Xác định bệnh do trùng bào tử sợi (Myxosporea) gây ra ở cá chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790) giai đoạn giống và thử nghiệm phƣơng pháp chữa trị. Trong những bệnh trên cá chẽm hiện nay thì bệnh do ký sinh trùng mà cụ thể là trùng bào tử sợi Myxosporea gây ra cũng là một điều đáng quan tâm. Myxosporea là tác nhân gây bệnh phổ biến và gây tác hại lớn, gây cá chết nhanh chóng với tỷ lệ cao có thể lên đến 100% hoặc gây ảnh hƣởng đến sinh trƣởng. Bệnh này gây tác hại trong hầu hết các giai đoạn phát triển của cá nhƣng gây hại nghiêm trọng nhất ở giai đoạn cá con. Hiện nay bệnh vẫn chƣa có biện pháp chữa trị, chủ yếu vẫn là áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp. Chính vì lý do trên mà vấn đề cần giải quyết hiện nay là cần có một đề tài để xác định rõ bệnh do Myxosporea gây ra ở cá chẽm.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian hoàn thành đề tài, ngoài những cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan và cá nhân Với tất cả sự chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tôi xin được gởi lời cảm ơn tới:
Ban giám hiệu Trường đại học Nha Trang, phòng Khoa học công nghệ, ban chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản và các thầy cô bộ môn Bệnh học thủy sản đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thạc sĩ Phan Văn Út-giáo viên hướng dẫn, người đã định hướng, động viên
và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi được thực hiện đề tài này
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng-giám đốc trung tâm Giống và Dịch bệnh thủy sản, trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện cho tôi được thực hiện đề tài tại đây
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thương yêu tôi đã luôn bên cạnh, giúp tôi có thêm sức mạnh thực hiện tốt đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 9 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Võ Thị Mỹ Dung
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: TỔNG QUAN 3
1.1.Một số đặc điểm sinh học của cá chẽm 3
1.2 Đặc điểm ký sinh trùng Myxosporea và bệnh do chúng gây ra 4
1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng Myxosporea trên thế giới 7
1.4 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng do Myxosporea gây ra trên cá chẽm Lates calcarifer ( Bloch, 1790) trên thế giới 10
1.5 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng và bệnh trùng Myxosporea gây ra trên cá chẽm nuôi tại Việt Nam 11
PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 13
2.2 Phương pháp nghiên cứu 13
2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 13
2.2.2 Pháp pháp nghiên cứu trùng bào tử sợi ký sinh trong cá chẽm 14
2.2.3 Kiểm tra mô học 16
2.2.4 Thử nghiệm chữa trị 17
2.2.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 18
Trang 32.2.5.1 Phương pháp tính mức độ cảm nhiễm 18
2.2.5.2 Phương pháp đo kích thước trùng Myxosporea 19
2.2.5.3 Xử lý số liệu 19
PHẦN III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
3.1 Phân bố mẫu nghiên cứu và xác định tác nhân gây bệnh: 20
3.2 Mô tả bệnh do bào tử sợi gây ra trên cá chẽm 21
3.2.1 Bệnh Ceratomyxosis 21
3.2.2 Bệnh Henneguyosis 24
3.3 Kết quả thí nghiệm chữa trị: 26
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 31
4.1 Kết luận 31
