phương, sau đó mở rộng, phát triển dưới dạng liên kết sản xuất
Trang 16kinh doanh Trong thời đại ngày nay, lực lượng sản xuất và công nghệ thông tin đã
và đang phát triển với một tốc độ nhanh chóng chưa từng thấy Tình hình đó vừa đặt
ra yêu cầu vừa tạo ra khả năng tổ chức lại thị trường trong phạm vi toàn cầu Các quốc gia ngày càng có nhiều mối quan hệ phụ thuộc nhau hơn, cần sự bổ trợ cho nhau, đặc biệt là các mối quan hệ về kinh tế thương mại cũng như đầu tư và các mối quan hệ khác như môi trường, dân số…Chính đây là những căn cứ thực tế để đi tới cái đích cuối cùng của quá trình toàn cầu hoá hướng tới đó là một nền kinh tế toàn cầu thống nhất không còn biên giới quốc gia về kinh tế ấy Cụ thể những căn cứ là:
(1) Mỗi quốc gia dù ở trình độ phát triển đến đâu cũng tìm thấy lợi ích cho mình khi tham gia hôị nhập quốc tế Đối với các nước phát triển họ có thể đẩy mạnh hoạt động thương mại, đầu tư và chuyển giao công nghệ ra nước ngoài, mở rông quy mô sản xuất, tận dụng và khai thác được các nguồn lực từ bên ngoài như tài nguyên, lao động và thị trường…cũng như gia tăng các ảnh hưởng kinh tế và chính trị của mình trên trường quốc tế Còn đối với các nước đang phát triển Có thể nói nhu cầu tổ chức lại thị trường thế giới trước hết bắt nguồn từ những nước công nghiệp phát triển, do họ ở thế mạnh nên họ thường áp đặt các quy tắc, luật chơi Bên cạnh đó, các nước đang phát triển khi tham giâ hội nhập quốc tế vừa có yêu cầu
tự bảo vệ, vừa có yêu cầu phát triển nên cũng cần phải tham gia vào để bảo vệ và tranh thủ lợi ích cho mình, nhất là các nước đang tiến hành quá trình công nghiệp hoá Lợi ích ở đây là mở rộng thị trường cho hàng hoá xuất khẩu, tiếp nhận vốn, tranh thủ được kỹ thuật, công nghệ tiên tiến thông qua đầu tư trực tiếp, nhờ đó sẽ tạo ra công ăn việc làm, đảm bảo tăng trưởng kinh tế, học tập được trình độ và kinh nghiệm quản lý Đây chính là lý do đầu tiên mà một quốc gia hội nhập quốc tế
(2).Một nền công nghệ toàn cầu đang xuất hiện: Nền công nghệ cơ khí về cơ bản vẫn là một nền công nghệ có tính quốc gia, vì nó luôn phải lấy thị trường trong làm chính, một khi chi phí vận chuyển, liên lạc còn quá đắt đỏ thì việc sản xuất, vận chuyển, tiêu thụ các loại hàng hoá ở thị trường bên ngoài luôn có nhiều rủi ro bất trắc và có lợi thế so sánh hạn chế
Trang 17Nhưng trong những thập kỷ gần đây công nghệ thông tin và vận tải đã có những tiến bộ vượt bậc, đã làm giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần và giảm chi phí liên lạc viễn thông xuống tới vài trăm lần Tiến bộ công nghệ này đã
có tác động cực kỳ quan trọng đến toàn bộ các quan hệ kinh tế quốc tế, nó đã biến các công nghệ có tính quốc gia thành công nghệ toàn cầu Ta có thể nêu ra một ví
dụ về công nghệ may mặc Một cái máy may dù có hiện đại cũng chỉ có thể làm ra quần áo bán trong một địa phương hay một quốc gia, và có thể vươn tới một vài nước gần gũi, chúng không thể được bán ở các thị trường xa xôi vì chi phí vận tải
và liên lạc cao làm mất hết lợi thế so sánh Nhưng nhờ có tiến bộ trong công nghệ liên lạc và vận tải nên công ty NIKE chỉ nắm hai khâu: sáng tạo, thiết kế mẫu mã và phân phối toàn cầu (còn sản xuất do các công ty ở nhiều nước làm), nhưng đã làm chho công nghệ may mặc có tính toàn cầu Các công nghệ sản xuất xe máy, máy tính, ô tô, máy bay đã ngày càng có tính toàn cầu sâu rộng Tính toàn cầu này đã thể hiện ngay từ khâu sản xuất (được phân công chuyên môn hoá ở nhiều nước) đến khâu phân phối (tiêu thụ trên toàn cầu) Những công nghệ ngay từ khi ra đời đã có tính toàn cầu như công nghệ vệ tinh viễn thông đang bắt đầu xuất hiện
Chính công nghệ toàn cầu này là cơ sở quan trọng đặt nền móng cho sự đẩy mạnh quá trình toàn cầu hoá Nhờ có công nghệ toàn cầu hoá phát triển, sự hợp tác giữa các quốc gia, các tập đoàn kinh doanh có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phối trên phạm vi toàn cầu, những quan hệ này tuỳ thuộc lẫn nhau cùng có lợi phát triển
