1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiệu quả của các bộ ổn định công suất cho máy phát điện đồng bộ kết nối lưới điện

7 1,5K 19
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hiệu quả của các bộ ổn định công suất cho máy phát điện đồng bộ kết nối lưới điện
Tác giả Nguyễn Hiền Trung, Nguyễn Như Hiển
Trường học Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - ĐH Thái Nguyên
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2025
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 521,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu hiệu quả của các bộ ổn định công suất cho máy phát điện đồng bộ kết nối lưới điện

Trang 1

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CỦA CÁC BỘ ỔN ĐỊNH CÔNG SUẤT

CHO MÁY PHÁT ĐIỆN ĐỒNG BỘ KẾT NỐI LƯỚI ĐIỆN

Nguyễn Hiền Trung, Nguyễn Như Hiển

Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Bài báo trình bày các cấu trúc bộ ổn định công suất (PSS) dùng cho các máy phát điện đồng bộ để cải thiện ổn định các dao động trong hệ thống điện, đồng thời đi sâu phân tích các thành phần trong cấu trúc của bộ ổn định công suất PSS2A, từ đó sánh hiệu quả của nó với bộ ổn định công suất PSS1A Kết quả kiểm chứng bằng mô phỏng trên MATLAB-SIMULINK cho thấy hiệu quả

rõ rệt của bộ ổn định công suất PSS2A so với PSS1A Bài báo cũng đề xuất phương án nên sử dụng PSS2A cho các máy phát điện đồng bộ hiện nay

Từ khóa: Ổn định hệ thống điện; Hệ thống kích từ; Bộ tự động điều chỉnh điện áp; Bộ ổn định

công suất; Dao động

*

MỞ ĐẦU

Trong trạng thái hoạt động ổn định của hệ

thống điện, công suất điện đầu ra của máy phát

điện đồng bộ cân bằng với công suất cơ đầu

vào Khi hệ thống bị tác động bởi sự cố, hoặc

phụ tải thay đổi nhanh, công suất điện phát ra

sẽ thay đổi Công suất điện từ đầu ra có thể

thay đổi nhanh chóng, nhưng công suất cơ thay

đổi tương đối chậm Bởi tốc độ đáp ứng khác

nhau, nên tồn tại sự khác biệt tạm thời về cân

bằng công suất Sự mất cân bằng công suất này

làm cho rôto của máy phát đồng bộ quay

nhanh hơn hoặc chậm đi, tùy thuộc vào xu

hướng của sự mất cân bằng [6], [11]

Duy trì ổn định hệ thống điện phụ thuộc vào

tốc độ đáp ứng và khả năng cưỡng bức của hệ

thống kích từ Tăng khả năng cưỡng bức và

giảm thời gian đáp ứng sẽ làm tăng độ ổn

định Tác động này là nguyên nhân cần thiết

lắp đặt các bộ kích từ đáp ứng đủ nhanh để

đảm bảo ở mức cao nhất tránh mất đồng bộ

tạm thời Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống

kích từ tác động nhanh lại có thể làm giảm

khả năng triệt tiêu các dao động bởi vì nó làm

giảm đi các moment hãm Nếu moment hãm

không đủ, có thể làm cho các dao động góc

rotor thay đổi với biên độ lớn hơn, dẫn tới

nguy cơ làm mất ổn định hệ thống Có ba loại

dao động được thử nghiệm với các máy phát

và lưới điện [1]- [4], bao gồm: Các dao động

*

Tel:0912386547

máy phát điện làm việc song song; Các dao động cục bộ; Các dao động liên khu vực Các hệ thống kích từ [10], [12] được cài đặt

để hỗ trợ việc nâng cao ổn định tức thời cho một trong các loại dao động kể trên

Một giải pháp để nâng cao chất lượng của hệ thống là phải thêm các đường truyền song song để giảm điện kháng giữa các máy phát

và trung tâm phụ tải Giải pháp này rất nổi tiếng nhưng thường khó được chấp nhận vì chi phí quá cao khi xây dựng thêm các đường dây truyền tải Một giải pháp thay thế đó là bộ

