1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Môi trường pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam hiện nay. Thực trạng và một số kiến nghị.DOC

31 1,2K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Môi Trường Pháp Luật Của Các Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Ở Việt Nam Hiện Nay. Thực Trạng Và Một Số Kiến Nghị
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 126,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môi trường pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam hiện nay. Thực trạng và một số kiến nghị.

Trang 1

Đảng và Nhà nớc ta đã đa ra nhiều chính sách mới sửa đổi và bổ xung một sốchính sách cũ nhằm tạo ra một môi trờng thuận lợi cho hoạt động kinh doanhcủa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn tồntại nhiều hạn chế cản trở quá trình hoạt động và phát triển của các doanhnghiệp ngoài quốc doanh Các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn do cácthủ tục hành chính phức tạp, sự đối xử bất bình đẳng trong một số chính sách

nh chính sách tín dụng, chính sách đất đai…

Xuất phát từ thực tế trên đồng thời đứng trớc những thách thức của quátrình hội nhập khu vực và thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp phải mạnh để cóthể đủ sức cạnh tranh và phát triển Từ nhận thức trên, em đã mạnh dạn chọn

đề tài : “Môi trờng pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam hiện nay Thực trạng và một số kiến nghị”.

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Đề tài đề cập đến một vấn đề có ý nghĩa lớn về lý luận cũng nh thựctiễn trong quá trình nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơ chế thị trờng và mở cửa

để hội nhập với khu vực và thế giới hiện nay Nội dung nghiên cứu của đề tàinhằm làm sáng tỏ những vấn đề sau:

- Đặc điểm, vị trí và vai trò của khu vực doanh nghiệp ngoài quốcdoanh trong nền kinh tế nớc ta

- Thực trạng môi trờng pháp luật và những ảnh hởng của nó tới quátrình hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Việc lý giải những vấn đề trên tạo điều kiện tìm ra những giải phápnhằm hoàn thiện môi trờng pháp luật để thúc đẩy sự phát triển của các doanhnghiệp ngoài quốc doanh nói riêng và của cả nền kinh tế nớc ta nói chung

2 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

Đề tài tập trung nghiên cứu những ảnh hởng của môi trờng pháp luật tớiquá trình chuẩn bị thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh Do trình độ và thời gian nghiên cứu có hạn nên khu vực doanh nghiệpngoài quốc doanh mà em đề cập trong đề tài này chỉ là các doanh nghiệp đanghoạt động theo Luật Doanh nghiệp do Quốc hội thông qua ngày 12-6-1999 và

Trang 2

 Lêi më ®Çu.

 PhÇn I: C¬ së lý luËn vÒ ph¸p luËt vµ doanh nghiÖp ngoµi quèc doanh

 PhÇn II: Thùc tr¹ng m«i trêng ph¸p luËt cña c¸c doanh nghiÖp ngoµiquèc doanh ë níc ta hiÖn nay

 PhÇn III: Mét sè kiÕn nghÞ nh»m hoµn thiÖn m«i trêng ph¸p luËt cñadoanh nghiÖp ngoµi quèc doanh

 KÕt luËn

Trang 3

Phần I Cơ sở lý luận về pháp luật và doanh nghiệp

ngoài quốc doanh.

1 Lý luận chung về pháp luật

1.1 Khái niệm và bản chất của pháp luật

Trong xã hội nhà nớc pháp quyền, các quan hệ xã hội chủ yếu đợc điềuchỉnh bằng các quy phạm pháp luật Pháp luật trở thành công cụ tối quantrọng của nhà nớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội và quản lý sự vận hànhcủa nền kinh tế-xã hội theo mục tiêu đã định

Pháp luật là một hệ thống các quy phạm có tính bắt buộc chung, do nhànớc ban hành và đợc nhà nớc bảo đảm thực thi trong một thời gian dài để điềuchỉnh các quan hệ xã hội

Cũng nh mọi nhà nớc khác, bản chất pháp luật của nhà nớc ta phù hợpvới bản chất của nhà nớc, do bản chất, đặc điểm và những nhiệm vụ của nhànớc trong từng thời kỳ quyết định

Điều 2- Hiến pháp 1992 xác định:”Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam là nhà nớc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cả quyềnlực nhà nớc thuộc về mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấpcông nhân và tầng lớp trí thức”

Vì lẽ đó, pháp luật của nhà nớc ta về bản chất là pháp luật xã hội chủnghĩa Nó thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, đồng thời phản ánh, thể hiện

ý chí, lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động khác và của cả dân tộc

Nói pháp luật thể hiện ý chí và lợi ích của toàn thể nhân dân lao độngkhông có nghĩa là phủ nhận tính giai cấp của pháp luật nhà nớc ta Vấn đề ởchỗ khi pháp luật phản ánh, bảo vệ lợi ích của các giai cấp, của dân tộc phải

đứng trên quan điểm, lập trờng của Đảng Đó là nguyên tắc hàng đầu của phápluật nhà nớc trong giai đoạn hiện nay

Trong nền kinh tế nhiều thành phần, đơng nhiên còn tồn tại các lợi íchkhác nhau của các thành phần khác nhau Pháp luật đơng nhiên phải bảo vệ lợiích và tạo điều kiện cho các thành phần đó phát triển phù hợp với định hớngphát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nớc ta

Trang 4

1.2 Vai trò của pháp luật

a Pháp luật là công cụ thực hiện đờng lối, chính sách của Đảng.

