LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 4
I Khái niệm doanh nghiệp nhà nước 4
1.1.Định nghĩa doanh nghiệp nhà nước 4
1.2 Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam – vai trò và thực trạng của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 4
II một số lý luận chung về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 7
2.1 Khái niệm và bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 7
2.1.1 Khái niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 7
2.1.2 Bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 8
2.2 Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 8
2.3 Tác động của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 9
2.3.1 Cổ phần hoá với tăng trưởng kinh tế 9
2.3.2 Cổ phần hoá với vần đề dân chủ hoá đời sống kinh tế và chống tham nhũng 10
2.3.3 Tác động xã hội của cổ phần hóa 10
2.3.4 Cổ phần hoá với sự phát triển của thị trường chứng khoán 11
2.4 Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 12
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 13
I Tiến trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua 13
1.1 Giai đoạn thí điểm (từ năm 1992 – 1996) 13
1.2 Giai đoạn mở rộng (1996-2002) 13
Trang 21.3 Giai đoạn chủ động (bắt đầu từ tháng 6/2002 đến tháng 11/2004) 14
1.4 Giai đoạn đẩy mạnh (từ tháng 12/2004 đến nay) 14
II Những thành tựu đạt được từ việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 15
2.1.Những thành tựu mang tính chất định lượng 15
2.2 Tác động của cổ phần hoá đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hoá 18
2.3 Cổ phần hoá tạo thêm công ăn việc làm, thu hút thêm lao động và tăng thu nhập cho người lao động 19
2.4 Cổ phần hoá tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, giúp cơ cấu lại doanh nghiệp, huy động thêm vốn, tạo cho doanh nghiệp có chế quản lý năng động hiệu quả 20
III Những khó khăn của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 22
IV Nguyên nhân của những hạn chế 26
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 29
I Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 29
1.1 Giải pháp để nâng cao nhận thức và chỉ đạo thực hiện 29
1.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến về cổ phần hoá 31
1.3 Phải có quyết tâm cổ phần hoá 33
1.4 Thực hiện cổ phần hoá từng bước vững chắc 33
1.5 Nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp cổ phần hoá 37
1.6 Xoá bỏ cổ phần hoá khép kin và lành mạnh hoá tình hình tài chính 38
KẾT LUẬN 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
là một trong những yêu cầu bức thiết của Đảng và nhà nước hiện nay Thực tiễnhoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hàng chục năm qua cho thấymặc dù doanh nghiệp nhà nước được giao phó vai trò chủ đạo song hoạt độngcủa chúng có nhiều điểm bất cập Chính vì vậy, từ trước đến nay, vấn đề sắpxếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước để loại hình doanh nghiệp này trở thànhđộng lực chủ yếu của nền kinh tế luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọngsắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước càng trở nên cấp bách khi đất nước tachuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập vàonền kinh tế thế giới Một trong những giải pháp đổi mới doanh nghiệp nhà nướcđược thực hiện có hiệu quả và mang lại nhiều thay đổi triệt để trong cấu trúc tổchức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước là cổ phần hoá Cổ phần hoádoanh nghiệp nhà nước là một biện pháp hữu hiệu được tiến hành phổ biến ởnhiều nền kinh tế trên thế giới Ngay cả những quốc gia có nên kinh tế phát triểnphương thức quản lý doanh nghiệp tiên tiến như : Anh, Pháp, Mỹ cũng áp dụng
Ở nước ta.cổ phần hoá được bắt đầu triển khai cách đây 15 năm vớinhững bước đi thử nghiệm và sau đó là sự triển khai rộng khắp trên cả nước Cổphần hoá là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, một giải pháp quantrọng tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất –kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước.Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, cổphần hoá vẫn chưa mang lại những kết quả như mong muốn Chính vì vậy, việcnghiên cứu cổ phần hoá dianh nghiệp nhà nước, tìm được những hạn chế của nó,đưa ra các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước là việc làm rất có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn
Trang 4CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC
I Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
1.1.Định nghĩa doanh nghiệp nhà nước
Khái niệm doanh nghiệp nhà nước được phát triển tương đối sâu trong địnhnghĩa và các quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 Điều 1 Luậtdoanh nghiệp nhà nước năm 2003 định nghĩa : “ Doanh nghiệp nhà nước là tổchức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn gópchi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn” Định nghĩa này của Luật doanh nghiệp nhà nước năm
2003 chứa đựng nhiều điểm mới phản ánh những thay đổi khá cơ bản trong nhậnthức của các nhà lập pháp và hoạch định chính sách của nước ta đối với thànhphần kinh tế nhà nước cũng như các thành phần kinh tế khác
Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đã đa dạng hoá các doanh nghiệpnhà nước trên tiêu chí quyền chi phối Khác với trước đây là doanh nghiệp nhànước chỉ tồn tại dưới dạng doanh nghiệp nhà nước độc lập hoặc tổng công tynhà nước thì hiện nay doanh nghiệp nhà nước có thể tồn tại dưới nhiều dạngkhác nhau Chính sự đa dạng về hình thức tồn tại của doanh nghiệp nhà nước sẽlàm sinh động thành phần kinh tế công, làm cho nó thích ứng hơn với nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2 Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam – vai trò và thực trạng của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
Hiến pháp năm 1992 và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước ta đãkhẳng định vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước mà trong đó doanh nghiệpnhà nước có vị trí quan trọng Tồn tại với tư cách là nhân tố trọng yếu trong vaitrò chủ đạo của kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đang đối mặt với mâuthuẫn giữa thực trạng hoạt động với sứ mạng được giao phó Ở Việt Nam, doanh
Trang 5nghiệp nhà nước trước đây được gọi là xí nghiệp quốc doanh đã phát triển vớiquy mô và số lượng lớn trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung và được xác định
là thành phần kinh tế chủ đạo Doanh nghiệp nhà nước đã đóng vai trò quantrọng trong việc củng cố nền tảng kinh tế, xã hội của nước ta, góp phần xứngđáng vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà, xây dựng cơ sở vật chất chochủ nghĩa xã hội
Doanh nghiệp nhà nước hiện đang được quan tâm đặc biệt vì vai trò và sứmệnh của chúng trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Tuy thoát ra khỏi tư duy máy móc về một chủ nghĩa xã hội với hai hìnhthức sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể và tuy
đã khẳng định sự cẩn thiết của nền kinh tế đa thành phần, Đảng ta vẫn nhấnmạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với bộ phận chủ yếu là doanh nghiệpnhà nước Kinh tế nhà nước được xác định là thành phần chủ đạo của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Cũng như doanh nghiệp nhà nước ở nhiều trên thế giới, doanh nghiệp nhànước ở Việt Nam cũng gặp phải những vấn đề về hiệu quả Ngay từ những năm60,70 thế kỷ XX hiệu quả thấp trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của các xínghiệp quốc doanh đã được đặt ra như là một vấn đề bức xúc Tình trạng kémhiều quả trong sản xuất – kinh doanh của đơn vị kinh tế này kéo dài trong nhiềunăm Qua hơn 10 năm cải cách, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã cónhững bước phát triển tốt hơn ngay cả khi đối mặt với những thách thức của cơchế mới được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Doanh nghiệp nhà nước vẫn chi phối được những ngành, lĩnh vực thenchốt của nền kinh tế, góp phần để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, giữ tỷtrọng lớn trong xuất khẩu, thu nộp ngân sách, hợp tác đầu tư với nước ngoài,đảm bảo được các dịch vụ công ích, phục vụ tốt cho an ninh và quốc phòng củađất nước
- Doanh nghiệp nhà nước đang dần dần thích ứng với nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm được nâng cao,vốn được bảo toàn và phát triển
Trang 6- Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã tăng được khả năng cạnh tranh và khảnăng hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, xem xét một cách toàn diện thì những thành tựu trên của doanhnghiệp nhà nước vẫn chưa thể khắc phục được những tồn tại của chúng tronghoạt động sản xuất kinh doanh Sự phát triển không bình thường về lượng cộngvới những bất cập trong cơ chế quản lý đã dẫn doanh nghiệp nhà nước tới một
- Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước lạc hậu về công nghệ sản xuất, về trình
độ quản lý
- Thứ tư, cơ cấu phân bố chưa hợp lý Còn khá nhiều doanh nghiệp nhànước hoạt động trong các lĩnh vực mà ở đó chúng khó có thể cạnh tranh đượcnhư trong những dịch vụ thông thường Bên cạnh đó, có thể nhận thấy doanhnghiệp nhà nước được phân bố không hợp lý theo ngành, theo địa phương Cónhững địa phương, ngành như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng,ngành công nghiệp, thương mại doanh nghiệp nhà nước tập trung với số lượnglớn trong lúc đó nhiều địa phương lại có rất ít các doanh nghiệp nhà nước Một
số địa phương, nhất là cấp huyện thành lập rất nhiều doanh nghiệp nhà nướckhông phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và bất chấp nhu cầu thực tế của địaphương
Trang 7- Thứ năm, cơ chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp cũng như cơ chếquản lý trong bản thân doanh nghiệp cồng kềnh và thiếu hiệu quả
- Thứ sáu, như là hệ quả của những điểm yếu trên, doanh nghiệp nhà nước
ít có khả năng cạnh tranh trên thị trường Trong bối cảnh đất nước ta đang chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia nhiều hơn vào các khu vực mậu dịch tự
do hoặc các hiệp định thương mại song phương, đa phương, tính cạnh tranh thấpcủa doanh nghiệp nhà nước sẽ là một thách thức sống còn đối với nền kinh tếnước ta
II một số lý luận chung về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
