Thông thường loại quyết định này không phải để cắt giảm một loại sản phẩm mà để thúc đẩy sản phẩm đó lên hơn so với các sản phẩm khác trong điều kiện tiềm năng các yếu tố có giới hạn.. C
Trang 15.3 PHÂN TÍCH ĐIỂM HOÀ VỐN
* Phân tích điểm hoà vốn là một nội dung quan trọng trong phân tích mối quan hệ giữa chi phí -khối lượng - lợi nhuận Nó cung cấp cho người quản lý xác định được sản lượng, doanh thu hoà vốn, từ đó xác định vùng lãi, vũng lỗ của doanh nghiệp
Lãi trên biến phí đơn vị
Chi phí bất biến Doanh thu hoà vốn =
Tỉ lệ chi phí khả biến trên giá bán (Tỉ lệ chi phí bất biến trên doanh thu)
Chi phí bất biến Vậy Doanh thu hoà vốn =
Tỉ lệ lãi trên biến phí
Trang 2- Đường doanh thu : y = gx (1)
Ngoài đồ thị trên ta có thể vẽ đồ thị điểm hoà vốn chi tiết hơn bằng cách tách đường tổng chi phí y = ax + b bằng 2 đường:
- Đường chi phí khả biến: y = ax
- Đường chi phí bất biến : y = b
⇒ ta có đồ thị chi tiết hơn như sau:
Đường doanh thu
Đường tổng chi phí (y=ax+b)
Đường chi phí khả biến (y=ax)
Đường chi phí bất biến (y=b)
Xh x
Điểm hoà vốn (y=ax)
b
Trang 3* Đồ thị lợi nhuận được biểu diễn như sau:
Ví dụ: Giả sử có XN X hàng kỳ (tháng, quý ) có số liệu sau:
- Chi phí khả biến đơn vị:60, chi phí bất biến:30.000, giá bán đơn vị :100
60100
000.30
=
− , doanh thu hoà vốn = 40% 75.000
000.30
Trang 4
c Phân tích lợi nhuận
* Nếu gọi p là lợi nhuận, ta có tại điểm lợi nhuận p > 0 thì :
Số dư đảm phí = chi phí bất biến + lợi nhuận
hoặc: Doanh thu = chi phí khả biến + chi phí bất biến + lợi nhuận
Gọi xp là sản lượng tại điểm lợi nhuận p
⇒ (g-a) xp = b+ p
a g
p b
p b
p b gxx p
p b
px p
−
+
=1
Chi phí bất biến + Lợi nhuận Sản lượng tại điểm lợi nhuận p =
Số dư đảm phí đơn vị
Doanh thu tại điểm lợi nhuận p =
Trang 5* Như vậy dựa vào các công thức trên, khi đã biết chi phí bất biến, số dư hoặc tỉ lệ số
dư đảm phí nếu dự kiến được lợi nhuận sẽ xác định sản lượng, doanh thu tại điểm lợi nhuận
đó và ngược lại
d Số dư an toàn (margin of safety)
* Số dư an toàn là chênh lệch giữa doanh thu đạt được (theo dự tính hoặc theo thực tế)
so với doanh thu hoà vốn
Số dư an toàn = Doanh thu đạt được - Doanh thu hoà vốn
* Số dư an toàn của các xí nghiệp khác nhau do kết cấu chi phí của các xí nghiệp khác
nhau Thông thường những xí nghiệp có chi phí bất biến chiếm tỉ trọng lớn, thì tỉ lệ số dư
đảm phí lớn, do vậy nếu doanh số giảm thì lỗ phát sinh nhanh hơn và những xí nghiệp đó có
số dư an toàn thấp hơn
* Để đánh giá mức độ an toàn ngoài việc sử dụng số dư an toàn, cần kết hợp với chỉ
tiêu tỉ lệ số dư an toàn
000
40 =
- Doanh thu hoà vốn Xn B = 180.000
%50
000
Trang 6* Tỉ lệ số dư an toàn Xn A = 100% 20%
000.200
000
40 x =
000.200
000
20 x =
Như vậy xí nghiệp B có chi phí bất biến chiếm tỉ trọng lớn, tỉ lệ số dư đảm phí lớn hơn, nên số dư an toàn nhỏ Doanh số giảm thì lợi nhuận giảm nhanh, cụ thể nếu doanh thủ giảm 20.000 thì xí nghiệp B đã đạt điểm hoà vốn, trong khi đó xí nghiệp A doanh thu giảm 40.000 thì doanh số mới đến điểm hoà vốn