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đảmbảo thắng lợi của cách mạng nớc ta cả trong công cuộc bảo vệ và xây dựng

đất nớc trớc đây cũng nh trong công cuộc đổi mới và thực hiện công nghiệphoá, hiện đại hoá ngày nay

Đảng lãnh đạo trớc hết và chủ yếu bằng cách Đảng vạch ra đờng lối,chính sách trên cơ sở phân tích khoa học tình hình thực tế và vận dụng sángtạo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lê Nin vào hoàn cảnh thực tế đó Việcthực hiện đờng lối, chính sách đó trớc hết và chủ yếu bằng nhà nớc và thôngqua nhà nớc

Trên ý nghĩa đó, pháp luật là sự biểu hiện dới hình thức nhà nớc các ờng lối, chính sách của Đảng thành hiện thực sinh động trong cuộc sống Mặtkhác bằng việc thể chế hoá thành pháp luật, đờng lối chủ trơng của Đảng biếnthành quyết định quản lý mang tính quyền lực nhà nớc, trở thành các quyền vànghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức đợc thực hiện một cách trựctiếp, chính xác, thống nhất trong cả nớc

đ-b Pháp luật là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao

đợc làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội, lợi ích và các quyền tự do, dânchủ của công dân khác

c Pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nớc.

Ngày nay, pháp luật không chỉ là công cụ quan trọng để cải tạo cácquan hệ xã hội cũ, tổ chức xây dựng và điều hành mọi lĩnh vực và mở đờngcho các quan mới xã hội mới phát triển phù hợp với các quy luật kinh tế kháchquan mà nó còn là công cụ hớng dẫn, khuyến khích, thúc đẩy, điều chỉnh sựphát triển của xã hội, đặc biệt trong sự phát triển của nền kinh tế đất nớc

Nói cách khác pháp luật còn tạo môi trờng cho các quan hệ kinh tế mớiphát triển Trên ý nghĩa đó, pháp luật của nhà nớc ta hiện nay có ý nghĩa vôcùng quan trọng trong việc “ phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầntheo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, theo định hớng xã hội chủnghĩa” Để đáp ứng yêu cầu đó, pháp luật phải tạo nên một môi trờng pháp lý

an toàn, thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp tồn tại và phát triển,

Trang 5

nâng cao sức cạnh tranh của mình cũng nh của nền kinh tế Mặt khác, phápluật cũng tạo điều kiện cho nhà nớc có thể thực hiện đợc vai trò ngời điềuhành nền kinh tế thị trờng, hớng nó phát triển theo các mục tiêu đã định, khắcphục và hạn chế những mặt trái vốn có của nền kinh tế thị trờng Pháp luậtcũng phải là công cụ để nhà nớc kiểm soát các hoạt động kinh doanh, trừng trịcác hành vi làm ăn phi pháp, thực hiện sự công bằng trong sản xuất và phânphối Một vai trò quan trọng khác của pháp luật trong quản lý nhà nớc là nóxác lập, củng cố và hoàn thiện những cơ sở pháp lý của quản lý nhà nớc, đặcbiệt là quản lý nhà nớc về kinh tế.

Trên ý nghĩa đó, pháp luật hiện nay của nhà nớc phải là cơ sở pháp lý

để hoàn thiện bộ máy nhà nớc phù hợp với cơ chế quản lý mới, từ hoạt độnglập pháp đến hoạt động hành pháp và t pháp

2 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và vị trí của nó trong nền kinh tế nớc ta.