4.2 Đề xuất ý kiến 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng và kích thước mẫu nghiên cứu 20 Bảng 3.2 Mức độ nhiễm bệnh do bào tử sợi gây ra trên cá chẽm nuôi tại Khánh Hòa 20 Bảng 3.3 Kích thước và mức độ cảm nhiễm đàn cá chẽm bị bệnh Ceratomyosis trước khi đưa vào chữa trị bằng Baycox (BAYER) 26 Bảng 3.4 Mức độ cảm nhiễm của cá chẽm bị bệnh Ceratomyosis ở các nghiệm thức sau khi được chữa trị trị bằng Baycox (BAYER) 28
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cá chẽm Lates calcarifer 3
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 13 Hình 2.2 Các bước thực hiện của phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng ở cá chẽm giống 14 Hình 2.3.Cách đo kích thước bào tử 19
Hình 3.1 Dấu hiệu cá chẽm bị bệnh do Ceretomya gây ra A- cá bị đen thân; B-
Nội tạng cá chẽm bị xuất huyết, mật bị đen; C- Gan teo, mật xanh 21
Hình 3.2 Ceratomyxa ký sinh trong mật cá chẽm ở độ phóng đại 400X: A, B-
Mẫu soi tươi; C, D- Mẫu nhuộm với Giemsa; E- Hình vẽ bào tử Ceratomyxa 22 Hình 3.3 Mô mật cá chẽm bị nhiễm bệnh Ceratomyosis: A- Ceratomyxa ký sinh trong dịch mật; B- cấu trúc thành ống mật bị phá hủy, Ceratomyxa bám trên biểu
mô mật Hình ảnh ở độ phóng đại 400X 23 Hình 3.4 Hình ảnh bào nang và bào tử Heneguya trên cá chẽm: A, B- Bào nang Henneguya cerebralis trên mang; C, D- Bào tử Henneguya cerebralis ở độ phóng đại 400X; E- Hình vẽ bào tử Henneguya cerebralis 25 Hình 3.5 Tỷ lệ (%) các cường độ cảm nhiễm bào tử sợi khác nhau ở đàn cá chẽm
bị bệnh Ceratomyosis trước khi được chữa trị trị bằng Baycox (BAYER) 27 Hình 3.6 Tỷ lệ chết ở các nghiệm thức sau 12 ngày chữa trị bằng Baycox (BAYER) 27 Hình 3.7 Tỷ lệ (%) cường độ cảm nhiễm ở nghiệm thức dùng thuốc (NT1) và đối chứng (ĐC) sau 6 ngày chữa trị bằng Baycox (BAYER) 28
Trang 7MỞ ĐẦU
Cá chẽm Lates calcarifer là loài có giá trị kinh tế, tốc độ sinh trưởng khá
nhanh, dễ nuôi, năng suất nuôi cao và là đối tượng nuôi quan trọng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á Nghề nuôi cá chẽm ở Việt Nam được phát triển rộng rãi sau khi nghề nuôi tôm đi vào giai đoạn suy thoái
do dịch bệnh Lates calcarifer đã trở thành đối tượng nuôi chính đem lại hiệu quả
kinh tế cao cho nhiều hộ nông dân Tuy nhiên, sự phát triển nghề nuôi cá chẽm gia tăng nhanh chóng cả về quy mô và diện tích, đồng thời thiếu sự quản lý, quy hoạch trong quá trình phát triển trong thời gian qua đã dẫn đến một số vấn đề về môi trường và dịch bệnh, kết quả là các báo cáo dịch bệnh trên đối tượng nuôi này xuất hiện với tần số ngày càng tăng
Trong những bệnh trên cá chẽm hiện nay thì bệnh do ký sinh trùng mà cụ thể là trùng bào tử sợi Myxosporea gây ra cũng là một điều đáng quan tâm Myxosporea là tác nhân gây bệnh phổ biến và gây tác hại lớn, gây cá chết nhanh chóng với tỷ lệ cao
có thể lên đến 100% hoặc gây ảnh hưởng đến sinh trưởng Bệnh này gây tác hại trong hầu hết các giai đoạn phát triển của cá nhưng gây hại nghiêm trọng nhất ở giai đoạn cá con Hiện nay bệnh vẫn chưa có biện pháp chữa trị, chủ yếu vẫn là áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp Chính vì lý do trên mà vấn đề cần giải quyết hiện nay là cần có một đề tài để xác định rõ bệnh do Myxosporea gây ra ở cá chẽm Được sự cho phép của giám hiệu nhà trường, phòng khoa học công nghệ, khoa nuôi trồng thủy sản trường Đại học Nha Trang và sự định hướng, giúp đỡ của thầy
Phan Văn Út, tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học với tiêu đề “Xác định
bệnh do trùng bào tử sợi (Myxosporea) gây ra ở cá chẽm Lates calcarifer
(Bloch, 1790) giai đoạn giống và thử nghiệm phương pháp chữa trị”
Nội dung thực hiện:
1 Xác định tác nhân và đặc điểm dịch tễ của bệnh do Myxosporea gây ra trên
cá chẽm
2 Thử nghiệm phương pháp chữa trị
Trang 8Mục tiêu của đề tài: Xác định tác nhân và đặc điểm dịch tễ của bệnh do
Myxosporea gây ra ở cá chẽm Lates calcarifer và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh
thích hợp
Trang 9PHẦN I: TỔNG QUAN 1.1.Một số đặc điểm sinh học của cá chẽm
Cá chẽm có hệ thống phân loại như sau:
Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Perciformes
Họ: Latidae
Giống: Lates Hình 1.1 Cá chẽm Lates calcarifer
Loài: Lates calcarifer (Bloch, 1790)
Tên tiếng Việt: Cá chẽm, cá vược
Tên tiếng Anh: Sea bass, Barramundi, Giant seaperch
Cá chẽm có thân hình thon dài và dẹp bên, cuống đuôi khuyết sâu Chiều dài thân bằng 2.7 - 3.6 lần chiều cao Đầu nhọn, nhìn bên cho thấy phía trên hơi lõm xuống ở giữa và hơi lồi ở lưng Miệng rộng và hơi so le, hàm trên kéo dài đến phía dưới sau hốc mắt Răng dạng nhung, không có răng nanh, trên nắp mang có gai cứng, vây lưng gồm có 2 vi: vi trước có 7-9 gai cứng và vi sau có 10-11 tia mềm Vi hậu môn có 3 gai cứng, vi đuôi tròn và có hình quạt Vẩy dạng lược và có kích cỡ vừa phải, có 61 vẩy đường bên
Khi cá khoẻ, trên mặt lưng có màu nâu, mặt bên và bụng có màu bạc khi sống trong môi trường nước biển, màu nâu vàng khi sống trong môi trường nước ngọt Khi cá ở giai đoạn trưởng thành sẽ có màu xanh lục hay vàng nhạt trên lưng
và màu vàng bạc ở mặt bụng
Cá chẽm
Tại Việt Nam, cá chẽm có thể được tìm thấy ở vịnh Bắc bộ, vùng biển Trung và Nam Bộ
Trang 10Về khả năng thích ứng với các yếu tố sinh thái, cá chẽm là loài có khả năng thích ứng rộng với sự thay đổi độ mặn, cá giai đoạn giống và trưởng thành sống được ở độ mặn từ 0 – 35 ppt và có thể chịu đựng tốt với sự thay đổi độ mặn đột ngột Thực tế cho thấy cá giống cỡ 2 – 3 cm có thể thuần hóa từ độ mặn 30 – 32 ppt xuống 5 – 10 ppt trong 2 – 3 giờ (Kungvankij và ctv, 1984; Tucker, 2000) Vì vậy, đây là loài rất thích hợp cho phát triển nuôi cả trong nước ngọt, nước lợ cũng như nuôi biển (Kungvankij và ctv, 1984) Cá chẽm có thể thích ứng với nhiệt độ từ
21 – 39oC, thích hợp nhất 27 – 30oC Nhiệt độ thay đổi đột ngột 2 – 3oC có thể gây sốc cho cá giống (Tucker, 2000) Độ pH thích hợp cho cá từ 7.0 – 8.5; DO 4 -9 ppm; NH3-N < 0.025 ppm, H2S < 0.3 ppm (Kungvankij và ctv, 1984)
Cá chẽm là loài cá dữ, ăn mồi sống và có khả năng ăn thịt đồng loại, đặc biệt
tỷ lệ chết do ăn nhau cao nhất ở giai đoạn từ 1 – 10 cm Ngoài tự nhiên, thức ăn của
cá chẽm gồm cá nhỏ, tôm, cua, mực… Cá có kích thước >20 cm ăn 100% mồi động vật (Kungvankij và ctv, 1994)
Cá chẽm là loài có kích thước lớn, khối lượng tối đa có thể đạt 60 kg Cá tăng trưởng chậm ở giai đoạn đầu, khi đạt 20–30 g tốc độ tăng trưởng nhanh hơn và chậm lại khi đạt khoảng 4 kg Cá bột mới nở có chiều dài 1.49 mm, sau 40 ngày đạt
cỡ 17.4 mm, 50 ngày đạt 28.9 mm, 90 ngày đạt chiều dài 93 mm, khối lượng là 9g Trong điều kiện nuôi, cá giống cỡ 2 – 2.5 cm sau thời gian ương từ 30 – 45 ngày đạt
cỡ 5 – 11 cm, sau từ 6 đến 24 tháng nuôi thương phẩm cá đạt 0.35 – 3 kg
1.2 Đặc điểm ký sinh trùng Myxosporea và bệnh do chúng gây ra
Myxosporea là thuộc ngành Myxozoa, giới động vật đơn bào Protozoa Myxosporea có hình dạng cơ thể đơn giản, đây là kết quả của quá trình phân đôi quy mô lớn để thích ứng với đời sống ký sinh (Lom và Dyková, 2006 ) Vòng đời của Myxosporea trải qua các vật chủ khác nhau, theo Wolf và Markiw (1984) vòng đời của Myxosporea xảy ra trên hai ký chủ chia làm 2 giai đoạn là Myxospore và Actinospore, giai đoạn Myxospore xảy ra ở ký chủ trung gian là động vật có xương sống bậc thấp như cá, giai đoạn Actinospore ký sinh ở động vật không xương sống thường là giun nhiều tơ nhằm phục vụ cho sự sinh sản hữu tính Giai đoạn ký sinh