2.1 Khái niệm và bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
2.1.1 Khái niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Cổ phần hoá là một trong những giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệuquả doanh nghiệp nhà nước Nã lµ mét bé phËn n»m trong chÝnh s¸ch c¶i c¸chDNNN được thể hiện qua sơ đồ mô phỏng sau:
Cho thuê DNNN
Cổ phần hoá DNNN
Cho thuê toàn bộ Bán toàn bộ
Cho thuê một phần
Trang 8Xét ở bản chất pháp lý, cổ phần hoá là việc biến doanh nghiệp một chủthành doanh nghiệp của nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhấtsang sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệpcho những người khác Những người này trở thành sở hữu chủ của doanh nghiệptheo tỷ lệ tài sản mà họ sở hữu trong doanh nghiệp cổ phần hoá Xét dưới góc độnày thì cổ phần hoá dẫn tới sự xuất hiện không chỉ của của công ty cổ phần trênnền tảng của doanh nghiệp được cổ phần hoá
2.1.2 Bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Việc cổ phần hoá được thực hiện thông qua việc chia vốn của một số doanhnghiệp nhà nước nhất định ra thành các cổ phần Một phần cổ phần phát hànhđược bán cho tư nhân hoặc phân phát cho người lao động, một phần Nhà nước
sở hữu Như vậy, với cổ phần hoá thì một số doanh nghiệp nhà nước được biếnthành sở hữu chung của người lao động, của doanh nhân và của Nhà nước Rõràng doanh nghiệp nhà nước bị tư nhân hoá một phần, tức là phần giành chodoanh nhân và người lao động theo nghĩa là một phần tài sản của thành phầnkinh tế công đã chuyển sang thành phần kinh tế tư Thực tế này cũng cho thấy
cổ phần hoá là tư nhân hoá từng phần các doanh nghiệp nhà nước Cũng chính
vì lý do này nên nhiều quốc gia khi tiến hành cải cách thành phần kinh tế côngđều coi cổ phần hoá chỉ là một trong những phương thức thực hiện tư nhân hoá
Có quan điểm đồng nhất cổ phần hoá với tư nhân hoá hay có quan điểm cổphần hoá chỉ liên quan đến doanh nghiệp nhà nước.Tuy nhiên, giữa cổ phần hoá
và tư nhân hoá ở các nước đã tiến hành cải cách đổi mới doanh nghiệp nhà nướctheo mô hình tư nhân hoá vẫn có những điểm khác nhau cơ bản
Ngoài ra, với tư cách là sự kiện pháp lý của việc chuyển đổi hình thức sởhữu của doanh nghiệp, cổ phần hoá có thể áp dụng đối với bất cứ loại hìnhdoanh nghiệp nào thuộc sở hữu của một chủ duy nhất Vì vậy, doanh nghiệp tưnhân, doanh nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài đều có thể trở thànhđối tượng của cổ phần hoá Doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp 100% vốncủa một nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạnthông qua cổ phần hoá
Trang 92.2 Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
- Cổ phần hoá tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong đó
có sự tham gia của đông đảo người lao động Nhờ có sự tham gia của đông đảocác chủ sở hữu sẽ tăng cường được sự giám sát của các nhà đầu tư đối với nguồnvốn của doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả sử dụng các nguồn vốn củadoanh nghiệp, thay đổi được cung cách quản trị doanh nghiệp đảm bảo giảiquýêt được hài hoà lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp của các nhà đầu tư
và của người lao động
- Thông qua cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước sẽ huy dộng đượcnguồn vốn của cá nhân , của các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước đểdoanh nghiệp có thể tái đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển hoạt động sản xuấtkinh doanh
2.3 Tác động của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Cổ phần hoá có vai trò to lớn trong việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước,nhất là ở những nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung sang nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
2.3.1 Cổ phần hoá với tăng trưởng kinh tế.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP tổngquát cho giai đoạn 2001- 2005 theo đó nền kinh tế tăng ở mức 7.5 đến 8% mỗinăm Việc thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng này phụ thộc vào rất nhiều yếu tố trong
đó có yếu tố trong đó có yếu tố quyết định là hiệu quả của khu vực kinh tế công
mà nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước Điều này cũng có nghĩa là cổ phần hoádoanh nghiệp nhà nước có tác động rất lớn đối với việc thực hiện mục tiêu tăngtrưởng này
- Thứ nhất, kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy ở các nước cóthành phần kinh tế công lớn thì tốc độ tăng trưởng không cao Chính vì thế, đốivới đất nước ta, muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao thì cần cơ cấu lại thànhphần kinh tế này Phân tích của các nhà kinh tế cho thấy ở Trung Quốc giữa tốc
độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ cổ phần hoá tỷ lệ thuận với nhau rất rõ Sở dĩ
Trang 10như vậy do là cổ phần hoá sàng lọc và đào thải những doanh nghiệp kém hiệuquả, tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và động lực phát triển.Những doanh nghiệp nhà nước kinh doanh không hiệu quả phần lớn là do khâuquản lý yếu kém, bộ máy điều hành thiếu năng động sang tạo hoặc thi.