2.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trong nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi đơn vị kinh doanh là một tổchức của những ngời sản xuất hàng hoá thuộc các thành phần kinh tế khácnhau Họ đầu t vốn, thuê mớn và sử dụng lao động để sản xuất một loại hànghoá hay thực hiện một loại dịch vụ nhất định qua đó tìm kiếm lợi nhuận.Trongnền kinh tế thị trờng, tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất và trao

đổi hàng hoá chủ yếu là các doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh bao gồmhoạt động kinh doanh t nhân và hoạt động kinh doanh của Nhà nớc Việc phânbiệt hoạt động kinh doanh t nhân với hoạt động kinh doanh của Nhà nớc căn

cứ vào việc ai là ngời tổ chức và chỉ đạo các hoạt động này

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổ chức kinh tế do cá nhân, tổ chức

đầu t vốn, thành lập và tổ chức quản lý theo qui định của pháp luật nhằm mục

đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

ở hầu hết các nớc trên thế giới hiện nay, các hình thức sở hữu thờng

đan xen nhau Có nhiều doanh nghiệp trong đó vừa có yếu tố t nhân vừa có sựtham gia của Nhà nớc

ở Việt Nam trớc đây, t liệu sản xuất của một cơ sở sản xuất kinh doanhnào đó chỉ thuộc về một hình thức sở hữu duy nhất, sở hữu Nhà nớc Hội nghịtrung ơng VI - Đại hội lần thứ 6 của Đảng cộng sản Việt Nam đã xem xét lạicác quan điểm cũ và khẳng định lại rằng: trong hoạt động sản xuất-kinh doanhcác hình thức sở hữu về t liệu sản xuất không ngăn cách nhau mà có nhiều loạihình hỗn hợp, đan kết với nhau Các doanh nghiệp quốc doanh có thể huy

động vốn cổ phần của các cá nhân và tổ chức khác Còn các cơ sở sản kinh doanh t nhân cũng có thể liên kết với các doanh nghiệp quốc doanhnhằm mở rộng sản xuất Do đó, khu vực doanh nghiệp ngoai quôc doanhkhông chỉ bao gồm các cơ sở sản xuất-kinh doanh hoàn toàn thuộc sở hữu tnhân mà bao gồm cả các cơ sở sản xuất-kinh doanh có phần vốn góp của Nhà

Trang 6

xuất-nớc nhng hoạt động của chúng lại do một hay một nhóm t nhân tơ chức và chỉ

đạo

2.2 Các hình thức của doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học phơng tây thì chỉ có hai hìnhthức sở hữu trong hoạt động kinh doanh, đó là sở hữu công cộng và sở hữu tnhân Sở hữu t nhân đợc biểu diễn dới nhiều hình thức, trong đó ba hình thức

sở hữu t nhân chung nhất là: sở hữu một chủ, sở hữu nhóm hay đồng sở hữu,

Từ ba hình thức cơ sở hữu t nhân trên mà tơng ứng có các doanh nghiệp

sở hữu một chủ, doanh nghiệp sở hữu nhóm và doanh nghiệp thuộc hình thức

sở hữu công ty

ở Việt Nam, phần đông các nhà kinh tế cho rằng có ba hình sở hữutrong hoạt động kinh doanh là: sở hữu công cộng, sở hữu tập thể và sở hữu tnhân Trên cơ sở sở hữu t nhân và sở hữu tập thể, khu vực doanh nghiệp ngoàiquốc doanh ở nớc ta bao gồm:

a Doanh nghiệp t nhân

Doanh nghiệp t nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp Đây là một hình thức sở hữu tơng ứng với hình thức sở hữumột chủ ở các nớc trên thế giới Doanh nghiệp t nhân không có t cách phápnhân và chịu chế độ trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh

b Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên là công ty do một

tổ chức làm chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về nợ và cácnghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

Theo Điều 14 Nghị định 03/2000/NĐ-CP thì chủ sở hữu công ty phải làmột pháp nhân và có thể là: cơ quan Nhà nớc, đơn vị vũ trang, các pháp nhâncủa các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các loạidoanh nghiệp và các tổ chức khác theo qui định của pháp luật

Nh vậy theo pháp luật, công ty TNHH một thành viên có thể là mộtdoanh nghiệp quốc doanh nếu chủ sở hữu của nó là cơ quan Nhà nớc hay làmột doanh nghiệp ngoài quốc doanh nếu chủ sở hữu của nó không phải là cáccơ quan Nhà nớc Công ty TNHH hạn một thành viên là loại hình doanhnghiệp có t cách pháp nhân nhng không có quyền phát hành cổ phiếu

c Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên

Trang 7

Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên là công ty đợc thành lậptheo sự góp vốn của nhiều thành viên Thành viên công ty có thể là cá nhânhay tổ chức và tối đa là năm mơi, tối thiểu là hai Công ty có t cách pháp nhânnhng không có quyền phát hành cổ phiếu Đây là loại hình công ty mà cácdoanh nhân nớc ta a thích và hay thành lập.

d Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm sau:Vốn điều lệ của công ty đợc chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần.Thành viên công ty có thể là cá nhân hay tổ chức đợc gọi là cổ đông Sốlợng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lợng tối đa

Công ty có t cách pháp nhân và có quyền phát hành các loại chứngkhoán

e Công ty hợp danh

Công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp có đặc điểm:

- Công ty phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài thành viên hợpdanh công ty có thể có thnàh viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cánhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp Còn thành viên góp vốn

có thể là cá nhân hay tổ chức

- Công ty không có t cách pháp nhân và không có quyền phát hành haykinh doanh chứng khoán

f Hợp tác xã

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những ngời lao động có nhu cầu,

có lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo qui định củapháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúpnhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất Hợp tác xã thuộc loạihình sở hữu tập thể

Hình 1 Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nớc ta hiện nay 2.3 Vị trí và vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế nớc ta.