(3) Các quan hệ kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển: Một nền công nghệ toàn cầu xuất hiện đã là cơ sở cho các quan hệ kinh tế toàn cầu phát triển Đầu tiên
là các quan hệ thương mại Chi phí vận tải liên lạc càng giảm đi, thì khả năng bán hàng đi các thị trường xa càng tăng lên, thương mại toàn cầu càng có khả năng phát triển Đồng thời với quá trình phân công, chuyên môn hoá sản xuất càng có thể diễn
ra gữa các quốc gia và châu lục Các linh kiện của máy bay Boing, của ô tô, của máy tính đã có thể được sản xuất ở hàng chục nước khác nhau Các quan hệ sản xuất, thương mại có tính toàn cầu, đã kéo theo các dòng tiền tệ, vốn, dịch vụ vận
Trang 18động trên phạm vi toàn cầu Công nghệ thông tin đã làm cho các dòng vận động này thêm chôi chẩy Ngày nay lượng buôn bán tiền tệ toàn cầu một ngày đã vượt quá
1500 tỷ USD Thưng mại điện tử xuất hiện vơi kim ngạch ngày càng tăng và đang trở thành một loại hình buôn bán toàn cầu đầy triển vọng
Sự phát triển của công nghệ toàn cầu và các quan hệ kinh tế toàn cầu đang ngày càng xung đột với các thể chế quốc gia, với các rào cản quốc gia Sự phát triển của lực lượng sản xuất và các quan hệ kinh tế toàn cầu đang xâm nhập qua biên giới các quốc gia Bước vào thập kỷ 90 các rào cản này đã bị phá vỡ ở các quốc gia trong Liên Minh Châu Âu, và ở Bắc Mỹ với mức độ thấp hơn các quốc gia ASEAN
đã cam kết giảm bớt rào cản quốc gia Các nước thành viên của tổ chức thương mại thế giới cũng đã cam kết một lộ trình giảm bỏ hàng rào này Nhưng phải thừa nhận các rào cản này vẫn còn rất mạnh ở nhiều nước và ngay cả ở Liên Minh Châu Âu vơí những hình thức biến tướng đa dạng Chính chúng đang cản trở quá trình toàn cầu hoá
(4) Những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều, trở nên bức xúc và càng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu của các quốc gia: Người ta có thể
kể ra ngày càng nhiều các vấn đề kinh tế toàn cầu như: thương mại, đầu tư, tiền tệ, dân số, lương thực, năng lượng, môi trường Môi trường toàn cầu ngày càng bị phá hoại; các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị cạn kiệt; dân số thế giới đang gia tăng nhanh chóng trở thành một thách thức toàn cầu; các dòng vốn toàn cầu vận động tự do không có sự phối hợp điều tiết đã làm nảy sinh các cuộc khủng hoảng liên tiếp ở Châu Âu, Châu Mỹ, và Châu á trong thập kỷ 90 Cần có sự phối hợp toàn cầu để đối phó với những thách thức đó "Bàn tay hữu hình" của các chính phủ chỉ hữu hiệu ở các quốc gia, còn trên phạm vi toàn cầu chúng nhiều khi lại mâu thuẫn đối lập nhau, chứ chưa có một "bàn tay hữu hình" chung làm chức năng điều tiết toàn cầu
Ngoài các căn cứ trên đây thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá phát triển còn có thể có những căn cứ khác như: chiến tranh lạnh chấm dứt vào đầu thập kỷ 90 đã kết
Trang 19thúc sự đối đầu giữa các siêu cường, tạo ra một thời kỳ hoà bình, hợp tác và phát triển mới
Với những căn cứ trên đây, toàn cầu hoá đang phát triển như là một xu hướng có tính tất yếu khách quan với những đặc trưng chủ yếu là:
- Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đang giảm dần và sẽ bị xoá bỏ trong một tương lai không xa theo các cam kết quốc tế đa phương và toàn cầu, nghĩa là các biên giới quốc gia về thương mại, đầu tư đang bị dần biến mất-đấy là một tiền đề quan trọng trước hết cho sự hình thành một nền kinh tế thế giới không còn biên giới quốc gia
- Các công ty của các quốc gia ngày càng có quyền kinh doanh tự do ở mọi quốc gia, trên các lĩnh vực được cam kết, không có phân biệt đối xử Đặc trưng này rất quan trọng, vì dù như không có các biên giới quốc gia về thuế quan, nhưng các công ty không được quyền kinh doanh tự do trên phạm vi toàn cầu, thì nền kinh tế thế giới khó có thể hình thành được Đặc trưng này thực chất là sự xoá bỏ các biên giới về đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực kinh tế khác