ổn định công suất (PSS) [5] hoạt động thông qua các bộ tự động điều khiển điện áp máy phát điện (AVR)

CẤU TRÚC CÁC BỘ ỔN ĐỊNH CÔNG SUẤT

PSS là một thiết bị tăng moment hãm các dao động cơ điện trong máy phát, để cải thiện các hạn chế vận hành cưỡng bức ổn định Khi bị tác động bởi một sự thay đổi đột ngột trong điều kiện vận hành, tốc độ và công suất của máy phát sẽ thay đổi xung quanh điểm cân bằng Mối quan hệ giữa những đại lượng này có thể được diễn tả bởi công thức sau [8], [11]:

2

m e c 2

2H d δ

=M -M -M

trong đó: δ - góc quay tương đối của rotor; 

- tốc độ góc của rotor; Mm - moment cơ; Me - moment điện từ; Mc - moment hãm; H - hằng

số quán tính của máy phát đồng bộ

Trang 2

Công thức (1) chỉ ra rằng khi có tác động của

lực cân bằng, rotor tăng tốc theo tỉ lệ moment

tác động trong rotor chia hằng số quán tính của

tua bin Từ (1) có thể viết lại khi có sự thay đổi

về điểm vận hành Tại đó sự hãm moment điện

được phân tích thành các thành phần đồng bộ

và hãm (trong đơn vị tương đối):

trong đó: Ms - hệ số đồng bộ; Mc - hệ số hãm;

 - sai lệch góc rotor

Từ (2) có thể thấy rằng với giá trị dương của

Ms, thành phần của moment đồng bộ thay đổi

tỉ lệ nghịch với góc rotor từ điểm cân bằng

Tương tự, với giá trị dương của Mc, các bộ

phận của moment hãm sẽ tỉ lệ nghịch với tốc

độ rotor so với điểm vận hành ổn định

Bộ ổn định dựa trên tốc độ (∆)

Để tăng cường hệ số hãm tự nhiên của máy

phát, bộ PSS phải tạo ra một thành phần của

moment điện chống lại những thay đổi trong

tốc độ rôto Một phương pháp để thực hiện

điều này là đưa vào một tín hiệu tỷ lệ đo được

về sai lệch tốc độ rotor khi điều chỉnh điện áp

đầu cực máy phát

PSS loại này có chứa một bộ lọc thấp, một bộ

lọc cao tần, khâu khuếch đại, hệ thống so

sánh pha và khâu giới hạn tín hiệu ra Trên

hình 1 thì T6 đặc trưng cho hằng số thời gian

của bộ chuyển đổi transducer; hệ số khuyếch

đại được đặt bởi KS1, tín hiệu lọc cao tần được

đặt bởi hằng số thời gian T5 A1 và A2 cho

phép thành phần tần số thấp của lọc thành

phần xoắn tần số cao đi qua Khi không sử

dụng cho mục đích này, khối có thể sử dụng

để hỗ trợ định hướng hệ số khuyếch đại và

đặc tính pha của bộ ổn định Ở 2 khối tiếp

theo cho phép 2 trạng thái của so sánh

Lead-Lag đi qua, được đặt bởi hằng số thời

gian từ T1 đến T4

Với những biến đổi nhỏ, rất nhiều bộ ổn định công suất đã được chế tạo sử dụng cấu trúc cơ bản vừa nêu

Bộ ổn định dựa trên tần số (∆f)

Đã từ lâu tần số đã được sử dụng như một tín hiệu đầu vào cho các ứng dụng của PSS Trong một số trường hợp tín hiệu điện áp đầu cực và tín hiệu dòng điện cũng được kết nối như một tín hiệu tốc độ rotor (tần số “bù”) cho PSS Sự tiện lợi của tín hiệu tần số là nó nhạy cảm đối với các kiểu dao động liên khu vực hơn là với các dao động giữa các máy phát điện [5]