5.3.3 Ứng dụng phân tích điểm hoà vốn trong việc ra quyết định
Các khái niệm về điểm hoà vốn cũng được sử dụng rất nhiều trong quá trình ra quyết định
và lập kế hoạch
Cũng vẫn sử dụng số liệu của công ty GM ta đã có: Sản lượng tiêu thụ trong năm qua là 1.000 SP, giá bán 100 (ngàn đ), b iến phí đơn vị 5 5 (ngàn đ), số dư đảm phí đơn vị 45 (ngàn đ), định phí 27.000 (ngàn đ) và lợi nhuận 18.000 (ngàn đ) Với số liệu đó sản lượng hoà vốn là 600 sản phẩm hay 60.000 (ngàn đ) Ta hãy khảo sát thêm các trường hợp sau
a Dự định số lãi phải đạt được
Giả sử mục tiêu của công ty trong kỳ tới lợi nhuận tăng 25% và để thực hiện được mục tiêu này Công ty có kế hoạch tăng cường chi phí quảng cáo 4.500 (ngàn đ) Vậy sản lượng tiêu thụ cần phải đạt được bao nhiêu sản phẩm để đáp ứng được mục tiêu này? Trong trường hợp đó sản lượng hoà vốn là bao nhiêu và tỷ lệ an toàn như thế nào?
500 22 500
.
Sản lượng hoà vốn là:
70045
%100200
1
700200
Vậy trong trường hợp này sản lượng cần tăng 20% và tỷ lệ an toàn về doanh thu của công ty tăng 41,66% - 40% = 1,66% so với tình hình hiện tại
Trang 7Đơn giản hơn, trở lại câu hỏi trong mục 5.1.1 nếu mục tiêu của Công ty trong năm tiếp theo muốn tăng lợi nhuận 10% và nếu các yếu tố khác không đổi thì công ty chỉ phải tiêu thụ được một khối lượng sản phẩm là:
040.145
%110000.18000
b Quyết định khung giá bán của sản phẩm
Đặc trưng của cơ chế thị trường là sự cạnh tranh trong đó giá là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại Biết tận dụng những cơ hội điều chỉnh giá hợp lý nó có thể đem lại những cơ hội tăng lợi nhuận cao, nhưng nếu các biện pháp sử dụng giá không hợp lý có thể đưa doanh nghiệp đến bờ vực thảm hoạ phá sản Người quản lý cần phải thấu suốt đặc điểm này và phải nắm vững khung giá cho từng sản phẩm ở các mức độ sản lượng khác nhau để từ đó tuỳ theo các điều kiện cụ thể
c Quyết định nhận hay từ chối đơn đặt hàng
Trang 8Vẫn trường hợp của Công ty GM, bình thường Công ty tiêu thụ 1.000 SPA, tại mức này giá thành đơn vị sản phẩm là (27.000 : 1.000) + 55 = 82 (ngàn đ), giá bán 100 (ngàn đ), lợi nhuận 18.000 (ngàn đ), sản lượng tối đa theo công suất là 1.250 sp Ngoài những sản phẩm tiêu thụ như bình thường nói trên, nay công ty nhận được một đơn đặt hàng đặt mua 200 SP với giá 75 (ngàn đ) Vậy công ty có chấp nhận đơn đặt hàng này không? Có ý kiến cho rằng giá thành đơn vị sản phẩm là 82, trong khi đó giá bán chỉ là 75, lỗ mỗi đơn
vị là 17 (ngàn đ) Nếu thực hiện hợp đồng này thì sẽ có số lỗ là 200 x 7 = 1.400 (ngàn đ)
và lợi nhuận của công ty chỉ còn 18.000 - 1.400 = 16.600 (ngàn đ) Do vậy không nên chấp nhận đơn đặt hàng này Người quản lý quyết định như thế nào trong tình huống này?
