Các khu bảo tồn thiên nhiên trước tiên phải có các loài động thực vật hoặccác loài sống ở rạn san hô, có cảnh quan địa lý có giá trị về khoa học, giáo dục và có ít nhất 1 loài động thực
Trang 1Tổng quan
về các khu
bảo tồn thiên nhiên
Trang 2MỤC LỤC
Tổng quan về các khu bảo tồn thiên nhiên 1 MỤC LỤC 2
Lời nói đầu
Việt Nam có diện tích tự nhiên là 329.240 km , ở vào vị trí đặc biệt trảidài gần 15 độ vĩ (80 20’ – 220 22’ vĩ độ Bắc) và hơn 7 kinh độ (1020 10’ – 109020’ kinh độ Đông) Địa hình hết sức đa dạng biến đổi từ độ cao âm dưới mựcnước biển đến 3143m, trong đó địa hình đồi núi chiếm trên 70% diện tích Bờbiển dài với hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ Khí hậu mang tính chất nhiệt đới giómùa điển hình hơn ở miền Nam, còn ở miền Bắc ảnh hưởng của khí hậu ôn đới.Không những thế, khí hậu còn vừa mang tính lục địa vừa ảnh hưởng bởi khí hậubiển Về mặt sinh địa,nước ta là giao điểm của vùng ấn Độ, Nam Trung Quốc vàMalaysia Những điều kiện tự nhiên đã tạo ra tính đa dạng cao về các hệ sinhthái rừng, khu hệ thực vật và động vật Một số vùng sinh thái của Việt Nam đãđược được công nhận là những điểm ưu tiên bảo tồn toàn cầu với tính đa dạng
và đặc hữu cao
Tuy nhiên, cùng với thời gian, diện tích cung như tính chất của các khuvực đa dạng và đặc hữu cao đã bị thay đổi Được sự quan tâm của Đảng và nhànước, cũng như các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, việc quy hoạch vàphục hồi các khu vực trên đã và đang được tiến hành, việc xây dựng và phục hồicác khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam đang đi theo chiều hướng tích cực Để
có cái nhìn tổng quan cụ thể hơn về vấn đề này, nhóm tác giả xin chọn đề tài
“Tổng quan về các khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam”.
Trang 3Nội dung của tiểu luận bao gồm:
1.Định nghĩa và tiêu chí xác định KBTTN ở VN
2 Đặc điểm chung của các khu BTTN
3 Phân loại và phân bố
4 Hiện trạng quản lý ở Việt Nam
1.2 Các tiêu chí xác định các khu bảo tồn thiên nhiên
Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn đã đưa ra 6 tiêu chí xác định ranhgiới và khái niệm các khu bảo tồn thiên nhiên, nhằm triển khai hiệu quả chiếnlược quản lý hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam giai đoạn 2005-
2010
Các khu bảo tồn thiên nhiên trước tiên phải có các loài động thực vật hoặccác loài sống ở rạn san hô, có cảnh quan địa lý có giá trị về khoa học, giáo dục
và có ít nhất 1 loài động thực vật đặc hữu hoặc trên 5 loài được ghi trong Sách
Đỏ Việt Nam (ngoại trừ các khu bảo tồn biển, do Sách Đỏ Việt Nam không liệt
kê các loài sống ở rạn san hô)
Trang 4Các khu bảo tồn phải có diện tích tối thiểu là 5.000ha nếu ở trên đất liền,3.000ha nếu ở trên biển và 1.000ha nếu là đất ngập nước, có diện tích các hệsinh thái tự nhiên có đa dạng sinh học chiếm ít nhất 70% và tỷ lệ diện tích đấtnông nghiệp cùng đất thổ cư so với diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên dưới5%