Một nhược điểm của các tín hiệu tần số đo được ở đầu cực các máy phát là có chứa các thành phần xoắn Bởi vậy, cần thiết phải sử dụng các bộ lọc Về góc độ này các bộ ổn định dựa trên tần số có các giới hạn tương tự như các bộ PSS dựa trên tốc độ Hơn nữa tín hiệu tần số thường chứa các nhiễu loạn của hệ thống gây ra bởi các tải công nghiệp [16]

C Bộ ổn định dựa trên công suất (∆P)

Cho dù các bộ ổn định dựa trên tốc độ đã chứng minh hiệu quả rất tốt, nhưng thường thì vẫn khó khăn để tạo ra tín hiệu tốc độ không

có nhiễu như các thành phần dao động xoắn của trục Sự có mặt của các thành phần này trong đầu vào của 1 bộ ổn định dựa theo tốc

độ có thể gây ra kích từ quá mức cho máy phát Những biến đổi moment điện dẫn tới nghiên cứu về các thiết kế bộ ổn định dựa trên công suất đo được:

1

trong đó: ∆P m - độ thay đổi công suất cơ đầu

vào; ∆P e - độ thay đổi công suất điện đẩu ra;

 - sai lệch tín hiệu tốc độ của rotor

Rõ ràng độ sai lệch tín hiệu tốc độ có thể tính được từ sự chênh lệch giữa công suất cơ đầu vào và công suất điện phát ra Sử dụng mối liên hệ ở trên để thay thế việc đo tín hiệu công suất điện và cơ cho đầu vào tốc độ Tín hiệu công suất điện được đo trực tiếp Công suất

cơ không thể đo trực tiếp, và thay thế bằng cách dự tính dựa trên đo vị trí của van cấp khíhoặc của cổng cánh hướng, nhiều khi người

ta còn tính dựa trên lưu lượng hơi hoặc nước

Hình 1 Bộ ổn định dựa trên tốc độ PSS1A

Trang 3

được cấp cho tua bin Mối liên hệ giữa các

phép đo vật lý này và công suất cơ thực thay

đổi dựa vào thiết kế của tua bin và các hệ số

khác.Rất nhiều bộ ổn định dựa trên công suất

vẫn còn được sử dụng, mặc dầu chúng đang

nhanh chóng được thay thế bằng các bộ ổn

định hiệu quả hơn

Các bộ ổn định đầu vào kép

Vì đã có hai tín hiệu có sẵn là công suất và

tốc độ nên cách tính toán này đã được thay

thế và ưu tiên dành cho một phương pháp

gián tiếp Mục đích là nhằm loại bỏ những

thành phần không mong muốn ra khỏi tín hiệu

tốc độ trong khi vẫn tránh được khó khăn khi

đo tín hiệu công suất cơ Để đạt được điều

này, mối quan hệ của phương trình (3) được

biến đổi lại:

1

2H

Tích phân công suất cơ có quan hệ với tốc độ

trục và công suất điện như sau:

Vì công suất cơ thường thay đổi từ từ tương ứng với tần số dao động cơ điện, tín hiệu công suất cơ có được đó có thể hạn chế về độ rộng của dải khi sử dụng bộ lọc tần thấp Bộ lọc tần thấp loại bỏ những thành phần có tần

số cao (ví dụ như các thành phần xoắn và tiếng ồn) Sự hạn chế dải tín hiệu thu được là

sử dụng thay thế cho công suất cơ trong phương trình (5) để chuyển thành tín hiệu thay đổi theo tốc độ

Tín hiệu tốc độ nhận cuối cùng có được từ hạn chế về độ rộng dải đo được lọc qua bộ lọc cao tần Còn ở tần số thấp hơn thì đầu ra được quyết định chủ yếu do đầu vào công suất điện

Bộ ổn định đầu vào kép PSS2A (hình 2)