- Thứ hai, việc giảm số lượng các doanh nghiệp nhà nước thuần tuý, tức làdoanh nghiệp 100% vốn nhà nước sẽ giảm bớt được một khoản bổ sung vốn từngân sách cho những doanh nghiệp này để dành đầu tư vào những nhu cầu pháttriển khác
- Thứ ba, thông qua cổ phần hoá, Nhà nước thu được một phần giá trị tàisản nhà nước trước đây giao cho các doanh nghiệp quản lý nhưng sử dụng kémhiệu quả
- Thứ tư, cùng với việc giảm đầu mối doanh nghiệp nhà nước sẽ làm giảmnhu cầu hỗ trợ và ưu đãi về tín dụng của nhà nước Đặc biệt nó sẽ làm giảm bớt
áp lực vay vốn lên các ngân hàng thương mại quốc doanh và các quỹ tín dụngnhà nước
- Thứ năm, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước gắn liền với sự xuất hiệncủa hàng loạt các công ty cổ phẩn Sự tồn tại của công ty cổ phần với cơ chế lưuchuyển cổ phần thông qua thị trường chứng khoán tạo ra quá trình luân chuyểnvốn từ nơi không có hiệu quả hoặc nơi hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao
2.3.2 Cổ phần hoá với vần đề dân chủ hoá đời sống kinh tế và chống tham nhũng.
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta có tác dụng rất lớn trongviệc đẩy lùi tình trạng lãng phí, tham nhũng đang khá phổ biến trong các doanhnghiệp nhà nước và những cơ quan quản lý chúng Sự bao cấp của nhà nước đốivới nhiều doanh nghiệp, cơ chế xin cho là mảnh đất tốt lành cho những hànhdộng lãng phí, tham nhũng
Cổ phần hoá sẽ là một giải pháp tích cực để hạn chế tình trạng tham nhũng,nâng cao dân chủ và công bằng xã hội Trong một doanh nghiệp cổ phần hoá,việc quản lý công ty sẽ được đảm nhiệm bởi một guồng máy do các cổ đông lập
Trang 11ra Chính các cổ đông sẽ quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp,giám sát chặt chẽ, thường xuyên hoạt động sản xuất kinh doanh của nó Vì lợiích của chính bản thân mình, cổ đông sẽ phát hiện và tự mình thông qua nền dânchủ cổ phần xử lý kịp thời các hành vi mờ ám, gian lận hay tham ô của nhữngngười quản lý và các cổ đông lớn trong công ty.
2.3.3 Tác động xã hội của cổ phần hóa.
Bất kỳ chính sách kinh tế nào cũng tác động đến các vấn đề xã hội Cổphần hoá tác động đến các vấn đề xã hội ở nhiều phương diện, ảnh hưởng trựctiếp đến quyền lợi của nhiều đối tượng xã hội, làm phát sinh những mối quan hệmới Ảnh hưởng của cổ phần hoá có thể rất tích cực song cũng có thể chứa đựngnhững yếu tố tiêu cực nếu không được xử lý đúng
Một trong những mục tiêu của chính sách cổ phần hoá là thay đổi cơ cấuquản lý của doanh nghiệp cho hợp lý và hiệu quả hơn Những thay đổi này chắcchắn sẽ kéo theo sự thay đổi trong việc bố trí, sử dụng lao động Thêm vào đó,khi công nghệ, quy trình sản xuất và cơ chế quản lý lao động mới được áp dụngsau cổ phần hóa, nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp sẽ giảm Ngay cảkhi nhu cầu lao động không giảm song do tính chất hiện đại của công nghệ laođộng chưa qua đào tạo hay đào tạo không phù hợp với trình độ mới trong cácdoanh nghiệp nhà nước sẽ phải được thay thế Việc làm là vấn đề sống còn đốivới người lao động, Vì vậy, đây thực sự là một thách thức không nhỏ trong quátrình cổ phần hoá
Tác động đáng lưu ý khác của cổ phần hoá là sự tiềm ẩn trong nó khả năngphân hoá xã hội và gia tăng khoảng cách giàu nghèo
2.3.4 Cổ phần hoá với sự phát triển của thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán và cổ phần hoá có mối liên hệ lẫn nhau không thểphủ nhận Cổ phần hoá có tác động rất lớn đối với thị trường chứng khoán thôngqua việc làm xuất hiện thêm một số lượng công ty cổ phần có tiềm lực do thừa
kế vốn, công nghệ, lao động từ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Trongđiều kiện nước ta hiện nay, việc đẩy nhanh cổ phần hoá sẽ gắn chặt với việc phát
Trang 12triển thị trường chứng khoán Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước được tiếnhành tốt sẽ làm cho thị trường chứng khoán phát triển sôi động
Ngoài ra, sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá vào thịtrường chứng khoán buộc chúng phải thực hiện chế độ tài chính kế toán minhbạch, công khai, phải công bố với các cổ đông và công chúng về tình hình sảnxuất- kinh doanh, lợi nhuận và kế hoạch phát triển công ty Những đòi hỏi nàybuộc những người quản lý công ty phải điều hành tốt hơn, chú trọng đến sẹ pháttriển sản xuất kinh doanh nhiều hơn Kết quả, hiệu quả của doanh nghiệp nhànước cổ phần hoá sẽ tót hơn nhiều và đó là một trong những lực hút các doanhnghiệp nhà nước vào quỹ đạo cổ phần hoá
2.4 Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
Đối với nước ta, do đặc trưng của nền kinh tế, do chủ trương xây dựng nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cổ phần hoá được coi là giảipháp cơ bản của sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước Điều này được lý giảibởi sự hoá thân đầy đủ của cổ phần hoá vào trong những yêu cầu, những đặctrưng của sự phát triển đất nước ta trong giai đoạn hiện nay và cả trong tươnglai
- Việc thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã cho phép cácdoanh nghiệp thu hút được một lượng lớn nguồn vốn trong xã hội vào đầu tưphát triển sàn xuất
- Cổ phần hoá tạo cho doanh nghiệp cơ chế quản lý năng động, hiệu quả,thích nghi với nền kinh tế thị trường Thông qua cổ phần hoá, bộ máy và phươngpháp quản lý của các doanh nghiệp thích nghi, năng động và sát với thị trườnghơn, phần nào làm tăng trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp,động lực lao động mới được tạo ra
- Cổ phần hoá là con đường dẫn tới hiệu quả trong hoạt động của doanhnghiệp Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hoá đểu
Trang 13hoạt động có hiệu quả hơn trước xét tổng thể trên các mặt doanh thu, lợi nhuận,nộp ngân sách, tích luỹ vốn.