Trang 11trong cá có thể tồn tại trong cơ thể vật chủ dưới dạng hợp bào, có thể là giả hợp bào (thể dinh dưỡng) hay bào nang, đặc trưng của giai đoạn này là trạng thái tế bào trong tế bào, khi những tế bào con được sinh sản nội sinh vẫn còn tồn tại trong tế bào mẹ
Hợp bào là một tổ chức lớn với nhiều nhân sinh dưỡng và có hình thức sinh sản nội sinh tạo ra những tế bào sinh sản (generative cell), tế bào sinh sản sẽ trở thành tế bào sporogonic và pericyte có vai trò là nơi phân chia và biệt hóa các bào
tử Trong hợp bào còn có lobocytes - là những tế bào lớn có chức vụ “quét dọn” bên trong hợp bào, một hợp bào có thể tạo ra hai hay nhiều bào tử, giả hợp bào có kích thước nhỏ hơn, chứa nhân và tế bào sinh sản có thể tạo ra một đến hai bào tử Giai đoạn bào nang cũng là dạng hợp bào do các tổ chức cơ thể ký chủ nơi bào tử ký sinh bị kích thích thoái hóa và sinh ra một lớp mang bao quanh các thể dinh dưỡng (Đỗ Thị Hòa và ctv, 2004)
Bào tử Myxosporea có cấu tạo chính gồm: các mảnh vỏ, các cực nang có chứa sợi thích ty, phần nguyên sinh chất có chứa các nhân và không bào, bào tử rất
đa dạng về kích thước và hình dạng Tùy theo loài mà một bào tử có cấu tạo từ 2 đến 7 mảnh vỏ dính nhau ở đường nối, 1 đến 7 cực nang và nhân gồm một nhân đôi hay hai nhân đơn trong nguyên sinh chất Ngoài ra, một số loài trong nguyên sinh chất còn có không bào ưa iod chứa β_ glycogen (Lom và Dyková, 1992) Trùng bào
tử sợi ký sinh trên cả động vật không xương sống và có xương sống bậc thấp như
cá, bò sát, lưỡng cư, cũng có thể gặp ở chim, thú và người (Lom và Dyková, 2006)
Ở cá, chúng ký sinh trong xoang cơ thể hay ký sinh trong các mô Những loài ký sinh trong xoang cơ thể thường ở trạng thái bám vào biểu mô hay trôi nổi trong dịch của các xoang cơ thể như mật, ống dẫn mật Những loài ký sinh trong mô có thể ký sinh trong hay ngoài tế bào ở nhiều mô khác nhau, thường tạo ra các dạng bào nang
ký sinh ở mang, da có kích thước lớn dễ quan sát bằng mắt thường
Myxosporea ký sinh trong cơ thể vật chủ, lấy dinh dưỡng bằng thẩm thấu và vận chuyển chủ động các chất dinh dưỡng, với dạng bào nang có hoạt động ẩm bào cao, là những sinh vật kỵ khí bắt buộc hoặc hiếu khí bắt buộc (Lom và Dyková,
Trang 121992) Khi kí sinh vào cơ thể vật chủ, các thể dinh dưỡng lấy chất dinh dưỡng để phát triển, sau đó hoặc chúng phân phối các bào tử trưởng thành vào trong các cơ quan vật chủ hoặc ra ngoài môi trường trở thành bào nang và hủy hoại vật chủ
Khi một bào tử trong môi trường nước, chúng sẽ xâm nhập trở lại cá hay xâm nhập vào ký chủ cuối cùng, có thể xâm nhập trực tiếp qua da, mang, vây cá khỏe, hay cảm nhiễm thông qua ruột khi có trong thức ăn của cá Khi tiếp xúc với
cơ thể cá, bào tử bị kích thích bởi cơ thể cá, sẽ phóng sợi thích ty, cắm vào tổ chức
cơ thể, hai mảnh vỏ tách ra, tế bào chất di chuyển, xâm nhập vào các tế bào tổ chức của ký chủ, hoặc theo máu đến ký sinh ở các tế bào tổ chức của các cơ quan và
dừng lại ở đó lấy chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển Myxosporea tồn tại
lâu ngoài môi trường, bào tử có thể tồn tại trong nước lạnh với hình thái bình thường hơn một năm ( Lom và Dyková, 1992 ).