Doanh

nghiệp

t nhân

CôngtyTNHH

Côngtycổphần

Côngtyhợpdoanh

Hợptácxã

Hệ thốngdoanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trang 8

Trong nền kinh tế của các nớc trên thế giới, vị trí và vai trò của doanhnghiệp ngoài quốc doanh luôn thay đổi qua các giai đoạn lịch sử cùng với sựtăng giảm vai trò của chính phủ đối với hoạt động kinh doanh Qua nhiềunăm, ngời ta đã chứng minh những u thế của hoạt động kinh doanh t nhân sovới hoạt động kinh doanh của khu vực Nhà nớc và nhiều nớc đã thực hiện quátrình t nhân hoá Hiện nay ở hầu hết các nớc trên thế giới, khu vực kinh tế tnhân chiếm tỷ trọng lớn về tổng sản phẩm quốc nội(GDP), về vốn đầu t vàngày càng trở thành bộ phận có vị trí lớn và quan trọng đối với nền kinh tếmỗi nớc

a Vị trí của doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nớc ta hiện nay.

Qua phần trên, ta thấy rằng doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một bộphận cấu thành không thể thiếu đợc trong nền kinh tế ở hầu hết các nớc trênthế giới Sự phát triển của các hình thức tổ chức kinh tế: kinh tế Nhà nớc, kinh

tế t nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau là một tất yếu khách quan

Tuy nhiên, ở nớc ta trớc đây lại không công nhận sự tồn tại của khu vựckinh tế t nhân làm cho khu vực này phải hoạt động chui hoặc đội lốt kinh tếtập thể Việc coi kinh tế t nhân là thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa vàmuốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội chỉ cần cải tạo nhanh thành phần kinh

tế đó đã dẫn đến tình trạng gần nh xoá sổ khu vực kinh tế t nhân, phát triển ồ

ạt các xí nghiệp quốc doanh dẫn đến nền kinh tế đình trệ, kém phát triển và

đời sống nhân dân gặp vô cùng khó khăn Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) làmột bớc ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển kinh tế ở nớc ta Đại hội đãxác định việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi lực lợngsản xuất, cải tiến cơ chế quản lý kinh tế là một chiến lợc phát triển kinh tế lâudài Đến Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) đờng lối đổi mới kinh tế của Đảng

đợc khẳng định lại một lần nữa “Chúng ta chủ trơng thực hiện nhất quán chínhsách kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa” Hiến pháp

1992 cũng đã ghi nhận sự tồn tại của sở hữu t nhân (điều 15) và khuyến khíchcác thành phần kinh tế ngoài Nhà nớc phát triển (điều 21)

Nh vậy, việc phát triển khu vực kinh tế t nhân trong đó có doanh nghiệpngoai quốc doanh là một tất yếu và có vị trí quan trọng trong việc thực hiệnnhiệm vụ chiến lợc là giải phóng mọi lực lợng sản xuất nhằm phát triển sảnxuất-kinh doanh đảm bảo dân giàu, nớc mạnh nghĩa là huy động mọi nguồnvốn, lao động và tài năng của ngời dân vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, tạocông ăn việc làm cho ngời dân, nâng cao thu nhập cho ngời lao động và chongân sách Nhà nớc

b Vai trò của doanh ngiệp ngoài quốc doanh ở nớc ta hiện nay.

Trang 9

Từ khi nền kinh tế nớc ta chuyển đổi sang cơ chế mới, khu vực doanhngiệp ngoài quốc doanh đợc chấp nhận chính thức về mặt pháp lý thì khu vựcnày đã từng bớc hình thành, phát triển và hoạt động trên nhiều lĩnh vực củanền kinh tế nh công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp và dịch vụ với mức độkhác nhau và dần có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế.