Giải:
Với hoạt động tiêu thụ bình thường hàng năm công ty đã có lãi Điều đó có nghĩa
là toàn bộ số định phí trong năm đã được bù đắp đầy đủ, hợp đồng mới này chỉ phải bù đắp phần biến phí Dự toán về doanh thu, chi phí và kết quả của hợp đồng mới này như sau:
d Quyết định tiếp tục sản xuất hay đình chỉ sản xuất
Loại quyết định này cũng thường gặp trong thực tế Do quy luật cạnh tranh gay gắt của thị trường, nhiều khi đặt doanh nghiệp vào tình trạng làm ăn thua lỗ Trước tình hình
đó, doanh nghiệp phải có quyết định hoặc là tồn tại tiếp tục sản xuất, hoặc là đình chỉ sản xuất đồng nghĩa với tự diệt vong Để có cơ sở cho loại quyết định này chúng ta nghiên cứu
ví dụ sau:
Vẫn với số liệu của Công ty GM nhưng giả sử tình huống năm tới giá bán sản phẩm
A trên thị trường giảm xuống chỉ còn 75 (ngàn đ)/sp, thấp hơn giá thành Chưa có phương
án sử dụng cơ sở vật chát cho sản phẩm A để sản xuất sản phẩm khác trong năm tới được Vậy nên quyết định như thế nào trong tình huống này
Giải:
Để có cơ sở cho quyết định trên đây ta xét các trường hợp sau:
- Trường hợp tiếp tục sản xuất:
Trang 9Nếu tiếp tục sản xuất và sản lượng tiêu thụ vẫn đạt 1.000 sp thì công ty phải chịu
một khoản lỗ là:
1.000 x (75 - 82) = 7.000 (ngàn đ)
- Trường hợp đình chỉ sản xuất:
Nếu đình chỉ sản xuất doanh nghiệp không phải bỏ chi phí biến đổi và cũng không
có doanh thu nhưng vẫn phải bỏ chi phí cố định 27.000 Do vậy số lỗ trong trường hợp này
là 27.000 nđ
So sánh hai phương án thấy tiếp tục sản xuất sẽ tốt hơn cho doanh nghiệp
e Các quyết định thúc đẩy
Đối với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau, trong
quá trình sản xuất kinh doanh, ngoài các hoạt động và kết quả bình thường doanh nghiệp
còn có thể có những sự dư thừa có giới hạn lại sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng khác
nhau Vậy yếu tố dư thừa đó nên dùng để thúc đẩy cho mặt hàng nào để tối đa hoá lợi
nhuận công ty? Đây cũng là loại quyết định rất thường gặp trong thực tế
Thông thường loại quyết định này không phải để cắt giảm một loại sản phẩm mà để
thúc đẩy sản phẩm đó lên hơn so với các sản phẩm khác trong điều kiện tiềm năng các yếu
tố có giới hạn Có thể có nhiều yếu tố giới hạn khác nhau, có những yếu tố nảy sinh từ phía
doanh nghiệp như khả năng dôi dư về số giờ máy, giờ công hoặc dôi dư về vốn lưu động…
cũng có những yếu tố tiềm tàng được phát hiện từ phía thị trường như khả năng tiêu thụ
thêm có giới hạ về số lượng các sản phẩm hoặc khả năng về giá trị sản phẩm tiêu thụ thêm
Với mỗi yếu tố giới hạn, sản phẩm sẽ được thúc đẩy trước tiên là sản phẩm cho lợi nhuận
(số dư đảm phí) cao nhất trên yếu tố tiềm năng có giới hạn đó
Ví dụ: Công ty TĐ đã được đề cập đến ở mục 5.1.5.2 sản xuất và kinh doanh 3 loại
mặt hàng là A, B và C, các số liệu về tình hình tiêu thụ, chi phí và kết quả có liên quan
được tóm tắt và điều chỉnh lại như sau:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, Công ty phát hiện ra những khả năng tiềm tàng
có thể khai thác Giả sử tồn tại một cách độc lập trong những trường hợp sau:
T1: Thị trường có khả năng chấp nhận thêm 200 SP
Trang 10T2: Khả năng chấp nhận của thị trường tăng thêm 50.000 giá trị sản phẩm
T3: Năng lực đáp ứng số giờ máy của công ty còn có thể khai thác thêm 200 giờ
máy Biết rằng số giờ máy để sản xuất mỗi sản phẩm A là 3 giờ, mỗi sản phẩm B là 2 giờ
và mỗi sản phẩm C là 1 giờ
Với mỗi trường hợp giới hạn trên, công ty nên quyết định thúc đẩy sản phẩm nào
trước?