Sự phát triển bệnh do Myxosporea có thể phụ thuộc vào sự tương tác của
nhiều yếu tố: vật chủ, môi trường, dinh dưỡng và quản lý dinh dưỡng của người nuôi ( Lom và Dyková, 1992 ) Yếu tố chủ yếu là vật chủ thông qua khả năng đề kháng và tập tính dinh dưỡng, yếu tố môi trường như vùng địa lý, độ mặn, mùa vụ…là yếu tố tác động không chủ yếu, một số loài bị ức chế bởi biến động mùa vụ
như ở cá Perch (Perca fluviatilis) mức độ nhiễm Henneguya psoro bị giảm vào đầu mùa xuân, tuy nhiên một số loài Myxosporea khác vẫn phát triển mạnh trong cơ thể
vật chủ bất kể mùa nào ( Lom và Dyková, 1992 )
Bệnh do Myxosporea ở cá biển nuôi là sự đe dọa tiềm năng và hiện hữu cho
nghề nuôi trồng thủy sản nước mặn Tác hại của chúng không rõ ràng: một số loài gây hại trực tiếp, thật sự nguy hiểm cho cá có thể gây chết cao; một số loài khác khi cảm nhiễm vào cá không gây dấu hiệu lâm sàng hay tỷ lệ chết nghiêm trọng nhưng phá hủy trầm trọng cấu trúc mô cơ thể cá, tạo điều kiện cho các tác nhân cơ hội xâm nhập gây các bệnh khác khi cá bị stress hay đáp ứng miễn dịch cơ thể suy giảm (Alvarez-Pellitero, Sitja-Bobadilla, 1993)
Trang 131.3 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng Myxosporea trên thế giới
Nghiên cứu bệnh do Myxosporea trên thế giới đã có lịch sử dài, từ những khám phá đầu tiên về Myxosporea những năm 1980 bởi Jurine (1825), đến nay các nhà khoa học đã phát hiện ra 2180 loài và nhiều loài mới còn đang được nghiên cứu (Lom và Dyková, 2005) Những loài Myxosporea mới vẫn đang là mối nguy đe dọa
sự phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản thế giới (Lom và Dyková, 2006) Với sự phát triển mạnh mẽ của nghề nuôi cá biển trên thế giới, sự bùng nổ bệnh bởi Myxosporea đã được thông báo thường xuyên và một số loài Myxosporea đã trở thành trở ngại lớn cho nghề nuôi cá biển (trích theo Pilar và Ariadna, 1993)
Bệnh do trùng bào tử sợi đã được thông báo trên những hệ thống nuôi khác nhau như ao, lồng nuôi trên biển và trên các loài cá thuộc họ Seranidae, Sparidae, Mugilidae (Lubat và ctv, 1989; Paperna, 1991; Alvarez-Pellitero & Sitja-Bobadilla, 1993), ngoài ra còn trên những sinh vật ký sinh trên cá Sau đây là những công trình nghiên cứu đó:
Wales và Volf (1950) đã thông báo Ceratomyxa shasta đã gây ra những cản
trở lớn cho sự phát triển nghề nuôi trồng cá hồi Bắc Mỹ từ năm 1948, ký sinh trùng này là tác nhân gây bệnh nguy hiểm, xâm nhiễm vào ống tiêu hóa của cá, gây viêm
và hoại tử mô, sau đó gây chết (Bartholomew, 1998)
Khan và ctv (1986) đã thông báo trong bóng hơi cá bơn Đại Tây Dương từ vùng biển Tây Bắc Thái Bình Dương có các ký sinh trùng thuộc Myxosporea như
C.drepanopsettae, Leptotheca sp và Myxidium sphaericum (trích theo Morisom,
1996)
Năm 1996, Morisom và ctv khi nghiên cứu Ceratomyxa ký sinh trong túi mật
cá bơn Đại Tây Dương (Hippologlossus hippoglossus) từ vùng Bắc Đại Tây Dương
đã phát hiện được trong dịch mật và thành túi mật loài C drepanopsettae
Wierzbicka và Orecka-grabda (1996) đã phát hiện Myxobolus portucalusis
ký sinh trên vây và các cơ quan nội quan cá chình Anguilla anguilla ở Ba Lan với tỷ
lệ cảm nhiễm lên đến 15.4% (trích theo Lom và Dyková, 2006)
Trang 14Hallet và ctv, 1997 khi kiểm tra tổng số 444 con cá Sillago spp bắt ở Vịnh
Moreton, Australia đã được tìm thấy Kudoa ciliatae trên 141 con cá (32%) Tỷ lệ
cảm nhiễm trên loài S maculata cao nhất vào mùa thu (100%) và thấp nhất vào
mùa xuân (10%), sự khác biệt này có liên quan thuận với kích thước cá, vào mùa thu cá có kích thước lớn Cường độ nhiễm từ 1 đến 45 bào nang/cá, trung bình 7,6 bào nang/cá, bào nang ký sinh trên bề mặt ống tiêu hóa