Nếu nh năm 1991 chỉ có 123 doanh ngiệp đăng ký kinh doanh theo luậtthì năm 1993 là 12.131 doanh ngiệp và đến nay là trên 60.000 doanh nghiệp.Nộp ngân sách của khu vực này từ 51 tỷ đồng năm 1991 nâng lên 1.051 tỷ

đồng vào cuối năm 1994 Số lao động bình quân trong các doanh ngiệp là 25ngời vào thời điểm giữa năm 1998, trong đó có một số ít doanh ngiệp có sốlao động lên tới 2.000, 5.000 thậm chí là 10.000 ngời Vào năm 1999, mặc dùnền kinh tế có nhiều khó khăn do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chínhkhu vực và thế giới thì khu vực này vẫn tạo ra hơn 7% GDP của cả nớc và cho

đến nay con số này là khoảng 9% Qua số liệu trên có thể thấy vai trò tích cựccủa các doanh ngiệp ngoài quốc doanh đó là:

Thu hút và giải quyết việc làm cho lực lợng lớn lao động, giảm bớt sựcăng thẳng dôi thừa lao động trong xã hội, góp phần tạo sự ổn định tình hìnhxã hội

Thu hút một phần vốn lớn trong dân c vào hoạt động sản xuất-kinhdoanh qua đó phát huy đợc nguồn nội lực của đất nớc

Sản xuất một khối lợng sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng một phầnnhu cầu về hàng tiêu dùng của các tầng lớp dân c, mặt khác đóng góp cho Nhànớc một khoản ngân sách không nhỏ góp phần tăng ngân sách Nhà nớc

Trong nền kinh tế thị trờng, các DNNQD phải bằng mọi cách hiện đạihoá kỹ thuật, công nghệ để cạnh tranh với các doanh ngiệp trong nớc, đồngthời cạnh tranh với các nớc trong khu vực và trên thế giới về mặt hàng, mẫumã, giá cả nghĩa là nâng cao chất lợng hàng hoá sản xuất ra Đó chính là sựgóp phần vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc

Trang 10

Phần II Thực trạng môi trờng pháp luật của các doanh nghiệp ngoai quốc doanh ở nớc ta hiện nay.

Các doanh nghiệp ngoai quốc doanh cũng giống nh tất cả các doanhnghiệp khác đều nằm trong một môi trờng vĩ mô nhất định và chịu sự tác

động của các yếu tố thuộc môi trờng này Mối quan hệ giữa các doanh nghiệpngoai quốc doanh với môi trờng vĩ mô có thể đợc thể hiện theo sơ đồ sau:

Hình 2 Sơ đồ mối quan hệ giữa DNNQD với môi trờng vĩ mô

Môi trờng pháp luật là một trong những yếu tố thuộc môi trờng vĩ mô,

nó là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của các loại hình doanhnghiệp Một môi trờng pháp luật ổn định, thuận lợi và bình đẳng sẽ đảm bảocho các doanh nghiệp yên tâm đầu t vào sản xuất-kinh doanh

thủ cấp cạnh tranh

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trang 11

1 Quá trình đăng ký kinh doanh và các thủ tục hành chính trớc khi đi vào hoạt động của doanh nghiệp.

Trong nhiều năm qua, nhiều văn bản pháp luật nói chung và pháp luật

về kinh tế nói riêng đã đợc ban hành nhằm thể chế hoá đờng lối đổi mới kinh

tế của Đảng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển của các loại hìnhdoanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Năm 1990, Luật Công ty và Luật doanh nghiệp t nhân đợc ban hành.Các luật này đã củng cố tính an toàn về mặt pháp lý của các doanh nghiệp vàcác tổ chức mà chúng có quan hệ kinh doanh nhờ vậy đã tác động tích cực tới

sự phát triển của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh Theo thống kê, đếnnăm 1998 đã có gần 40.000 doanh nghiệp đợc thành lập với tổng số vốn đăng

ký kinh doanh lên tới 21.000 tỷ đồng Tuy nhiên các thủ tục để thành lậpdoanh nghiệp theo 2 luật này là rất phức tạp Để có thể thành lập thì các doanhnghiệp phải có:

Để khắc phục những hạn chế của hai luật kể trên thì Luật Doanh nghiệp

đã ra đời Đợc Quốc hội thông qua ngày 12-6-1999 và có hiệu lực từ ngày

1-1-2000, luật mới đã đánh dấu một bớc tiến dài về chất từ chỗ quy định ngời kinh

đoanh phải xin phép chuyển sang một cách tiếp cận mới cho phép mọi ngời

đ-ợc làm những gì mà pháp luật không cấm Luật đã quy định rõ ràng, cụ thểmột số thủ tục liên quan đến quá trình thành lập và đăng ký kinh doanh, bãi

bỏ một số đòi hỏi mà doanh nghiệp thờng khó đáp ứng vào lúc thành lập, đồngthời đặt ra một số đòi hỏi đối với các cơ quan có thẩm quyền liên quan đếnviệc đăng ký kinh doanh Nhờ vậy thủ tục thành lập doanh nghiệp đã trở nênthuận tiện và đơn giản hơn rất nhiều

Sau hơn 2 năm thi hành Luật Doanh nghiệp (tính đến 1-5-2002) đã có

42576 doanh nghiệp mới đăng ký thành lập với số vốn mới đăng ký xấp xỉ50.000 tỷ đồng, đồng thời tạo ra khoảng 700.000 chỗ làm việc mới Các doanhnghiệp cũng tăng thêm đầu t, mở rộng thêm qui mô và địa bàn kinh doanh dớinhiều hình thức nh mở thêm chi nhánh, văn phòng đại diện, bổ xung thêm vốn