Giải:
Để tối đa hoá lợi nhuận, với mỗi yếu tố giới hạn sản phẩm nào có số dư đảm phí trên
yếu tố cao nhất là sản phẩm được chọn thúc đẩy trước Vì vậy để chọn được sản phẩm cần
thúc đẩy với mỗi yếu tố giới hạn trước hết ta tính số dư đảm phí trên yếu tố đó, sau đó chọn
sản phẩm nào có giá trị tính toán cao nhất sẽ được thúc đẩy trước Cụ thể:
Cơ sở lựa chọn Sản phẩm được lựa chọn
Trường hợp T1, yếu tố giới hạn là số lượng sản phẩm tăng thêm Sản lượng A có số dư
đảm phí đơn vị cao nhất vì vậy sản phẩm này được chọn để thúc đẩy trước
Trường hợp T2, yếu tố giới hạn là giá trị sản phẩm tăng thêm Sản phẩm B có tỷ suất số
dư đảm phí trên doanh thu cao nhất vì vậy nó được chọn để thúc đẩy trước
Trường hợp T3, sốp giờ máy tăng thêm là yếu tố giới hạn Sản phẩm C lại có mức số dư
đảm phí của 1 giờ máy cao nhất vì vậy sản phẩm này được thúc đẩy trước
Lưu ý:
- Với mục đích đơn giản hoá, mỗi trường hợp nêu trên đã giả định rằng chỉ có một yếu tố
giới hạn còn các yếu tố khác có khả năng đảm bảo cho yếu tố giới hạn
- Trong trường hợp cùng một lúc có nhiều yếu tố giới hạn (ràng buộc chặt) ta phải lập hàm
f
1
max )
Trang 11CHƯƠNG VI
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH
6.1- THÔNG TIN THÍCH HỢP CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN
6.1.1- Thông tin thích hợp của quyết định ngắn hạn
6.1.1.1- Khái niệm quyết định ngắn hạn
Ra quyết định là một chức năng quan trọng và xuyên suốt các khâu quản trị doanh nghiệp,
nó được vận dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp Phần lớn thông tin của kế toán quản trị cung cấp nhằm phục vụ các nhà quản trị ra các quyết định
Quá trình ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp là quá trình lựa chọn phương án tốt nhất, có lợi nhất và hiệu quả nhất từ nhiều phương án khác nhau Thí dụ:
- Chấp nhận hay từ chối một đơn đặt hàng đặc biệt (với giá giảm)?
- Ngừng hay vẫn tiếp tục sản xuất một mặt hàng nào đó (hoặc tiếp tục hoạt động một bộ phận nào đó)?
- Tự sản xuất hoặc mua một loại chi tiết nào đó?
- Có nên mở thêm một điểm kinh doanh mới hoặc sản xuất một loại sản phẩm mới hay không?
- Nên bán ngay bán thành phẩm hay tiếp tục sản xuất chế biến ra thành phẩm rồi mới bán?