Tóm lại, cổ phần hóa đã đem lại lợi ích cho Nhà nước, cho doanh nghiệp,cho người lao động trong doanh nghiệp và cả trong các cổ đông khác của doanhnghiệp Thực tế đó đã chứng minh rằng, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn
Trang 14CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
I Tiến trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua
Tiến trình cổ phần hoá 15 năm qua có thể chia làm 4 giai đoạn Đó là giaiđoạn : thí điểm, giai đoạn mở rộng, giai đoạn chủ động và giai đoạn đẩy mạnh
1.1 Giai đoạn thí điểm (từ năm 1992 – 1996).
Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước được bắt đầu từ tháng 11/ 1991khi hội nghị TW2 khoá 7 của Đảng đưa vào chủ trương cổ phần hoá Giai đoạnnày gắn với nghị định 28 của Chính phủ
Giai đoạn thí điểm từ 1992-1996, nhà nước chỉ thí điểm thực hiện cổ phầnhoá những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, mang tính chất tự nguyện, việcbán cổ phần cũng chỉ giới hạn trong những đối tượng là nhà đầu tư trong nước,trong đó ưu tiên bán cổ phần cho người lao động Chính vì vậy, mới chỉ có 5doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hoá trên tổng số khoảng 16 doanh nghiệpđược thí điểm trong giai đoạn này
1.2 Giai đoạn mở rộng (1996-2002).
Giai đoạn này gắn với nghị định 44 của Chính phủ
Giai đoạn mở rộng từ năm 1996 đến năm 2002 với nhiều cơ chế chính sách
về cổ phần hoá được hoàn thiện và ban hành đã đẩy nhanh tiến trình này Đặctrưng của giai đoạn này là việc mở rộng nhiều hình thức cổ phần hoá mặc dù các
cơ quan quản lý nhà nước vẫn phải trực tiếp tham gia rất nhiều công đoạn và tổchức điều hành Đó là việc mở rộng thêm diện bán cổ phẩn cho người Việt Namđịnh cư tại nước ngoài và người nước ngoài định cư lâu dài tại Việt Nam; mởrộng mức ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp; có thể bán 100% vốnnhà nước tại doanh nghiệp…Kết quả là giai đoạn này với một cơ chế cổ phầnhoá ngày càng được hoàn thiện, sự hưởng ứng đối với tiến trình sắp xếp và cổ
Trang 15phần hoá doanh nghiệp ngày càng tăng lên, chúng ta đã tiến hành cổ phần hoáđược 868 doanh nghiệp nhà nước, bộ phận doanh nghiệp nhà nước.
1.3 Giai đoạn chủ động (bắt đầu từ tháng 6/2002 đến tháng 11/2004).
Giai đoạn này gắn với cơ sở pháp lý quan trọng là nghị định số64/2002/NĐ-CP của chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thànhcông ty cổ phần Đây là giai đoạn Nhà nước chủ động giao cho các Bộ, ngành,địa phương trách nhiệm lựa chọn và triển khai cổ phần hoá đối với các doanhnghiệp thuộc phạm vi quản lý mà không trông chờ sự tự nguyện của các doanhnghiệp cấp dưới như trước đây Trong giai đoạn này, Nhà nước cũng giao thêmquyền quyết định giá trị doanh nghiệp và phê duyệt phương án cổ phần hoá cho
Bộ trưởng các Bộ, chủ tịch UBND các tỉnh (trừ trường hợp giảm trên 500 triệuđồng vốn nhà nước phải có ý kiến của Bộ tài chính) bắt đầu áp dụng biện phápnhằm công khai, minh bạch hoá quá trình cổ phần hoá như cho phép thuê các tổchức trung gian xác định giá trị doanh nghiệp; dành tối thiểu 30% số cổ phần(sau khi trừ số lượng cổ phần nhà nước nắm giữ, cổ phần bán ưu đãi cho ngườilao động) để bán cho các nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp…
Mặc dù, về số lượng, giai đoạn này chúng ta đã tiến hành cổ phần hoá được
1435 doanh nghiệp nhà nước, bộ phận doanh nghiệp nhà nước nhưng theođaónh giá các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá thực sự quy mô vẫn cònkhá nhỏ bé chưa chiếm đến 5% tổng số vốn nhà nước trong các doanh nghiệp,quá trình cổ phần hoá còn khép kín, chưa thực sự gắn với thị trường nên vừa hạnchế công tác huy động vốn của doanh nghiệp vừa làm giảm sự giám sát của xãhội đối với hoạt động của doanh nghiệp; việc giải quyết lợi ích giữa các bêntrong một doanh nghiệp được cổ phần háo cũng chưa được hài hoà…