đầu t (cả nớc đã có khoảng 9200 chi nhánh và 900 văn phòng đại diện đăng

Trang 12

ký thành lập) Bên cạnh sự gia tăng nhanh chóng về số lợng doanh nghiệp thìcác ngành nghề kinh doanh đợc đăng ký cũng đa dạng và phong phú hơn cũrất nhiều Đa số doanh nghiệp đã nhận thức đợc sự thay đổi về quyền kinhdoanh và nhanh chóng phát huy sáng kiến, tận dụng các cơ hội kinh doanhtrên nguyên tắc đợc kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không cấm.

Cái đợc lớn nhất của Luật doanh nghiệp là đã tạo bớc đột phá trong việccải cách thủ tục hành chính trong quản lý Nhà nớc đối với doanh nghiệp ở nớc

ta Trong 2 năm qua, các cơ quan Nhà nớc đã bãi bỏ 175 loại giấy phép khácnhau (tức khoảng 44% tổng số giấy phép kinh doanh đã tồn tại trong nền kinhtế), thể hiện sự thay đổi căn bản về t duy và phơng thức quản lý nhà nớc theohớng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tách bạch rõ quyền SX-KD củadoanh nghiệp với hoạt động quản lý của Nhà nớc

Tuy nhiên theo các doanh nghiệp, vẫn còn nhiều trở ngại trong quátrình thành lập doanh nghiệp cần phải giải quyết Đó là:

- Hiện vẫn còn thiếu các thông tin cần thiết vầ hớng dẫn rõ ràng về thủtục đăng ký kinh doanh Thêm vào đó, vẫn cha có một văn bản chi tiết hoánhững nghành nghề và lĩnh vực đòi hỏi vốn pháp định Nhiều doanh nghiệpgặp khó khăn trong việc tìm kiếm những văn bản pháp luật liên quan đến hoạt

động kinh doanh phải có giấy phép kinh doanh chuyên ngành, một số khácthì phải mất thêm thời gian đến sở kế hoạch và đầu t để tra cứu tên doanhnghiệp đã thành lập trớc đó nhằm tránh sự trùng lặp

- Các doanh nghiệp cho biết vẫn còn ít nhất hai vấn đề cần đợc bổ xungtrong các qui định đăng ký kinh doanh hiện hành là: không có hớng dẫn đăng

ký kinh doanh cho một số doanh nghiệp thành lập từ hộ kinh doanh hay doanhnghiệp t nhân và quy định về những giấy tờ cần trình khi một đại diện nộp haynhận đơn đăng ký kinh doanh

- Một số cán bộ làm thủ tục ở Sở Kế hoạch và Đầu t còn quá phụ thuộcvào bản “điều lệ mẫu” do Sở cung cấp và không dễ dàng chấp nhận các bản

điều lệ do ngời nộp đơn đăng ký kinh doanh soạn thảo mà không giống điều lệmẫu Ngoài ra, một số doanh nghiệp phàn nàn rằng thay vì thông báo bằngvăn bản cho ngời nộp đơn về những sai sót trong đơn đăng ký kinh doanh nhquy định, cán bộ Sở Kế hoạch và Đầu t thờng chỉ xem qua đơn và yêu cầudoanh nghiệp đem về sửa một vài lỗi nhỏ

- Thời gian chờ đợi để doanh nghiệp hoàn thành thủ tục khắc dấu và có

đợc con dấu là lâu Theo một cuộc điều tra thì khoảng thời gian để nhận đợccon dấu dao động từ 1 đến 50 ngày, trung bình là 12 ngày Điều hiển nhiên làcác cơ sở khắc dấu này rất nhiều việc và do vậy thờng lỡ hẹn trong việc giaodấu Ngoài ra, để có thể nhận đợc con dấu sớm hơn các doanh nghiệp phải bỏ

Trang 13

ra thêm một khoản là” chi phí làm thêm giờ” Trong một số trờng hợp , khoảnchi phí này cao gấp 2-3 lần so với khoản chi phí khắc dấu thực sự.