Nhiều bộ ổn định [7] sử dụng 2 đầu vào như

miêu tả ở trên, tuy nhiên các thông số của

các bộ sẽ rất khác nhau Mỗi đầu vào gồm,

hai khâu lọc cao tần đặc trưng bởi hằng số

thời gian (Tw1 đến Tw4) cùng hằng số thời

gian tích hợp (T6, T7) Thông thường KS3

bằng 1 và KS2 sẽ bằng T7/2H Đầu vào A

thường là tốc độ hoặc tần số, và đầu vào B là

công suất điện N (số nguyên nhỏ hơn 4) và

M (số nguyên nhỏ hơn 2), E cho phép lọc

các thành phần xoắn hoặc tiếng ồn Bù pha

được cung cấp bởi 2 khâu Lead – Lag hoặc Lag – Lead (T1 đến T4)

Bộ ổn định đầu vào kép PSS2B

Bộ ổn định này tương tự như bộ PSS2A chỉ thêm vào một khâu bù pha Lead - Lag còn các thông số khác hoàn toàn tương tự

Bộ ổn định đầu vào kép PSS3B

Bộ lọc cao tần

Bộ lọc cao tần

Bộ lọc Ramp-Tracking Hệ số khuếch đại và bù pha

Đầu ra

Hình 2 Sơ đồ khối của bộ ổn định công suất PSS2A

Công suất

Tốc độ

Trang 4

Cả hai bộ ổn định công suất PSS3B và PSS4B

đều có đầu vào VS11 = Pe và VS12   T1,

T3 đặc trưng cho hằng số thời gian bộ chuyển

đổi tranducer, T2 và T4 là hằng số thời gian bộ

lọc tần số cao Ks1 và Ks2 là hai khâu khuếch

đại T0 là hằng số thời gian khởi động của

máy phát đồng bộ

Do các lợi ích hơn hẳn của bộ ổn định đầu

vào kép nên hiện nay hầu hết đều bỏ qua cách

chỉ dùng tín hiệu tốc độ

PHÂN TÍCH CÁC THÀNH PHẦN TRONG

BỘ ỔN ĐỊNH CÔNG SUẤT PSS2A

Tín hiệu tốc độ

Tốc độ trục có thể được đo trực tiếp, hoặc thu

được từ tần số của một tín hiệu điện áp bù xuất

phát từ cực máy biến điện áp (VT) và dòng

điện (CT) thứ cấp Trong trường hợp khác, tín

hiệu kết quả phải được chuyển sang một mức

hằng số, tỷ lệ với tốc độ (tần số) Hai đoạn

mạch lọc cao tần được đưa vào tín hiệu kết quả

để loại bỏ mức tốc độ trung bình, tạo ra một tín

hiệu sai lệch tốc độ Hằng số thời gian mỗi bộ

lọc cao tần là: 1.0s  Tw 20.0s

Tín hiệu công suất điện

Đầu ra công suất điện của máy phát được lấy

từ điện áp thứ cấp VT và các dòng điện thứ

CT Công suất ra được lọc qua bộ lọc cao tần

để tạo ra tín hiệu sai lệch công suất cần thiết Tín hiệu này được tích hợp và phân chia, sử dụng hằng số quán tính máy phát để kết hợp với tín hiệu tốc độ

Tín hiệu công suất cơ

Tín hiệu này sau đó được lọc cao tần Một bộlọc cao tần có thể dưới một trong hai dạng thức sau:

Dạng thứ nhất, một bộ tần thấp 4 cực đơn giản, được dùng để hãm các thành phần xoắn xuất hiện trong tốc độ Với các máy phát nhiệt điện, hằng số thời gian có thể được chọn