Chính từ những căn cứ cơ sở như vậy mà ngày nay hầu hết các nước thực hiện chính sách hội nhập Ngay cả như Trung Quốc-một thị trường với 1,2 tỷ dân, lớn hơn bất cứ một khu vực mậu dịch tự do nào, lại có khả năng sản xuất được hầu hết mọi thứ, từ đơn giản đến phức tạp nhưng vẫn kiên trì chủ trương hội nhập vào nền kinh tế thế giới , điều đó thể hiện thông qua việc Trung Quốc kiên trì đàm phán gia nhập WTO trong suốt 14 năm
Đương nhiên đối với các nước đang phát triển, kinh tế còn yếu kém, trình độ sản xuất thấp, doanh nghiệp còn bé nhỏ, sức cạnh tranh thấp, trình độ quản lý còn hạn chế thì hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực không chỉ có những cơ hội mà bên cạnh đó còn có nhiều khó khăn thách thức lớn, nhưng nếu cứ đứng ngoài cuộc thì khó khăn, thách thức có thể sẽ dần tăng và lớn hơn nhiều Quyết định đúng đắn đó
là chủ động hội nhập gắn với chủ động điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế so sánh, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế quản lý, cải cách hành
Trang 20chính trên cơ sở đó mà phát huy nội lực, vượt qua khó khăn thách thức, khai thác triệt để các cơ hội để phát triển đất nước.
Trang 21Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Mặc dù khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thế
giới cũng đồng thời chỉ ra con đường phát triển không thể nào khác đối với các
nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập quốc tế, sự lựa chọn tất
yếu này còn được quyết định bởi rất nhiều lợi ích hay những tác động tích cực mà hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cho các nước Tuy nhiên, các nước cũng phải đối mặt với các tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế Dưới đây với phạm vi của chuyên đề, nội dung của chương 2 xin được tổng quan về các tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đồng thời phân tích để bạn đọc có thể thấy rõ được các điều kiện để gia nhập một tổ chức kinh tế khu vực và các tác động của các tổ chức kinh
tế khu vực trong nền kinh tế thế giới
2.1 Tác động tích cực
2.1.1 Tác động đến thương mại, đầu tư, tài chính
Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi mỗi nước phải mở cửa nền kinh
tế, thực hiện tự do hóa về thương mại và đầu tư Thực tế luôn tồn tại sự phát triển
không đồng đều các quốc gia và vùng lãnh thổ trong nền kinh tế thế giới và sự hát triển của mỗi nước cũng khác nhau và không đồng đều Có những nước giàu, có những nước nghèo nhưng mỗi nước đều có lợi thế so sánh riêng của mình Nội dung của hội nhập là các nước sẽ mở cửa hội nhập cho nhau Đây cũng là quá trình dỡ bỏ dần những cản trở trong hoạt động thương mại, xóa bỏ sự phân biệt đối xử, tạo lập
sự cạnh tranh bình đẳng, nhằm làm cho hoạt động thương mại trên phạm vi quốc tế ngày càng tự do hơn thông qua việc cắt giảm dần thuế quan; giảm bớt, tiến tới loại
bỏ hàng rào phi thuế quan như hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, quản lý ngoại hối, phụ thu hàng nhập khẩu, các loại lệ phí và nhiều cản trở vô hình khác; bảo đảm cạnh tranh công bằng và không phân biệt đối xử Do vậy các quốc gia tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa của mình sang nhiều các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới làm tăng kim ngạch xuất khẩu, đóng góp một phần quan trọng vào tăng trưởng kinh
Trang 22tế của các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Đặc biệt, sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã tập trung giải quyết vấn đề tiếp cận thị trường thông qua các cam kết về tự do hóa thương mại Đây là quá trình dỡ bỏ dần những cản trở trong hoạt động thương mại, xóa bỏ sự phân biệt đối xử, tạo lập sự cạnh tranh bình đẳng, nhằm làm cho hoạt động thương mại trên phạm vi quốc tế ngày càng tự do hơn thông qua việc cắt giảm dần thuế quan; giảm bớt, tiến tới loại