- Thủ tục đăng ký mã số thuế và mua hoá đơn thuế giá trị gia tăng là rấtphiền toái đối với các doanh nghiệp Hiện không có những hớng dẫn hay chỉdẫn thống nhất, rõ ràng cho thủ tục đăng ký mã số thuế Mỗi cơ quan, nhânviên thuế điạ phơng có những yêu cầu và cách giải thích riêng về tính cần thiếtcủa một loaị giấy tờ nào đó Thậm chí một vài doanh nghiệp phải trình bàynhững giấy tờ bổ xung quyết định “bổ nhiệm giám đốc” hay thoả thuận thuêvăn phòng để có thể mua đợc hoá đơn thuế giá trị gia tăng

Bên cạnh đó, nhận thức và chỉ đạo Luật Doanh nghiệp trong không ít cơquan thuộc hệ thống cơ quan nhà nớc, nhất là ở cấp chính quyền địa phơngcòn thụ động, cha đầy đủ và kém nhiệt tình, thậm chí có nơi còn trì hoãn, làmtrái Cho đến nay vẫn còn một số văn bản quan trọng liên quan đến triển khaiLuật doanh nghiệp cha đợc ban hành Một số nơi đang làm trái với qui địnhcủa Luật doanh nghiệp bằng cách ra lệnh tạm ngừng hoặc không cấp đăng kýkinh doanh đối với một số ngành nghề không thuộc đối tợng cấm kinh doanh,

đặt thêm các thủ tục hoặc yêu cầu nộp thêm hồ sơ giấy tờ trái qui định củaLuật, không cấp hoặc yêu cầu rút giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối vớidoanh nghiệp đang cạnh tranh với doanh nghiệp nhà nớc tạo ra sự bất bình

đẳng về cơ hội kinh doanh, làm mất đi cơ hội kinh doanh của nhiều doanhnghiệp Các cơ quan Nhà nớc cũng cha thiết lập đợc hệ thống lý lịch t phápphục vụ cho việc quản lý Nhà nớc, trong đó có xác minh nhân thân ngời thànhlập doanh nghiệp để thực hiện qui định về những đối tợng không đợc quyềnthành lập doanh nghiệp (Điều 9- Luật doanh nghiệp) dẫn đến có một số đối t-ợng bị cấm thành lập doanh nghiệp nhng vẫn thành lập, một số doanh nghiệp

đăng ký mà không hoạt động hoặc hoạt động tại địa điểm khác nơi đăng kýkinh doanh

Nh vậy, bên cạnh những thay đổi theo hớng thuận lợi, đơn giản hơn thìquá trình đăng ký kinh doanh và các thủ tục hành chính trớc khi đi vào hoạt

động của doanh nghiệp vẫn còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho các nhà đầu

t đòi hỏi cần nhanh chóng giải quyết để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cácdoanh nghiệp

2 Quá trình hoạt động của doanh nghiệp sau khi thành lập.

Sau khi đợc thành lập, doanh nghiệp bắt đầu đi vào hoạt động sản kinh doanh Trong giai đoạn này, các yếu tố đầu vào nh vốn, đất đai, thông tin

xuất-là rất quan trọng đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, đây cũng xuất-là các lĩnh vực

mà còn nhiều bất cập, hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh hiện nay

2.1 Huy động vốn

Trang 14

Vốn là một yếu tố sản xuất rất quan trọng của doanh nghiệp Đối vớicác doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì nguồn vốn của bản thân doanh nghiệp

là rất hạn chế, chủ yếu là các nguồn huy động từ bên ngoài trong dó vốn từngân hàng và các tổ chức tín dụng là nguồn mà các doanh nghiệp trông đợinhất

Mặc dù trong những năm qua, chính sách tín dụng đã có nhiều thay đổitheo hớng tạo điều kiện hơn cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trongviệc tiếp cận các nguồn vốn của ngân hàng song qua các cuộc điều tra gần đâycho thấy vốn vẫn là khó khăn cơ bản đối với các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh Những khó khăn này bao gồm:

Các doanh nghiệp nhà nớc đợc u đãi hơn các doanh nghiệp t nhân trongviệc vay vốn ngân hàng, đặc biệt là trong các các quy định về thế chấp Doanhnghiệp nhà nớc với sự bảo lãnh từ cơ quan chủ quản có thể vay mà không cầncầm cố hay thế chấp một cách dễ dàng Hơn nữa do chính sách tín dụng cònnhiều bất cập, hệ thống tài chính trung gian cha phát triển, các doanh nghiệpnhà nớc lập ra là tức khắc đợc quyền đòi cấp vốn, ngân hàng cho vay, nợ đếnhạn cha trả thì đợc khoanh nợ, giãn nợ

Nguồn: Tạp chí Kinh tế phát triển7/2001

Hình 3: Tỷ lệ tín dụng của các ngân hàng dành cho các doanh nghiệp

Điều kiện để đợc vay vốn từ ngân hàng mà không cần thế chấp là rấtphức tạp đối với các doanh nghiệp Nếu đúng theo các quy định đó thì cácdoanh nghiệp mới thành lập, các doanh nghiệp cha từng vay vốn ngân hàng sẽ

bị loại ra khỏi đối tợng đợc vay vốn không cần thế chấp Nói cách khác, chínhcác doanh nghiệp rất cần vay vốn, cần sự hỗ trợ từ phía ngân hàng lại bị gạt rangoài