Ngoài ra các khu bảo tồn thiên nhiên phải có điều kiện phát triển giáo dụcmôi trường và du lịch sinh thái mà không ảnh hưởng đến các mục tiêu bảo tồn.Việc thành lập khu bảo tồn thiên nhiên phải do Chính phủ, Bộ liên quan hoặc
Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố ra quyết định
1.3 Mục đích của các khu bảo tồn thiên nhiên
Các khu BTTN được xây dựng, phục hồi với các mục đích sau:
- Nghiên cứu khoa học;
- Bảo vệ các vùng hoang dã;
- Bảo vệ sự đa dạng loài và gen;
- Duy trì các lợi ích về môi trường từ thiên nhiên;
- Bảo vệ các cảnh quan đặc biệt về thiên nhiên và văn hoá;
- Sử dụng cho du lịch và giải trí;
- Giáo dục;
- Sử dụng hợp lí các tài nguyên từ các hệ sinh thái tự nhiên;
- Duy trì các biểu trưng văn hoá và truyền thống
Khu bảo tồn thiên nhiên là những khu được bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ dànhcho các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và quan trắc môi trường Cáckhu bảo tồn thiên nhiên này cho phép gìn giữ các quần thể của các loài cũng nhưcác quá trình của hệ sinh thái không hoặc ít bị nhiễu loạn
II ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC KHU BẢO TỒN
Hệ thống khu BTTN có ít nhất 5 đặc điểm sau:
• Tính đại diên, toàn diện và cân bằng
• Tính đầy đủ
Trang 5• Tính gắn kết và bổ sung
• Tính nhất quán, và
• Hiệu quả, hiệu suất và công bằng trong chi phí và lợi ích
2.1 Tính đại diện, toàn diện và cân bằng
Những đặc tính này được áp dụng đặc biệt đối với đa dạng sinh học củamột nước tại các cấp: nguồn gen, loài, và sinh cảnh (hệ sinh thái), và cũng ápdụng đối với các giá trị khác như cảnh quan và văn hoá Các khu BTTN hiện tạithường không được lựa chọn căn cứ vào các giá trị về đa dạng sinh học mộtcách hệ thống do các khu BTTN được thành lập một cách đơn lẻ, theo từngtrường hợp Vì vậy, nhiều nước cần tiến hành các nghiên cứu xác định các kiểusinh cảnh và đa dạng sinh học với mục đích rà soát, quy hoạch lại các khuBTTN để đảm bảo tính đại diện
2.2 Tính đầy đủ
Một loạt các vấn đề cần cân nhắc xem xét khi lựa chọn các phương án quyhoạch hệ thống khu BTTN quốc gia Vị trí, diện tích và ranh giới của các khuBTTN trong hệ thống cần được xem xét trên cơ sở các yếu tố sau:
- Yêu cầu về khu vực cư trú của các loài quí, hiếm hay các loài khác; qui
mô quần thể tối thiểu để duy trì sự tồn tại
- Liên kết giữa các khu BTTN (hành lang) cho phép sự di chuyển củađộng vật hoang dã, hay đôi khi cần có sự cô lập, tách biệt nhằm giảm thiểutruyền dịch bệnh, loài săn mồi…
- Các mối quan hệ khu vực
- Mối liên kết hệ thống tự nhiên và ranh giới, ví dụ lưu vực sông (nướcmặt và mước ngầm), núi lửa, các dòng hải lưu, và các hệ thống địa mạo khác
- Khả năng tiếp cận hoặc không thể tiếp cận để tiến hành các hoạt độngquản lý hoặc phát hiện các tác động tiềm ẩn
- Các mối đe dọa từ bên ngoài hoặc các nguy cơ thoái hoá hiện tại
- Các hoạt động sử dụng, sở hữu tài nguyên thiên nhiên truyền thống vàbền vững
Trang 6- Chi phí cho việc thành lập các khu BTTN (phổ biến nhất là tiền đất, phíđền bù hoặc chuyển nhượng, phí thiết lập các cơ chế đồng quản lý).