1.4 Giai đoạn đẩy mạnh (từ tháng 12/2004 đến nay).
Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc ban hành Nghị định số187/2004/NĐ-CP của chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty
cổ phần.Trong giai đoạn này đã xuất hiện các công ty nhà nước có quy mô vốnlớn không thuộc diện nhà nước giữ 100% vốn được cổ phần hoá như : BảoMinh, Vinamilk, Vĩnh Sơn… và được niêm yết làm tăng đáng kể quy mô của thị
Trang 16trường chứng khoán Các giải pháp để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp
cổ phần hoá và các cơ quan trong xử lý nợ, tài sản tồn đọng, lao động dôi dưcũng được tiến hành sông song với việc bổ sung các quy định để nâng cao tínhkhách quan, minh bạch, tính chuyên nghiệp trong quá trình cổ phần hoá nhưđịnh giá qua các định chế trung gian, tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trịdoanh nghiệp, thực hiện bán cổ phần lần đàu thông qua đấu giá công khai, theonguyên tắc thị trường… Trong giai đoạn này, chúng ta đã tiến hành cổ phần hoáđược 1054 doanh nghiệp nhà nước, bộ phận doanh nghiệp nhà nước,
II Những thành tựu đạt được từ việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Sau 15 năm triển khai và tập trung thực hiện 5 năm vừa qua, công tác cổphần hoá doanh nghiệp nhà nước đã đạt được kết quả trên nhiều mặt được thểhiện như sau:
2.1.Những thành tựu mang tính chất định lượng.
Qua kết quả báo cáo của các địa phương, bộ , ngành, tổng công ty thì đến30/6/2006 cả nước đã sắp xếp được 4760 doanh nghiệp và bộ phận doanhnghiệp Trong đó, cổ phần hoá 3365 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp;giao bán, khoán kinh doanh và cho thuế 310 doanh nghiệp, sáp nhập hợp nhất
450 doanh nghiệp…Kết quả các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá qua từngnăm như sau:
Bảng số liệu số doanh nghiệp được cổ phần hoá giai đoạn 1990-2006
Trang 17ba doanh nghiệp đến vài trăm doanh nghiệp) và cho đến 3 năm gần đay tiếntrình cổ phần hoá được đẩy mạnh hơn, do đó số doanh nghiệp và bộ phận doanhnghiệp được cổ phần hoá tương đối nhiều
Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, hìnhthức cổ phần hoá phổ biến nhất là bán một phần doanh nghiệp kết hợp phát hànhthêm cổ phiếu (chiếm 43.4%) , tiếp đó là bán một phần vốn nhà nước hiện có tạidoanh nghiệp (26%), còn lại là bán toàn bộ vốn nhà nước tại doanh nghiệp(15.5%) và giữ nguyên vốn nhà nước và phát hành thêm cổ phiếu (15.1%).Trong số các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành công nghiệp giao thông vậntải và xây dựng chiếm tỷ trọng 65.5%, thương mại dịch vụ chiếm 28.7% vàngành nông lâm ngư nghiệp chiếm 5.8% Nếu phân chia theo địa phương thìtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chiếm 65.7%, bộ ngành trung ương chiếm25.8%, tổng công ty 91 chiếm 8.5%
Nhìn lại quá trình qua có thể nhận thấy chúng ta đã đạt được những kết quảđáng ghi nhận:
Trang 18- Số doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá chiếm khoảng 24% tổng sốdoanh nghiệp khi chưa tiến hành sắp xếp lại và cổ phần hoá (khoảng 12000doanh nghiệp vào thời điểm trước năm 1995)
- Có trên 10% vốn của nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước được cổphần hoá (khoảng 30000 tỷ đồng)
- Hầu hết các doanh nghiệp thuộc loại nhỏ, yếu, hiệu quả kinh doanh thấp,sức cạnh tranh kém đã được đưa bớt ra khỏi hệ thống các doanh nghiệp nhànước Như vậy có thêm điều kiện để củng cố các doanh nghiệp nhà nước khác
- Trong các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, 30% số các doanh nghiệp (trên
800 doanh nghiệp) được hoàn toàn độc lập tự chủ trong kinh doanh mà khôngcòn sự chi phối trực tiếp nào của nhà nước (nhà nước không nắm giữ một cổphần nào, toàn bộ thuộc về tập thể người lao động)
- Việc sắp xếp lại và cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đã hoàn thànhtrên 61 trong tổng số 64 tỉnh thành
Đặc biệt, năm 2005 đã xuất hiện một điểm sáng mới cần được nhấn mạnh
là trong số doanh nghiệp cổ phần hoá đã có nhiều doanh nghiệp làm ăn khấmkhá, quy mô vốn lớn, hấp dẫn các nhà đầu tư Có thể kể đến các công ty như :Công ty khoan và dịch vụ dầu khí, các nhà máy thuỷ điện sông Hinh (VĩnhSơn), Thác Bà, Phả Lại, Điện lực Khánh Hoà, Công ty giấy Tân Mai, Công tyKinh Đô, Công ty vận tải xăng dầu đường thuỷ I, Vinamilk Giá trị củaVinamilk lên tới 2500 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước là 1500 tỷ đồng Nhà máythuỷ điện Sông Hinh có giá trị 2114 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước là 1253 tỷđồng Một điểm khác biệt nữa, đó là việc xác định trị giá trị cổ phần được thựchiện thông qua đấu giá công khai trên thị trường ngay trong ngày đầu tiên bánđáu giá Vinamilk, bán hết hơn 1.66 triệu cổ phiếu với giá trung bình cao gấp4.89lần mệnh giá Tính minh bạch và công khai đấu giá cổ phiếu của Công tysữa Việt Nam đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Trong số 7 nhà đầu tư, tổchức mua được cổ phần Vinamilk có 5 quỹ đầu tư nước ngoài và 2 nhà đầu tưchiến lược nước ngoài Đáng chú ý là các nhà đầu tư mới chiếm tỷ lệ thắng thầutới 78.4% trên tổng số cổ phần bán ra, các quỹ đầu tư nước ngoài hoạt động ở