Các nhà quản trị doanh nghiệp thường phải đứng trước những sự lựa chọn có tính chất trái ngược nhau Mỗi phương án được xem xét là một tình huống khác nhau, các thông tin về thu nhập, chi phí của mỗi phương án cũng rất khác nhau Do vậy đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải xem xét, cân nhắc các phương án để đề ra quyết định đúng đắn và có hiệu quả nhất Các quyết định của nhà quản trị sẽ ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cả hiện tại và tương lai
Xét về mặt thời gian thì một quyết định được xem xét là quyết định ngắn hạn nếu nó chỉ liên quan đến một thời kỳ (kỳ kế toán) hoặc ngắn hơn Xét về mặt vốn đầu tư thì quyết định ngắn hạn là quyết định không đòi hỏi vốn đầu tư lớn
Như vậy đặc điểm của quyết định ngắn hạn là:
Mỗi tình huống trong quyết định ngắn hạn ảnh hưởng chủ yếu đến thu nhập trong ngắn hạn, cho nên phương án phù hợp lựa chọn cho quyết định ngắn hạn là lợi nhuận mà doanh nghiệp sẽ thu được trong năm hoặc dưới một năm tới cao hơn các phương án khác
- Mỗi tình huống trong quyết định ngắn hạn là vấn đề sử dụng năng lực sản xuất, hoạt động hiện thời của doanh nghiệp, không cần thiết phải đầu tư mua sắm hoặc trang bị thêm tài sản cố
Trang 12định để tăng thêm năng lực sản xuất, năng lực hoạt động Vì vậy vai trò của người kế toán quản trị trong vấn đề này là giúp các nhà quản lý xác định phương án có khả năng sinh lời nhiều nhất trong việc sử dụng công suất (năng lực) sản xuất hiện có:
6.1.1.2- Tiêu chuẩn chọn quyết định ngắn hạn
Xét về mặt kinh tế thì tiêu chuẩn chọn quyết định ngắn hạn là thu nhập cao nhất (hoặc chi phí thấp nhất) của phương án lựa chọn
Tuy nhiên không phải lúc nào nguyên tắc thu nhập cao nhất hoặc chi phí thấp nhất cũng được vận dụng một cách đơn giản và dễ dàng để chọn quyết định ngắn hạn Vì vậy còn cần bổ sung thêm các nguyên tắc để chọn các khoản thu nhập và chi phí thích hợp cho quá trình ra các quyết định nhanh chóng hơn, đó là:
- Các khoản thu nhập và chi phí duy nhất thích hợp cho việc ra quyết định là các khoản thu nhập và chi phí ước tính cho kỳ tới khác với thu nhập và chi phí của các phương án khác Những khoản này thường được gọi là thu nhập và chi phí chênh lệch so với các phương án khác
- Các khoản thu nhập đã kiếm được và các khoản chi phí đã chi ở các phương án cũ (có tính chất lịch sử) là không thích hợp cho quá trình xem xét và ra quyết định
Điều đó cho thấy rằng cách tiếp cận để ra quyết định ngắn hạn người ta thường dùng là xác định các cách tốt nhất để dự toán (ước tính) được thu nhập cho mỗi phương án một cách nhanh chóng và đơn giản nhất, sau đó dựa trên thu nhập ước tính cho mỗi phương án để lựa chọn phương án tối ưu
6.1.1.3- Phân tích thông tin thích hợp cho quá trình quyết định
Quá trình ra quyết định có thể được khái quát theo sơ đồ sau: (Bảng 6.1)
Những thông tin (dữ liệu) mà kế toán quản trị cung cấp cho quá trình ra quyết định cần phải đạt được những tiêu chuẩn cơ bản:
Trang 13+ Thông tin đó phải liên quan đến tương lai
+ Thông tin đó phải có sự khác biệt giữa các phương án đang xem xét và lựa chọn
Những thông tin không đạt một trong hai tiêu chuẩn trên hoặc không đạt cả 2 tiêu chuẩn trên được coi là những thông tin không thích hợp
Thí dụ : Doanh nghiệp BC- VT đang lựa chọn có nên mua một máy mới, hiện đại hơn để thay thế cho chiếc máy cũ đang dùng, (máy cũ đang dùng được mua cách đây 2 năm mà nó còn sử dụng được 5 năm nữa)
- Doanh thu dự kiến hàng năm : 250 triệu đồng
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý hàng năm dự kiến: 50 triệu đồng
Các tài liệu khác liên quan đến các phương án trên đã thu thập được ở bảng dưới đây: (Bảng 6.2)
+ Thông tin thích hợp là:
- Chi phí hoạt động hàng năm (vì có chênh lệch và liên quan đến tương lai)
- Giá bán máy cũ (có chênh lệch)
Phân tích thông tin thích hợp
Nhiệm vụ kế toán quản trị