2.4 Tính nhất quán
Tính nhất quán thể hiện qua mối quan hệ giữa mục tiêu quản lý của khuBTTN và các hoạt động bảo tồn Một trong những mục đích chính của phânhạng quản lý các khu BTTN của IUCN là thúc đẩy xây dựng hệ thống các khuBTTN dựa trên mục tiêu quản lý và nhấn mạnh rằng hoạt động quản lý phải nhấtquán với những mục tiêu này
2.5 Hiệu quả, hiệu suất và công bằng
Việc thành lập và quản lý hệ thống khu BTTN cần đảm bảo sự cân bằnggiữa chi phí và lợi ích, và sự công bằng trong phân bổ chi phí và lợi ích giữa cácbên có liên quan, trong đó chú trọng đảm bảo lợi ích của cộng đồng dân cư địaphương và đồng bào dân tộc ít người Hiệu suất thể hiện ở số lượng tối thiểucác khu BTTN cần có để đảm bảo mục đích bảo tồn của toàn hệ thống quốc gia
Thành lập và quản lý các khu BTTN phải được coi là một loại hoạt độngkinh tế - xã hội Khu BTTN được thành lập nhằm mục đích đem lại một số lợiích cho xã hội và sự nghiệp bảo tồn thiên nhiên Do vậy, hoạt động của các khuBTTN phải bảo đảm có hiệu quả, tương xứng với chi phí bỏ ra và được quản lýsao cho các tác động và lợi ích được phân bổ và chia sẻ công bằng với các cộngđồng và các bên có liên quan
III PHÂN LOẠI VÀ PHÂN BỐ CÁC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN 3.1 Phân loại các khu bảo tồn:
Trang 7- Theo Luật Đa dạng sinh học 2008 của Việt Nam, khu bảo tồn thiên nhiên baogồm các loại hình:
* Vườn quốc gia;
* Khu dự trữ thiên nhiên;
* Khu bảo tồn loài - sinh cảnh;
* Khu bảo vệ cảnh quan;
- Hệ thống phân hạng khu BTTN quốc tế của IUCN hiện hành được công bốnăm 1994, trên cơ sở cập nhật Hệ thống phân hạng Hệ thống phân hạng 1994 cótất cả 6 phân hạng Năm phân hạng đầu tiên chủ yếu dựa trên các phân hạng (I-V) của hệ thống phân hạng 1978 Phân hạng VI tập hợp các ý tưởng của cácphân hạng VI, VII và VIII của hệ thống phân hạng 1978:
• Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/Khu bảo vệ hoang dã (Strict NatureReserve/ Wildeness Area):
• Khu dự trữ thiên nhiên (Strict Nature Reserve)
• Khu bảo vệ hoang dã ( Wildeness Area)
• Vườn Quốc Gia (National Park)
• Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên (National Monument/NaturalLandmark)
• Khu bảo tồn loài/Sinh cảnh (Habitat/Species Management Area)
• Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/biển (Protected Landscape/Seascape)
• Khu bảo tồn kết hợp sử dụng bền vững tài nguyên (Managed ResourceProtected Area)
Việc xắp xếp một khu BTTN vào một phân hạng nhất định cần căn cứ vàomục tiêu quản lý chủ đạo của khu BTTN đó Mối quan hệ giữa các mục tiêuquản lý và các phân hạng thể hiện tại bảng sau:
Bảng: Mối quan hệ giữa mục tiêu quản lý và các phân hạng khu BTTN
Trang 8- Các loại hình khu bảo tồn thiên nhiên khác:
Các khu RAMSAR và Công viên ASEAN, đây không phải là những phânhạng khu BTTN mà là những danh hiệu khu vực và quốc tế Vì vậy hệ thốngphân hạng 1994 của IUCN không bao gồm những khu này Tuy nhiên nhữngkhu này được ghi nhận trong Danh sách của Liên hợp quốc và các ấn phẩm phùhợp khác của IUCN
3.2 Phân bố các khu bảo tồn
Ở Việt Nam, vườn quốc gia Cúc Phương là khu bảo tồn thiên nhiên đầutiên được thành lập vào năm 1962
Đến năm 2008, hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 164khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45khu bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảotồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinhhọc tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển
Đến năm 2009, Việt Nam đã có 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới đượcUNESCO công nhận, có 2 khu Di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long vàKhu Phong Nha – Kẻ Bàng, có 2 khu RAMSAR, đó là khu Xuân Thuỷ (tỉnhNam Định) và khu Bầu Sấu thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên
Bảng: Danh sách các khu bảo tồn quốc gia của Việt Nam (tính đến tháng 12
Trang 91 Hoàng Liên-Sa Pa Lào Cai 2002 29,845
19 Cát Tiên Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình
Trang 1024 U Minh Thượng Kiên Giang 2001 8,509
Trang 1119 Kỳ Thượng Quảng Ninh 1994 17,640
35 Ngọc Linh Kon
Trang 128 Rừng khô Núi
Trang 134 Tân Trào Tuyên Quang 1992 6,633
8 Hang Phượng
BVH-1991 6,000
Trang 1433 Chiến khu Bời Lời Tây Ninh 194/CT-1986 2,000
Nguồn: Cục Kiểm lâm, tháng 12 năm 2002
Rừng đặc dụng
37 Khu Văn hoá-Lịch sử-Môi trường 187,668
Đất ngập nước (Ramsar)
1 Xuân Thuỷ Nam Định, Thái
Bình
12,000 1995
Ghi chú: Khu này bao gồm cả diện tích ngoài khu bảo tồn thiên nhiên XuânThuỷ (phần nằm trong huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam Định) Khu đất ngập nướcRamsar nằm trên diện tích hai huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và huyện GiaoThuỷ (tỉnh Nam Định) Diện tích nêu ra ở đây trích dẫn từ trang Web Ramsar(www.ramsar org/profiles_vietnam.htm)
Các khu bảo tồn biển
Khu bảo tồn biển Hòn Mun (tỉnh Khánh Hoà) là khu bảo tồn biển thí điểm “trìnhdiễn” bắt đầu hoạt động từ tháng 6 năm 2001 Khu bảo tồn biển Hòn Mun códiện tích 105,000 ha Tính đến năm 2010 đã có 5 khu bảo tồn biển: Vịnh Nha
Trang 15Trang, Cù Lao Chàm, Phú Quốc, Cồn Cỏ, Núi Chúa Theo Quy hoạch hệ thốngkhu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2015 sẽ thành lập hệ thống gồm 16 KBTB.
Di sản thế giới
Khu dự trữ sinh quyển
thành lập
1 Cần Giờ Thành phố Hồ Chí
Minh
Bình Phước, Đac Lak
Trang 16Bản đồ sử dụng đất và các khu bảo tồn
Trang 17IV HIỆN TRẠNG CÁC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM 4.1 Tình hình quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên
4.1.1 Các chiến lược và các kế hoạch quốc gia về QLMT
Việc thành lập và quản lý các khu bảo tồn là hành động chính được xác
định trong Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (BAP) năm 1995 Đánh giá kế
hoạch hành động đa dạng sinh học được tiến hành năm 1998 cho thấy: Đã cónhững tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện các biện pháp đề xuất chiến lượcphát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 của Chính phủ Việt Nam chủ trương kết hợpphát triển KTXH với bảo vệ và cải thiện môi trường Trong phương hướng vànhiệm vụ của kế hoạch phát triển KTXH thời kỳ 2001-2005 có nhấn mạnh đếncác dự án nhằm khôi phục và BVMT; xây dựng các VQG và các KBTTN, phủxanh đất trống đồi trọc, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen và xâydựng các cơ sở BVMT
Việc thành lập và quản lý các khu bảo tồn là hành động chính được xác
định trong Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (BAP) năm 1995 Đánh giá
việc thực hiện kế hoạch hành động đa dạng sinh học được tiến hành đến năm
1998 cho thấy rằng đã có những tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện các biệnpháp đã đề xuất Cần phải xác định các vấn đề ưu tiên để tăng cường thực hiện
Kế hoạch hành động đa dạng sinh học, kể cả xây dựng chiến lược tổng thể cho
hệ thống các khu bảo tồn quốc gia, hoàn chỉnh hệ thống phân loại các khu bảotồn, làm rõ trách nhiệm cho các khu bảo tồn ven biển và trên biển, soạn thảo các
kế hoạch quản lý cho các khu bảo tồn mới và xây dựng phơng pháp luận và cáccách tiếp cận để quản lý các vùng đệm
4.1.2 Cơ cấu quản lý tài nguyên thiên nhiên
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý Hiện nay,nhà nước tiến hành giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hô gia đình và cánhân sử dụng ổn định lâu dài (dưới tên thường gọi là “sổ đỏ”) Giấy xác nhậnquyền sử dụng đất có giá trị lâu nhất trong vòng 20 năm đối với sản xuất nôngnghiệp và 50 năm đối với đất lâm nghiệp Quá trình giao đất , nhất là giao đấtlâm nghiệp tiến triển chậm
Trang 18Đối với đất lâm nghiệp, luật bảo vệ và phát triển rừng (1991) phân đất rừngthành 3 loại rừng để quản lý: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.Phần lớn đất rừng sản xuất do các lâm trường quốc doanh quản lý Năm 1997,chính phủ đã cấm các hoạt động khai thác gỗ của phấn lớn các lâm trường quốcdoanh (đóng cửa rừng) và nhấn mạnh việc chuyển đổi từ sản xuất sang bảo vệrừng.