Trang 19Việt nam chỉ chiếm 21.6%, và số vốn thu hút đượctừ các tổ chức đầu tư mới lêntới trên 450 tỷ đồng Sau 3 năm chuẩn bị Vinamilk đã hoàn toàn chuyển đổi từmột doanh nghiệp nhà nước lớn thành công ty cổ phần đại chúng
Theo kết quả điều tra của Viện quản lý kinh tế trung ương (CIEM) phốihợp với Ngân hàng thế giới (WB) tại 559 doanh nghiệp cổ phần hoá, kết quả chothấy:
87,53 % số doanh nghiệp khẳng định kế quả hoạt động kinh doanh tốt hơnnhiều so với trước khi cổ phần hoá
2.2 Tác động của cổ phần hoá đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hoá.
Bên cạnh những kết quả về mặt số lượng như đã đề cập ở trên, việc thựchiện chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn đem lại những hiệuquả quan trọng về mặt kinh tế, xã hội những kết quả này được thể hiện trongmột số đánh giá tổng quát sau
Qua báo cáo của 500 doanh nghiệp cổ phần hóa, hiệu quả sản xuất kinhdoanh chuyển biến tích cực Xét trên tổng thể, các chỉ tiêu chủ yếu đều tăng Cụthể, vốn điều lệ tăng 5-100%, doanh thu tăng 60%, lợi nhuận trước thuế tăng137%, thu nhập của người lao động tăng 63%, số lao động tăng 13%, cổ tứctrung bình đạt 15.5%
Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước sau khi chuyển sang công ty cổ phầnđều hoạt động có hiệu quả hơn trước xét tổng thể trên các mặt doanh thu, lợinhuận, nộp ngân sách, tích luỹ vốn Qua báo cáo hoạt động của các doanhnghiệp có thời gian hoạt động trên một năm, kể cả những doanh nghiệp trước đó
bị thua lỗ thì doanh thu bình quân của doanh nghiệp tăng gần gấp hai lần so vớitrước khi thực hiện cổ phần hoá
Cổ phần hoá làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cổphần hoá nói chung và hiệu quả phát triển kinh tế nói riêng Theo điều tra trêngần 600 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá của Viện nghiên cứu quản lý kinh
tế Trung ương năm 2005 cho thấy :87.53% doanh nghiệp kết quả hoạtdộng kinh
Trang 20doanh tốt hoặc tốt hơn nhiều so với trước cổ phần hoá, trung bình doanh thutăng 13.4%, lợi nhuận trước thuế tăng 9.4% và đặc biệt lợi nhuận sau thuế tăngđến 54.3%, năng suất lao độngtăng 18.3% Từ đây, năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp được cải thiện vững chắc, đây không chỉ là nhân tố tích cực đểthúc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá mà còn là nguồn hàng hoá tiềm năng chocác trung tâm giao dịch chứng khoán.
Trong 1 cuộc khảo sát 559 doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá hơn 1năm cho thấy có tới 87.53% khẳng định kết quả hoạt động tốt hơn trước.Ngaytrong năm đầu tiên cổ phần hoá, doanh thu bình quân của doanh nghiệp tăng 13
%, lợi nhuận sau thuế tăng 48.8% Điều này cho thấy việc chuyển đổi đã có tácđộng mạnh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Đối với những doanh nghiệp cổ phần hoá nhiều năm đã đi vào hoạt động
ổn định, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp được duy trì, doanh thu bình quântăng 23.6%, lợi nhuận trước thuế tăng 9.4%, lợi nhuận sau thuế tăng tới 54.4%.Một số doanh nghiệp có doanh thu tăng cao như Công ty cổ phần đại lý liên hiệpvận chuyển: 30 lần, Công ty cổ phần cơ khí điện lạnh: 13 lần, Công ty cổ phầnKymdan: 11.2 lần…
Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp sau cổ phần hóa đều tăng: năng suất lao động tăng bình quân 18.3%;mức nộp ngân sách bình quân của các doanh nghiệp tăng 24.9%; đầu tư tài sản
cố định tăng 11.5%; lương bình quân doanh nghiệp tăng 11.4% Điều đó khẳngđịnh hiệu quả của việc chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổphần
2.3 Cổ phần hoá tạo thêm công ăn việc làm, thu hút thêm lao động và tăng thu nhập cho người lao động.
Trong số các chỉ tiêu đạt được trên, tốc độ tăng năng suất lao động là yếu tốảnh hưởng tích cực nhất đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp cổ phần hoá
Trang 21Hầu hết trong các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá, việc làm vàthu nhập của người lao động đều được bảo đảm ổn định và có chiều hướng tănglên.