Maeno và ctv, 1995, đã tìm ra một loài Myxosporea mới trên cá Seriola quinqueradiata là Myxobolus spirosulcatus Sau đó, Maita và ctv (1997) thông báo một loài Myxosporea nhiễm trong túi mật có thể là nguyên nhân làm gan trở nên
màu xanh nhưng không xác định rõ ra loài Đến năm 2001, Hiroshi Yokoyama &
Yutaka Fukuda khi tiếp tục nghiên cứu về loài cá này lại bắt gặp Myxobolus spirosulcatus với tỷ lệ cảm nhiễm 20-100%, ngoài ra còn phát hiện hai loài mới Ceratomyxa seriolae n sp và C buri n sp ký sinh trong túi mật
Năm 2003, Freeman và ctv thông báo một loài ký sinh trùng ký sinh trong
rận cá Lepeophtheirus salmonis, rận cá là một trong những ký sinh trùng ngoại ký sinh phổ biến trên các lồng nuôi cá hồi trên biển Myxosporea được quan sát ở giai
đoạn trưởng thành hay tiền trưởng, ký sinh trên cả rận cái hay đực với tỷ lệ nhiễm lên đến 5%, ký sinh ở dạng bào nang trong lớp biểu mô dưới vỏ kitin, bước đầu
định danh loài Myxosporea này thuộc Nucleospora
Năm 2005, Ariadna và Pilar đã mô tả một loài mới Leptotheca sparidarum n sp., ký sinh trong thận hai loài cá Sparus aurata và Dentex dentex, được nuôi tại
vùng bờ biển Tây Mediterranean (trích theo Lom và Dyková, 2006)
MacKenzie và ctv (2005) khi nghiên cứu 4 loài thuộc họ cá Tuyết Gadus ở các Bắc Đại Tây Dương từ năm 1992 đến 2003 đã thu được 9 loài: Ceratomyxa arcuata, Leptotheca informis, Leptotheca longipes, Myxidium bergense, Myxidium gadi, Myxidium oviforme, Myxidium sphaericum, Sphaeromyxa hellandi, và Myxidium Một số loài là tác nhân gây bệnh nguy hiểm, một số có thể dùng để chỉ
thị sự thay đổi và ô nhiễm môi trường biển
Trang 15Sphaerospora sp (Myxosporea) đã được xác định cảm nhiễm trên cá hồi Salmo truttae ở trại nuôi cá hồi Đông- Bắc Italy Ký sinh trùng này được tìm thấy
trên thân ở cá hồi nâu 2 năm tuổi Phương pháp chuẩn đoán là dùng nhuộm Giemsa
mô thận được phết mỏng hay dùng phương pháp mô học cắt mô mẫu thận nhuộm
bằng Haematoxylin- eosin để phát hiện thể dinh dưỡng của Myxosporea (trích theo
Lom và Dyková, 2006)
Ba loài Myxosporea là Henneguya spp., Henneguya ogawai sp.n
và Henneguya yokoyamai sp n., đã được mô tả từ hai loài cá tráp đen Acanthopagrus schlegelii được bắt khu vực đảo Setonaikai, Nhật Bản Hợp bào
được tìm thấy trong thành thực quản hay thành ruột và một số tìm thấy trong thành mật, màng bụng (trích theo Lom và Dyková, 2006)
Work và ctv (2008) khi nghiên cứu bệnh trên cá Selar crumenophthalmus,
một loài cá có nhiều ở Hawaii từ năm 2001 đến 2006 đã thông báo một loài mới là
Henneguya akule n sp cảm nhiễm với tỷ lệ 12-27% Loài mới này ký sinh trong củ
động mạch tim, có dạng hình ellip với hai đuôi, cực nang hình quả lê có sợi thích ty xoắn 3-4 lần Ký sinh trùng này hiện diện trong cá khỏe và không gây dấu hiệu bệnh lý rõ ràng, tác giả cũng cho rằng sự cảm nhiễm tác nhân này không có liên quan đến giai đoạn phát triển và tình trạng cơ thể cá
Năm 2008, Abdel-Ghaffar và ctv, khi nghiên cứu về giống Ceratomyxa thuộc Myxosporea trên một số loài cá ở biển Đỏ đã phát hiện ra 4 loài mới Ceratomyxa bassoni sp.n., Ceratomyxa entzerothi sp n., Ceratomyxa swaisi sp n., Ceratomyxa hurghadensis sp n
Freeman và ctv (2008) mô tả hai loài Myxoporea mới ký sinh trên cá Lophius litulon, Nhật Bản gồm Ceratomyxa anko sp n và Zschokkella lophii sp.n
C anko sp n ký sinh ở bóng hơi với tỷ lệ cảm nhiễm đến 57%, bào tử trưởng thành
cong hình trăng lưỡi liềm với những mảnh vỏ nối ở đỉnh tròn Đường nối chạy ở trung tâm giữa các cực nang, cực nang hình tròn có chứa sợi thích ty xoắn 2 đến 3 lần, kích thước bào tử : dài 10.8 (9.7–11.9) µm, rộng 41.9 (36.9–47.2) µm, đường
kính cực nang 4.6 (4.1–5.3) µm Zschokkella lophii sp.n ký sinh trong túi nước tiểu