để tạo ra hãm ở tần số xoắn thấp nhất của máy phát Tuy nhiên, yêu cầu thiết kế này lại xung đột với việc tạo ra một tín hiệu công suất cơ hợp lý Đặc biệt vấn đề này xảy ra trên các máy phát thủy điện vì chúng dễ dàng có thể

có tỷ số thay đổi công suất cơ lên tới 10%/s Vượt quá giới hạn của tín hiệu công suất cơ

có thể dẫn tới thay đổi quá mức tín hiệu ra của bộ ổn định trong quá trình mang tải và không mang tải của máy

Dạng thứ hai được gọi là bộ lọc “bám dốc”, tạo ra một sai số tĩnh triệt tiêu trong đầu vào tín hiệu công suất điện Điều này hạn chế thay đổi đầu ra của bộ ổn định tới các mức rất thấp

tỷ lệ thay đổi công suất cơ thường gặp phải trong quá trình vận hành của các máy phát Mức điều chỉnh hằng số thời gian bộ lọc này là: 0.02s≤T≤0,2s

Bù pha và lựa chọn tín hiệu ổn định

Tín hiệu tốc độ được hiệu chỉnh trước khi đưa tới bộ ổn định công suất Tín hiệu được lọc để tạo ra vượt pha trước ở các tần số cơ điện cần dùng, ví dụ 0.1 Hz tới 5.0 Hz Yêu cầu vượt pha

để bù vào sự trễ pha tạo ra bởi bộ điều chỉnh điện áp vòng kín Hàm truyền của mỗi giai đoạn của bù pha là một dạng kết hợp đơn giản trong

đó hằng số thời gian trễ và vượt được điều chỉnh trong khoảng: 0,01s  T  6,0s

MÔ PHỎNG HỆ THỐNG TRÊN PHẦN MỀM MATLAB-SIMULINK

Trong phần này sẽ trình bày quá trình thực hiện các trường hợp mô phỏng hệ thống điều chỉnh điện áp và ôn định công suất máy phát

Bộ lọc cao tần

Bộ lọc cao tần

Hình 4 Sơ đồ khối của bộ ổn định công suất PSS4B

Hình 3 Sơ đồ khối của bộ ổn định công suất

PSS3B

Bộ lọc cao tần

Bộ lọc cao tần

Trang 5

đồng bộ dựa trên phần mềm mô phỏng

MATLAB-SIMULINK [9]

Cấu hình hệ thống mô phỏng

Sơ đồ hệ thống mô phỏng như hình 5

Thông số các phần tử chính

1 Máy phát điện đồng bộ

Mô hình máy phát điện đồng bộ trong thư

viện Simulink với các thông số như sau:

Loại rotor: cực lồi; Pn=200MVA;

Vn=13,8kV; fn=50Hz; Xd=1,305;

Xd’=0,296; Xd’’=0,252; Xq=0,474;

Xq’’=0,243; Td’=1,01 s; Td’’=0,053 s;

Tq0’’=0,1 s; Rs=0,00285 p.u

2 Bộ ổn định công suất PSS

2.1 Bộ ổn định công suất PSS1A [8]

Hằng số thời gian Sensor: 0,015; Hệ số

khuếch đại: 2,5; Hằng số thời gian bộ lọc: 1;

Tnum=0,05; Tden=0,02; Vsmin=-0,15;

Vsmax= 0,15

2.2 Bộ ổn định công suất PSS2A

M=1; N=2; Tw1=1; Tw2=5; T6=0,02; Tw3=10;

Tw4=10; T7=6,4; KS2=1; KS3=1 T8=4; T9=5;

KS1=0,1; T1=0,05; T2=0,02, T3=0,5; T4=5,

VSTMAX=-0,15, VSTMIN=0,15

3 Hệ thống điều tốc governor [13]

Ka=10/3; Ta=0,07s; gmin=0,01pu;

gmax=0,975pu; vgmin=-0,1pu/s; vgmax=0,1s;

Rp=0,05; Kp=1,163; Ki=0,105; Kd=0;

Td=0,01s.Tw=2,67s

4 Hệ thống kích từ [12]

Tr=0,02s; Ka=300; Ta=0,001s; Ke=1,0;