Cụ thể như sau : năng suất lao động tăng 18.3%/ năm ; lương bình quân củangười lao động tăng 11.4%/ năm Số lao động của doanh nghiệp trở thành cổđông khá đông Chế độ của người lao động được quan tâm giải quyết thoả đáng
Số lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hoá tăng bình quân 6.6% Cổ tứcbình quân đạt 17.11% Hầu hết các doanh nghiệp đều có mức cổ tức cao hơn lãisuất tiền gửi ngân hàng
Qua nghiên cứu, khảo sát các doanh nghiệp sau cổ phần hoá của Bộ Kếhoạch và Đầu tư cho thấy việc thay đổi mô hình hoạt động của cán bộ quản lý vàngười lao động đã có tích cực đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.Cán bộ quản lý và người lao động đã thật sự gắn bó với doanh nghiệp, nhờ vậy
mà hiệu quả kinh doanh tăng lên Có 96% số doanh nghiệp cho rằng cán bộquản lý đã quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp cũng như nâng cao tính chủ động của cán bộ quản lý trong thực hiện cácmục tiêu lợi nhuận và hiệu quả; 88% số doanh nghiệp khẳng định kết quả sảnxuất của người lao động đã tăng lên khi tiền lương của họ được tính toán trên cơ
sở kết quả việc làm Thực tế, có 85% doanh nghiệp cho rằng sau cổ phần hoá cơ
sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất của doanh nghiệp được khai thác triệt đểhơn, sử dụng tốt hơn, tiết kiệm hơn trước
Với cơ chế quản lý mới, người lao động được coi là chủ nhân thực sự trongcông ty cổ phần Nhờ đó, họ đã nâng cao tính chủ động, ý thức kỷ luật, tinh thần
tự giác, tiết kiệm trong lao động sản xuất, góp phần làm cho hiệu quả hoạt độngcủa doanh nghiệp ngày một nâng cao, mang lại lợi ích thiết thực cho bản thân,cho công ty, cho Nhà nước và xã hội
Trang 222.4 Cổ phần hoá tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, giúp
cơ cấu lại doanh nghiệp, huy động thêm vốn, tạo cho doanh nghiệp có chế quản lý năng động hiệu quả.
Do mục tiêu của cổ phần hoá là tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ
sở hữu trong đó có sự tham gia đông đảo của người lao động nên sẽ tăng cườngđược sự giám sát của các nhà đầu tư đối với nguồn vốn của doanh nghiệp nângcao được hiệu quả sử dụng vốn, thay đổi cung cách quản trị nhằm đảm bảo giảiquyết được hài hoà lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp của các nhà đầu tư
và của người lao động
Việc thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã cho phép các doanhnghiệp thu hút được một lượng lớn nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội vào đầu tưphát triển sản xuất qua thị trường chứng khoán Với 2242 doanh nghiệp nhànước được cổ phần hoá năm 2004, 12411 tỷ đổng cổ phiếu đã được bán, Nhànước nhờ đó đã có 10169 tỷ đồng (chiếm 58% tổng số vốn Nhà nước đã cổ phầnhoá) để tái đầu tư phát triển kinh tế
Mặt khác, quy mô vốn điều lệ của doanh nghiệp sau cổ phần hoá tăng bìnhquân 44% đã cho thấy cổ phần hoá thực sự đã mở ra một cánh cửa để các doanhnghiệp nhà nước tiếp cận với một “kênh” dẫn vốn mới đáp ứng cho nhu cầu pháttriển Việc tham gia của công chúng đầu tư trong các phiên đấu giá trên trungtâm giao dịch chứng khoán Hà Nội cho thấy không chỉ người lao động đang làmviệc tại các công ty được đấu giá mà cả người dân đã khá quan tâm đến việc đầu
tư, kinh doanh cổ phiếu, trái phiếu Tính đến hết tháng 1/2006, trung tâm đã đấugiá 28 phiên lớn cho các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá hoặc doanh nghiệpnhà nước đã cổ phần hoá bán bớt phần vốn nhà nước (chưa kể có 17 phiếu phốihợp thực hiện với trong tâm giao dịch chứng khoán TP HCM) Tổng giá trị cổphần trúng giá đạt 2039,2 tỷ đồng, với 2880 nhà đầu tư trúng giá trên 4085 tổng
số lượt nhà đầu tư đăng ký đấu giá
Việc cổ phần hoá không chỉ nhằm thu hút vốn của các nhà đầu tư, củanhững người lao động trong doanh nghiệp mà còn thu hút cả vốn của nhữngnông dân cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, chuyển họ thành