Về mặt hành chính, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng do các ban quản lýkiểm soát Trong phần lớn trường hợp, cán bộ của các ban quản lý do các cơquan liên quan đến lâm nghiệp trong tỉnh cử ra (chi cục kiểm lâm) Nhìn chung,các ban quản lý thường thiếu nhân lực và nguồn lực, trừ một số ban quản lý cácvườn quốc gia
Quản lý tài nguyên thiên nhiên ở tất cả các mặt nước bao gồm: nước mặn(biển), nước lợ và nước ngọt kể cả các khu vực nuôi trồng thủy sản thuộc tráchnhiệm của Bộ thủy sản
4.2 Hệ thống quản lý các khu bảo tồn
Quản lý nhà nước đối với các khu bảo tồn được phân định cho một số cơquan nhà nước :
- Bộ NN&PTNT và các tỉnh chịu trách nhiệm về rừng đặc dụng bao gồm:VQG, các KBTTN, các khu di tích lịch sử-văn hóa-môi trường, hệ thống cáckhu bảo biển của Việt Nam
Bảng 4.1: Các khu bảo tồn ở Việt Nam
Ngoài ra, tại Việt Nam mới đây hình thành một số loại hình khu bảo vệkhác nhằm đáp ứng các nhu cầu về bảo tồn và phát triển (Bảng 4.2) Điều đáng
Trang 19lưu ý là các khu Ramsar, di sản thế giới, khu dự trữ con người và sinh quyểnkhông được coi là các phân loại trong hệ thống khu bảo tồn của IUCN vì nhữngkhu này không đợc định rõ theo mục tiêu quản lý mà là một danh hiệu đợc côngnhận cho một vùng Việt Nam cũng tuân theo phương thức này nên vườn quốcgia có thể cùng lúc được coi là khu bảo tồn quốc gia và khu dự trữ con người vàsinh quyển như trường hợp vườn quốc gia Cát Tiên
Bộ Tài nguyên và Môi trường (Tổng cục môi trường) chịu trách nhiệm vềcác vùng đất ngập nước – các khu Ramsar, các khu đất ngập nước đề xuất và cáckhu bảo tồn con người và sinh quyển Các khu di sản thế giới UNESCO nằmdưới quyền quản lý của Bộ Văn hóa và thông tin và các tỉnh có liên quan
Bảng 4.2: Các loại khu khác được bảo vệ ở Việt Nam
Nguồn gốc của hệ thống rừng đặc dụng bắt đầu từ năm 1960, khi Chủ tịch
Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 18/LCT: “Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hoà” Sắc lệnh này bao gồm cả đề xuất thành lập Tổngcục Lâm nghiệp Năm 1962, theo đề nghị của Tổng cục Lâm nghiệp, Chính phủ
đã quyết định thành lập rừng cấm Cúc Phương (hiện nay là vườn quốc gia CúcPhương), khu bảo tồn đầu tiên của Việt Nam
Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, Tổng cục Lâm nghiệp đã chú
ý tập trung vào việc xác định và khảo sát các khu rừng có tiềm năng để bảo vệtrên cả nước và một loạt các khu bảo tồn mới đã được thành lập Ngày 9 tháng 8năm 1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng đã ra Quyết định số 194/CT cho phép