Te=0; Kf=0,001; Tf=0,1s; Vsmin=-11,5;

Vsmax= 11,5

5 Đường dây dài 50km; R0=0,3864Ω/km;

L0=4,1264.10-3 H/km; C0=7.751.10-9 F/km

6 Tải tự dùng: 10+j4MVA; tải cuối đường

dây: 100+j30MVA

Kết quả mô phỏng

Công suất cơ bản được chọn chung cho toàn

hệ thống là Sb=200MVA

Quá trình mô phỏng bao gồm các trường hợp sử dụng PSS1A và PSS2A có đóng cắt tải 0,52pu tại thanh cái hệ thống ở thời điểm t=0,8s

Trên hình 6 cho thấy với PSS2A đáp ứng điện

áp nhanh đạt giá trị ổn định hơn, biên độ trong thời gian qua độ thay đổi ít hơn loại PSS1A Tại thời điểm t=0,8s đóng tải 0,52pu điện áp đầu ra PSS2A cũng nhanh ổn định hơn, điều này có tác dụng tốt với điều chỉnh kích từ máy phát

Hình 7 cho thấy khi dùng PSS2A so với PSS1A thì biên độ dao động góc roto nhỏ hơn và nhanh đạt ổn định hơn (sau 4s) Tại thời điểm đóng tải dao động góc roto cũng nhanh ổn định Góp phần nâng cao độ ổn định cho hệ thống

Hình 6 Đáp ứng điện áp đầu ra PSS

Hình 7 Sai lệch góc roto

Hình 8 Đáp ứng điện áp đầu cực máy phát

Hình 5 Hệ thống thử nghiệm

Trang 6

Hình 8 cho thấy với PSS2A đáp ứng điện áp

đầu cực máy phát nhanh đạt giá trị ổn định

hơn so với khi dùng PSS1A, nhất là tại thời

điểm thời điểm đóng tải, do đó nâng cao được

chất lượng hệ thống

KẾT LUẬN

Bài báo trình bày tổng quan các cấu trúc bộ

ổn định công suất trong hệ thống điện, các kết

quả phân tích đều cho thấy những ưu điểm

riêng của mỗi loại bộ ổn định, việc tính chọn

tham số trong mỗi bộ ổn định cũng rất phức

tạp phụ thuộc vào thông số máy phát điện

cũng như thông số hệ thống điện

Bài báo cũng đã phân tích những thành

phần trong bộ ổn định kép PSSS2A, chỉ ra

các giới hạn khi tính chọn tham số bộ điều

khiển Kết quả nghiên cứu khẳng định hiệu

quả rõ rệt của bộ ổn định kép PSS2A so với

bộ ổn định PSS1A

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Y.-Y Hsu, S.-W Shyue, and C.- C Su

(1987), “Lowfrequency oscillation in longitudinal

power systems: Experience with dynamic stability

of Taiwan’s power system,” IEEE Trans Power

Syst., vol 2, pp 92–100, Feb

[2] D N Koterev, C W Taylor, and W A

Mittelstadt (1999), “Model validation for the

August 10, 1996WSCCsystem outage,” IEEE

Trans Power Syst, vol 14, pp 967–979, Aug

[3] G Rogers (2000), Power System

Oscillations Norwell, MA: Kluwer

[4] M Klein, G J Rogers, and P Kundur

(1991), “A fundermental study of inter-area

oscillation in power systems,” IEEE Trans Power

Syst., vol.6, pp 914–921, Aug

[5] E.V Larsen, and D.A Swann (1981),

"Applying power system stabilizers, part I; general

concepts, part II; performance objectives and

turning concepts, part III; practical

considerations," IEEE Trans on power apparatus

and system, vol PAS-100, pp 3017-3046

[6] Út L.V (2000), Phân tích và điều khiển

ổn định hệ thống điện, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà

Nội

[7] P Kundur, M Klein, G J Rogers, and

M S Zywno (1989), “Application of power system stabilizers for enhancement of overall

system stability,” IEEE Trans Power Syst., vol 4,

pp 614–626

[8] Saadat, Hadi (2004), Power System Analysis, International Edition, Singapore,