bỏ hàng rào phi thuế quan, như hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, quản lý ngoại hối, phụ thu hàng nhập khẩu, các loại lệ phí và nhiều cản trở vô hình khác; bảo đảm cạnh tranh công bằng và không phân biệt đối xử
Quá trình hội nhập giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại và các
quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã
hội Các nước cũng ký kết nhiều hơn các hiệp định thương mại đa phương, song phương, tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực để góp phần nâng cao bảo hộ mậu dịch và cạnh tranh của khối Đây chính là tiền đề cho việc mở rộng các quan hệ ngoại giao giữa các nước, làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia
Đơn cử trường hợp Mexico Hiệp định Thương mại tự do Bắc Hoa Kỳ
ký kết ngày 12/8/1992, hiệu lực từ ngày 1/01/1994 Nội dung của hiệp định này là: Giúp cho kinh tế của 3 nước Hoa Kỳ, Canada và Mexico được dễ dàng Cụ thể là việc Hoa Kỳ và Canada có thể dễ dàng chuyển giao công nghệ sang Mexico và Mexico cũng dễ dàng chuyển giao nguồn nhân lực sang hai nước kia Ngoài ra, hiệp định này còn giúp cho 3 nước có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới về kinh tế với các khối như EU, AFTA Sau 10 năm tham gia NAFTA các chỉ số kinh
tế cơ bản của Mexico đều được cải thiện Dưới tác động của NAFTA, kim ngạch xuất khẩu của Mexico tăng gấp 4 lần, GDP trung bình tăng 3,3%/năm so với mức 2,9% những năm trước, nguồn tiền do lao động tại Hoa Kỳ chuyển về mỗi năm 14
tỷ USD trở thành nguồn ngoại tệ quan trọng của Mexico
Kể từ khi hiệp định được thi hành năm 1994 đã tạo ra những thay đổi to lớn
Trang 23đối với các thành viên trong toàn khối Sau 10 năm thực sự đã có bùng nổ thương mại Kể từ khi ký kết, 76,2% hàng hoá Mexico xuất sang Hoa Kỳ và 66,3% hàng hoá Hoa Kỳ xuất sang Mexico được miễn thuế so với con số trước khi hiệp định là 13,9% và 17,9% Hàng rào thuế giảm đã làm thương mại tăng mạnh Nếu như trước khi hiệp định được ký kết thương mại giữa ba nước với nhau đạt trên 200 tỷ USD thì đến năm 2002 đã tăng hơn 3 lần, đạt trên 600 tỷ USD Thương mại của NAFTA
đa tăng cao hơn thương mại của khối với phần còn lại của thế giới Thương mại của khối NAFTA các nước còn lại giai đoạn 1990-2002 tăng từ 322 lên 481 tỷ USD
Đơn vị: tỷ USD
Nguồn: www.wto.org
Hình 2.1: Xuất khẩu trong khối NAFTA và xuất khẩu của NAFTA với thế giới
Trong 3 nước, Mexico là nước có trình độ phát triển thấp nhất cũng thu được lợi ích từ thương mại Trong vòng hơn 10 năm, kim ngạch xuất khẩu của Mexico đã tăng hơn 4 lần, từ khoảng 40 tỷ USD lên trên 160 tỷ USD Trong cùng giai đoạn, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Mexico trong khối NAFTA đã tăng từ 79% lên đến 91% Tăng trưởng thương mại đã thúc đẩy nền kinh tế đi lên Nền kinh tế Mexico đạt mức tăng trưởng trung bình 3,3%/năm sau khi hội nhập so với tốc độ của giai đoạn trước là 2,9%/năm Cũng trong giai đoạn 10 năm, kinh tế đi lên đã giúp tăng được công ăn việc làm 22% Một số địa phương của Mexico đã thu được lợi ích lớn
từ quá trình hội nhập, như ở Jalisco đã hình thành được một khu vực công nghiệp
Trang 24công nghệ cao tập trung
Hình 2.3: Kím ngạch xuất khẩu của Mexico sang các nước trong vòng 20 năm
kể từ khi gia nhập NAFTA
Đơn vị: tỷ USD
Trang 252013 (tăng hơn 7 lần) và cán cân thương mại của Mexico đã xuất hiện thặng dư thương mại mà trước đây hầu như không có.
Cũng từ các tác động trên, tỷ trọng xuất nhập khẩu ở các nước có sự thay đổi
đáng kể Cụ thể với thị trường ngày càng rộng lớn, khối lượng xuất khẩu hàng năm
sẽ tăng lên, góp phần làm tăng doanh thu xuất khẩu và tỷ trọng của nó trong GDP Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong nước, đặc biệt là cải thiện cán cân thanh toán và tăng tỷ lệ dự trữ ngoại hối Ngoài ra, hội nhập kinh tế quốc tế làm cho thương mại quốc tế của các nước thay đổi cả về cơ cấu các loại mặt hàng trao đổi
Cụ thể:
- Giảm đáng kể tỷ trọng nhóm hàng lương thực, thực phẩm, đồ uống
- Giảm mạnh tỉ trọng của nhóm hàng nguyên liệu, tăng nhanh tỉ trọng của nhóm