Trang 16và có tỷ lệ cảm nhiễm lên đến 70%, bào tử trưởng thành có hình ellip hay hình bán cầu, đường nối cong Hai cực nang hình cầu hở nằm ở cuối bào tử, chứa sợi thích ty xoắn 5 lần Kích thước bào nang với chiều dài 20.1 (16.8–24.0) µm, rộng 14.9 (12.7–16.8) µm, đường kính cực nang 5.1 (3.6–5.8) µm
Tác hại do ký sinh trùng này gây ra đối với nghề nuôi trồng thủy sản thế giới
là không nhỏ, tuy nhiên cho đến nay ngoài những nghiên cứu về thành phần loài Myxosporea gây hại và những tác hại do chúng gây ra thì phương pháp chữa trị thành công tác nhân này dường như vẫn đang bế tắc
1.4 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng do
Myxosporea gây ra trên cá chẽm Lates calcarifer ( Bloch, 1790) trên thế giới
Nghề nuôi cá chẽm thê giới phát triển đầu tiên tại Thái Lan từ những năm
1970, sau đó nghề này phát triển mở rộng ra các nước châu Á khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Maylaysia, Việt Nam…Vì vậy, những công trình nghiên cứu chuyên
về Myxosporea trên đối tượng này còn hiếm, đa phần các công trình đều là nghiên cứu thành phần loài ký sinh trùng
Các công trình nghiên cứu cho thấy thành phần loài ký sinh trùng trên cá chẽm rất đa dạng và phong phú:
Kết quả kiểm tra cá chẽm tại Malaysia cho thấy sự có mặt của 17 loài kí sinh trùng, bao gồm 2 loài động vật đơn bào, 2 loài sán lá đơn chủ, 6 loài sán lá song chủ, 1 loài sán dây, 2 loài giun tròn và 4 loài giáp xác kí sinh Trong đó kí sinh
trùng gây bệnh chủ yếu là Trichodina sp với tỉ lệ cả nhiễm là 62.8% và Pseudohabdosynochus latesi là 14.8% (Leong và Wong, 1986)
Kết quả một nghiên cứu khác xác định 86% cá chẽm tự nhiên bị nhiễm sán lá
song chủ Lecithochirium sp và 100% cá chẽm tự nhiên bị nhiễm Pseudometadena celebenensis với cường độ cảm nhiễm trung bình lần lượt là 5.5 và 9.3 trùng trên cá
(Ruangpan, 1988)
Năm 1988, Leong và Wong kiểm tra ký sinh trùng trên 149 con cá chẽm trưởng thành trong đó có 102 con từ Bangkok, 47 con từ Songkla (Thái Lan) và 23
Trang 17con đến từ Penang (Malaysia), kết quả tìm thấy 17 loài ký sinh trùng: 2 loài thuộc Protozoa, 2 loài thuộc Monogenea, 6 loài thuộc Digenea, 2 loài thuộc Isopoda, 1 loài Copepoda và 1 loài Branchiura
Năm 1990, Leong và Wong khi điều tra cá chẽm con khỏe và bị bệnh ở
Penang (Malaysia) đã thu được 13 loài ký sinh trùng, trong đó có Protozoa Hai tác
giả cho rằng chính sự cảm nhiễm nặng Protozoa và Monogenea là nguyên nhân đầu tiên cho sự bùng phát bệnh
Năm 2006, Leong và ctv đã cho biết một số bệnh ký sinh trùng khác nhau trên cá biển trong đó có cá chẽm (Lates calcarifer) Tác giả chia làm ba nhóm ký
sinh trùng chính là Protozoa, Plathyhelminthes và Crustaceae, mỗi giai đoạn phát triển của cá sẽ chịu ảnh hưởng của những nhóm ký sinh trùng khác nhau Trong đó,
Henneguya spp thuộc Myxosporea là một trong những loài gây thiệt hại nặng cho
giai đoạn cá giống
1.5 Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng và bệnh trùng Myxosporea gây
ra trên cá chẽm nuôi tại Việt Nam
Trước đây ở Việt Nam nghiên cứu về ký sinh trùng chủ yếu trên cá nước ngọt, chỉ gần 10 năm trở lại đây mới bắt đầu nghiên cứu trên cá biển Cá chẽm là một trong những đối tượng nuôi mới được nuôi ở nước ta một vài năm, những công trình nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng trên loài cá này còn chưa nhiều
Từ năm 2003 – 2006, tại Bộ môn Bệnh học thủy sản, trường Đại học Nha Trang đã có một số công trình nghiên cứu về thành phần loài ký sinh trùng trên cá
chẽm, kết quả đã phát hiện được Monogenea, Trematoda, Nematoda, Ciliata ký
sinh
Đỗ Thị Hòa và ctv (2008) đã xác định trên cá chẽm nuôi tại Khánh Hòa có 8 loại bệnh, trong đó có 4 loại bệnh liên quan tới kí sinh trùng, 2 loại bệnh liên quan đến vi khuẩn và hai loại bệnh liên quan đến virus
Trang 18Vũ Thị Ngọc, năm 2008 đã nghiên cứu bệnh do Protozoa ký sinh trên cá chẽm nuôi thương phẩm tại Khánh Hòa phát hiện 3 bệnh đó là bệnh do trùng bánh