[9] Nguyễn Phùng Quang (2008), Matlab & Simulink dành cho kỹ sư điều khiển tự động, Nxb

khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội

[10] IEEE Recommended Practice for Excitation System Models for Power System Stability Studies IEEE Standard 421.5-2005, April 2006

[11] Kundur,P., Power System Stability and Control, McGraw-Hill, 1994, Section 12.5

[12] "Recommended Practice for Excitation System Models for Power System Stability

Studies,"IEEE Standard 421.5-1992, August, 1992

[13] IEEE Working Group on Prime Mover and Energy Supply Models for System Dynamic Performance Studies, "Hydraulic Turbine and

Turbine Control Models for Dynamic Studies," IEEE Transactions on Power Systems, Vol.7,

No.1, February, 1992, pp 167-179

[14] Krause(1986), P.C., Analysis of Electric Machinery, McGraw-Hill, , Section 12.5

[15] Kamwa, I., et al (1995), "Experience with Computer-Aided Graphical Analysis of Sudden-Short-Circuit Oscillograms of Large

Synchronous Machines," IEEE Transactions on Energy Conversion, Vol 10, No 3, September

1995

[16] F.W Keay, W.H South (1971), “Design

of a Power System Stabilizer Sensing Frequency

Deviation”, IEEE Trans., Vol PAS-90, Mar/Apr,

pp 707 - 713

Trang 7

STUDIES ON THE EFFECTIVENESS OF POWER SYSTEM STABILIZERS FOR SYNCHRONOUS GENERATORS CONNECTED TO POWER GRID

Nguyen Hien Trung 2 , Nguyen Nhu Hien

Thai Nguyen University of Tecnology

SUMMARY

The article will represent the construction of a power system stabilizer (PSS) used for synchronous generators connected to power grid in order to improve the stability of oscillation of the electric system and further analysis as well as making comparison on the effectiveness of two models of PSS for final proposed approaches for application of PSS for current synchronous generators The result, which has been tested and checked by via a simulating model namely MATLAB-SIMULINK, has shown a positive effectiveness provided by PSS of PSS2A in comparison with a PSS1A.

Keywords: Power System Stability; Excitation System; Automatic Voltage Regulator; Power

System Stabilizer - PSS; Oscillation

2

Tel:0912386547

Ngày đăng: 05/03/2013, 17:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 thì T 6  đặc trưng cho hằng số thời gian - Nghiên cứu hiệu quả của các bộ ổn định công suất cho máy phát điện đồng bộ kết nối lưới điện
Hình 1 thì T 6 đặc trưng cho hằng số thời gian (Trang 2)
Hình 2. Sơ đồ khối của bộ ổn định công suất PSS2A - Nghiên cứu hiệu quả của các bộ ổn định công suất cho máy phát điện đồng bộ kết nối lưới điện
Hình 2. Sơ đồ khối của bộ ổn định công suất PSS2A (Trang 3)
Hình 4. Sơ đồ khối của bộ ổn định công suất PSS4B - Nghiên cứu hiệu quả của các bộ ổn định công suất cho máy phát điện đồng bộ kết nối lưới điện
Hình 4. Sơ đồ khối của bộ ổn định công suất PSS4B (Trang 4)
Hình 3. Sơ đồ khối của bộ ổn định công suất - Nghiên cứu hiệu quả của các bộ ổn định công suất cho máy phát điện đồng bộ kết nối lưới điện
Hình 3. Sơ đồ khối của bộ ổn định công suất (Trang 4)
Sơ đồ hệ thống mô phỏng như hình 5. - Nghiên cứu hiệu quả của các bộ ổn định công suất cho máy phát điện đồng bộ kết nối lưới điện
Sơ đồ h ệ thống mô phỏng như hình 5 (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w