Việc vay mợn lại phụ thuộc vào tài sản thế chấp, đây là khó khăn chủyếu đối với các doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng Vìkhông có cơ quan, tổ chức nào chịu trách nhiệm để đánh giá tài sản thế chấpnên những hoạt động này đợc thực hiệnchính bởi ngân hàng Điều này dẫn

đến vấn đề là ngân hàng có xu hớng muốn đánh giá thấp tài sản của doanhnghiệp, không sát với giá trị thực của tài sản theo giá thị trờng do đó tạo ra sựthua thiệt cho các doanh nghiệp Hơn thế nữa, trang thiết bị và hàng tồn khocủa doanh nghiệp cũng không đợc ngân hàng chấp nhận thế chấp

Những khó khăn trên đã buộc nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanhphải vay từ thị trờng tài chính không chính thức, nơi có tỷ lệ lãi suất cao và

Trang 15

thời hạn vay ngắn Điều này làm cho chi phí sản xuất tăng, các doanh nghiệpkhó có thể đổi mới trang thiết bị, công nghệ dẫn tới sức cạnh tranh của doanhnghiệp là rất thấp.

2.2 Đất đai và giấy phép xây dựng

Đất đai là một yếu tố sản xuất không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp

Để đầu t sản xuất trớc hết các doanh nghiệp phải có một quỹ đất nhất định.Nói chung quỹ đất dùng cho sản xuất - kinh doanh là không nhỏ Trên mảnh

đất của mình các doanh nghiệp sẽ tiến hành xây dựng nhà xởng, đầu t máymóc trang thiết bị và đi vào hoạt động sản xuất - kinh doanh Do đó, nếu quỹ

đất của mỗi doanh nghiệp là ổn định thì quá trình sản xuất - kinh doanh sẽnhanh chóng đợc tiến hành và phát huy hiệu quả Trên thực tế, không phảidoanh nghiệp nào cũng may mắn có đợc quỹ đất đáp ứng đợc nhu cầu và ổn

định trong quá trình hoạt động, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

a.Về thủ tục xin giao đất hoặc cho thuê đất đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Theo điều 13 của nghị định 12/2000/NĐ-CP ngày 5-5-2000 của Chínhphủ về việc sửa đổi, bổ xung một số điều về qui chế quản lý đầu t và xây dựngban kèm theo nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999 của Chính phủ đốivới các dự án sản xuất - kinh doanh của t nhân, tổ chức kinh tế không phải làDNNN có yêu cầu giao đất hoặc thuê đất thì chủ đầu t phải có đơn đề nghịkèm theo dự án sản xuất - kinh doanh đã đợc chấp thuận về địa điểm, diện tích

đất cần có của dự án và làm thủ tục giao đất hoặc thuê đất theo qui định của phápluật về đất đai hiện hành

Trên thực tế, việc thuê đất lại là một quá trình hết sức phức tạp, đặc biệt

là ở các thành phố lớn nh Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh

Khó khăn đầu tiên khi các doanh nghiệp quốc doanh đi thuê đất là cácthủ tục quá phiền hà và rắc rối Hiện không có một cơ quan chuyên trách nàoquản lý các vấn đề liên quan đến đất đai Do vậy, doanh nghiệp phải chờ phêduyệt của rất nhiều cơ quan quản lý địa phơng

Theo số liệu từ một chuyên đề nghiên cứu t nhân, để thuê đợc đất,doanh nghiệp phải chờ từ 3 đến 8 tháng Một số doanh nghiệp nói rằng họphải chờ lấy “dấu đỏ” của hơn 20 bộ phận khác nhau Tất nhiên đi kèm với nó

sẽ có nhiều khoản chi phí không chính thức tơng ứng với mỗi con dấu

Một minh chứng cho việc rờm rà, phức tạp của các thủ tục liên quan

đến đất đai là: Luật đất đai quy định điều kiện để đợc Nhà nớc giao đất, chothuê đất là dự án đã đợc cấp có thẩm quyền “phê duyệt” Trong khi Qui chếquản lý đầu t và xây dựng ban hành kèm theo nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày08-7-1999 của chính phủ quy định dự án của các thành phần kinh tế ngoàiquốc doanh do chủ đầu t tự quyết định

Ngày đăng: 08/09/2012, 13:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nớc ta hiện nay. - Môi trường pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam hiện nay. Thực trạng và một số kiến nghị.DOC
Hình 1. Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nớc ta hiện nay (Trang 7)
Hình 2. Sơ đồ mối quan hệ giữa DNNQD với môi trờng vĩ mô - Môi trường pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam hiện nay. Thực trạng và một số kiến nghị.DOC
Hình 2. Sơ đồ mối quan hệ giữa DNNQD với môi trờng vĩ mô (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w