xe, bệnh do bào tử sợi Henneguya và bệnh do trùng loa kèn
Như vậy, ở Việt Nam đã có những nghiên cứu liên quan về ký sinh trùng gây bệnh trên cá chẽm nhưng chưa có nghiên cứu nào về bệnh trùng bào tử sợi
Myxosporea ký sinh gây hại trên cá chẽm Yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần một công
trình nghiên cứu về bệnh do tác nhân này gây ra để từ đó đưa ra biện pháp phòng và chữa trị hiệu quả
Trang 19PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trùng Myxosporea ký sinh trên cá chẽm
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 20/6/2011 đến 6/2012
Địa điểm nghiên cứu:
Xác định tác nhân gây bệnh tại phòng thí nghiệm Bệnh học thủy sản, trường Đại học Nha Trang
Tiến hành chữa trị tại trung tâm nghiên cứu giống và dịch bệnh thủy sản, trường Đại học Nha Trang
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Kiểm tra phát hiện bệnh do trùng bào tử sợi Myxosporea ký sinh trên cá chẽm
Cá chẽm (Lates calcarifer) giống
Cố định, nhuộm và làm tiêu bản
Trang 202.2.2 Phương pháp nghiên cứu trùng bào tử sợi ký sinh trong cá chẽm
Hình 2.2 Các bước thực hiện của phương pháp nghiên cứu ký sinh
trùng ở cá chẽm giống
Áp dụng phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng toàn diện ở cá của Dogiel (1929) có sửa chữa, bổ sung của một số tác giả: Hà Ký (1993), Bùi Quang Tề (2002), Đỗ Thị Hòa (2005)
Bước 1: Thu mẫu cá
Cá được thu định kỳ hàng tuần từ các ao nuôi cá chẽm ở Khánh Hòa trong khoảng thời gian tháng 6 năm 2011 đến tháng 2 năm 2012 Cá được cho vào túi có bơm khí oxy để vận chuyển cá sống tới phòng thí nghiệm để kiểm tra
Nghiên cứu trùng bào tử sợi trên cá chẽm
Thu mẫu, đo kích thước và khối lượng, quan sát các dấu hiệu bên ngoài cơ thể cá
Thu thập và cố định KST
Bảo quản KST: nhuộm
và làm tiêu bản
Xác định mức độ cảm nhiễm
Xác định cường độ cảm nhiễm
Xác định tỷ lệ cảm nhiễm
Kết luận về tác nhân gây bệnh
Làm tiêu bản
mô bệnh học
Trang 21Bước 2: Kiểm tra và phát hiện ký sinh trùng
Cân đo kích thước cá, quan sát các dấu hiệu bên ngoài trước khi kiểm tra ký sinh trùng Áp dụng phương pháp kiểm tra từng phần, kiểm tra theo thứ tự, bên ngoài trước bên trong sau:
Kiểm tra các cơ quan ngoài
Da: Đặt cá lên khay, cạo nhớt da, chú ý những nơi tập trung nhiều ký sinh trùng như gốc vây, bụng cá Lấy nhớt lên lam, nhỏ thêm một giọt nước muối đậy lamen rồi quan sát dưới kính hiển vi
Kiểm tra mang cá: Cắt bỏ nắp mang rồi quan sát bằng mắt thường để xem xét tình trạng mang như: màu sắc, sự tiết nhớt, có bị rách hay sưng không Sau đó cắt rời từng cung mang, lấy nhớt mang cho lên lam để quan sát phát hiện ký sinh trùng, sau đó cho vào hộp lồng có nước muối rồi đưa lên kính soi nổi quan sát, dùng panh nhỏ và dùi tách ký sinh trùng ra khỏi mang
Kiểm tra cơ quan bên trong
Sau khi kiểm tra xong da và mang, tiến hành giải phẫu cá tách riêng từng cơ quan nội tạng cho vào hộp lồng chứa nước muối sinh lí 0.85%
Gan: Quan sát màu sắc hình dạng của gan Sau đó cắt một ít lá gan đem ép rồi quan sát trên kính
Mật: Tách lấy túi mật, lấy dịch mật đem quan sát trên kính hiển vi
Dạ dày: Cho vào hộp lồng có nước muối sinh lí đưa lên kính giải phẫu quan sát bên ngoài phát hiện những ký sinh trùng thì dùng panh và dùi tách ra, sau đó dùng kéo mổ gạt hết thức ăn, cạo nhớt cho vào lam nhỏ nước muối sinh lí đưa lên kính hiển vi quan sát Nếu thấy bào nang qua kính giải phẫu thì tách ngay, làm sạch, đưa lên kính hiển vi quan sát kĩ hơn chụp và vẽ hình
Ruột: Chia ruột làm ba phần: ruột trước, ruột giữa, ruột sau Dùng kéo hoặc dao rạch dọc theo ống ruột gạt bớt thức ăn, cạo để quan sát dưới kính hiển vi nếu có bào nang hay trùng thì đưa qua kính giải phẫu tách trùng